1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gốm men thời lý tại địa điểm 62 64 trần phú ba đình hà nội

242 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 242
Dung lượng 10,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC PHỤ LỤC BẢNG THỐNG KÊ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN ẢNH PHỤ LỤC BẢNG THỐNG KÊ Bảng 01: Bảng kê tổng hợp các loại hình di vật tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú Bảng 02: Bảng kê tổng hợp các l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÂN VĂN TIỆP

GỐM MEN THỜI LÝ TẠI ĐỊA ĐIỂM 62 – 64 TRẦN PHÚ (BA ĐÌNH, HÀ NỘI)

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÂN VĂN TIỆP

GỐM MEN THỜI LÝ TẠI ĐỊA ĐIỂM 62 – 64 TRẦN PHÚ (BA ĐÌNH, HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHẢO CỔ HỌC

Mã số: 60 22 03 17

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS.Tống Trung Tín

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi còn nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo của thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp và sự động viên gia đình

Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với PGS.TS Tống Trung Tín, người không chỉ tạo mọi điều kiện cho tôi về mọi mặt trong quá trình làm luận văn, mà thầy còn là người vô cùng nhẫn nại và tỉ mỉ chỉ bảo tôi Luận văn cũng không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong Viện Khảo cổ học và sự hỗ trợ của các đồng nghiệp trong Dự án chỉnh

lý 62 – 64 Trần Phú trong suốt quá trình làm việc của tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm

ơn tới các thầy, cô giáo ở Bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Xin gửi lời cảm ơn bạn bè đồng môn và đồng nghiệp

Tuy đã cố gắng nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, bổ sung của những các nhà nghiên cứu, các thầy cô và những người quan tâm tới đề tài để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Thân Văn Tiệp

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Thân Văn Tiệp

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, VÀ BẢN ẢNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 10

1.1 Một số thuật ngữ chuyên ngành 10

1.1.1 Đồ gốm 10

1.1.2 Đồ gốm men 10

1.1.3 Các dòng gốm men 10

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý trong khu vực Thăng Long – Hà Nội 10

1.2.1 Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954 11

1.2.2 Những phát hiện và nghiên cứu sau năm 1954 11

1.3 Tổng quan kết quả khai quật địa điểm 62 – 64 Trần Phú (Ba Đình, Hà Nội) năm 2008 14

1.3.1 Vị trí địa lý địa điểm 62 – 64 Trần Phú và các hố khai quật năm 2008 14

1.3.2 Diễn biến tầng văn hóa 15

1.3.3 Tình hình phát hiện và nghiên cứu về di tích, di vật 16

1.3 Tiểu kết chương 1 18

CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÌNH GỐM MEN THỜI LÝ TẠI ĐỊA ĐIỂM 62 – 64 TRẦN PHÚ 19

2.1 Dòng gốm men trắng 19

2.1.1 Bát 19

2.1.2 Đĩa 52

2.1.3 Âu 65

2.1.4 Đèn 68

2.1.5 Tượng 70

2.1.6 Hộp và nắp hộp 70

2.1.7 Ấm 73

2.1.8 Liễn 75

Trang 6

2.1.9 Lọ 75

2.1.10 Nắp đậy 77

2.2 Dòng gốm men ngọc 78

2.2.1 Bát 79

2.2.2 Đĩa 86

2.2.3 Âu 90

2.2.4 Đĩa đèn 90

2.3 Dòng gốm men xanh lục 91

2.3.1 Bát 91

2.3.2 Đĩa 92

2.3.3 Lọ 93

2.3.4 Bình 93

2.5 Dòng gốm nền nâu hoa trắng 93

2.5.1 Đĩa 94

2.5.2 Lọ 94

2.6 Dòng gốm men nâu 94

2.6.1 Bát 94

2.6.2 Đĩa 95

2.6.3 Lọ 96

2.6.4 Tước 97

2.6.5 Âu 97

2.6.6 Hộp 97

2.7 Tiểu kết chương 2 97

CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG GỐM MEN THỜI LÝ TẠI ĐỊA ĐIỂM 62 – 64 TRẦN PHÚ 99

3.1 Dòng men, kỹ thuật tạo men và kỹ thuật tráng men 99

3.2 Về loại hình, kiểu dáng, chất liệu và kỹ thuật tạo dáng 103

3.3 Hoa văn trang trí và kỹ thuật tạo hoa văn 107

3.4 Về kỹ thuật xếp nung gốm 109

3.5 Vấn đề nơi sản xuất gốm men thời Lý 111

3.6 Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ CÁI VIẾT TẮT

: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam : Bản vẽ

: Đường kính đáy : Đường kính miệng : Gốm men

: hố : Hoạt động Văn hóa Khoa học : Hệ thống

: Kiểu : Khoa học xã hội : Khảo cổ học : Loại

: Lớp : Nhóm : Những người khác : Những phát hiện mới về Khảo cổ học : Nhà xuất bản

: Phụ kiểu : Trang : Văn hóa thông tin : Văn hóa Thể thao – Du lịch

Trang 8

DANH MỤC PHỤ LỤC BẢNG THỐNG KÊ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN ẢNH

PHỤ LỤC BẢNG THỐNG KÊ

Bảng 01: Bảng kê tổng hợp các loại hình di vật tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú Bảng 02: Bảng kê tổng hợp các loại hình gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú Bảng 03: Bảng kê các loại hình bát gốm men trắng đủ dáng

Bảng 04: Bảng kê các loại hình mảnh chân đế bát gốm men trắng

Bảng 05: Bảng kê các kiểu miệng bát gốm men trắng

Bảng 06: Bảng kê các loại hình mảnh thân gốm men trắng

Bảng 07: Bảng kê các loại hình đĩa đủ dáng gốm men trắng

Bảng 08: Bảng kê các loại hình chân đế đĩa gốm men trắng

Bảng 09: Bảng kê các loại hình mảnh miệng và mảnh thân đĩa gốm men trắng Bảng 10: Bảng kê các loại hình âu gốm men trắng

Bảng 11: Bảng kê các loại hình đèn gốm men trắng

Bảng 12: Bảng kê các loại hình hộp gốm men trắng

Bảng 13: Bảng kê các loại hình lọ gốm men trắng

Bảng 14: Các loại hình nắp đậy gốm men trắng

Bảng 15: Bảng kê các loại hình gốm men Ngọc

Bảng 16: Bảng kê các loại hình gốm men xanh lục

Bảng 17: Bảng kê các loại hình gốm men nâu

Bảng 18: Bảng kê kỹ thuật tạo chân đế

Bảng 19: Bảng kê kỹ thuật chồng nung

Bảng 20: Bảng kê số lượng các dòng men gốm thời Lý

Bảng 21: Bảng kê kiểu dáng bát, đĩa thời Lý

Bảng 22: Bảng kê kỹ thuật cắt mép chân đế

PHỤ LỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1: Sơ đồ khai quật khảo cổ học và các điểm mốc của lưới tọa độ Hoàng thành Thăng Long tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú

PHỤ LỤC BẢN VẼ

Bản vẽ 01: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống I, nhóm I

Trang 9

Bản vẽ 02: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống I, nhóm II

Bản vẽ 03: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống I, nhóm III

Bản vẽ 04: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I

Bản vẽ 05: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I

Bản vẽ 06: Bản vẽ 06: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản vẽ 07: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản vẽ 08: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản vẽ 09: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại I Bản vẽ 10: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại II Bản vẽ 11: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại III Bản vẽ 12: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại I Bản vẽ 13: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại II Bản vẽ 14: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại III Bản vẽ 15: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm III, loại I Bản vẽ 16 Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm III, loại II, loại III Bản vẽ 17: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại I Bản vẽ 18: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại II Bản vẽ 19: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản vẽ 20: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm I, loại II

Bản vẽ 21: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại I

Bản vẽ 22: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại II

Bản vẽ 23: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại III

Bản vẽ 24 Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống II, nhóm I, loại II

Bản vẽ 25: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống II, nhóm I, loại III

Bản vẽ 26: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm I, loại I

Bản vẽ 27: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm I, loại II

Bản vẽ 28: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm I, loại III

Bản vẽ 29: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại I

Bản vẽ 30: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại II

Bản vẽ 31: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại III Bản vẽ 32: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống II, nhóm I, loại III

Trang 10

Bản vẽ 51: Mảnh chân đế đĩa gốm men ngọc hệ thống I

Bản vẽ 52: Mảnh chân đế đĩa gốm men ngọc hệ thống II

Bản vẽ 53: Gốm men xanh lục

Bản vẽ 54: Mảnh chân đế đĩa gốm nền nâu hoa trắng

Bản vẽ 55: Một số loại hình gốm men nâu

Trang 11

Bản ảnh 07: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại II Bản ảnh 08: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại II Bản ảnh 09: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản ảnh 10: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản ảnh 11: Bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản ảnh 12: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại I Bản ảnh 13: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại II Bản ảnh 14: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm I, loại III Bản ảnh 15: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại I Bản ảnh 16 Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại II Bản ảnh 17: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm II, loại III Bản ảnh 18: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm III, loại I Bản ảnh 19: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống I, nhóm III, loại II, loại

III Bản ảnh 20: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại I Bản ảnh 21: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại II Bản ảnh 22: Chân đế bát gốm men trắng thời Lý hệ thống II, nhóm I, loại III Bản ảnh 23: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm I, loại II

Bản ảnh 24 Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại I

Bản ảnh 25: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại II

Bản ảnh 26: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống I, nhóm II, loại III

Bản ảnh 27: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống II, nhóm I, loại II

Bản ảnh 28: Đĩa gốm men trắng đủ dáng hệ thống II, nhóm I, loại III

Bản ảnh 29: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm I, loại I Bản ảnh 30: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm I, loại III Bản ảnh 31: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại I Bản ảnh 32: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại II Bản ảnh 33: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống I, nhóm II, loại III Bản ảnh 34: Mảnh chân đế đĩa gốm men trắng hệ thống II, nhóm I, loại III Bản ảnh 35: Âu gốm men trắng đủ dáng

Bản ảnh 36: Mảnh chân đế âu gốm men trắng

Bản ảnh 37: Đèn gốm men trắng

Trang 12

Bản ảnh 52: Mảnh chân đế đĩa gốm men ngọc hệ thống I

Bản ảnh 53.1: Mảnh chân đế đĩa gốm men ngọc hệ thống II

Bản ảnh 53.2: Mảnh chân đế đĩa gốm men ngọc hệ thống II

Bản ảnh 54: Gốm men xanh lục

Bản ảnh 55: Mảnh chân đế đĩa gốm nền nâu hoa trắng

Bản ảnh 56: Bát gốm men nâu

Bản ảnh 57: Chân đế đĩa gốm men nâu hệ thống II, nhóm I

Bản ảnh 58: Một số loại hình gốm men nâu

Bản ảnh 59.1: Các phương pháp chồng nung gốm men thời Lý Bản ảnh 59.2: Các phương pháp chồng nung gốm men thời Lý Bản ảnh 60: Chồng dính gốm men

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đồ gốm là sản phẩm phổ biến, thông dụng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cuộc sống hàng ngày của con người Nghiên cứu đồ gốm là một ngả đường tìm hiểu về văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Góp phần phục dựng lại bức tranh sinh động lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam Nghiên cứu đồ gốm một cách có hệ thống sẽ cung cấp những thông tin để giải mã nhiều vấn đề như kỹ thuật, thẩm mỹ, tình hình sản xuất, giao thương buôn bán, đặc trưng xã hội…qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước

Việt Nam với bề dày lịch sử trải qua nhiều triều đại bao gồm các thời kỳ bị

đô hộ và độc lập Với mỗi một triều đại, một giai đoạn thì đời sống xã hội lại có những thay đổi dựa trên các yếu tố nội sinh và ngoại sinh mà đặc trưng biểu hiện của nó rõ nét ở hệ thống các loại hình đồ dùng sinh hoạt, vật liệu kiến trúc…và gốm men cũng có những biểu hiện như vậy Bởi vậy ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm tới đồ gốm từ nhiều phương diện như loại hình, nguồn gốc, trang trí hoa văn và hoạt động kinh tế

Thời Lý là thời kỳ độc lập tự chủ, ổn định và hưng thịnh – một thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam Đóng góp cho lịch sử dân tộc nhiều thành tựu trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, nghệ thuật Từ thời Lý, Thăng Long trở thành kinh đô của nhà nước Đại Việt, phát triển hưng thịnh và sầm uất trong nhiều thế kỷ, dưới các triều đại Lý, Trần, Lê Sự phồn thịnh của kinh đô này, đã thu hút và khích lệ các ngành nghề thủ công nghiệp ra đời và phát triển, trong đó có nghề sản xuất gốm Tiếp thu những thành tựu từ bên ngoài làm cho nghề sản xuất gốm ở nước ta có bước phát triển mới

Hiện nay, với những cuộc khai quật khảo cổ học đô thị, các nhà nghiên cứu

đã có điều kiện tiếp cận hơn với các tư liệu khảo cổ trên chất liệu gốm men Ở Thăng Long, trong các cuộc khai quật lớn ở 18 Hoàng Diệu, Văn Cao, Điện Kính Thiên, Đào Tấn, Bưởi,… đã thu được rất nhiều hiện vật gốm men Vì vậy, một vài công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến loại hình gốm men qua các triều đại Đã

có nhiều bài viết rất hay đi sâu vào nghiên cứu gốm thời Lý TS Bùi Minh Trí đã có

bài “Nét đẹp gốm Hoàng cung thời Lý ở 18 Hoàng Diệu”, Đỗ Đức Tuệ, Hà Văn Cẩn có bài “Đồ gốm sứ Lý Trần ở địa điểm Văn Cao – Hoàng Hoa Thám”, hay bài

Trang 14

Long trong dòng chảy của gốm sứ Việt Nam

Năm 2008 Viện Khảo cổ học khai quật địa điểm 62 – 64 Trần Phú (Ba Đình,

Hà Nội) trên diện tích 2.286m2, chia thành 26 hố khai quật Kết quả khai quật đã phát hiện và thu được một khối lượng đồ sộ hiện vật đồ gốm men của các thời kỳ lịch sử từ thời Lý, Trần, Lê, đến thời Nguyễn…

Từ năm 2011 Viện Khảo cổ học tiến hành dự án “Chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa của các di tích, di vật địa điểm 62- 64 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội” Trong đó bao gồm việc chỉnh lý đồ gốm men thời Lý Đồ gốm men

thời Lý chiếm một số lượng lớn thuộc các loại hình bát, đĩa, hộp, bình, âu… với các dòng men trắng, men xanh ngọc, men xanh lục, men nâu, men nâu hoa trắng… Kỹ thuật chế tác gốm khá điêu luyện, hoa văn tinh tế mang các đặc trưng rất riêng Vì vậy, việc nghiên cứu gốm men thời Lý ở địa điểm 62 – 64 Trần Phú góp phần cung cấp những thông tin để xây dựng hệ thống phát triển loại hình gốm sứ trong lịch sử, đồng thời cũng cung cấp cứ liệu cho việc nghiên cứ diện mạo kinh đô Thăng Long thời Lý và các đặc trưng đời sống xã hội thời kỳ này Nghiên cứu đặc trưng gốm thời Lý ở đây có thể giúp ta đánh giá, đoán định tính chất của di tích địa điểm 62 –

64 Trần Phú vào thời Lý như thế nào? Hơn nữa cũng chính nơi đây đã cung cấp những tài liệu có giá trị khẳng định về sự tồn tại thực sự của một cung điện thời Lý

đã được ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư – đó là “cung Động Nhân” Dấu tích

ba chữ “Động Nhân cung” bằng Hán tự – tức cung Động Nhân đã được người thợ gốm viết trong lòng một chiếc đĩa rất điển hình của thời Lý

Nghiên cứu đồ gốm thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú góp phần nhận diện đồ gốm thời Lý trên nhiều phương diện về nguồn gốc, niên đại, dòng men, loại hình, kỹ thuật sản xuất, nghệ thuật trang trí…

Bản thân học viên cũng rất may mắn được trực tiếp tham gia dự án “Chỉnh

lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa của các di tích, di vật địa điểm 62-

Trang 15

3

64 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội” từ năm 2011 Nhận thấy đây là một cơ hội để góp

phần tìm hiểu đồ gốm men thời Lý và cũng là cơ hội để tìm hiểu Thăng Long thời

Lý thông qua di vật gốm

Chính vì những lý do trên, cùng với sự gợi ý của PGS.TS Tống Trung Tín

học viên đã quyết định lựa chọn đề tài “Gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64

Trần Phú (Ba Đình, Hà Nội)” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu “Gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú (Ba Đình, Hà Nội)” nhằm các mục đích sau đây:

- Hệ thống phân loại di vật gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú trên các phương diện dòng men, loại hình

- Tìm hiểu đặc trưng của hệ thống di vật gốm men thời Lý tại địa điểm 62 –

64 Trần Phú trên các phương diện dòng men, loại hình, hoa văn trang trí, đóng góp tích cực vào việc nghiên cứu kinh đô Thăng

- So sánh tổng hợp và tiến hành phân tích, đánh giá đặc trưng gốm men thời

Lý ở địa điểm 62 – 64 Trần Phú nhằm xác định những giá trị của hệ thống di vật này trong hệ thống gốm men ở Hoàng thành Thăng Long và trong mối tương quan với gốm men thời Lý ở các nơi khác

- Thông qua việc nghiên cứu gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú

góp phần tiềm hiểu thêm về lịch sử phát triển nghề gốm men ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về đối tượng: Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn này là toàn bộ số di vật gốm

men (tập trung vào các loại hình như bát, đĩa, âu, bình, âu…) có niên đại thời Lý thế kỷ 11 – 12 khai quật tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú (Ba Đình, Hà Nội) khai quật năm 2008

Về phạm vi: Về không gian nghiên cứu luận văn tập trung tìm hiểu đồ gốm men

thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú Về khung thời gian trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung tìm hiểu đặc điểm các loại hình gốm men thời Lý thế kỷ 11 -12

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu được phân loại

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại trong khảo cổ học như: phân loại, thống kê, mô tả, đo vẽ, chụp ảnh hiện vật đồng

Trang 16

4

Chân đế cắt tiện

thời còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh giữa hệ thống di vật đồ gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú với các hiện vật tiêu biểu phát hiện ở các di tích thuộc Hoàng thành Thăng Long như địa điểm 18 Hoàng Diệu, khu vực điện Kính Thiên, địa điểm Văn Cao

Bằng cách tiếp cận khảo cổ liên ngành, trong luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Khu vực học, Hán Nôm học, Dân tộc học…

Trong nghiên cứu, luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin tổng hợp, phân tích, so sánh, lý giải các đặc trưng của đồ gốm men thời Lý

Do đều là các mảnh vỡ, việc nghiên cứu nhận diện gốm men thời Lý hết sức phức tạp và khi dễ dàng nhất là phân tích gốm Lý – Trần Để nghiên cứu gốm men thời

Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú, chúng tôi đặc biệt chú ý trước hết đến việc phân loại

Để phân loại, việc xem xét toàn diện đồ gốm thì chúng tôi đặc biệt chú ý tới kiểu dáng

và dấu vết kỹ thuật để lại trên đồ gốm Do di vật gốm thời Lý còn lại chủ yếu là chân

đế cho nên để phân loại hiện vật chúng tôi chú ý trước hết đến đặc điểm kỹ thuật để lại trên di vật gốm Qua nghiên cứu các mảnh chân đế có thể nhận rõ có hai loại dấu vết kỹ thuật: Kỹ thuật chế tạo chân đế và kỹ thuật chồng nung đồ gốm

Nghiên cứu kỹ thuật chế tạo chân đế: Trong các dòng gốm men thời Lý ở địa điểm 62 – 64 Trần Phú, chúng tôi nhận thấy dòng gốm men trắng chiếm số lượng rất lớn 93,60% Các dấu vết kỹ thuật trên chân đế để lại từ dòng gốm này đủ bao trùm cho tất cả các dòng gốm khác Khi phân loại kỹ thuật tạo chân đế gốm men trắng có thể thấy có 3 hệ thống kỹ thuật tạo chân đế như sau:

+ HT – I: Hệ thống chân đế cắt tiện

Là hệ thống chân đế có góc thành chân

đế trong cắt góc, độ nghiêng của góc đế mà cạnh

là phần chân đế với thành chân đế khoảng 90 -

120 độ Kỹ thuật này có lẽ được thực hiện bằng

cách dùng công cụ cắt có các cạnh góc sắc để

khoét lòng chân đế Dấu vết để lại là góc chân

đế là góc tù không có dấu vết cạo lõm và thường có vết xước tròn quanh lòng chân

đế Những đồ gốm cao cấp phổ biến kỹ thuật này bởi có diện tích phần chân đế rộng

Trang 17

5

Chân đế cắt vét

Chân đế cắt phẳng

Tiết diện chân đế hình tam giác

Tiết diện chân đế hình thang

nên dễ dàng đặt con kê dưới đáy sản phẩm một cách chắc chắn, nhất là các sản phẩm có trang trí hoa văn

+ HT – II: Hệ thống chân đế cắt vét

Là hệ thống chân đế có góc thành trong

chân đế miết lõm cong, vết miết rộng có thể đặt

vừa đầu ngón tay Lòng chân đế tương đối bằng

và có hình chóp Đây là kỹ thuật phổ biến của

gốm men trắng thời Lý, kỹ thuật này cho diện

chân đế hẹp nên hầu hết các con kê nung đặt

trong lòng sản phẩm

+ HT – III: Hệ thống chân đế cắt phẳng

Là hệ thống đồ gốm không có thành chân

đế (chân đế liền đáy), đáy cắt phẳng để mộc Kỹ

thuật này cho diện chân đế sản phẩm rộng nên

kỹ thuật chồng nung phổ biến là con kê gắn mấu

hình tam giác đặt trong lòng sản phẩm hoặc kỹ

thuật nung bột chống dính đặt trong lòng sản

phẩm

Sau khi đã đưa vào hệ thống, cách cắt chân đế trong mỗi hệ thống đã tạo nên mặt cắt chân đế có 4 kiểu mà chúng tôi tạm gọi là Nhóm:

- Nhóm: Tiết diện chân đế

+ N – I: Tiết diện chân đế hình tam giác;

Là nhóm chân đế có mặt cắt chân đế

dạng hình tam giác (chúng tôi còn gọi là tiết

diện chữ V bởi giống hình chữ V) có diện tiếp

xúc nhỏ gọn Đây là nhóm chân đế phổ biến thời

Lý phù hợp với kỹ thuật nung bột chống dính

nhằm hạn chế để lại vết tiếp xúc trên sản phẩm

+ N – II: Tiết diện chân đế hình thang;

Là nhóm chân đế có mặt cắt thành chân

đế dạng hình thang có diện tiếp xúc phẳng song

Trang 18

+ N – III: Tiết diện chân đế hình chữ nhật

và gần hình chữ nhật;

Là nhóm chân đế có mặt cắt thành chân

đế dạng hình thang có diện tiếp xúc phẳng song

song với chân đế sản phẩm, thành ngoài và

thành trong chân đế đứng hoặc choãi Ở nhóm

này mép đế thường cắt phẳng hoặc là cắt vát

mép ngoài và có diện tiếp xúc phẳng

+ N – IV: Không thành chân đế

Là nhóm đồ gốm không có thành chân

đế, chân đế liền với đáy, diện tiếp xúc phẳng,

rộng Chân đế thuộc nhóm này chủ yếu gặp ở

loại hình âu

Tổng thể trong mỗi nhóm như vậy thì có

kích thước chân đế khác nhau, chúng tôi tạm lấy

chiều cao thì tạm chia thành 5 loại như sau:

- Loại: Kích thước chân đế

+ Loại I: Đồ gốm chân đế cao;

+ Loại II: Đồ gốm chân đế trung bình;

+ Loại III: Đồ gốm chân đế thấp;

+ Loại IV: Không thành chân đế (tức đáy phẳng);

+ Loại V: Đáy lõm

Sau khi đã chia theo kích thước chiều cao chân đế, còn có thể nhận thấy cách

xử lý mép chân đế vô cùng phong phú, chúng tôi phân phân nhỏ tiếp theo là kiểu với 6 kiểu khác nhau gồm:

- Kiểu: Kỹ thuật cắt mép chân đế

+ Kiểu 1: Mép đế cắt vát 1 lần;

Trang 19

+ Kiểu 5: Mép đế cắt vát mép ngoài, diện tiếp xúc phẳng;

+ Kiểu 6: Cắt phẳng không thành chân đế

- Phụ kiểu: Lấy tiêu chí kỹ thuật chồng nung:

Kỹ thuật chế tạo chân đế và kỹ thuật chồng nung có mối quan hệ khăng khít với nhau trong việc cùng hướng tới mục đích là tạo ra sản phẩm có tính mỹ thuật và tiện dụng nhất Ví dụ kỹ thuật chồng nung bằng bột chống dính cho thông điệp phán đoán rằng diện tiếp xúc chân đế phải nhỏ và rất nhỏ tức kỹ thuật cắt vát mép chân

đế hoặc kỹ thuật ve lòng cho thông điệp diện tiếp xúc chân đế rộng và phẳng…

Kỹ thuật chồng nung

Kỹ thuật chồng nung gốm thực chất cách mà người thợ làm gốm xếp các sản phẩm để đưa vào lò nung như thế nào Quan sát sản phẩm ở kỹ thuật chế tạo kiểu dáng chân đế cho ta đoán định được cách xếp nung Từ đó cho thấy kỹ thuật chồng nung và kỹ thuật chân đế có mối quan hệ khăng khít với nhau Kỹ chồng nung có thể cho biết được trình độ sản xuất nói chung và công nghệ sản xuất gốm nói riêng của xã hội đương thời

Mỗi một thời kỳ, một triều đại có những phương pháp nung đặc trưng riêng Yếu

tố kế thừa các thời kỳ trước rất đậm, nhưng đều hướng tới mục đích sản xuất ra các sản phẩm hoàn chỉnh hoàn mỹ Ở thời Lý, bao gồm các phương pháp chồng nung như sau:

+ PK - a: Chồng bằng bột chống dính;

+ PK - b: Chồng nung bằng con kê 5 mấu + PK - c: Nung đơn (Không vết kê nung);

+ PK - d: Chồng nung bằng kỹ thuật ve lòng;

+ PK - e: Chồng nung bằng con kê vành khăn gắn mấu cục đất;

+ PK - f: Chồng nung bằng con kê cục đất và bột dính đặt trong lòng

sản phẩm;

+ PK – g: Chồng nung bằng con kê rỗng đặt ở chân đế sản phẩm; + PK - h: Nung trực tiếp;

Trang 20

8

+ PK - i: Chồng nung bằng con kê gắn mấu đặt ở chân đế sản phẩm Sau khi đã xây dựng hệ thống phân loại gốm men thời Lý theo thứ tự như trên chúng tôi sẽ lần lượt vận dụng vào phân loại các mảnh gốm đủ dáng Còn các mảnh miệng và mảnh thân thì phân loại bình thường theo kiểu dáng và hoa văn

- Nhóm: Tiêu chí tiết diện chân đế

+ N – I: Tiết diện chân đế hình tam giác;

+ N – II: Tiết diện chân đế hình thang;

+ N – III: Tiết diện chân đế hình chữ nhật và gần hình chữ nhật); + N – IV: Không thành chân đế

- Loại: Lấy kích cỡ làm chuẩn

+ Kiểu 4: Dáng rất cong - khum

- Phụ kiểu: Lấy tiêu chí dáng miệng làm chuẩn

Trang 21

9

+ Loại III: Dáng cong

* Mảnh thân: Đơn giản hơn cả các mảnh miệng, gồm hai loại

+ Loại I: Mảnh thân trang trí hoa văn;

+ Loại II: Mảnh thân không hoa văn

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn gồm

Luận văn sử dụng kết quả nghiên cứu từ các báo cáo điều tra, khai quật, chỉnh lý khảo cổ học, các bài nghiên cứu về gốm men nói chung và gốm men thời thới Lý nói riêng đã được công bố trên các sách, tạp chí chuyên nghành và trong các

kỷ yếu hội thảo về khảo cổ học

5 Kết quả và đóng góp của luận văn

- Tập hợp và hệ thống hóa khối tư liệu di vật gốm men thời Lý tại địa điểm

62 – 64 Trần Phú khai quật năm 2008

- Phân loại, thống kê các loại hình đồ gốm men tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú theo tiêu chí dòng men, kỹ thuật chế tạo chân đế

- Xác định những đặc trưng cơ bản của gốm men Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú trên các phương diện dòng men, loại hình, hoa văn trang trí, kỹ thuật tạo hoa văn, kỹ thuật chế tạo, các phương pháp chồng nung

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn có 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tư liệu

Chương 2 Các loại hình gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú Chương 3 Đặc trưng gốm men thời Lý tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú

Ngoài ra, trong luận văn còn các mục: Lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, danh mục phụ lục gồm: các bảng thống kê, bản vẽ và bản ảnh minh họa

Trang 22

10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 1.1 Một số thuật ngữ chuyên ngành

Nghiên cứu đồ gốm nói chung và đồ gốm thời Lý nói riêng cần phải hiểu một số thuật ngữ như đồ gốm, gốm men và các dòng gốm men

1.1.1 Đồ gốm

Trong khảo cổ học đồ gốm được dùng để chỉ các loại đồ vật được làm từ đất

và nung qua lửa ở một nhiệt độ nhất định Đồ gốm có lịch sử phát triển lâu dài, ở Việt Nam những dấu tích về đồ gốm sớm nhất có từ văn hóa Hòa Bình Lúc mới ra đời, đồ gốm rất thô sơ và đơn giản chủ yếu các loại đồ vật được làm từ các loại đất sét có pha trộn thêm một số loại nguyên liệu khác như cát, bã thực vật… Đồ gốm như vậy thường có chất liệu thô và có quá trình tồn tại rất lâu kéo dài

1.1.2 Đồ gốm men

Đồ gốm men chỉ những đồ vật được làm từ đất và phủ lớp men ở bên ngoài trước khi nung Đất làm gốm men phải có tỷ lệ caolin nhất định Men gốm là hợp chất gồm các thành phần được khai thác và chọn lọc từ tự nhiên từ đó pha chế theo một tỷ lệ phù hợp Nhiệt độ nung của đồ gốm men thông thường trên 10000C

1.1.3 Các dòng gốm men

Đồ gốm men là thuật ngữ dùng chung cho các loại hình di vật đồ gốm được phủ men Tuy nhiên, ở cấp độ chi tiết dựa trên yếu tố màu sắc của men gốm có thể chia gốm men thành các dòng men như gốm men trắng, gốm men xanh ngọc, gốm men xanh lục, gốm men vàng, gốm hoa nâu… Trong luận văn sẽ sử dụng các khái niệm các dòng gốm men nói trên làm cơ sở để phân loại đồ gốm men thời Lý phát hiện được tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu gốm men Lý trong khu vực Thăng Long – Hà Nội

Đồ gốm men đã được phát hiện và nghiên cứu ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Cho đến nay đã hơn một thế kỷ, các loại hình đồ gốm men được phát hiện, nghiên cứu và nhận thức về đồ gốm men ngày càng rõ ràng và sâu sắc Trên đại thể có thể tạm phân chia lịch sử phát hiện và nghiên cứu đồ gốm men ở Việt Nam thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1954 và giai đoạn sau năm 1954

Trang 23

11

1.2.1 Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954

Đồ gốm men thời Lý đã bắt đầu được phát hiện và nghiên cứu ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 Mở đầu những phát hiện và nghiên cứu của người Pháp về khu vực Thăng Long – Hà Nội Đây là những phát hiện về hiện vật của các thời Lý, Trần, Lê trong khu vực Hà Nội (thời kỳ này người Pháp gọi là gốm Đại La) Những phát hiện này đều mang tính đơn lẻ, sưu tập ngẫu nhiên do việc xây dựng, mở mang thành phố và các công trình công cộng mà chủ yếu ở phần phía Tây của thành Thăng Long thời Lý, Trần

Hiện nay Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đang lưu giữ nhiều đồ gốm men, trong đó

có đồ gốm men thời Lý được người Pháp sưu tầm ở khu vực Thăng Long – Hà Nội

đã được thu thập về Bảo tàng Louis Finot từ trước những năm 1950 Sau năm 1954

đã được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tiếp nhận Trong đó có nhiều di vật mang rõ đặc điểm nghệ thuật thời Lý và có xuất xứ ở các địa điểm như Quần Ngựa, Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã, Cống Vị, Liễu Giai, Vĩnh Phúc… [12; tr 59:73]

Ngoài sưu tập nằm ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, còn có một số đồ gốm men thời Lý sưu tầm được dưới thời Pháp thuộc hiện đang lưu giữ ở nước ngoài, như Bảo tàng Guimet (Paris - Pháp) hoặc Bảo tàng Hoàng gia Bruxelles Bỉ

Như vậy, trước năm 1954 đã có những phát hiện về đồ gốm men Lý Nhưng chưa có một nghiên cứu khoa học bài bản nào về đồ gốm men Lý ở Thăng Long Toàn bộ là những phát hiện đơn lẻ, ngẫu nhiên

1.2.2 Những phát hiện và nghiên cứu sau năm 1954

Từ sau năm 1954, đặc biệt là từ những năm 90 của thể kỷ trước trở về đây việc nghiên cứu đồ gốm men nói chung và gốm men thời Lý nói riêng có những bước phát triển mạnh mẽ Với việc các nhà nghiên cứu trong nước có điều kiện tiếp cận và nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long và các vùng phụ cận Để nghiên cứu về Thăng Long, một khía cạnh không thể thiếu đó là các di vật, trong đó có đồ gốm Cho đến thập niên

70, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực như khảo cổ, văn hóa,

nghệ thuật…cùng với sự ra đời của các ấn phẩm “Những phát hiện mới về khảo cổ học” và “tạp chí Khảo cổ học” …đã tạo điều kiện cho những phát hiện mới về gốm

men thời Lý được công bố, là những dữ liệu quan trọng để tiến hành nghiên cứu về loại hình này Đó là những phát hiện của các cá nhân trong khu vực nội, ngoại thành Hà

Trang 24

12

Nội Số lượng những phát hiện này khá nhiều, nhưng đó chỉ là những phát hiện lẻ tẻ, ngẫu nhiên Bên cạnh đó là những phát hiện gốm men thời Lý trong các cuộc khai quật

Đó là những tư liệu quan trọng để xác định niên đại của hiện vật

Khu vực Quần Ngựa trong các năm 1970-1971, 1971-1972, 1978 đã được Trường Đại học Tổng hợp, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở VHTT Hà Nội tiến hành khai quật để tìm dấu vết của Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần Cuộc khai quật đã xuất lộ nhiều hiện vật, trong đó có một số mảnh gốm men thuộc loại hình đồ gia dụng thời Lý [40, tr.62-70] Những di vật đồ gốm men phát hiện được tại địa điểm này là các mảnh vỡ, những hiện vật còn nhân diện được loại hình bao gồm bát, đĩa, liễn Theo những người khai quật gốm men thời Lý ở đây với nhiều loại hình khác nhau, hoa văn phong phú Có thể thấy trong những phát hiện về đồ gốm tại địa điểm Quần Ngựa còn hạn chế, việc đoán định niên đại thường dựa vào loại hình trang trí nghệ thuật

Trong khoảng gần 20 năm (1973 – 1990), các nhà nghiên cứu nghệ thuật công bố nhiều công trình có liên quan đến nghệ thuật gốm men thời Lý như: Mỹ thuật thời Lý [36], Nghệ thuật gốm Việt Nam [15]

Năm 1999, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Trung tâm HĐVHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám tiến hành thăm dò khảo cổ học tại khu vực Khải Thánh trước

đó gọi là khu Thái Học thuộc di tích Văn Miếu ở Hà Nội Cuộc khai quật đã thu được tổng cộng 7782 di vật gốm men với các dòng men hoa lam, men trắng, men ngọc, nước dưa, men nâu, men đen, trong đó có nhiều di vật có niên đại từ thế kỷ X – XII [17, tr.57-73]

Từ tháng 12 năm 2002 đến tháng 3 năm 2017, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Sở VHTT Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long Hà Nội tiến hành khai quật tại địa điểm 18 Hoàng Diệu và khu vực điện Kính Thiên đã thu được một khối lượng di vật đồ sộ, trong đó có rất nhiều hiện vật gốm men thời Lý Tuy nhiên, các địa điểm này vẫn đang trong quá trình chỉnh lý

Tại địa điểm điện Kính Thiên khai quật từ năm 2011 – 2013, đã thu được

291 hiện vật gốm men thời Lý Hiện vật thu được khá phong phú về kiểu loại, có mặt ở các dòng men: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, men trắng vẽ hoa nâu và men nâu vẽ hoa trắng [24, tr.15]

Trang 25

13

Tháng 11 năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở Văn hoá – Thông tin

Hà Nội (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội) đã phối hợp tiến hành thám sát và khai quật di tích Ủng Thành - Đoài Môn (phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội) Cuộc khai quật được tiến hành trên 6 hố đào với tổng diện tích trên 100m2, đã thu được nhiều hiện vật, trong đó có một số mảnh gốm men thời Lý

Năm 2006, 2015 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) tiếp tục khai quật di tích đền chùa Bà Tấm (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội) Tại đây đã thu được nhiều mảnh gốm men là các loại hình đồ gia dụng gồm các loại men trắng ngà, men trắng ngả xanh, men trắng hoa nâu, men ngọc, men nâu có niên đại Lý – Trần

Năm 2006, Bộ môn Khảo cổ học và Bảo tàng Nhân học (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) phối hợp với Viện Khảo cổ học, Văn phòng Ban chỉ đạo kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, Bảo tàng Hà Nội tiến hành điều tra khảo sát và khai quật một số địa điểm trên địa bàn huyện Đông Anh, Sóc Sơn Tại địa điểm Bến Long Tửu (thôn Đông Ngàn, huyện Đông Anh), ngay ven bờ sông đã xuất lộ nhiều hiện vật có niên đại từ thế kỉ XI-XIV Ở khu vực Đầu Vè (thôn Lại

Đà, huyện Đông Anh) xuất lộ một số mảnh gốm men thời Lý

Năm 2006 đến năm 2008, Viện Khảo cổ học đã tiến hành 1 đợt điều tra thám sát

và 4 đợt khai quật, di dời tại di tich đàn Nam Giao, di tích đàn Xẵ Tắc Tại các địa điểm trên, đã xuất lộ nhiều loại hình hiện vật thuộc nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có một số mảnh gốm men thời Lý

Năm 2011, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội, Ban Quản lý Xây Dựng Dự án Giao thông đô thị Hà Nội, Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội tiến hành khai quật nút giao thông Văn Cao – Hoàng Hoa Thám, với tổng diện tích 200m2 Cuộc khai quật đã thu được 1428 mảnh di vật thời Lý, Trần Tại địa điểm Văn Cao, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích đặc điểm kỹ thuật chế tạo chân đế đồ gốm và đã phân chia đồ gốm thời Lý thành 2 nhóm tương ứng với 2 kỹ thuật tạo chân đế [67]

Từ năm 2012 đến – 2015, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội, Ban Quản lý Xây Dựng Dự án Giao thông đô thị Hà Nội, Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội, khai quật tại các điểm Cầu Giấy, Đào Tấn, Bưởi Các cuộc khai quật đã thu được một số lượng lớn hiện vất gốm men thời Lý

Trang 26

14

Tất cả những phát hiện trên về gốm thời Lý, góp phần làm phong phú rất nhiều cho việc nghiên cứu, nhận thức về đồ gốm men thời Lý trên các phương diện dòng men, loại hình, hoa văn trang trí Hạn chế lớn nhất của những phát hiện trên chưa đi sâu phân tích về đặc điểm kỹ thuật chế tạo đồ gốm, kỹ thuật chế tạo hoa văn, kỹ thuật nung gốm

Bên cạnh những phát hiện về gốm thời Lý, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đồ gốm men thời Lý trong đó có một số chuyên đề đi sâu và các khía cạnh loại hình học, kỹ thuật, nghệ thuật… được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Khảo cổ học, nghiên cứu nghệ thuật hoặc ký yếu Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội Tiêu biểu trong

số đó phải kể đến cuốn sách 2000 năm gốm Việt Nam [13]

Ngoài ra, có nhiều bài viết về gốm thời Lý của các nhà nghiên cứu như Hà Văn Cẩn [10], Nguyễn Đình Chiến [12], Nguyễn Quốc Hữu [28], Bùi Minh Trí [62]

Như vậy, các cuộc khai quật ở Kinh đô Thăng Long – Hà Nội và vùng phụ cận khá nhiều Tuy nhiên, nhiều các cuộc khai quật còn đang trong quá trình chỉnh lý như cuộc khai quật địa điểm 18 Hoàng Diệu, địa điểm Vườn Hồng, địa điểm điện Kính Thiên Duy nhất có cuộc khai quật địa điểm 62 – 64 Trần Phú có nhiều gốm men thời

Lý đã chỉnh lý mà tác giả may mắn được tham gia

1.3 Tổng quan kết quả khai quật địa điểm 62 – 64 Trần Phú (Ba Đình,

Hà Nội) năm 2008

1.3.1 Vị trí địa lý địa điểm 62 – 64 Trần Phú và các hố khai quật năm 2008

Địa điểm 62 – 64 Trần Phú nằm tại lô H7 khu trung tâm chính trị Ba Đình, phía Đông giáp đường Hùng Vương, phía Nam giáp đường Trần Phú, phía Tây giáp đường Ông Ích Khiêm, sát góc phía Tây Nam là vườn hoa Ông Ích Khiêm

Từ năm 2008 Viện Khảo cổ học và Trung tâm Bảo tồn Di Sản Thăng Long –

Hà Nộ, Sở VHTT Hà Nội tiến hành khai quật 26 hố với tổng diện tích 2.286m2 (Sơ

đồ 01)

Cuộc khai quật lần này đã làm xuất lộ tầng văn hóa Lý – Trần – Lê – Nguyễn, dày trung bình từ 1,5m - 3,8m, sau khi đã bóc hết lớp bê tông và móng hiện đại của lớp mặt dày 1,5m

Trong các lớp văn hóa đã phát hiện được nhiều di tích kiến trúc, mộ táng và hàng chục vạn di vật, bao gồm các loại vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí kiến trúc

Trang 27

15

nghệ thuật, đồ gốm men, đồ sành, đất nung, đồ gỗ, kim loại cùng nhiều mộ táng và xương răng động vật của nhiều giai đoạn lịch sử kế tiếp nhau, kéo dài hàng chục thế kỷ: từ thời Đại La, thời Đinh- Tiền Lê đến các thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn Các di tích và di vật nói trên là những di sản vô cùng quý giá của Thăng Long - Hà Nội nói riêng và của dân tộc nói chung vì đó là những chứng tích đầy sinh động về kiến trúc, đời sống sinh hoạt của lịch sử Hoàng cung, lich sử kinh đô Thăng Long, lịch

sử thành Hà Nội

1.3.2 Diễn biến tầng văn hóa

Trên tổng diện tích 2.286m2 toàn bộ dấu tích móng tường kiến trúc thời Nguyễn đã chia tầng văn hóa toàn khu vực thành hai nửa: nửa phía Tây khác với nửa phía Đông

Nửa phía Tây là ngoài tường thành, tầng văn hóa màu đen loang lổ sét vàng xanh, các di vật bị xáo trộn của nhiều thời kỳ khác nhau từ thời Bắc thuộc đến thời

Lý – Trần – Lê – Nguyễn, đặc biệt có chứa khá nhiều mảnh bao nung và bát đĩa dính men ngọc, men nâu, men trắng chủ yếu thuộc thế kỷ 11 – 14 và một số ít thuộc thế kỷ 15 – 16 Khu vực này thuộc lòng hào thành thời Nguyễn

Nửa phía Đông là phía bên trong của móng tường thành thời Nguyễn, tầng văn hóa ở đây còn khá tốt nhưng lại bị cắt phá liên tục bởi các kiến trúc của nhiều thời kỳ khác nhau do đó rất khó nhận biết các lớp văn hóa cách biệt

Tại hố H23, địa tầng của hố này cho thấy tầng văn hóa khá ổn định từ thời Lý qua thời Trần đến thời Lê và lớp đất đắp thành thời Nguyễn

Tầng văn hóa dày từ 3,5 – 4m, sau khi đã bóc hết lớp mặt dày trung bình 1,5m – 1,6m nằm ở độ sâu trung bình từ 1,5m – 5,3m Như vậy có thể nói, nếu không bị lớp tường thành thời Nguyễn phá bỏ thì khu vực này có đủ các lớp văn hóa

và di tích từ thời Lý đến thời Lê Trung Hưng tương tự như ở địa điểm Kính Thiên

và 18 Hoàng Diệu Điều đặc biệt đáng lưu ý là khu vực này chưa tìm thấy lớp văn hóa Đại La và Đinh - Tiền Lê

So sánh trong tổng thể các hố khác thì thấy lớp văn hóa Lý được ghi nhận bởi dấu tích của móng cột sỏi nằm dưới đáy hào thời Nguyễn 40cm, lớp văn hóa thời Trần được ghi dấu bởi dải nền kiểu “hoa chanh”, lớp văn hóa Lê sơ được ghi dấu bởi móng đầm to lớn và chắc chắn, lớp văn hóa Lê Trung Hưng là các mộ táng, lớp văn hóa thời Nguyễn là dấu tích thành Hà Nội

Trang 28

16

Như vậy ở mỗi vị trí khai quật, địa tầng ở đây diễn biến rất phức tạp và khác nhau Tuy nhiên, trên đại thể địa tầng di tích địa điểm 62 – 64 Trần Phú dày 5,20m, trong đó tầng văn hóa dày trung bình 4m trong đó có thể xác định diễn biến như sau:

- Lớp mặt: là lớp hiện đại dày 1m - 1,5m là các móng nền nhà, đường đi bằng bê tông, gạch ngói có vôi

- Lớp văn hóa thời Nguyễn ở nửa phía Tây tính từ tường hào, dày 1m - 1,8m, khu vực móng tường thành dày 0,6m, hào nước dày hơn 2m

- Lớp văn hóa thời Lê Trung Hưng không hình thành rõ rệt mà chỉ có các di tích mộ táng chôn vào lớp văn hóa Lê sơ

- Lớp văn hóa Lê sơ dày trung bình khoảng 1,5m – 2,5m có khá nhiều các dấu tích móng nền và móng cột kiến trúc

- Lớp văn hóa thời Lý - Trần gần như cùng 1 lớp, dày trung bình trên dưới 1m – 1,30m, trong đó riêng dấu tích kiến trúc có thể có các độ cao khác nhau và chênh lệch khác nhau một chút Điều này là hiện tượng thường thấy trong khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long

1.3.3 Tình hình phát hiện và nghiên cứu về di tích, di vật

1.3.3.1 Di tích tiêu biểu

Phân loại và thống kê tổng hợp cho thấy tuy đã bị đợt xây dựng thành phố mới cuối thế kỷ 19 phá hủy hầu hết, các di tích ở đây dù còn rất ít ỏi nhưng vẫn khá phong phú về loại hình bao gồm các loại móng nền kiến trúc, móng cột kiến trúc, dấu tích tường thành, hào nước, mộ táng, cụm gốm, cụm sỉ sắt, hố đất đen, bếp lò,

hồ ao… của các thời kỳ lịch sử từ thời Lý – Trần – Lê đến thời Nguyễn

- Thời Lý (thế kỷ 11 – 12): Dấu tích kiến trúc thời Lý chỉ có một móng cột sỏi Bình diện móng hình vuông rộng 80cm, dày khoảng 15cm Hầu hết các viên sỏi

có kích thước 3-4cm Trên mặt Móng cột còn 1 ván gỗ dài 80cm, rộng 17-10cm, dày 2,8cm Đặc trưng của móng cột, vật liệu, kỹ thuật tương tự như móng cột thời Lý ở các di tích thuộc khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Chỉ một dấu tích vậy, đối sánh với những móng cột sỏi phát hiện được tại các địa điểm tại khu Hoàng thành Thăng Long và theo kiến thức hiện nay về kiến trúc thời Lý có thể hình dung rằng có một kiến

trúc thời Lý rất lớn ở đây (Ba.01: h.1)

Trang 29

17

- Thời Trần (thế kỷ 13 – 14): Dấu tích kiến trúc thời Trần có ba di tích gồm hai dải trang trí kiến trúc kiểu “hoa chanh” thuộc, một dấu tích đường ống nước Các dấu

tích này đều mang đặc trưng điển hình của thời Trần (Ba.01: h.2; h.3)

- Thời Lê sơ (thế kỷ 15-16): Dấu tích kiến trúc thời Lê sơ tại địa điểm 62 –

64 Trần Phú có hai móng nền kiến trúc và 13 móng cột kiến trúc gia cố bằng gạch

ngói vụn (Ba.02: h.1; h.2; h.3; h.4)

- Thời Nguyễn (thế kỷ 19 – 20): Dấu tích kiến trúc thời Nguyễn có hai loại chính, dấu tích thành Hà Nội thời Nguyễn và một số loại dấu tích kiến trúc khác như móng cột gia cố bằng đá, móng cột gia cố bằng đất sét, di tích bếp lò, di tích mộ táng

Dấu tích thành Hà Nội thời Nguyễn có thể phân tách thành ba bộ phận chính

của cấu trúc Thành – Hào như sau: móng tường thành, móng tường kè hào và hào nước (Ba.03: h.1; h.2)

Trong các loại hình di tích trên đáng chú ý nhất là các di tích kiến trúc Các

di tích kiến trúc ở đây có niên đại kéo dài từ thời Lý qua thời Trần, thời Lê sơ đến thời Nguyễn Nghiên cứu các di tích này sẽ góp phần hiểu thêm nhiều điều về lịch

sử thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê và thành Hà Nội thời Nguyễn

1.3.3.2 Di vật gốm men thời Lý

Trên diện tích 2.286m2 khai quật tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú đã thu được

số lượng di vật không lồ có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp Qua phân loại và thống kê với tổng số: 526.942 di vật Trong số này có 287.526 di vật có thể xác định được loại hình và niên đại Số di vật không xác định được loại hình và niên đại gồm 39.410 mảnh gạch vụn; 200.006 mảnh ngói vụn Loại hình di vật cực

kỳ phong phú bao gồm gạch, ngói, gốm men, gốm sành, gốm đất nung, đồ kim loại,

đồ gỗ, đồ đá Hệ thống di vật này có niên đại kéo dài khoảng từ thế kỷ 2 – 3 đến thế

kỷ 19 – 20 (Bảng 01)

Đồ gốm men thời Lý phát hiện được tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú bao gồm

2.642 mảnh, chiếm 9,55% tổng số lượng mảnh hiện vật gốm men Thuộc các dòng

gốm men trắng, men ngọc, men lụ, men nâu, gốm nền nâu hoa trắng Loại hình: bát, đĩa, âu, ấm, hộp, bình, đèn, lọ, liễn, nắp đậy, tước, tượng Chiếm số lượng nhiều nhất vẫn là loại hình bát và đĩa đa dạng về kiểu dáng, hoa văn,đặc biệt là kỹ thuật chân đế

Trang 30

18

Đây là địa điểm khảo cổ học có số lượng gốm men thời Lý nhiều nhất từ trước tới nay được nhận diện trong các địa điểm khảo cổ học lịch sử nói chung, các địa điểm khảo cổ học ở Hà Nội nói riêng

Đến thập niên 70, những phát hiện và nghiên cứu về gốm thời Lý xuất hiện nhiều hơn và do các học giả Việt Nam thực hiện Bên cạnh những phát hiện mang tính ngẫu nhiên, đã có những phát hiện đồ gốm thời Lý nằm trong địa tầng của các cuộc khai quật Những nghiên cứu về gốm Lý được tiếp cận từ nhiều hướng như lịch sử, mỹ thuật, kỹ thuật, sản xuất,…là những tài liệu bước đầu để nhận thức chung về gốm thời Lý Tuy nhiên hầu như chưa có các công trình nghiên cứu, phân loại thực sự bài bản và hầu như vắng bóng việc nghiên cứu thời Lý

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều cuộc khai quật ở khu vực Thăng Long – Hà Nội và vùng phụ cân đã được tiến hành Qua đó gốm men thời Lý được phát hiện ngày càng nhiều hơn, phong phú và đa dạng hơn Đồ gốm được phát hiện trong địa tầng hố khai quật cung cấp những thông tin đáng tin cậy về niên đại và diễn biến phát triển của các loại hình Đã có những công trình nghiên cứu về gốm men thời Lý nói riêng trên các phương diện

Trong các di tích đã khai quật và nghiên cứu ở Thăng Long – Hà Nội thì địa điểm 62 – 64 Trần Phú là một di tích quan trọng Do tính chất của di tích nên diện tích khai quật đến lớp Lý-Trần không nhiều, đặc biệt là thời Lý Chính vì vậy số lượng gốm men thời Lý thu được qua khai quật không nhiều Cho đến nay, chưa có một chuyên khảo về sưu tập gốm Lý ở khu vực này Hầu hết gốm Lý ở khu vực này vẫn chỉ là tư liệu thô trên báo cáo khai quật Do vậy, luận văn cố gắng tiếp cận khối

tư liệu gốm men thời Lý để làm đề tài nghiên cứu

Trang 31

19

CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÌNH GỐM MEN THỜI LÝ TẠI ĐỊA ĐIỂM 62 – 64 TRẦN PHÚ

Quá trình chỉnh lý và phân loại dòng gốm men tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú khai quật năm 2008 cho thấy số lượng gốm men thời Lý khá lớn với 2.642 hiện vật, hầu hết trong tình trạng vỡ nát Số lượng hiện vật nguyên và hiện vật đủ dáng rất ít Hiện vật thu được khá phong phú về kiểu loại, có mặt ở các dòng men: men trắng, men

xanh ngọc, men xanh lục, men nâu, dòng gốm nền nâu hoa trắng (Bảng 02)

2.1 Dòng gốm men trắng

Dòng gốm men trắng là dòng men có số lượng hiện vật lớn nhất trong tổng

số gốm men thời Lý, bao gồm 2.473 mảnh, chiếm 93,60% gồm các loại hình: bát, đĩa, âu, đèn, tượng, hộp, ấm, nắp, liễn, lọ Kiểu dáng tương đối đa dạng, nhất là loại

hình bát, đĩa với số lượng lớn hơn cả (Bảng 02)

Gốm men trắng thời Lý có sắc men trắng đục hay trắng sữa là phổ biến, màu trắng ngà hay trắng xám cho thấy gốm có độ nung còn nhẹ lửa Một số tiêu bản trắng phớt xanh kiểu ảnh thanh có độ thủy tinh hóa cao, bề mặt láng bóng Bề mặt men bóng nhẵn, rạn nhỏ đều, một số loại và kiểu loại giai đoạn cuối thời Lý đầu thời Trần thường có nước men chảy đọng bề mặt mà phủ không đều Xương gốm mịn, trọng lượng nhẹ, màu trắng ngà Hoa văn trang trí rất tỉ mỉ, tinhh xảo với các

đồ án hoa sen hoặc hoa cúc cách điệu kết hợp văn phẩy răng lược với kỹ khắc hay

vẽ chìm dưới men

2.1.1 Bát

Số lượng bát men trắng thời Lý thu được tại địa điểm 62 – 64 Trần Phú là

1.973 hiện vật (Bảng 02), là loại hình có số lượng lớn nhất Các hiện vật hầu hết là

mảnh vỡ miệng, thân, đáy, mảnh đủ dáng có số lượng rất ít Bao gồm 71 mảnh đủ dáng, 393 mảnh miệng, 710 mảnh thân, 799 mảnh chân đế Dựa vào phương pháp phân loại đã nêu ở chương I, chúng tôi tiến hành phân loại đồ gốm thời Lý theo hiện trạng: phần các mảnh đủ dáng và phân loại các mảnh vỡ

Trang 32

20

Bát đủ dáng HTI-NI-LI-KI-2-PKI-2b

Trong tiêu chí phân loại có sự thống nhất giữa các mảnh đủ dáng và mảnh chân đế ở các tiêu chí: tiêu chí hệ thống, tiêu chí nhóm Nhưng khi sang tiêu chí thứ

3 những mảnh đủ dáng lấy tiêu chí dáng làm chuẩn và các kiểu và phụ kiểu lấy dáng miệng làm chuẩn

Căn cứ vào kỹ thuật tạo chân đế có thể chia các mảnh bát gốm men trắng đủ dáng thời Lý thành 2 hệ thống:

- Hệ thống I: Hệ thống bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật cắt tiện;

- Hệ thống II: Hệ thống bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật cắt vét

a Hệ thống I: Hệ thống bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ thuật cắt tiện

Đặc điểm chung của các mảnh bát đủ dáng hệ thống I có góc chân đế cắt tiện Dấu vết để lại là góc chân đế là góc tù không có dấu vết cạo lõm và thường có vết xước tròn quanh lòng chân đế

Trong hệ thống I, sự khác nhau về hình dáng, kỹ thuật, kích thước và hoa văn tạo nên một số nhóm, kiểu loại nhỏ hơn, bao gồm các nhóm chính như sau:

a.1 Nhóm I: Tiết diện chân đế hình tam giác

Dựa vào kích thước, hình dáng, kiểu miệng, có thể chia

bát nhóm I thành các loại, kiểu, phụ kiểu như sau:

- Loại I: Bát cỡ lớn

Bát có kích thước cao 8,5cm; đkm 19,5cm; đkđ 7,2cm;

chân đế cao 1,9cm

+ Kiểu I-2: Dáng vát cong

Phụ kiểu I-2b: Dáng vát cong, miệng loe, có 2 tiêu bản

(Bv.01: h.1 Ba.04: h.1)

Bát có dáng vát cong, miệng dáng loe bẻ gập ra phía ngoài, gờ ngắn Là kiểu

loại khá phổ biến và rất đặc trưng của dòng gốm men trắng Loại bát này có thân hình cầu, chân đế cao, thành đế đứng, tiết diện hình tam giác, mép đế cắt phẳng được cạo vát nhẹ hai bên Men phủ đều, màu trắng xanh, mặt rạn nhỏ phủ kín đến sát mép đế, chân đế phẳng để mộc Xương bát mỏng đều (0,2cm), chất liệu trắng xốp, trong lòng bát còn dấu vết bột chống dính Bát kiểu loại này thường không tráng trí hoa văn Cấu trúc chân đế và kỹ thuật chồng nung bát kiểu loại này giống với các mảnh chân đế bát hệ thống I, nhóm I, loại I, kiểu I, phụ kiểu I-1a

- Loại III: Bát cỡ nhỏ

Chân đế bát cao 0,7cm, đkđ 3,8cm Bao gồm 2 kiểu

Trang 33

21

Bát đủ dáng HTI-NI-LIII-KIII-1- PKIII-1a

Bát đủ dáng HTI-NI-LIII-KIII-2- PKIII-2a

Bát đủ dáng HTI-NI-LIII-KIII-3- PKIII-3b

+ Kiểu III-1: Dáng vát xiên

Phụ kiểu III-1a: Dáng vát xiên, dáng miệng thẳng, có 2

tiêu bản (Bv.01: h.2; Ba.04: h.2)

Bát vát xiên tức thành bát vát thẳng, phổ biến với kiểu

miệng thẳng, lòng sâu hẹp; các tiêu bản có dáng kiểu này có số

lượng nhiều hơn ở gốm thời Trần, vì vậy cũng có nhiều người

xếp kiểu bát dáng này ở thời Trần (như kiểu trang trí mô típ

văn mây hoặc văn cánh sen thân ngoài) cho là thuộc thời Lý Bát thuộc kiểu loại này đều có trang trí hoa văn khá tỉ mỷ và cầu kỳ với kỹ thuật in khuôn, mép đế nhọn, mặt cắt chân đế hình tam giác, đáy đầy và phẳng Men màu trắng sữa bóng mặt, không rạn, phủ đều sát chân đế Xương bát mỏng (0,1-0,2)cm, chất liệu trắng sữa, xốp và nhẹ Không có vết kê nung Có lẽ do số lượng không nhiều bởi thuộc dòng cao cấp nên hiện tại mẫu này không còn tiêu bản nào đủ dáng, dưới đây là mẫu đặc biệt gần đủ dáng chỉ bị vỡ phần miệng, mục đích đưa vào là chúng tôi muốn hệ thống có mặt đầy đủ các loại Bát kiểu loại này có cấu trúc chân đế gần tương đồng với chân đế hệ thống I, nhóm I, loại III, kiểu III-1, phụ kiểu III-1c

+ Kiểu III-2: Bát cỡ nhỏ, dáng vát cong

Phụ kiểu III-2a: Bát dáng vát cong, miệng dáng thẳng

Có 2 tiêu bản (Bv.01: h.3; Ba.04: h3)

Bát có dáng giống với loại I, kiểu I-2, tuy nhiên bát

thuộc phụ kiểu này có dáng miệng thẳng, đây kiểu dáng phổ

biến của bát gốm men trắng thời Lý Bát cao 5,9cm; đkm 12,4cm; đkđ 4,6cm; chân

đế cao 1,15cm Thành chân đế choãi và thanh, mép chân đế cắt vát 1 lần, diện tiếp xúc nhỏ Men màu trắng phớt xanh, bề mặt bóng nhẵn, rạn không đều, men phủ tới thành ngoài chân đế, không vết kê nung So với các mảnh chân đế bát loại này xếp vào hệ thống I, nhóm I, loại III, kiểu III-1, phụ kiểu III-1c

+ Kiểu III-3: Bát cỡ nhỏ, dáng cong

Phụ kiểu III-3b: Bát dáng cong, miệng dáng loe bẻ rộng,

có 3 tiêu bản (Bv.01: h.4; Ba.04: h4)

Bát thuộc kiểu này có dáng cong, nông lòng, thân cong

hình cầu, miệng vuốt mỏng loe bẻ rộng, lòng bát có vòng tròn

nhỏ ở tâm Kích thước cao 5,3cm; đkm 12,2cm; đkđ 4,8cm; chân đế cao 1,5cm

Trang 34

22

Bát đủ dáng HTI-NII-LI-KI-2-PKI-

2a

Bát đủ dáng HTI-NII-LI-KI-2-PKI-

2b

Mép chân đế nhọn do cạo vát ở phía trong Men mỏng màu trắng phớt xanh, mặt bóng rạn nhỏ phủ đều gần đến mép đế Mép và lòng đế để mộc Chất liệu trắng xốp, không có hoa văn Chồng nung bằng bột chống dính trong bao nung nhưng được đặt

ở vị trí trên cùng Không trang trí hoa văn

Kiểu miệng loe bẻ ở dòng gốm men trắng có thể nói là một trong các đặc trưng cơ bản của gốm thời Lý, hầu hết kiểu miệng này xuất hiện với các mẫu bát kích cỡ nhỏ hoặc cũng dáng loe bẻ nhưng vành miệng ngắn hơn ở loại kích cỡ lớn

có số lượng khá nhiều như bát loại I Kiểu miệng này chỉ phổ biến với loại hình bát thời Lý, còn các loại hình khác hiếm gặp Sang thời Trần, kiểu miệng bẻ gấp này lại phổ biến ở loại hình đĩa dáng chậu dòng men trắng và men xanh lục, ngược lại loại hình bát hầu như không có

a.2 Nhóm II: Tiết diện chân đế hình thang

Nhóm II bát có thành chân đế đứng tạo mặt cắt chân đế

hình thang Cắt vát rìa mép ngoài hoặc cả 2 rìa mép chân đế,

vết cắt nông, diện tiếp xúc nhỏ Lòng chân đế bằng và thường

có các đường xước nhỏ chạy theo vòng tròn Dựa vào hình

dáng và kích thước có thể chia thành các loại, kiểu, phụ kiểu sau

- Loại I: Bát cỡ lớn

Bát cao 5,9 - 9,0cm; đkm 13 - 21,0cm; đkđ 4,7 - 7,8cm

+ Kiểu I-2: Bát dáng vát cong, dựa vào dáng miệng có thể chia thành 2 phụ kiểu

Phụ kiểu I-2a: Bát dáng vát cong, miệng dáng thẳng, gồm 4 tiêu bản (Bv.02: h.1; Ba.05: h.1)

Bát có cùng một kiểu dáng vát cong, lòng sâu rộng

Chân đế thấp và rất thấp, thành đế thanh, mép chân đế cắt vát

lệch, diện tiếp xúc phẳng, chân đế rất dày và nặng Cao 9,0cm;

đkm 21,0cm, đk 7,8cm Chất liệu sét vàng nhạt lẫn ít cát mịn,

hơi xốp Ngoài miệng có 3 đường chỉ vòng quanh dưới mép

miệng và ở tâm lòng bát cũng có hình tròn nổi như các bát khác

của loại này Men đặc trưng màu trắng ngà, nhẵn bóng và rạn

nhỏ đều, đặc biệt bề mặt men thường có các hạt cát đen lẫn

trong men phủ tới thành chân đế, đáy phẳng để mộc

Trang 35

23

Bát đủ dáng HTI-NII-LI-KI-2-PKI-

2b

Bát đủ dáng HTI-NII-LI-KI-3-PKI-

3a

Phụ kiểu I-2b: Bát dáng vát cong, miệng dáng loe, có 3 tiêu bản với 2 dáng

miệng loe

Miệng dáng loe bẻ ngắn: Kiểu dáng miệng này giống

với bát loại I, nhóm I cùng hệ thống Bát dáng vát cong, mép

miệng có xu hướng bẻ ra; chân đế thấp, mép đế gần nhọn do

vát mạnh ở phía trong, chân đế phẳng để mộc Lòng rộng và

nông Men bị sống màu trắng bạc, mỏng, không rạn mặt, phủ

chưa đến phần chân đế Chất liệu xương gốm trắng vàng, xốp,

mỏng khá đều Kỹ thuật chồng nung bột chống dính Kích

thước dáng cao 5,9cm, đkm 18cm, đkđ 6,6cm, chân đế cao

0,9cm Lòng bát rộng và nông, thân cong vát; chân đế thấp, thành đế dày, diện tiếp

xúc phẳng Chồng nung bằng bột chống dính (Bv.02: h.2; Ba.05: h.2)

Miệng dáng loe rộng: Bát có dáng cao, thân vát cong, lòng sâu rộng Chân

đế kích thước trung bình, thành dày và choãi, diện tiếp xúc phẳng Men trắng ngà, nhẵn bóng phủ tới gần thành ngoài chân đế, đáy để mộc Kỹ thuật chồng nung sử

dụng bột chống dính Cao 8,2cm; đkm18,8cm; đkđ 6,0cm (Bv.02: h3; Ba.05: h.3)

+Kiểu I-3: Bát dáng cong

Phụ kiểu I-3a: Bát dáng cong, miệng thẳng, có 2 tiêu bản

Dáng bát cong đều, miệng thẳng giống với các tiêu bản

gốm dòng men ngọc nhưng kích cỡ nhỏ hơn Nhiều người cho

là âu, chúng tôi cho là bát bởi thân ngắn, miệng rộng Xương

gốm dày ở chân đế vuốt mỏng dần lên miệng, tâm bát có đường

tròn nổi và phía ngoài cũng có 3 đường chỉ chìm chạy vòng

quanh dưới miệng bát Men màu trắng vàng, bóng mặt, mỏng, ít

rạn và phủ chưa đến chân đế Chân đế thấp, thành dày, thành

đứng, diện tiếp xúc phẳng, chân đế đầy, phẳng để mộc Một tiêu

bản chồng nung sử dụng bột chống dính, một tiêu bản không có vết kê nung Cao

7,8cm; đkm 16,6cm; đkđ 6,7cm, chân đế 0,4cm (Bv.02: h4; Ba.05: h4)

- Loại III: Bát cỡ nhỏ

Bát cao trung bình 6,7cm; đkm 14cm, đkđ 5cm, chân đế cao 1,1- 1,6cm Có

1 kiểu bát dáng vát cong

Trang 36

24

Bát đủ dáng HTI-NII-LIII-KIII-2- PKIII-2a

Bát đủ dáng HTI-NII-LIII-KIII-2- PKIII-2b

Bát đủ dáng HTI-NIII-LI-KI-2-PKI-

Dáng bát vát cong, nửa trên thân có dáng loe xiên,

miệng gần thẳng, mở rộng miệng thu nhỏ dần xuống chân đế Ngoài thân có dấu vết cạo tu sửa, chân đế cao, thành đế ngoài thẳng, mép đế cắt phẳng hơi vê cong rìa ngoài, đáy phẳng Men trắng mỏng ngả vàng, bóng mặt, không rạn phủ đến phần giáp đế phía ngoài thân, mép và lòng đế để mộc Lòng bát có vòng ngấn chân đế và đều không được trang trí hoa văn, không vết kê nung Cao 6,5cm; đkm 13,6cm; đkđ

4,7cm; chân đế cao 1,6cm (Bv.02: h5; Ba.05: h5)

Phụ kiểu III-2b: Dáng vát cong, miệng dáng loe, có 1 tiêu bản

Lòng bát rộng, miệng uốn cong ra ngoài, thân hơi cong,

lòng chân đế bát phẳng, đế cao trung bình, mép vê cong, chân

đế phẳng Men mỏng đều, màu trắng xám xanh, mặt men bóng,

ít rạn phủ đến chân đế, mép chân đế cắt vát 1 lần, diện tiếp xúc

nhỏ và đáy bát để mộc Xương dày ở chân đế thu mỏng dần lên

mép miệng, chất liệu trắng xám, hơi xốp Không vết kê nung Cao 6,8cm; đkm

14,4cm; đkđ 5,2cm; chân đế cao 1,1cm (Bv.02: h6; Ba.05: h6)

a.3 Nhóm III: Tiết diện chân đế hình chữ nhật và gần hình chữ nhật

Đặc điểm của bát nhóm 3 chân đế bát có tiết diện hình chữ nhật và gần chữ nhật, tuy nhiên số lượng có tiết diện hình gần chữ nhật chiếm đa số Bát thuộc nhóm III chỉ có một loại thuộc loại hình bát cỡ lớn

- Loại I: Bát cỡ lớn

Kích thươc trung bình cao 8,0cm; đkm 16,5cm; đkđ

6,8cm, chân đế cao 1,2cm Có lẽ kích cỡ bát lớn nên cần phải

tương thích với kiểu chân đế vừa to vừa dày, diện tiếp xúc

phẳng tạo thể vững chắc Do vậy khác với nhóm I và II, những

kiểu loại nhóm III phần lớn dáng thô, xương gốm dày Kỹ thuật

nung chân kê gắn mấu hoặc con kê cục đất phổ biến… những

đặc điểm này rất gần với gốm thời Ngũ Đại (Trung Quốc) Cho

Trang 37

25

Bát đủ dáng HTI-NIII-LI-KI-2-PKI-

2b

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-1- PKII-1a

nên, có nhiều ý kiến cho rằng nhóm này có niên đại sớm hơn nhóm I Căn cứ vào hình dáng, kiểu miệng có thể chia loại này thành những kiểu và phụ kiểu sau

+ Kiểu I-2: Bát dáng vát cong

Phụ kiểu I-2a: Bát dáng vát cong, miệng dáng thẳng, có 1 tiêu bản (Bv.03: h.1)

Dáng bát giống với bát kiểu I-2a (nhóm II, hệ thống I), chỉ khác nhau ở thành

đế, thành đế dày có tiết diện gần hình chữ nhật, mép cắt phẳng Lớp men trắng đục ngà, không nhẵn Chồng nung bằng con kê hình vành khăn gắn mấu (5 mấu hình

tam giác) Cao 7,0cm; đkm 19,2cm; đkđ 7,5cm, chân đế cao 1,1cm

Phụ kiểu I-2b: Bát dáng vát cong, miệng dáng loe, có 1 tiêu bản (Bv.03: h2; Ba.06: h.1)

Bát dáng vát cong hơi loe, sâu lòng, thân cong vát đều,

mép miệng vuốt nhọn hơi uốn cong ra ngoài, chân đế cao trung

bình, mép đế rộng cắt phẳng, diện tiếp xúc lơn, góc thành trong

chân đế cắt gãy gọn, đáy phẳng để mộc Men màu trắng xanh

nhạt, mặt bóng rạn, mỏng nên nổi rõ các đốm đen của sạn cát

Xương gốm dày 0,5-0,7cm Chất liệu sét trắng vàng, hơi xốp và có pha cát mịn, không vết kê nung Bát được trang trí hoa văn in khuôn nổi ngoài thân với mô típ các cánh cúc tia Bát Cao 9,0cm, đkm 15,8cm, đkđ 6,3cm, chân đế cao 1,2cm

b Hệ thống II: Hệ thống chân đế bát có góc chân đế được thực hiện bằng kỹ

thuật cắt vét

Cũng giống như các mảnh chân đế, các mảnh bát đủ

dáng hệ thống II chỉ có một nhóm chân đế bát có tiết diện hình

tam giác

b.1 Nhóm I: Chân đế bát có tiết diện hình tam giác

Bát đủ dáng nhóm một có hai loại bát kích cỡ trung bình

và bát cỡ nhỏ, không xuất hiện loại bát cỡ lớn

- Loại II: Bát có kích cỡ trung bình

Cao trun bình 7,8cm; đkm 16,5cm; đkđ 6,5cm, chân đế cao 1,2cm Bao gồm các kiểu sau

+ Kiểu II-1: Dáng vát thẳng, căn cứ vào kiểu dáng miệng có thể chia thành 3

phụ kiểu sau

Trang 38

26

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-1- PKII-1b

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-2- PKII-2a

Phụ kiểu II-1a: Dáng vát thẳng, miệng dáng thẳng, có 6 tiêu bản (Bv.04: h.1; Ba.07: h.1)

Bát phụ kiểu này có dáng thanh mảnh, lòng sâu, chân đế thấp với cấu trúc chân đế có sự khác nhau Mép chân đế nhọn cắt đều cả 2 bên hoặc cắt vát mạnh ở một bên (phía trong) và mép chân đế phẳng, thành chân đế choãi có thể dày hoặc thanh, thành trong miết lõm sâu tới mép đế tạo diện tiếp xúc nhỏ gọn Men màu trắng ngà một số tiêu bản màu trắng bạc do bị sống men, ráp phủ gần tới thành ngoài đế, đáy lõm để mộc Ở kiểu loại này, có sự thống nhất ở kỹ thuật chồng nung

là sử dụng bột chống dính Cũng như hệ thống I, tiêu bản có thành bát vát thẳng không còn tiêu bản nào đủ dáng, chúng tôi lấy tiêu bản gần đủ dáng với mục đích hoàn thiện hệ thống phân loại

Phụ kiểu II-1b: Dáng vát thẳng, miệng dáng loe bẻ gập gờ ngắn và phẳng, có

1 tiêu bản (Bv.04: h2; Ba.07: h.2)

Bát có dáng thấp, lòng rộng và nông Chân đế thấp,

thành đế dày và choãi, mép đế cắt vát hai lần đều hai bên tạo

diện tiếp xúc nhọn, nhỏ Men bị sống, màu trắng đục phủ tới

gần thành ngoài chân đế, đáy phẳng để mộc, không vết kê

nung Cao 7,4cm; đkđ 5,6cm, chân đế cao 1,0cm; thành đế dày

0,7cm

+ Kiểu II-2: Bát dáng vát cong, có hai phụ kiểu

Phụ kiểu II-2a: Dáng vát cong, miệng bát dáng thẳng, có 1 tiêu bản (Bv.04: h.3; Ba.07: h.3)

Lòng bát sâu rộng, miệng bẻ loe gờ ngắn và phẳng Kích

thước chân đế trung bình, thành dày và choãi, mép trong chân

đế cắt vát một lần, vết cắt rộng và nông (tới ½ thành chân đế),

diện tiếp xúc phẳng và nhỏ Men trắng phớt xanh, nhẵn bóng,

rạn không đều kèm hiện tượng chảy và đọng men phủ tới gần

thành ngoài chân đế Xương gốm chắc màu trắng xám, đáy

phẳng, thân ngoài rõ vết bàn xoay Cao 7,9cm; đkm 6,2cm;

chân đế cao 1,2cm và thành đế dày 1,05cm

Phụ kiểu II-2b: Dáng vát cong, miệng dáng loe Có 12 mảnh

Trang 39

27

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII- 2-PKII-2b biến thể 1

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII- 2-PKII-2b biến thể 2

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII- 2-PKII-2b dáng

1

Đặc điểm chung của bát phụ kiểu này thân cong vát, miệng loe Ở phụ kiểu này, các chi tiết nhỏ khác nhau đa dạng, miệng bẻ gờ ngắn và phẳng Cùng một dáng miệng nhưng cấu tạo chân đế có sự khác nhau, khi quan sát từng biến thể sẽ thấy rõ hơn

Biến thể miệng loe bẻ ngắn ngửa ra phía ngoài:

Biến thể 1: Bát lòng sâu rộng, có 2 tiêu bản (Bv.04: h.4;

Ba.07:h4)

Bát có thân cong vát đều Chân thấp, thành đế choãi, dày,

mép chân đế cắt vát 1 lần, diện tiếp xúc nhỏ Men bị trắng đục,

nhẵn phủ tới gần thành ngoài chân đế, đáy hơi lồi để mộc Chồng

nung sử dụng con kê hình vành khăn Cao 8,3cm, đkđ 7,0cm,

đkm 17,6cm

Biến thể 2: Bát lòng nông và rộng, có 2 tiêu bản (Bv.04:h.5; Ba.07:h5)

Bát nông lòng, dáng có dạng đĩa sâu lòng Chất liệu, màu

men và cấu trúc chân đế khác hẳn với kiểu 1 và kiểu 2 Thành

ngoài chân đế đứng, thành trong choãi, mép chân đế cắt vát 2 lần

(vát lệch), diện tiếp xúc nhỏ, góc đế miết nhẵn Men trắng xanh,

mặt bóng, dày không đều, phủ đến gần mép đế Xương gốm

trắng có pha cát, xốp khá dày ở chân đế (≈ 1cm) vuốt mỏng dần

lên miệng, mép miệng có gờ chờm ra ngoài Đáy hơi lồi và được

quét nâu vì vậy niên đại bát này có thể thuộc Lý-Trần (thế kỷ 12-13)

Biến thể dáng loe mép miệng vuốt: Biến thể này cũng có

nhiều dáng khác nhau

Dáng 1: Lòng bát sâu rộng, miệng loe Thành chân đế

dày và choãi, mép đế trong cắt vát 1 lần, diện tiếp xúc nhỏ Men

trắng đục, bề mặt men nhẵn bóng và rạn phủ đều tới thành

ngoài chân đế, đáy mộc và phẳng Kỹ thuật chồng nung bột

chống dính Cao 8,0cm, đkđ 6,2cm; chân đế cao 1,05cm; thành

đế dày 0,8cm (Bv.04: h.6; Ba.07: h6)

Dáng 2: Thành bát loe rộng, thân cong, mép miệng vuốt mỏng hơi uốn cong

ra ngoài Chân đế cao trung bình, hơi choãi, mép chân đế cắt vát 1 lần, nhọn, góc

Trang 40

28

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-2- PKII-2b dáng 2

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-2- PKII-2b dáng 3

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-2- PKII-2b dáng 4

Bát đủ dáng HTII-NI-LII-KII-2- PKII-2b dáng 5

chân đế miết lõm, chân đế gần lồi có núm nhỏ ở tâm Men

mỏng màu trắng ngả vàng, mặt bóng phủ không hết thân ở phía

ngoài phần gần chân đế Đáy và lòng để mộc Xương bát dày ở

phần đế (0,6cm) vuốt mỏng dần lên miệng, chất liệu sét vàng

lẫn cát mịn Kỹ thuật chồng nung bột chống dính Cao 7,4cm,

đkđ 6,2cm, đkm 17,8cm, chân đế cao 1,5cm (Bv.05: h.1;

Ba.07: h7)

Dáng 3: Thành bát loe rộng, lòng sâu rộng Chân đế cao,

thành đế ngoài đứng, thành trong choãi, mép chân đế cắt vát

đều 2 bên, diện tiếp xúc nhỏ còn lưu lại bột chống dính Men

trắng ngà, nhẵn bóng và rạn nhỏ phủ tới gần thành ngoài chân

đế, đấy lồi để mộc Kỹ thuật chồng nung bột chống xếp ở vị trí

trên cùng (Bv.05: h.2; Ba.07: h8)

Dáng 4: Lòng bát hình lòng chảo, miệng loe rộng mép

miệng vuốt mỏng hơi uốn cong ra ngoài Xương gốm rất mỏng, từ

0,2-0,3cm Men trắng vàng, mỏng đều nhưng phủ chưa đến phần

đế Đế để mộc, đáy đế gần lòng chảo, mép đế nhọn Chất liệu sét

vàng, xương hơi xốp kỹ thuật chồng nung bột chống dính Cao

5,8cm; đkm 16,6cm; đkđ 5,6cm, chân đế cao 1cm (Bv.05: h.3;

Ba.08: h1)

Dáng 5: Thuộc loại hình bát cao cấp có chất liệu sứ men

trắng được trang trí hoa văn rất điển hình của thời Lý Dáng bát

loe rộng, thân cong, mép miệng vuốt mỏng hơi uốn cong ra ngoài,

chân đế cao trung bình, hơi khum, mặt cắt thành đế hình tam giác,

mép đế vê cong rìa ngoài, góc đế miết bằng tay, đáy đế gần

phẳng Men mỏng, bóng màu trắng vàng nhưng nổi nhiều đốm

đen Xương gốm mỏng, dày ở chân đế vuốt mỏng dần lên miệng,

chất liệu trắng vàng xốp pha ít cát mịn Bát được trang trí hoa văn

khắc vạch chìm dưới men với đồ án văn mây kết hợp văn phẩy răng lược ở cả trong và ngoài bát Không vết chồng nung Cao 7,6cm; đkm 18cm; đkđ 6cm; chân đế cao

0,9cm (Bv.05: h.4; Ba.08: h.2)

Ngày đăng: 15/03/2021, 15:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w