ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯƠNG BẢO YẾN ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI R&D TẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG BẢO YẾN
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI (R&D) TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG BẢO YẾN
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI (R&D) TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60340412
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Ngọc Thạch
Hà Nội, 2017
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
R&D : Nghiên cứu và triển khai
CB CNV : Cán bộ công nhân viên
ISO : Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
CGCN : Chuyển giao công nghệ
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động Khoa học và Công nghệ 10
Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động Nghiên cứu và triển khai 11
Hình 1.3 Sơ đồ Phân loại R&D theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu 12
Hình 1.4 Sơ đồ quan hệ của nhân lực KH&CN và nhân lực R&D 15
Hình 1.5 Sơ đồ quan hệ của nhân lực Nghiên cứu và triển khai 16
Hình 2.1 Sơ đồ Tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của nhà máy 30
In tiền Quốc gia Việt Nam 30
DANH MỤC CÁC BẢNG VẼ Bảng 2.1 Bảng phân bố số lượng nhân lực R&D thuộc nhóm 2 38
của nhà máy In tiền Quốc gia 38
Bảng 2.2 Phân bổ trình độ nhân lực R&D của nhà máy In tiền QG 41
DANH MỤC SƠ ĐỒ Biểu đồ 2.1 Tóm tắt số lượng nhân lực lao động của Nhà máy In tiền Quốc gia 39
Đồ thị 2.1 Số lượng nhân lực R&D nam, nữ ở các độ tuổi 40
Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo 68
Sơ đồ 3.2 Quy trình đào tạo tại doanh nghiệp 70
Sơ đồ 3.3 Quy trình đào tạo bên ngoài doanh nghiệp 70
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Kết cấu Luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Nghiên cứu và triển khai (R&D) 9
1.1.2 Hoạt động Nghiên cứu và triển khai 9
1.1.3 Nhân lực Nghiên cứu và triển khai 12
1.1.5 Chất lượng phục vụ 19
1.2 Vai trò của hoạt động R&D với doanh nghiệp 20
1.3 Chính sách sử dụng nhân lực R&D trong doanh nghiệp 22
1.3.1 Chính sách quản trị nhân sự 23
1.3.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực 25
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM 27
2.1 Giới thiệu chung về nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 27
Trang 62.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 28
2.1.3 Đặc điểm về cơ cấu bộ máy tổ chức của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 29
2.2 Thực trạng hoạt động R&D, chính sách sử dụng và chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 33
2.2.1 Thực trạng hoạt động R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 33 2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam hiện nay 36
2.2.3 Chính sách sử dụng nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 41
2.2.4 Thực trạng Chính sách sử dụng tác động đến chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam 48
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC R&D TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM 56
3.1 Giải pháp đổi mới chính sách quản trị nhân sự 56
3.1.1 Thay đổi phương thức quản lý nhân lực R&D 56
3.1.2 Thay đổi chính sách trả lương và khen thưởng 58
3.1.3 Đổi mới chính sách phân công công việc và đánh giá nhân lực 63
3.2 Giải pháp đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực 67
3.2.1 Xây dựng quy trình đào tạo cụ thể 67
3.2.2 Xây dựng chính sách khuyến khích học tập và quy định sử dụng nhân lực sau đào tạo 71
3.2.3 Quan tâm, đào tạo phát triển đội ngũ làm công tác đào tạo 72
3.3 Một số đề xuất khác 73
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý và sử dụng có hiệu quả nhân lực Khoa học và Công nghệ (KH&CN) nói chung và nhân lực R&D nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và công nghệ bởi nguồn nhân lực này đóng vai trò quyết định tới chất lượng và hiệu quả sản xuất và kinh doanh Do vậy, các doanh nghiệp cần chú trọng và thường xuyên điều chỉnh chính sách sử dụng nhân lực KH&CN đặc biệt là đội ngũ R&D một cách hợp lý để nâng cao chất lượng phục vụ mang lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp
Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam tên viết tắt của Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam (Viet Nam National Banknote Printing Plant) là doanh nghiệp sản xuất trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực in ấn, sản xuất tiền giấy, đúc tiền kim loại, đúc vàng miếng và vật phẩm lưu niệm bằng vàng, in các loại ấn chỉ có giá khác theo từng chủng loại (gọi tắt là sản phẩm) do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao
Với nhiệm vụ rất quan trọng và đặc biệt nên Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam được Nhà nước chú trọng đầu tư hệ thống máy móc, trang thiết bị với công nghệ khá hiện đại, quy mô ngang tầm các nước phát triển trong khu vực Hệ thống dây chuyền công nghệ sản xuất của nhà máy thường xuyên được cập nhật và nâng cấp, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật về bảo an (chống giả) đang thay đổi từng ngày theo sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới Hoạt động R&D đang dần trở thành một trong những yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển của nhà máy
Tuy nhiên, nguồn nhân lực R&D hiện tại của nhà máy còn quá mỏng, thiếu đồng bộ về ngành nghề, hạn chế về trình độ so với công nghệ cao mà đơn vị đang sử dụng, cơ cấu độ tuổi có sự hụt hẫng, đội ngũ kế cận chưa thể đáp ứng yêu cầu Đặc biệt chính sách sử dụng chưa phù hợp với sự chuyển
Trang 8đổi của nền kinh tế trong thời đại mới làm cho chất lượng phục vụ của nhân lực R&D ngày càng giảm sút hiện trở thành bài toán khó cho các nhà quản lý Làm thế nào để có thể sử dụng tốt nguồn nhân lực R&D có trình độ cao và giải quyết nguồn nhân lực R&D có trình độ thấp? Bởi số lượng nhân lực R&D cơ hữu của Nhà máy rất khó có thể thay đổi một sớm một chiều, tất cả đều được kí hợp đồng không thời hạn (biên chế) và số lượng tuyển mới phụ thuộc vào chỉ tiêu của cấp trên Làm thế nào để lực lượng lao động trên tự giác hơn trong công việc và có ý thức tự nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng phục vụ nói chung trở đang thành vấn đề vô cùng cấp thiết Phải đổi mới chính sách sử dụng để nâng cao chất lượng phục vụ của nhân lực R&D thì mới nâng cao hiệu suất lao động cũng như thúc đẩy nhanh chóng
và có kết quả việc tiếp cận tiến tới làm chủ công nghệ mới hiện nay
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn Đề tài nghiên cứu của luận văn là:
“Đổi mới chính sách sử dụng để nâng cao chất lượng phục vụ của Nhân lực Nghiên cứu và triển khai (R&D) tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy
Để phát triển kinh tế xã hội cần dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất, công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên…), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)… song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực của sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Nước ta đang tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn lực con người đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao đóng vai trò là cơ sở
Và để các doanh nghiệp phát triển một cách bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế chính là thực hiện hoạt động Nghiên cứu và triển khai (R&D) Vai trò của hoạt động R&D được thể hiện qua việc giúp
Trang 9doanh nghiệp đổi mới, tăng cường năng lực công nghệ, tăng vị thế và giá trị của doanh nghiệp, tăng cường hoạt động xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển nhanh Hoạt động R&D của doanh nghiệp có phát triển mạnh mẽ hay không lại phụ thuộc rất nhiều tới chất lượng của nhân lực Nghiên cứu và triển khai (R&D) của đơn vị Đội ngũ này hình thành các cấp đồng bộ theo các chức năng khác nhau và với cơ cấu hình nón từ các nhà khoa học, các chuyên gia cao cấp đến các kỹ thuật viên, cán bộ quản lý và đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật lành nghề Nhóm nhân lực này thể hiện đặc trưng của hoạt động R&D: tính sáng tạo, tính mới hay đổi mới Nhân lực R&D khác biệt với nhân lực có trình độ đang làm việc ở đặc điểm: Nhân lực R&D có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và không ngừng đổi mới để tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị với xã hội, có thói quen tư duy độc lập Chính vì vậy, để phát huy được chất lượng phục vụ của nhóm nhân lực này cần có những chính sách sử dụng phù hợp với đặc điểm của họ
Trong thời gian vừa qua, hàng loạt đề tài nghiên cứu liên quan đến đổi mới và hoàn thiện chính sách sử dụng nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực R&D nói riêng trong các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp đã được thực hiện với nhiều mô hình và tổ chức khác nhau Tiêu biểu như:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Anh Thu về “Đổi mới chính sách
sử dụng nhân lực Khoa học và Công nghệ trong cơ quan Nghiên cứu và Phát triển” năm 2000 nói về thực trạng chính sách sử dụng nhân lực KH&CN nói chung cũng như các giải pháp nhằm đổi mới chính sách sử dụng nhân lực KH&CN trong các cơ quan Nghiên cứu và phát triển của Việt Nam trong thời điểm những năm 2000 Đề tài nghiên cứu mang tính đại cương về chính sách
và nhân lực KH&CN của Việt Nam nói chung với tính chất vĩ mô
Năm 2006 tác giả Ngô Huy Hoàng thực hiện đề tài nghiên cứu “Đổi mới cơ chế quản lý nguồn nhân lực KH&CN tại đài truyền hình” Đề tài nêu
rõ được thực trạng nguồn nhân lực của Đài truyền hình, cơ chế quản lý nhân
Trang 10lực với những nhược điểm còn tồn tại và đề xuất giải pháp để khắc phục những bất cập đó
Đề tài “Đổi mới quản lý nhân lực KH&CN thông qua các dự án quy hoạch đô thị” của tác giả Nguyễn Thành Công năm 2008 cũng là một đề tài nghiên cứu thiết thực, bởi những đề xuất giải pháp của tác giả cũng có thể sử dụng để tham khảo trong quá trình nghiên cứu nhằm đổi mới chính sách quản
lý nhân lực KH&CN thông qua các dự án quy hoạch đô thị
Tương tự như vậy, với các đề tài nghiên cứu về “Hoàn thiện chính sách nguồn nhân lực công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý ở các trường tiểu học thành phố” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh năm 2013 hay đề tài “Đổi mới chính sách nhân lực KH&CN của Việt Nam theo định hướng” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh năm 2014 đều chỉ ra những bất cập và những biện pháp khắc phục cho từng đơn vị cụ thể hoặc mang tầm vĩ mô Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về đổi mới chính sách sử dụng nhân lực Nghiên cứu
và triển khai (R&D) còn chưa thấy xuất hiện nhiều
Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực in ấn, sản xuất tiền giấy, đúc tiền kim loại, đúc vàng miếng, vật phẩm lưu niệm bằng vàng và in các loại ấn chỉ có giá khác theo từng chủng loại (gọi tắt là sản phẩm) do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao Đối với sản phẩm đặc biệt là tiền thì yêu cầu về chất lượng luôn là rất cao với rất nhiều yếu tố bảo an tiên tiến Trong thời gian gần đây, việc áp dụng công nghệ in trên chất liệu Polymer dẫn đến việc nhân lực R&D của nhà máy phải rất nỗ lực để tìm ra được những công nghệ tối ưu cho sản xuất và chống giả Ngoài ra, hoạt động R&D trong các lĩnh vực công nghệ tại nhà máy đang được quan tâm và phát triển nhanh chóng nhằm bắt kịp xu hướng phát triển công nghệ của thế giới Tuy nhiên chính sách sử dụng nhân lực lại chưa được hoàn thiện phù hợp nên dẫn tới nhiều bất cập ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ của nhân lực R&D Mặc dù có nhiều đề tài về đổi mới chính sách nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực R&D nói riêng, tuy nhiên do đặc thù nhiệm vụ của Nhà
Trang 11máy In tiền Quốc gia Việt Nam là tuyệt đối bí mật, đặc biệt trong những giai đoạn trước đây (trước những năm 90), ngay cả biển tên của Nhà máy cũng không được phép công khai nên không thấy đề tài nào nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về thực trạng chính sách sử dụng nhân lực nói chung và nhân lực R&D nói riêng trong lĩnh vực in tiền mà cụ thể là tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Trong khuôn khổ các bài Luận văn Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ liên quan đến Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam, có Luận văn của tác giả Nguyễn Tiến Thành với đề tài “ Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ Khoa học Kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực in tiền đáp ứng yêu cầu công nghệ mới ” bảo vệ năm 2006 tại Học viện Kỹ thuật Quân sự Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Thành không đề cập tới chính sách sử dụng nhân lực cũng như sự ảnh hưởng của chính sách sử dụng tới chất lượng phục vụ của nhân lực
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Đề xuất giải pháp đổi mới chính sách sử dụng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam để phù hợp với thực trạng nhà máy hiện nay và đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của chính sách sử dụng nhân lực
R&D trong các doanh nghiệp
- Khảo sát, đánh giá thực trạng Chính sách sử dụng cũng như chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam,
qua đó phân tích những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế còn tồn tại
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới chính sách sử dụng nhân lực
R&D của Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Trang 124 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách sử dụng nhân lực R&D vận dụng
vào chính sách của Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
- Khách thể nghiên cứu: Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2001 đến nay ( Lấy mốc năm 2001 là năm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt đầu cho triển khai
chuyển đổi bộ tiền giấy sang tiền Polymer )
đồng chí Phụ trách nhân sự
Trưởng/Phó các bộ phận trong dây chuyền sản xuất gồm 05 đồng chí
Đại diện đội ngũ Nhân lực Nghiên cứu và triển khai gồm 35 đồng chí
thuộc khắp các bộ phận của nhà máy
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi chính: Đổi mới Chính sách sử dụng nhân lực R&D như thế nào
để nâng cao chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam?
- Câu hỏi phụ: Thực trạng Chính sách sử dụng nhân lực R&D của Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Thay đổi chính sách quản lý nhân lực R&D theo kết quả công việc
- Đổi mới chính sách trả lương phù theo vị trí công việc áp dụng phương pháp tính lương 3P Áp dụng quy chế khen thưởng thiết thực: tiền mặt, tạo điều kiện phát triển nghiên cứu…
Trang 13- Xây dựng lại chính sách phân công công việc với các biểu mẫu đánh giá chất lượng nhân viên theo nhóm hoặc đánh giá cá nhân
- Đổi mới chính sách phát triển và đào tạo nguồn nhân lực bằng việc xây dựng quy trình đào tạo chuyên nghiệp và bài bản
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Tài liệu về lý thuyết chính sách sử dụng nguồn nhân lực, vai trò của hoạt động R&D với doanh nghiệp, nhân lực R&D
- Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về thực trạng chính sách sử dụng nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia
8.2 Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp điều tra Xã hội học: Tác giả sử dụng phương pháp lập bảng hỏi để khảo sát, thu thập thông tin từ nhóm nhân lực R&D trực tiếp tham gia làm việc tại Nhà máy nhằm tìm hiểu những hạn chế của chính sách sử dụng nhân lực R&D hiện tại của Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tác giả trực tiếp phỏng vấn các nhà quản lý, chuyên gia về tổ chức, chính sách, chuyên gia về nhân lực…đã hoặc đang công tác tại nhà máy cũng như các cấp quản lý nhà máy
9 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục liên quan, phần nội dung Khoa
học của Luận văn bao gồm 03 chương:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC R&D TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 14CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NHÂN LỰC
NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Nghiên cứu và triển khai (R&D)
Cụm từ R&D, tiếng Pháp là “Recherche et Desveloppement Expérimental”, tiếng Anh là “Research & Experimental Development ”, gọi tắt là “Research & Development”, khái niệm này được giáo sư Tạ Quang Bửu, nguyên Tổng Thư ký, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước đặt tiếng Việt là “Nghiên cứu và triển khai” , chứ không gọi là “Nghiên cứu và phát triển” Thuật ngữ “Phát triển” được dùng cho cụm từ “Technology Development” (Phát triển công nghệ), bao gồm “Extensive Development of Technology”, tức Diffusion of Technology (mở rộng công nghệ) và
“Intensive Development of Technology” tức Upgrading of Technology (nâng cấp công nghệ) R&D là cụm từ rất thường được dùng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất
R&D là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới Trong phân loại nghiên cứu khoa học, UNESCO chia R&D bao gồm: nghiên cứu cơ bản (fundamental research), nghiên cứu ứng dụng (applied research) và triển khai thực nghiệm, gọi tắt là triển khai (experimental development ) Sự phân chia này của UNESCO được sử dụng cho tất cả các lĩnh vực khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội
1.1.2 Hoạt động Nghiên cứu và triển khai
Để hiểu rõ hơn khái niệm Nghiên cứu và triển khai cũng như hoạt động Nghiên cứu và triển khai (Hoạt động R&D), ta cần tìm hiểu khái niệm Hoạt động Khoa học và Công nghệ (Hoạt động KH&CN)
Trang 16Hoạt động KH&CN (Science and Technology Activities) là thuật ngữ được sử dụng trong các văn kiện chính sách KH&CN của UNESCO từ thập niên 1970 Hoạt động KH&CN có thể bao gồm một số nội dung chính:
(Experimental Development)
Phát triển công nghệ
(Technology Development)
Mở rộng công nghệ
(Extensive Development of Technology, hay Diffusion of
Technology)
Nâng cấp công nghệ
(Intensive Development of Technology, hay Upgrading of Technology)
Dịch vụ khoa học và công nghệ
(Science and Technology Service)
Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động Khoa học và Công nghệ
Hoạt động nghiên cứu và triển khai có thể hiểu là khám phá hay sáng tạo cái mới: có mục tiêu ngoài và mục tiêu tự thân Hoạt động R&D bao gồm việc đầu tư, tiến hành hoặc mua bán các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Công tác R&D cũng nhằm khám phá những tri thức mới về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường tốt hơn
Trang 17Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động Nghiên cứu và triển khai
Theo sơ đồ hoạt động Nghiên cứu và triển khai (hình 1.2):
- R là nghiên cứu trong đó FR là nghiên cứu cơ bản, AR là nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu cơ bản (fundamental research) là những nghiên cứu phân tích các thuộc tính, cấu trúc, hiện tượng các sự vật nhằm phát triển bản chất và quy luật của các sự vật hoặc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, định lý… Nghiên cứu ứng dụng (applied research) là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu cơ bản để đưa ra những mô tả, giải thích,
dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp, có thể bao gồm công nghệ, sản phẩm, vật liệu, thiết bị, nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp mới
về tổ chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, về vật liệu,…
- D là triển khai Hoạt động triển khai (development) còn được gọi là triển khai thực nghiệm (experimental development) hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật; trong Đương đại Khoa - học - học từ điển còn được gọi là nghiên cứu phát triển Đặc trưng của triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên
lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật Hoạt động triển khai được phân chia thành các loại hình: Tạo vật mẫu (là loại hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm ban đầu); Tạo công nghệ hay còn gọi là “ làm pilot ” (là một dạng triển khai nhằm tạo ra công
R &
Trang 18nghệ để sản xuất loại sản phẩm mới theo sản phẩm mẫu mới tạo); Sản xuất thử ở quy mô loạt nhỏ còn gọi là sản xuất “ Serie 0 ” (còn gọi là sản xuất trên quy mô bán đại trà, trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ được gọi là quy mô bán công nghiệp), đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ
Hình 1.3 thể hiện rõ ràng hơn về phân loại R&D theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu, các bước tiến hành trong hoạt động R&D
Hình 1.3 Sơ đồ Phân loại R&D theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu
1.1.3 Nhân lực Nghiên cứu và triển khai
Cần phải phân biệt rõ nhân lực Nghiên cứu và triển khai (Nhân lực R&D) và nhân lực Khoa học và Công nghệ (Nhân lực KH&CN)
1.1.3.1 Nhân lực Khoa học và Công nghệ
Trong hệ thống các nguồn lực xã hội, nguồn nhân lực KH&CN có đặc
điểm chung của các nguồn lực khác, nhưng có khác biệt ở chỗ các nguồn lực khác chỉ là hữu hạn và sẽ cạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng và chỉ
1 Nghiên cứu cơ bản
2 Nghiên cứu ứng dụng
3 Triển khai thực
nghiệm
Nghiên cứu cơ bản thuần túy
Nghiên cứu cơ bản định
Pilot (Tạo quy trình)
Sản xuất thử Série Nº 0
Trang 19tồn tại dưới dạng tiềm năng Trong khi đó, nguồn nhân lực KH&CN là nguồn lực trí tuệ, có tiềm năng vô tận khi được sử dụng và phát triển trong môi
trường thuận lợi
Hiện nay, khái niệm “Nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ ” hay
“Nhân lực Khoa học và Công nghệ” có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau Theo cách hiểu chung nhất, nhân lực KH&CN là một bộ phận của lao động xã hội được đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định
và tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động KH&CN từ nghiên cứu, triển khai đến đào tạo, quản lý và vận hành các hệ thống công nghệ Nhân lực KH&CN có nhiều trình độ đào tạo khác nhau, từ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, đến đội ngũ kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên gia đầu ngành có
trình độ đại học và sau đại học
Theo định nghĩa của UNESCO, đó là toàn bộ những người trực tiếp liên quan tới các hoạt động sáng tạo, là lực lượng tiến hành các hoạt động có
kế hoạch, liên quan mật thiết đến sự ra đời, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, y học, khoa học nông nghiệp
Theo quan điểm phổ biến của nước ta hiện nay, nhân lực KH&CN bao gồm những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động KH&CN, tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm KH&CN Thành phần nhân lực KH&CN bao gồm các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý KH&CN, các nhà khoa học, những người làm thông tin, dịch vụ KH&CN và những người phục vụ cho công tác KH&CN
Theo cuốn KH&CN Việt Nam 2003 và cuốn “ Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:
- Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN
Trang 20- Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào
- Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương Kỹ năng tay nghề
ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Như vậy theo OECD thì nhân lực KH&CN không chỉ bao gồm những người đã qua đào tạo mà cả những người chưa qua đào tạo nhưng đủ năng lực thực tế để thực hiện công việc đòi hỏi những người đã qua đào tạo phải có Nguồn nhân lực KH&CN bao gồm: nhân lực nghiên cứu trong các viện, trường đại học; Nhân lực kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư) làm việc trong các doanh nghiệp; Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; Nhân lực quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình; Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam Định nghĩa này mang tính bao quát thực tế cao, xác định cả tiềm năng của nguồn nhân lực chứ không chỉ tập trung vào những người đang làm công tác KH&CN
1.1.3.2 Nhân lực Nghiên cứu và triển khai
Nhân lực Nghiên cứu và triển khai (Nhân lực R&D) là đội ngũ cán bộ
KH&CN làm việc trong các cơ quan nghiên cứu và triển khai bao gồm hệ thống các viện nghiên cứu, thiết kế, các cơ sở quản lý, tư vấn, dịch vụ chuyển giao công nghệ cùng các cơ sở sản xuất, dịch vụ trực tiếp tham gia thử nghiệm hoặc tiếp nhận công nghệ được chuyển giao ứng dụng Đội ngũ này hình thành các cấp đồng bộ theo các chức năng khác nhau và với cơ cấu hình nón từ các nhà khoa học, các chuyên gia cao cấp đến các kỹ thuật viên, cán bộ quản lý và đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật lành nghề Nhóm nhân lực này thể hiện đặc trưng của hoạt động R&D: tính sáng tạo, tính mới hay đổi
Trang 21mới Nhân lực R&D khác biệt với nhân lực có trình độ đang làm việc ở đặc điểm: Nhân lực R&D có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và không ngừng đổi mới để tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị với xã hội,
có thói quen tư duy độc lập
Khi xem xét chỉ tiêu thống kê nhân lực KH&CN, khái niệm nhân lực R&D chỉ bao gồm nhân lực trực tiếp tham gia vào nghiên cứu và triển khai, trong khi khái niệm nhân lực KH&CN có tầm bao quát rộng hơn
Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực R&D được thể hiện trên hình 1.4 dưới đây:
Nhân lực R&D Nhân lực KH&CN
Nhân lực có trình độ đang làm việc Tổng số nhân lực
Hình 1.4 Sơ đồ quan hệ của nhân lực KH&CN và nhân lực R&D
(Nguồn: Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN, Trung tâm Thông tin KH&CN quốc gia, Hà Nội, 2005)
Theo Hướng dẫn thống kê R&D của OECD (Cẩm nang FRASCATI), nhân lực R&D bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động R&D hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động R&D tức là tất cả những người được tuyển dụng cho hoạt động R&D, cũng như những người cung cấp dịch vụ trực tiếp như các nhà quản lý R&D, cán bộ nhân viên hành chính và văn phòng (OECD.2002.tr.104) Nhân lực R&D được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu) Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học,
Trang 22tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới
- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN Họ tham gia vào
dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp R&D Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án R&D Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc R&D của các tổ chức R&D
Sơ đồ quan hệ của nhân lực R&D được thể hiện ở hình 1.5
Hình 1.5 Sơ đồ quan hệ của nhân lực Nghiên cứu và triển khai
Đối với Việt Nam, để tiệm cận hơn với hệ thống kê, đo lường về KH&CN của quốc tế, khái niệm nhân lực R&D đã được xác định là:
- Tất cả nhân viên tổ chức (trừ những người chỉ hoạt động trong các bộ phận sản xuất, kinh doanh nếu có và không tham gia vào hoạt động R&D của tổ chức), đối với tổ chức R&D chuyên nghiệp (các viện, các trung tâm R&D)
Nhân viên KT Nhân viên phụ trợ
Nhà nghiên cứu /
Nhà khoa học
Nhân lực R & D
Trang 23- Đối với các trường Đại học, học viện, trường cao đẳng, nhân lực R&D bao gồm cán bộ giảng dạy, cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên làm trong các đơn vị R&D của trường nhưng không bao gồm những người chỉ làm công tác hỗ trợ giảng dạy (như giáo vụ,…)
- Đối với cơ quan hành chính, sự nghiệp có hoạt động R&D (có triển khai đề án, dự án KH&CN), nhân lực R&D chỉ tính những người trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án
- Đối với doanh nghiệp, nhân lực R&D chỉ bao gồm những người có hoạt động trong các đơn vị, bộ phận làm R&D, phát triển công nghệ, sản phẩm mới (không phải tất cả cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp) Theo cách nhìn nhận này, khái niệm nhân lực R&D có nghĩa rộng hơn khái niệm nhân lực R&D của OECD định nghĩa (vốn gắn chặt với vị trí việc làm) nhưng hẹp hơn so với khái niệm nhân lực KH&CN theo quan điểm trước đây của OECD hay UNESCO (gắn với trình độ giáo dục đào tạo)
1.1.4 Chính sách
1.1.4.1 Khái niệm Chính sách
Có rất nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm “chính sách”
Tiếp cận chính trị học, chúng ta có thể hiểu, chính sách là tập hợp biện pháp mà một chủ quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực
Tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới
Tiếp cận tâm lý học, chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực
Tiếp cận đạo đức học, thì chính sách là thể hiện thái độ đối xử phù hợp đạo đức của một chủ thể quyền lực, chủ thể quản lý với đối tượng bị quản lý
Trang 24Tiếp cận tổng hợp, chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội Hệ thống xã hội được hiểu theo một ý nghĩa khái quát có thể là một Quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường…
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Như vậy, phân tích khái niệm “Chính sách” thì thấy:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hóa thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu them những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục
Trang 25đích tối thượng, là thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
1.1.4.2 Đổi mới chính sách
Khái niệm “ Đổi mới ” (Innovation) là một thuật ngữ không mới, nó đã xuất hiện từ rất lâu đời ở Việt Nam, trong danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn (1942) gọi là “Canh tân”
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời và thay vào đó là cái mới khác với ban đầu, kế thừa cái tốt của hiện tại và thêm vào cái mới hợp với thời đại mới, thích ứng được với hiện tại Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh Đổi mới không bao giờ là đủ, nó kéo dài theo chiều dài của quá trình tồn tại và
phát triển của tổ chức và doanh nghiệp
Đổi mới chính sách tức là chủ thể quyết định đưa ra các chính sách mới, các sáng chế, các ý tưởng, các phương án lựa chọn mới nhằm làm thay đổi theo hướng phát triển cho tổ chức, doanh nghiệp
Sự thay đổi này có thể là một phần hoặc toàn bộ các chính sách hiện hữu, duy trì và phát huy những cái tốt, bổ sung thêm mới những cái hiện đại phù hợp với thực tế phát triển của tổ chức, doanh nghiệp
áp dụng trong quản trị kinh doanh
- Tiếp cận theo sản phẩm thì chất lượng mang tính chính xác, có thể
đo lường được Nhược điểm của khía cạnh này là chỉ dựa vào một số thuộc tính của sản phẩm để đánh giá
- Theo góc độ sản xuất thì chất lượng dựa trên sự hoàn hảo và phù hợp của hệ thống sản xuất ra sản phẩm tuân thủ theo những yêu cầu hoặc đặc tính kỹ thuật định sẵn
Trang 26- Tiếp cận theo giá trị thì chất lượng là quan hệ tỉ lệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
- European Organization for Quality Control định nghĩa: “Chất lượng
là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”
- “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” theo định nghĩa về chất
lượng của Philip B Crosby
- “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm
ẩn” theo ISO 8402 ( thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản
phẩm theo nghĩa rộng)
Theo quan điểm hướng về khách hàng, chất lượng phục vụ đồng nghĩa
với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách
hàng Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng, như khách hàng mong muốn Do nhu cầu của khách hàng thì đa dạng, cho nên chất lượng cũng sẽ có nhiều cấp độ tuỳ theo đối tượng khách hàng Chất lượng phục vụ
là do khách hàng quyết định Như vậy, chất lượng là phạm trù mang tính chủ quan, tuỳ thuộc vào nhu cầu, mong đợi của khách hàng
Chất lượng phục vụ của nhân lực R&D ở đây được hiểu theo nghĩa là
sự tự giác hết lòng cống hiến, đóng góp trong công việc chuyên môn, tuân thủ quy định tại nơi làm việc, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, có tinh thần trách nhiệm mang lại những hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp
1.2 Vai trò của hoạt động R&D với doanh nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để doanh nghiệp có thể phát triển một cách bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế chính là thực hiện tốt hoạt động R&D Hay nói một cách khác hoạt động R&D có vai trò then chốt đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp Vai trò của hoạt động R&D trong doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều khía cạnh: tăng khả năng đổi mới của doanh nghiệp, tăng cường năng lực công nghệ cho doanh nghiệp, tăng vị thế và giá trị của doanh nghiệp, tăng
Trang 27cường hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp phát triển nhanh Hoạt động R&D trong doanh nghiệp còn đặc biệt hữu dụng đối với những doanh nghiệp muốn có năng lực lõi và công nghệ lõi Ngoài ra, việc thực hiện hoạt động R&D cho dù bằng cách nào còn giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, vị thế, lan tỏa và thu hút nhân lực chất lượng cao, thậm chí tạo ngành công nghiệp mới và nhiều tác động vô hình khác Tuy rằng việc thực hiện hoạt động R&D có một số hạn chế nhất định nhưng doanh nghiệp muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững thì không thể không thực hiện hoạt động R&D ngay cả trong những trường hợp doanh nghiệp thu nạp công nghệ từ nguồn bên ngoài Ngoài tạo công nghệ, hoạt động R&D của doanh nghiệp còn đóng nhiều vai trò trong quá trình phát triển của doanh nghiệp
Các tổ chức R&D là nơi sản sinh các ý tưởng đổi mới, đồng thời cũng chính là nơi biến các ý tưởng đổi mới đó thành hiện thực công nghệ Tuy nhiên, việc một doanh nghiệp có thực hiện hoạt động R&D hay không và thực hiện ở cường độ như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cả yếu tố bên trong cũng như các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Các yếu tố bên trong doanh nghiệp, gồm: Quy mô doanh nghiệp; Nguồn lực của doanh nghiệp; Sở hữu của doanh nghiệp; Chiến lược và kế hoạch của doanh nghiệp; Lãnh đạo doanh nghiệp; Môi trường doanh nghiệp; Ngành nghề doanh nghiệp; và Vị trí địa lý của doanh nghiệp Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến R&D của doanh nghiệp, gồm: Chính sách hỗ trợ vốn cho hoạt động R&D của doanh nghiệp; Chính sách thuế đối với hoạt động R&D của doanh nghiệp; Chính sách đối với phương tiện, máy móc, trang thiết bị phục vụ R&D của doanh nghiệp; Chính sách phát triển nhân lực hoạt động R&D cho doanh nghiệp; Chính sách về sở hữu trí tuệ và quản lý tài sản vô hình doanh nghiệp; Chính sách về thông tin, tư vấn phục vụ R&D của doanh nghiệp; và môi trường chính sách đổi mới.Do vậy doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược R&D phù hợp với khả năng và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Tất nhiên quá trình đổi mới không phải khi nào cũng diễn ra theo một quá trình tuyến tính,
Trang 28nghĩa là xuất phát từ các đơn vị R&D của doanh nghiệp (chuyển giao dọc công nghệ từ trong nội bộ doanh nghiệp) mà nó có thể đi bằng con đường phi tuyến tính (chuyển giao ngang công nghệ từ các doanh nghiệp khác)
Để hoạt động R&D của doanh nghiệp phát triển, yếu tố sống còn là chất lượng nguồn nhân lực R&D, giá trị cốt lõi của mọi hành động Một tổ chức có nguồn nhân lực trình độ kỹ thuật cao, có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình, chủ động, tâm huyết với công việc, có tính sáng tạo thì tổ chức đó sẽ không ngừng phát triển và lớn mạnh trước mọi biến động của thị trường và xã hội Tuy nhiên khi đã có nguồn nhân lực có chất lượng cao, nếu chính sách sử dụng không hợp lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phục vụ của nhân lực Chính sách sử dụng được đề cập ở đây là chính sách quản trị nhân lực và chính sách phát triển nhân lực Để có được chất lượng phục vụ của nhân lực tại doanh nghiệp tốt nhất, không có cách nào khác ngoài việc các doanh nghiệp cần nghiên cứu xây dựng cho mình một chính sách sử dụng phù hợp
và không ngừng đổi mới để theo kịp xu thế phát triển Với bối cảnh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, nếu chính sách sử dụng không hợp lý, ngoài việc làm suy giảm chất lượng phục vụ còn dẫn đến tình trạng “chảy chất xám” hoặc mất nhân lực chất lượng cao sang doanh nghiệp khác mặc dù bản thân doanh nghiệp đã bỏ chi phí cao để đào tạo
1.3 Chính sách sử dụng nhân lực R&D trong doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp có hoạt động R&D, nhân lực R&D bao gồm những người có hoạt động trong các đơn vị, bộ phận làm R&D, phát triển công nghệ, sản phẩm mới (không phải tất cả cán bộ kỹ thuật của doanh
nghiệp) Nhân lực R&D được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu) Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học,
Trang 29tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới
- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN Họ tham gia vào
dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp R&D Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án R&D Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc R&D của các tổ chức R&D
Với vai trò quan trọng của hoạt động R&D đối với doanh nghiệp thì chất lượng phục vụ của nhân lực R&D phải là yếu tố được quan tâm hàng đầu bởi nó quyết định đến hiệu quả của kết quả hoạt động R&D của doanh nghiệp
đó Để nâng cao được chất lượng phục vụ thì doanh nghiệp cần xây dựng một chính sách sử dụng phù hợp và đáp ứng nhu cầu của các vị trí lao động đặc thù Chính sách sử dụng nhân lực R&D trong doanh nghiệp ở đây được hiểu bao gồm: chính sách quản trị nhân sự và chính sách phát triển nhân lực hay nguồn nhân lực
1.3.1 Chính sách quản trị nhân sự
Chính sách quản trị nhân sự (Human Resources) liên quan đến các hoạt động tuyển dụng, duy trì nguồn nhân lực đồng thời triển khai các chính sách phù hợp và tập trung phát triển năng lực các cá nhân, tổ chức để có thể hoàn thành công việc hiệu quả nhất Chính sách quản trị nhân sự bao gồm chính sách quản lý nhân lực và chính sách quản lý nguồn nhân lực
Chính sách quản lý nhân sự là công tác quản lý hành chính và thực hiện các chính sách lao động
Trang 30Chính sách quản lý nguồn nhân lực là các chính sách mang tính chiến lược lâu dài hơn, tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội
Ở cấp độ vĩ mô, tổ chức ở đây có thể là địa phương, quốc gia, có thể là khu vực và quốc tế Hoạt động quản lý nguồn nhân lực bao gồm một số hoạt động như quyết định các chính sách quốc gia, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bổ sử dụng lao động toàn xã hội Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật lao động, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động… Và các hoạt động trên nhằm tạo ra một lực lượng lao động đủ về số lượng và cả
về chất lượng, có cơ cấu hợp lý đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Ở cấp độ vi mô, tổ chức ở đây là tổ sản xuất, phân xưởng, phòng ban, doanh nghiệp Và các hoạt động quản lý nguồn nhân lực ở cấp độ này bao gồm các hoạt động tuyển mộ lựa chọn, bố trí lao động trong tổ chức, tổ chức đào tạo… nhằm đảm bảo một lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng
Như vậy, quản lý nguồn nhân lực là một quá trình phải được xem xét trong mối quan hệ không thể tách rời giữa phân bố nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực
Chính sách quản trị nhân sự là công cụ để quản lý nguồn nhân lực gồm các chế độ, các biện pháp, các quy định cụ thể tác động đến hành vi lao động, thái độ của người lao động để đạt được mục tiêu đã đặt ra Con người là tài sản quan trọng nhất của một doanh nghiệp Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” Cung cách quản lý, môi trường làm việc mà người quản lý đem lại cho người lao động và cách truyền đạt những giá trị và mục đích sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu và thực hiện các kế hoạch chiến lược doanh nghiệp cần phải liên kết chặt chẽ các chính sách quản trị nhân sự với mục tiêu kinh doanh
Trang 311.3.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức Như vậy phát triển là các hoạt động học tập nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng, năng lực cho người lao động khi họ chuẩn bị bước vào công việc mới với những đòi hỏi, yêu cầu cao hơn về trình độ chuyên môn, lành nghề trong công việc Phát triển chủ yếu là chuẩn bị cho người lao động những kiến thức kỹ năng về công việc trong tương lai
Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm cung cấp cho người lao động những kiến thức,
kỹ năng chuyên sâu hơn về công việc hiện tại, củng cố và bổ sung những kiến thức và kỹ năng, trình độ chuyên môn còn thiếu hụt của người lao động Đó là các hoạt động học tập nhằm nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn công việc hiện tại Theo davilaw.vn đào tạo là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (huấn luyện viên hoặc giảng viên…) sang người khác (học viên) Kết quả là có sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học viên từ mức độ thấp đến mức độ cao hơn
Chính sách phát triển nguồn nhân lực là công cụ để quản lý nguồn nhân lực, bao gồm các chế độ, các quy định cụ thể về quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng trình độ của người lao động để họ có thể thực hiện có hiệu quả công việc hiện tại cũng như chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng, năng lực để họ có thể đảm nhiệm những công việc
ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ Chính sách phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu như: cải tiến cơ cấu nguồn nhân lực, phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao trình độ nhận thức cho người lao động
Trang 32Kết luận chương 1
Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào hoạt động thương mại thế giới, đã trở thành một thành tố của chuỗi giá trị toàn cầu trong nền kinh tế thị trường -nơi diễn ra những cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển Một trong những yếu tố quan trọng nhất để doanh nghiệp có thể phát triển một cách bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế chính là thực hiện hoạt động R&D Để làm tốt được những hoạt động đó, doanh nghiệp cần xác định được rằng trong mọi thời đại, dù bất cứ ở đâu, trong mọi hoàn cảnh nguồn nhân lực luôn là nguồn lực quý giá nhất, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao như nhân lực KH&CN trong đó có nhân lực R&D Do vậy đối với các doanh nghiệp, điều chỉnh chính sách sử dụng phù hợp để nâng cao chất lượng phục
vụ của nhân lực R&D đang được xem như một nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng trong quyết định thành công của doanh nghiệp
Chương 1 của luận văn đã đề cập và làm rõ cơ sở lý luận về đổi mới chính sách sử dụng để nâng cao chất lượng phục vụ của nhân lực R&D Đặc biệt đã làm rõ các quan điểm, các nội dung và các vấn đề liên quan đến R&D, nguồn nhân lực R&D, vai trò của R&D đối với sự phát triển của doanh nghiệp, chính sách, đổi mới chính sách, chính sách sử dụng và chất lượng phục vụ
Xuất phát từ luận điểm nguồn lực con người là nguồn lực quý giá nhất của mọi tổ chức, nội dung của chương 1 đã phân tích và lựa chọn các cách tiếp cận để tiến hành nghiên cứu các nội dung và vấn đề có liên quan tới việc đổi mới chính sách sử dụng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân lực R&D
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
TẠI NHÀ MÁY IN TIỀN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Để làm rõ nét hơn việc nghiên cứu khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách sử dụng cũng như chất lượng phục vụ của nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam, luận văn xin giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam; chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất; cơ cấu lao động, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật
liên quan đến hoạt động R&D của nhà máy
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Năm 1945, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á
Để có thể chủ động về mặt tài chính cho hoạt động của Chính phủ Cách mạng, tháng 11 năm 1945, Bộ trưởng bộ Tài chính của Chính phủ Cách mạng lâm thời là ông Phạm Văn Đồng đã giao nhiệm vụ cho ông Phạm Quang Chúc
và ông Nguyễn Văn Khoát tổ chức để in tiền
Ngày 06 tháng 5 năm 1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập Cơ quan ấn loát Bộ Tài chính chuyển về Ngân hàng và mang tên nhà In Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đánh dấu thời kì mới trong lịch sử phát triển của mình Nhiệm vụ chủ yếu lúc này là in các chứng từ dùng cho việc thanh toán như Séc, sổ tiết kiệm, các loại tem bưu điện, các loại tem phiếu dùng trong thời kì bao cấp
Năm 1975, đất nước thống nhất, phân xưởng chuyên in bằng phương pháp in offset được xây dựng và hoàn thành (ở khu vực đường Chùa Bộc) đã
Trang 34đi vào sản xuất Năm 1981, thực hiện chủ trương của nhà nước, của ngành, một số cán bộ chủ chốt và gần 100 công nhân nhà In Ngân hàng đã tổ chức xây dựng cơ sở in tiền ở phía Nam đặt trụ sở tại 17 Bến Chương Dương, thành phố Hồ Chí Minh với cái tên mật danh là xí nghiệp B81
Năm 1984, một số cán bộ nhà In Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước điều động đi chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy in tiền với công nghệ hiện đại Khi công trình xây dựng nhà máy in tiền mới hoàn thành, nhà In Ngân hàng đã
cử hơn 300 CB CNV chuyển lên làm việc tại nhà máy mới, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ in tiền, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đổi mới đất nước Ngày 22 tháng 4 năm 1991, nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam được thành lập theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng với chức năng và nhiệm vụ mới Nhiệm vụ in tiền được chuyển giao dần cho nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam ở phía Bắc
Theo xu thế phát triển của thế giới, những sản phẩm trong thanh toán ngày càng đòi hỏi phải đạt những yêu cầu cao cả về kỹ thuật và mỹ thuật, nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam đã tập trung đầu tư thiết bị, đào tạo lại đội ngũ những người lao động để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Kết quả thực hiện nhiệm vụ trong những năm qua đã cho thấy kết quả bước đầu Nhà máy đã đứng vững đi lên, cho đến nay trên cả nước chỉ có một cơ sở duy nhất in tiền đó là nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam hay Công ty TNHH NN Một thành viên Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam là đơn vị sản xuất kinh doanh, hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ Nhà máy có chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Sản xuất các sản phẩm đặc biệt (Tiền và các giấy tờ có mệnh giá như tiền) đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế xã hội trong nước
- Thiết kế mẫu tiền khi được Thống đốc NHNN giao
Trang 35- Phối hợp với Cục Phát hành và Kho quỹ xây dựng Tiêu chuẩn Kỹ thuật đồng tiền
- Đúc tiền kim loại, đúc vàng miếng, vật phẩm lưu niệm bằng vàng
- Xây dựng quy trình công nghệ chế bản, in, đúc tiền; trình Thống đốc NHNN phê duyệt khi có yêu cầu
- Xây dựng và ban hành quy định về quản lý chất lượng toàn bộ quá trình
Bộ máy quản trị của nhà máy được phân cấp theo chức năng và nhiệm
vụ, được quy định rất cụ thể và chặt chẽ Đứng đầu nhà máy là Hội đồng thành viên gồm 01 Chủ tịch Hội đồng thành viên và 04 Thành viên Hội đồng thành viên quyết định những chiến lược vĩ mô của nhà máy, chịu trách nhiệm
về hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định cơ cấu bộ máy quản lý sản xuất theo nguyên tắc gọn nhẹ, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, quản lý
tài sản của Nhà nước trong nhà máy
Ban điều hành nhà máy gồm 01 Tổng giám đốc và 03 Phó Tổng giám đốc Tổng giám đốc điều hành và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng hoạt động sản xuất Các Phó Tống giám đốc theo dõi điều hành các công việc dựa trên phạm vi chức năng của mình, chịu trách nhiệm trực tiếp những lĩnh vực được Tổng giám đốc ủy quyền
Trang 36Mô hình quản trị nhà máy được thể hiện cụ thể trong sơ đồ hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ Tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của nhà máy
In tiền Quốc gia Việt Nam
2.1.3.2 Chức năng của các phòng ban xưởng
Các phòng ban chức năng:
- Phòng Kế toán: Phụ trách công tác tài chính của nhà máy Có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy dưới hình thái tiền tệ hạch toán kế toán các nhiệm vụ phát sinh, hàng ngày thông qua hạch toán các khoản thu mua, nhập xuất nguyên vật liệu, hàng hóa chi phí, xác định kết quả sản xuất kinh doanh thanh toán với khách hàng,
Trang 37Ngân hàng, cơ quan thuế vụ, Kiểm toán Nhà nước đồng thời theo dõi
cơ cấu nguồn vốn hình thành nên tài sản của nhà máy
- Phòng Tổ chức – LĐTL: Quản lý nhân sự về mặt tuyển dụng, đào tạo, giải quyết những vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động Xây dựng bảng lương cho các bộ phận, giải quyết các công tác về chế
độ, chính sách cho người lao động
- Phòng Vật tư: Tổ chức thực hiện nhiệm vụ mua sắm, quản lý, giao nhận và cấp phát các loại vật tư, phụ tùng, nguyên vật liệu, công cụ lao động và tài sản phục vụ cho các nhu cầu sản xuất của nhà máy
- Phòng Quản trị: Quản lý, sử dụng và sửa chữa nhà xưởng, đường đi nội
bộ và tài sản phục vụ công tác sản xuất, quản lý, sử dụng cho phúc lợi; theo dõi, quản lý sức khỏe cán bộ công nhân viên và các hoạt động khác của nhà máy
- Phòng Kế hoạch: Xây dựng kế hoạch và điều độ sản xuất, theo dõi tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, hoạt động sản xuất của nhà máy
- Phòng Kỹ thuật: Tổ chức và quản lý toàn bộ công tác kỹ thuật in tiền, đúc tiền kim loại, đúc vàng và các vật phẩm lưu niệm bằng vàng, các
an có thẩm quyền
Trang 38- Phòng Kiểm soát nội bộ: Tổ chức và thực hiện công tác kiểm toán, kiểm soát nội bộ để đảm bảo công tác quản lý, điều hành hiệu lực, hiệu quả, đúng pháp luật mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy
- Nhà ăn ca: Phục vụ nấu cơm ca, nước uống cho cán bộ công nhân viên, cơm khách của nhà máy và thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại theo chế độ quy định
- Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ (vừa được thành lập đầu năm 2017): Tổ chức hoạt động nghiên cứu và triển khai các công nghệ đã được giao; Là đầu mối hợp tác liên kết tìm ra thị trường kinh doanh các kết quả nghiên cứu và phát triển, các ứng dụng công nghệ với các doanh nghiệp trong và ngoài nước ; Tham mưu, tư vấn và chịu trách nhiệm về các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, Tìm kiếm, xây dựng, quản lý các dự án đầu tư; Tham gia công tác đào tạo theo kế hoạch của nhà máy khi có yêu cầu
Trang 39- Xưởng kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS): Tổ chức, thực hiện, kiểm tra, phân loại, thống kê chất lượng sản phẩm tờ to và kiểm chọn hình nhỏ khi Tổng giám đốc giao
2.2 Thực trạng hoạt động R&D, chính sách sử dụng và chất lượng phục
vụ của nhân lực R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
2.2.1 Thực trạng hoạt động R&D tại nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam
Trước năm 2001, Nhà máy In tiền Quốc gia không chú trọng tới hoạt động R&D bởi nhà máy phát triển theo mô hình thu nạp công nghệ từ bên ngoài, nguồn lực của doanh nghiệp còn hạn chế trong khi chi phí đầu tư cho R&D là không nhỏ, rủi ro trong hoạt động R&D và nhu cầu tiết kiệm thời gian cũng là một trong những nhân tố tác động tới việc không phát triển hoạt động R&D Trong những năm đó, khối lượng công việc của nhà máy chưa quá cao, các yếu tố kỹ thuật chế bản, in ấn và chống giả của đồng tiền đa phần được sự hỗ trợ từ các đối tác nước ngoài như Nga, Trung Quốc, Hungary, Thụy Sỹ, Đức Có thể nói đội ngũ nhân lực KH&CN của nhà máy chỉ thuần hoạt động vận hành các dây chuyền sản xuất, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình công nghệ sản xuất và chất lượng của sản phẩm Nhà máy chưa
có nhân lực, tổ chức và hoạt động R&D
Sau năm 2001, trước yêu cầu thiết kế và phát hành chuyển đổi bộ tiền mới của Thủ tướng Chính phủ thay thế cho bộ tiền đang lưu hành với các kỹ thuật bảo an phức tạp (Phát hành thêm mệnh giá năm trăm nghìn đồng) Mục tiêu đề ra là: cơ cấu mệnh giá và chất liệu hợp lý; có khả năng chống giả cao, đẹp, hiện đại; độ bền tối ưu; dễ nhận biết và khó làm giả; đảm bảo an ninh tiền tệ và chủ động trong công tác phát hành tiền Chất liệu in tiền cũng được quyết định chuyển sang chất liệu mới là Polymer thay thế cho chất liệu Cotton truyền thống đòi hỏi nhu cầu đổi mới và nâng cấp hàng loạt công nghệ như:
Trang 40Chế bản, In ấn, Chế tạo các yếu tố bảo an…, hiện đại và phức tạp hơn rất nhiều so với hệ thống dây chuyền sản xuất cũ
Nhận định được vai trò quan trọng của hoạt động R&D với doanh nghiệp công nghệ bên cạnh đó nhằm bắt kịp xu hướng phát triển của công nghệ thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, các nhà quản lý và lãnh đạo của nhà máy In tiền Quốc gia đã chú trọng hơn tới hoạt động R&D Đặc biệt sau khi NHNN cho phép nhà máy thực hiện cơ chế tự chủ, tự hạch toán trong sản xuất kinh doanh, nhà máy đã có quỹ đầu tư cho hoạt động R&D với các nhiệm vụ cụ thể và có định hướng cho chiến lược phát triển lâu dài của nhà máy
Hiện nay trên thế giới có 02 cách thức tổ chức đơn vị R&D trong doanh nghiệp:
- Tự thực hiện hoạt động R&D gồm: Mô hình tổ chức tập trung –
centralized R&D structure (có duy nhất một hoặc một số đơn vị R&D
trung tâm); Mô hình tổ chức phi tập trung – decentralized R&D
structure (không có đơn vị R&D trung tâm của doanh nghiệp mẹ mà
chỉ các đơn vị R&D thuộc các đơn vị kinh doanh thành viên); Mô hình kết hợp, gồm một hoặc nhiều đơn vị R&D trung tâm, cộng với một hoặc nhiều đơn vị R&D trong mỗi đơn vị kinh doanh trực thuộc
- Hợp tác hoạt động R&D: doanh nghiệp không thể hoàn toàn tự mình thực hiện toàn bộ hoạt động R&D mà trong một số dự án hay một số công đoạn của dự án R&D doanh nghiệp phải liên kết, hợp tác với các đối tác bên ngoài thực hiện R&D, thậm chí thuê ngoài thực hiện một số hoạt động R&D
Với điều kiện tài chính, kỹ thuật, trình độ nhân lực như hiện nay, nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam tổ chức hoạt động R&D theo cách thức hợp tác hoạt động Nhà máy liên kết, hợp tác với các đối tác bên ngoài thực hiện