1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh phú thọ thực hiện chủ trương xóa bỏ dần dần phạm bi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến 1945 1953

150 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, đem lại quyền lợi cho nông dân trong cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-****** -

ĐỖ KHÁNH CHI

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM VI BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN

(1945-1953)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: LỊCH SỬ -****** -

ĐỖ KHÁNH CHI

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ

BỎ DẦN DẦN PHẠM VI BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, cũng như trong trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

đã giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học tại trường

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:

Thầy giáo kính yêu PGS.NGND Lê Mậu Hãn đã định hướng cho em

và tận tình chỉ bảo cho em trong suốt quá trình làm Luận văn Thầy đã sửa

và góp ý cho em nhiều lỗi dù là nhỏ nhất để em hoàn chỉnh Luận văn này Các cô chú, anh chị trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp Phú Thọ, đã rất nhiệt tình giúp đỡ

em tìm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Luận văn Thạc sỹ

Chắc chắn những hạn chế và thiếu sót trong Luận văn là không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để đề tài của em được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn

Em kính chúc các thầy cô luôn luôn khỏe mạnh, hạnh phúc

Hà Nội, tháng 12 năm 2009

Học viên

Đỗ Khánh Chi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.NGND Lê Mậu Hãn

Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2009

Tác giả luận văn

Đỗ Khánh Chi

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ

dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng

đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

1.2.1 Từ năm 1945 tới tháng 12 năm 1946 18

1.2.2 Từ năm 1946 tới năm 1949 32

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương giảm

2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện công tác thuế nông

nghiệp và tiếp tục tiến hành giảm tô, giảm tức cho nông dân (1951

– 1953)

60

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện triệt để giảm tô,

giảm tức và thí điểm cải cách ruộng đất

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông dân đã tham gia cuộc vận động cứu nước, giải phóng dân tộc thì bất cứ bao giờ và ở đâu họ cũng tham gia với tư cách là những người có quyền lợi dân tộc và giai cấp phải đấu tranh Vì vậy, đem lại quyền dân chủ cho nông dân là một vấn đề hết sức quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lịch sử của nhân loại trong thế kỷ XX là lịch sử đấu tranh vì quyền

cơ bản của các dân tộc và con người Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX cho thấy, ở nơi nào và thời điểm nào đó

mà vấn đề dân tộc và con người không được giải quyết đúng đắn thì tự nó

sẽ hạn chế triệt tiêu động lực và thậm chí cả những thành quả cách mạng được xây đắp trong nhiều thập kỷ Những gì đang diễn ra trên thế giới dù là thuận lợi hay tạm thời thất bại ở chỗ này hay chỗ khác đều là những minh chứng làm sáng tỏ sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và con người trong hướng phát triển của dân tộc và nhân loại

Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là ngọn đuốc dẫn đường cho Đảng bộ các tỉnh đi theo Đảng bộ tỉnh Phú Thọ luôn lấy cương lĩnh, đường lối của Đảng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Do đó, việc Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, đem lại quyền lợi cho nông dân trong các thời kỳ đều diễn ra theo chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến Trải qua các thời kỳ lịch sử, nhân dân Phú Thọ cần cù trong lao động sản xuất, sáng tạo nhiều loại hình văn nghệ dân gian phong phú Nhân dân Phú Thọ luôn phát huy truyền thống của tổ tiên, đoàn kết một lòng, kiên cường, dũng cảm trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước

Trang 7

Truyền thống đó càng được nhân lên gấp bội khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Tháng 3 năm 1940, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ được thành lập và tập hợp lực lượng đứng lên chống ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám và tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn

Dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ hết sức chú trọng giải quyết ruộng đất cho nông dân và thực hiện chủ trương xoá bỏ từng bước chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới đã có những thay đổi căn bản, Phú Thọ cũng đang chuyển mình cùng với đất nước Giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn đang là vấn đề cấp thiết trong

giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, tôi nhận vấn đề Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1953) làm đề tài

luận văn Thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đảng lãnh đạo việc thực hiện giải quyết ruộng đất cho nông dân - bộ phận chủ yếu trong xã hội Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau của khoa học lịch sử nghiên cứu Có thể nêu lên một số

tác phẩm tiêu biểu như: Vấn đề dân cày - Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp,

1959, NXB Sự Thật, Hà Nội), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam - Trường Chinh (1975), NXB Sự Thật, Hà Nội, Kháng chiến nhất định thắng lợi -Trường Chinh (1967), NXB Sự Thật, Hà Nội Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam- Lê Duẩn (1965), NXB Sự Thật, Hà Nội Nông dân Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám- Ban công tác nông thôn Trung Ương (1960), NXB Nông Thôn, Hà

Trang 8

Nội, Cách mạng ruộng đất - Trần Phương - chủ biên (1968), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, Một số ý kiến về nông dân Việt Nam - Minh Tranh

(1961), NXB Sự Thật, Hà Nội…

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong việc giải quyết ruộng đất cho nông dân đặc biệt là giải quyết ruộng đất cho nông dân thời kỳ trước cải cách ruộng đất có rất ít Chủ yếu là công trình nghiên cứu trong nội bộ tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Luận văn trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo và thực hiện giải quyết ruộng đất cho nông dân trong những năm 1945-1953 về quan điểm, chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ

- Nêu kết quả, tác dụng, của đường lối đó với cuộc kháng chiến của dân tộc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong

kiến (1945-1953)” đi sâu tìm hiểu về những chủ trương, chính sách của

Đảng bộ Phú Thọ nhằm đem lại quyền lợi cho nông dân, những thành tựu về ruộng đất mà nhân dân Phú Thọ đã đạt được trong giai đoạn từ 1945-1953

Trang 9

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản vào cách mạng Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn bên cạnh việc sử dung phương pháp lịch sử là chủ yếu, còn

sử dụng thêm phương pháp lôgic, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp để thể hiện quan điểm toàn diện, hệ thống và trọng điểm

5.3 Nguồn tư liệu

Luận văn khai thác các nguồn tư liệu chính sau:

- Văn kiện Đảng toàn tập; Hồ Chí Minh toàn tập (1945-1954)

- Các số liệu tại Tổng cục thống kê, Trung tâm lưu trữ quốc gia III

- Các tư liệu tại phòng lưu trữ Ban tuyên giáo tỉnh uỷ

- Các tài liệu lưu trữ tại Văn phòng tỉnh ủy Phú Thọ

- Các tài liệu lưu trữ tại Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ

- Tài liệu lưu trữ tại Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Phú Thọ

- Tại liệu lưu trữ tại Sở Nông nghiệp Phú Thọ

Tuy nhiên, tài liệu đều hết sức rải rác, không tập trung, chủ yếu là các tài liệu về ruộng đất thời kỳ sau năm 1954, tài liệu trước năm 1954 có rất ít, lại quá cũ, chữ mực in đã mờ, rất khó đọc chính xác, nên việc nghiên cứu cũng gặp một số khó khăn

Trang 10

6 Bố cục cơ bản

Chương 1: Thực hiện chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

Chương 2: Thực hiện chủ trương giảm tô, giảm tức (1949-1953)

Chương 3: Thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất

Trang 11

Chương 1: THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN DẦN PHẠM VI

BÓC LỘT VÀ THU HẸP CHẾ ĐỘ CHIẾM HỮU RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN (1945-1949)

1.1 Tình hình sở hữu ruộng đất ở Phú Thọ trước năm 1945

Sau khi bình định xong Việt Nam, Pháp bắt tay vào khai thác, bóc lột nhân dân thuộc địa Nhân dân Phú Thọ cũng nằm trong tình cảnh khổ cực chung với nhân dân Bắc kỳ Đế quốc Pháp thống trị và bóc lột nhân dân trong đó chủ yếu là nông dân - giai cấp chiếm đại bộ phận dân số nước ta Đối với đế quốc, chính trị là thủ đoạn, còn mục đích cướp nước là kinh tế Mục đích kinh tế căn bản của chúng là khiến cho chúng được nhiều lợi nhuận, mà muốn nhiều lợi nhuận thì dựa vào việc bóc lột lao động ở chính quốc và thuộc địa Mà bóc lột lao động thuộc địa, chủ yếu là bóc lột nông dân, bán hàng hóa của chính quốc cho nông dân thuộc địa theo giá độc quyền, mua sản phẩm của nông dân rẻ mạt, dùng nông dân để khai thác hầm mỏ, đồn điền

Trước Cách mạng tháng Tám, Phú Thọ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Với một hệ thống sông ngòi, đầm hồ phong phú cũng góp phần thúc đẩy nông nghiệp trong tỉnh phát triển Các đoạn sông lớn chảy qua tỉnh như sông Hồng (sông Thao) dài 140km, sông Lô dài 70km, sông Đà dài 41km, đã bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ven sông, đồng thời tạo điều kiện giao lưu đường thuỷ giữa các vùng trong tỉnh và các tỉnh bạn

Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng bằng Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (Sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai miền có những đặc điểm khác nhau và hình thành địa hình mang ba tính chất trên

Trang 12

Miền tả ngạn sông Hồng, gồm đất đai các huyện Đoan Hùng, một phần đất huyện Hạ Hoà, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao và ngoại thành Việt Trì, có nhiều đồi gò nối tiếp nhau san sát như bát úp, rất phù hợp cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả…Nhờ nằm ven các sông Hồng, sông Lô, sông Chảy, nên miền này hàng năm được phù sa bồi đắp, đất tốt, có nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa của tỉnh

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh được thể hiện cụ thể trong bảng thống kê sau:

Diện tích đất lâm nghiệp

Diện tích đất ở

Diện tích đất chưa sử dụng

Trang 13

Qua bảng số liệu cho thấy diện tích đất nông nghiệp thời kỳ trong kháng chiến chống Pháp chiếm tới hơn 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là diện tích đất ở và đất lâm nghiệp Diện tích đất nông nghiệp tập trung

ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Hạ Hoà do sông Hồng, sông Đà bồi đắp, thích hợp cho việc trồng lúa, cây hoa màu, nhưng năng suất thời kỳ này không cao lắm, chủ yếu là do hạn hán, lũ lụt mất mùa, không tập trung khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Diện tích đất chưa sử dụng cũng chiếm diện tích lớn, chủ yếu tập trung ở các huyện miền núi có diện tích núi đá vôi lớn như: Thanh Sơn, Phù Ninh, Yên Lập Các dãy núi ở đây thuộc đoạn cuối của mạch núi Hoàng Liên Sơn Vì đây là miền núi nên các căn cứ chống Pháp thời kỳ Cần Vương, các chiến khu thời kỳ tiền khởi nghĩa, các kho tàng của Trung

ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp…đều xây dựng ở vùng này Diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp thời kỳ trước cách mạng tháng Tám lại chủ yếu nằm trong tay địa chủ và thực dân Pháp

Ngoài số ruộng đất nằm trong tay Pháp và địa chủ người Việt thì số

ruộng của nhà thờ, của đình làng, chùa cũng chiếm đáng kể Phú Thọ tính tới thời điểm năm 1945 thì có 117 nhà thờ, 318 đình và 112 chùa, 208 nhà thờ họ [7, 1-3] Trong thời kỳ Pháp thống trị thì các nhà thờ được Pháp ưu

ái tặng cho nhiều ruộng, còn đình chùa chủ yếu là do dân đóng góp, tự nguyện cắt đất của mình ra hiến cho đình, chùa, và xây nhà thờ họ Bảng thống kê diện tích đình chùa thời gian từ 1943 tới 1954 cho thấy sở hữu của đình chùa, nhà thờ cũng có sự chênh lệch:

Năm Diện tích ruộng

của nhà thờ

Diện tích ruộng của đình chùa

Diện tích ruộng thờ cúng làng họ

Trang 14

ruộng đất đình chùa

ruộng đất của nhà thờ họ

Bảng 1.3: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tớch của ruộng đất thờ

cỳng họ, ruộng đất của nhà thờ, đỡnh chựa qua cỏc năm

Qua biểu đồ trờn cú thể nhận thấy, trước năm 1945 diện tớch ruộng của nhà thờ Cụng giỏo ở Phỳ Thọ khỏ lớn Chủ yếu là do thực dõn Phỏp và địa chủ Phỏp dựng lờn, tuyờn truyền, tặng nhiều ruộng đất cho nhà thờ Phỏp lấy nhà thờ làm trụ sở truyền giỏo của mỡnh Hơn nữa, ở Phỳ Thọ, lực lượng dõn đi theo Cụng giỏo khỏ lớn nờn giỏo dõn cũng tớch cực đúng gúp cho nhà thờ Tới sau năm 1945, số lượng ruộng cú giảm do giỏo dõn di cư

Trang 15

ra nước ngoài, đi sơ tán và đặc biệt là do chính sách đem lại ruộng đất cho nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam nên một số nhà thờ phải nhường lại đất cho nông dân sở hữu cày cấy

Ruộng đất của đình chùa thì không có sự chuyển biến nhiều Trước năm 1945, ruộng đất đình chùa ít, do thực dân Pháp tìm cách phá hoại nhiều đình chùa của ta, phá hoại nền văn hoá của ta Do đó mà nhiều ruộng đất của đình chùa bị bỏ hoang Sau năm 1945, do chính sách khôi phục văn hoá của Đảng và nhà nước ta mà các đình chùa được tu bổ, xây dựng lại

Ruộng đất của nhà thờ họ qua các năm thì ít chuyển biến, chiếm ít diện tích, chủ yếu là do con cháu trong họ đóng góp và chủ yếu là họ lớn,

có kinh tế mới đóng góp được nhiều ruộng cho nhà thờ họ

Dưới ách đế quốc, kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế Phú Thọ nói riêng phát triển rất chậm, không cân đối, nước Việt Nam luôn lệ thuộc vào nước Pháp về mặt kinh tế cũng như chính trị và văn hóa, không thể phát triển một cách độc lập, tự chủ được

Trước cách mạng tháng Tám, dân cư Phú Thọ rất thưa thớt, nhất là các huyện miền núi, hầu như dân số không phát triển lên được: Theo số liệu trong Dư địa chí thì năm 1901 Phú Thọ có 259.000 người, năm 1932

có 275.000 người, năm 1939 có 301.500 người Nguyên nhân của tình trạng này là một phần do điều kiện sinh sống khó khăn, ăn ở không hợp vệ sinh, nạn sốt rét, nạn hữu sinh vô dưỡng đã cướp đi nhiều sinh mạng người, một phần khác, Phú Thọ là căn cứ địa của nhiều cuộc khởi nghĩa nên đã bị thực dân Pháp mở các cuộc hành quân chống phá, làm cho dân phải lưu tán

đi nơi khác Do dân cư thưa thớt nên dưới thời phong kiến cũng như thời Pháp thống trị, dân nghèo vùng đồng bằng đã lên đây khai khẩn lập nghiệp trở thành dân địa phương Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho biết: “Đất này vì bị binh lửa lâu ngày, hộ khẩu

Trang 16

điêu tán, mười phần chỉ còn độ năm ba mà thôi, nhân dân sợ hãi mà lưu tán, nên người hạt Sơn Tây lên khai khẩn ruộng hoang” [27, 267]

Thời kỳ Pháp thống trị, Phú Thọ là tỉnh có nhiều đồn điền, mà tá điền phần lớn là dân nghèo vùng đồng bằng do chủ chiêu mộ lên, mặt khác bọn thống trị thực dân đã khuyến khích dân nghèo vùng xuôi lên khai khẩn lập nghiệp Vì vậy dân số tăng thêm, một số xóm làng mới ra đời Như vậy, dân cư Phú Thọ là sự hoà quyện, hoà nhập một cộng đồng giữa người dân bản địa sống lâu đời ở địa phương với đồng bào các tỉnh khác chuyển đến xây dựng quê hương mới qua các thời kỳ từ lịch sử phong kiến, thời Pháp thống trí, đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trước cách mạng tháng Tám, Phú Thọ là tỉnh tập trung nhiều đồn điền, quá trình sở hữu ruộng đất, đồn điền của từng giai cấp trong dân cư Phú Thọ cũng khác nhau Ruộng đất tập trung chủ yếu trong tay giai cấp địa chủ và thực dân Pháp, chỉ còn một phần nhỏ ruộng đất là do nông dân

sở hữu Nông dân phải đi làm thuê, nộp tô, thuế cho địa chủ và tư bản Pháp, bị địa chủ người Việt và người Pháp bóc lột sức lao động và quyền dân chủ một cách cùng kiệt

Địa chủ ở Phú Thọ cũng có đặc điểm chung của giai cấp địa chủ

Việt Nam Để bóc lột nhân dân lao động, đế quốc Pháp vẫn duy trì chế độ bóc lột phong kiến, nuôi dưỡng chế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa một cách nặng nề Chúng tìm mọi cách mở rộng sự bóc lột theo lối phong kiến, làm cho nông dân sản xuất ra nhiều lúa gạo hơn nữa, nhưng phải mua hàng hóa của chúng và bán rẻ sức lao động cho chúng Nông dân không những bị địa chủ bóc lột mà còn bị tư bản đế quốc bóc lột Muốn bóc lột nông dân, bọn đế quốc đã làm cho tất cả nông dân phải mua hàng hóa của tư bản Pháp thông qua bọn địa chủ làm trung gian

Ở Phú Thọ, thực dân Pháp tạo điều kiện cho bọn tư bản Pháp và một

số địa chủ người Việt chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, lập đồn điền

Trang 17

Phú Thọ là tỉnh liên tiếp diễn ra các cuộc nổi dậy chống Pháp của nghĩa quân trong phong trào Cần Vương Thực dân Pháp coi tất cả ruộng đất của đồng bào đi sơ tán là ruộng đất vô chủ và ngang nhiên cấp cho tư bản Pháp lập đồn điền Các chủ đồn điền Pháp không những không phải bỏ tiền ra mua đất, mà còn được miễn thuế 5 năm liền Nhiều tên tư bản địa chủ lập tới ba, bốn đồn điền, diện tích chiếm đoạt lên tới hơn 2000 ha, tên ít nhất cũng chiếm 10 ha (tên Ru-ê (Rouet) có 4 đồn điền ở Thanh Sơn và Tam Nông rộng 1.595ha; Bi-sô (Bichot) có 3 đồn điền ở Phù Ninh diện tích 2.246ha; Đuy-sơ-manh có 2 đồn điền ở Đoan Hùng rộng 1.113ha…) Làm cho 80% nông dân Phú Thọ không có ruộng

Việc chiếm đất lập đồn điền của thực dân Pháp ở Phú Thọ tiến hành rất sớm, ngay trong thời gian đánh chiếm và bình định (1886 -1893) và kéo

dài cho đến khi Nhật đóng chiếm Phú Thọ Vì vậy, Phú Thọ là một trong những tỉnh ở Bắc kỳ có nhiều đồn điền của Pháp và diện tích chiếm đoạt rất lớn Nếu tính từ tên địa chủ Pháp đầu tiên lập đồn điền ở Phú Thọ là tên

Đuy-sơ-manh (Duchemin) lập đồn điền ở Đoan Hùng với diện tích 500ha theo nghị định toàn quyền Đông Dương cấp ngày 4 tháng 5 năm 1889, đến tên cuối cùng là tên Rơniê (Renie) chiếm 22 ha ở Đồng Lương – Cẩm Khê năm 1942 thì toàn tỉnh Phú Thọ có cả thảy 23 tên địa chủ Pháp lập 45 đồn điền với tổng diện tích là 10.521 ha [1, 29] Tất nhiên số chủ đồn điền này Pháp này không cố định mà chúng mua đi bán lại cho nhau và bán lại cho các địa chủ người Việt

Trong các đồn điền của Pháp phần lớn trồng lúa, cây ăn quả với kỹ thuật canh tác thô sơ, lạc hậu, và hình thức bóc lột vẫn là tô thuế như thời phong kiến Cũng có một số tên bỏ vốn kinh doanh trồng cây công nghiệp như sơn, chè, cà phê và chăn nuôi đại gia súc, bóc lột theo lối tư bản Ở những đồn điền này, công nhân nông nghiệp hưởng lương theo ngày, mỗi ngày làm việc từ 10 –12 giờ dưới sự giám sát chặt chẽ của cai ký Số công

Trang 18

nhân làm trong các đồn điền Pháp một phần là nông dân trong tỉnh bị bần cùng hoá, bị mất ruộng, phần khác là nông dân đói khổ các tỉnh vùng đồng bằng lên

Chính quyền thực dân có cho xây dựng một số công trình tiểu thuỷ nông như cống đập, kênh mương và lập trại thí nghiệm Phú Hộ Nhưng các công trình và trại thí nghiệm này không phải là để “mở mang kinh tế”, là

“khai hoá” cho dân thuộc địa Việt Nam như chúng vẫn tuyên truyền, mà chủ yếu để phục vụ cho các đồn điền lớn, để bọn thực dân vơ vét của cải của nhân dân tỉnh ta ngày càng nhiều hơn Các công trình nghiên cứu của chúng thì chỉ có thể áp dụng được ở đồn điền còn người nông dân lao động thì không có điều kiện và không biết chữ để áp dụng

Địa chủ dựa vào thực dân Pháp và được thực dân Pháp nuôi dưỡng, chúng đã chiếm đoạt nhiều ruộng đất và bóc lột nông dân rất thậm tệ Có tên địa chủ đồn điền rộng tới 1360 ha như Trịnh Xuân Nghĩa ở Phù Ninh, nhiều tên khác đồn điền rộng 400-500 ha Theo số liệu của ty Địa chính Phú Thọ lập ngày 12 tháng 8 năm 1946 thì đến Cách mạng tháng Tám năm

1945, trừ hai huyện Thanh Ba và Hạc Trì chưa thống kê được, còn lại 9 huyện trong tỉnh có các đồn điền lớn, số địa chủ và diện tích chiếm đoạt như sau:

- 27 địa chủ người Việt chiếm 7018,1 ha lập 41 đồn điền

- 16 địa chủ người Pháp chiếm 6210,52 ha lập 22 đồn điền

- 2 địa chủ người Hoa chiếm 361,2 ha lập 2 đồn điền

Chỉ 45 địa chủ (Pháp, Việt, Hoa) chiếm 13589,83ha lập 65 đồn điền trên tổng số diện tích toàn tỉnh là 73.740 ha

Nếu kể cả các đồn điền nhỏ và số địa chủ nhỏ không đủ điều kiện lập đồn điền, chỉ cho phát canh thu tô thì tổng số ruộng đất giai cấp địa chủ đã chiếm đoạt lên tới gần 70% tổng số diện tích toàn tỉnh

Trang 19

Hình thức bóc lột của địa chủ: Địa chủ có 3 hình thức bóc lột chính:

bóc lột hoàn toàn phong kiến, bóc lột bán phong kiến, bóc lột tư bản Hình thức bóc lột của địa chủ trong các đồn điền là địa tô và nhân công tá điền được chủ giao trâu và giao ruộng để cày cấy, đến vụ thu hoạch tá điền phải trả công trâu và nộp địa tô Lấy đồn điền Phú Lộc của địa chủ Trịnh Xuân Nghĩa làm thí dụ: Đồn điền Phú Lộc có 500 tá điền, mỗi mẫu ruộng cấy lúa phải nộp 8 thúng thóc khô địa tô (mỗi thúng 25 kg); đất trồng sơn, sắn nộp

tô tiền, mỗi mẫu 2.5 đồng Trâu thuê mỗi năm nộp 10 đồng, 8 đồng hoặc 6 đồng tuỳ theo loại trâu khoẻ, trung bình hay yếu Ngày tết, giỗ, tá điền phải đến phục dịch và có lễ vật biếu chủ Ngoài số tá điền làm trong đồn điền, chủ còn thuê nhân công đến làm sơn, chè, cà phê, với giá công rất rẻ mạt, chỉ có 0,12 đồng đến 0,18 đồng một ngày, trong khi giá công làm thuê bên ngoài mỗi ngày là 0,2 đồng Vì bị bóc lột nên tá điền đấu tranh đòi giảm tô, đòi ruộng đất, nhưng các cuộc đấu tranh đòi giảm tô, đòi ruộng đất, nhưng các cuộc đấu tranh của tá điền đều bị chủ báo cho bọn thống trị đưa binh lính về đồn điền đàn áp, bắt giam người cầm đầu

Nói chung giai cấp địa chủ, nhất là đại địa chủ, cấu kết rất chặt chẽ với đế quốc Chúng nắm giữ bộ máy hào lý ở làng xã, bóc lột hà hiếp nông dân Chúng là đối tượng của cách mạng Tuy nhiên, trong cao trào chống Nhật cứu nước, do bị bọn Pháp – Nhật động chạm mạnh mẽ về quyền lợi

do tiếng vang của các chiến khu cách mạng dội về nên một số địa chủ nhỏ

có tinh thần yêu nước đã ủng hộ cách mạng, tham gia và cho con em tham gia các đoàn thể cứu quốc, một số gia đình họ là nơi lui tới của cán bộ cách mạng

Nông dân chiếm 90% dân số của tỉnh nhưng chỉ có 30% có diện tích

ruộng đất canh tác Bị mất ruộng, bị bần cùng hoá, nhiều nông dân đã phải lĩnh canh ruộng địa chủ nộp tô thuế, một số người đến làm tá điền ở các đồn điền lớn Vốn có mâu thuẫn truyền kiếp với giai cấp địa chủ phong

Trang 20

kiến, nên lại thêm mối hận thù sâu sắc với đế quốc Pháp, nên nông dân Phú Thọ đã tham gia hầu hết các phong trào yêu nước chống Pháp Từ khi được cán bộ Đảng giác ngộ, trở thành lực lượng chủ yếu hoạt động trong các phong trào và tổ chức cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Do thuỷ lợi không được chú ý, thiên tai dịch bệnh xảy ra thường xuyên, phương pháp canh tác vẫn lạc hậu như thời phong kiến, nên nhìn chung diện tích lúa chỉ cấy một vụ chiêm hoặc mùa, sản lượng lương thực rất thấp Theo Địa chí Phú Thọ năm 1931 tỉnh Phú Thọ có 38.400 ha cấy lúa, tổng sản lượng đạt 46.000 tấn, năng suất bình quân chỉ đạt hơn 10 tạ/ha (thống kê của Sở địa chính Phú Thọ)

Tư bản Pháp và địa chủ thẳng tay bóc lột nhân dân bằng chính sách thuế khoá rất nặng nề Thuế đinh (thuế thân) đánh vào xuất đinh từ 18 – 60 tuổi có từ thời phong kiến vẫn được thực dân Pháp duy trì và tăng cao dần Những huyện miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thực dân Pháp không thu thuế đinh mà thu thuế theo gia đình và theo từng dân tộc khác nhau Mỗi gia đình người Mường mỗi năm phải đóng 3,5 đồng, gia đình người Dao mỗi năm phải đóng 2 đồng Thuế điền đánh vào diện tích đất canh tác theo đầu mẫu gồm năm hạng: hạng nhất 2,5 đồng, hạng nhì 1,5 đồng, hạng ba 1 đồng, hạng tư 0,2 đồng và hạng năm 0,05 đồng một mẫu Phân bổ như vậy nhưng khi phân bổ thuế, bọn kỳ hào thường đánh đồng xấu tốt như nhau, nên người nông dân vừa ít ruộng lại phải đóng thuế thay cho bọn địa chủ có nhiều ruộng toàn ruộng tốt Riêng năm 1930, Phú Thọ

có 62.960 xuất đinh, phải đóng 151.220, 15 đồng thuế đinh và 192.762,16 đồng thuế điền; cả 2 loại thuế phải đóng là 343.982,31 đồng, tương đương với 7490 tấn thóc

Ngoài hai loại thuế trực thu (thuế đinh và thuế điền), nhân dân còn phải gánh chịu thuế gián thu đánh vào hàng hoá, cũng tức là đánh vào người tiêu dùng, nhất là hàng hoá thiết yếu đối với người dân như muối,

Trang 21

vải, dầu thắp Ở thị xã, ngoài thuế đinh, nhân dân phải đóng thuế thổ trạch, thuế xe cộ, thuế biển hàng…

Thuế khoá đủ loại và ngày càng tăng đã đem lại cho bọn thực dân nguồn thu lớn, còn đối với người nông dân là một tai họa Khi đến vụ thuế nhiều nông dân phải bán chạy tài sản vốn đã ít ỏi hoặc đến nhà địa chủ vay lãi với lãi suất cắt cổ để có tiền nộp thuế Những cảnh quan lại, ký hào sai tuần đinh bắt trói đánh những người dân thiếu thuế ở đình, ở điếm, năm nào cũng xảy ra Có người không đủ tiền nộp thuế phải nhận làm tá điền ở các đồn điền hoặc sợ bị tù, bị đánh mà phải bỏ làng trốn đi nơi khác kiếm ăn

Do đó vấn đề trước mắt mà Đảng bộ Phú Thọ cần phải giải quyết là vấn đề đem lại quyền dân chủ cho nông dân Nông dân trở thành một hạng

vô sản, bị đế quốc và địa chủ bóc lột tới tận xương tủy Trong khi địa chủ, thực dân chiếm tới 60-70% tổng số ruộng đất thì hơn 90% dân số chỉ có khoảng 30% Mức chiếm hữu ruộng đất khác nhau đã dẫn tới sự khác nhau căn bản về địa vị trong quá trình sản xuất về nguồn sống và mức sống Sự phân phối ruộng đất không đều cùng với phương thức khai thác những ruộng đất đó đã nói lên tính chất phong kiến và thuộc địa của chế độ ruộng đất ở Phú Thọ nói riêng cũng như của nước ta nói chung dưới thời Pháp thống trị Chế độ ruộng đất đó có xu hướng ngày càng bành trướng thêm lên bằng cách chèn ép và làm phá sản những người tiểu nông độc lập và nuốt chửng những mảnh đất nhỏ bé của họ Nó đặt tuyệt đại đa số nông dân Phú Thọ trong tình cảnh bần cùng, đói rách, và giam hãm nông dân trong vòng nghèo nàn, lạc hậu

Người nông dân bị dồn vào tình thế cùng quẫn bởi sưu cao, thuế nặng, địa tô nợ lãi cùng đủ mọi sự áp bức nghẹt thở ở nông thôn, cuối cùng phải rời bỏ vợ con và nơi chôn rau, cắt rốn, bán mình cho bọn chủ đồn điền

và nhận lấy một cuộc sống cơ cực, tù hãm, nô lệ thực sự

Trang 22

Nhìn chung trước cách mạng tháng Tám kinh tế nông nghiệp Phú Thọ cũng như nông dân trong tỉnh hoàn toàn phụ thuộc vào đế quốc thực dân Pháp và bọn tay sai Nhân dân Phú Thọ đặc biệt là người nông dân bị

áp bức về chính trị và bị bóc lột về kinh tế, bị chà đạp về văn hóa, họ bị bóc lột tàn nhẫn và nặng nề Một yêu cầu đặt ra cho Đảng bộ Phú Thọ là phải làm sao để thu hẹp và xóa bỏ phạm vi bóc lột của đế quốc và tay sai, đem lại quyền lợi cho người dân trong tỉnh, đặc biệt là nông dân

1.2 Thực hiện Chủ trương xoá bỏ dần dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến (1945-1949)

1.2.1 Từ năm 1945 tới tháng 12 năm 1946

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc đã có sự biến đổi căn bản Nếu như trước cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ chủ yếu là đấu tranh giành chính quyền thì ngày nay, nhiệm vụ trung tâm là đấu tranh để củng cố chính quyền, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ quyền độc lập, tự do của dân tộc trong một tình thế "nghìn cân treo sợi tóc"

Sau ngày tuyên bố với quốc dân đồng bào và toàn thế giới về quyền

tự do, độc lập của Việt Nam, sáng ngày 3-9-1945, tại trụ sở của Chính phủ lâm thời ở Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách đang đặt ra trước chính phủ:

Vấn đề thứ nhất: Nhân dân đang đói

Vấn đề thứ hai: Nạn dốt…hơn 90% đồng bào chúng ta mù chữ

Vấn đề thứ ba: Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ

Vấn đề thứ tư: Chế độ thực dân đã đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân

Trang 23

chúng ta Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động

Vấn đề thứ năm: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò là lối bóc lột vô nhân đạo Hồ Chí Minh đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy

Vấn đề thứ sáu: Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Công giáo và đồng bào Lương để dễ thống trị [29, 3]

Ngày 25-11-1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản chỉ thị quan trọng Kháng chiến kiến quốc, xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm

vụ trước mắt và những chính sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững quyền độc lập, tự do, bảo vệ chế độ mới

Phân tích cụ thể tình hình trong nước, đánh giá thái độ, âm mưu của các thế lực đế quốc đối với cách mạng Đông Dương, bản chỉ thị nêu rõ:

Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành vì nước ta chưa được hoàn toàn độc lập

Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong Giai cấp vô sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy Khẩu hiệu vẫn là "Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết"

Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược và phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng

Chiến thuật của ta lúc này là thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược Mở rộng Việt Minh cho nó bao gồm mọi tầng lớp nhân dân (chú trọng lôi kéo: địa chủ, phong kiến và đồng bào công giáo…) Chỉ thị đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách song rất cơ bản của nhân dân ta lúc này là:

1 Củng cố chính quyền cách mạng

2 Chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 24

3 Bài trừ nội phản

4 Cải thiện đời sống nhân dân [29, 26-27]

Trong đó bảo vệ chính quyền cách mạng là nhiệm vụ bao trùm, khó khăn và nặng nề nhất vì trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ "việc giành chính quyền dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền khó bấy nhiêu" Muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, Đảng phải tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, hòa hợp dân tộc, xây dựng và củng cố đất nước về mọi mặt: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao, chống giặc ngoại xâm gắn liền với chống giặc đói và giặc dốt

Thực hiện khẩu hiệu "dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc là nhiệm vụ thiêng liêng và cấp bách nhất của nhân dân ta lúc bấy giờ Vì vậy, phải mở rộng khối đoàn kết dân tộc, gạt bỏ những bất đồng trong nội bộ quốc gia - dân tộc, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù xâm lược bên ngoài và các lực lượng phản động tay sai

Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám đã đưa đến việc thành lập

bộ máy chính quyền từ Trung ương tới cơ sở Chính quyền là công cụ sắc bén để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ quyền độc lập tự do Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải củng cố và tăng cường sức mạnh của bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, làm cho chính quyền đó thực sự là của dân, do dân và vì dân Trong phiên họp của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hà Nội ngày 3-9-1945, chủ tịch

Hồ Chí Minh nêu rõ : "Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không

có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng

ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu" [49, 8]

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của chế độ mới vẫn tiến hành, với 90% cử tri đi bỏ

Trang 25

phiếu Tổng tuyển cử đã bầu ra quốc hội khóa I với 333 đại biểu thuộc các giai cấp, tôn giáo và các đảng phái khác nhau "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà Trong cuộc Tổng tuyển cử hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không phân chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phải, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó Vì lẽ

đó nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết" [49, 133]

Tổng tuyển cử là mốc quan trọng đầu tiên đánh dấu tiến trình xây dựng thể chế nước Việt Nam mới, theo chế độ Dân chủ Cộng hòa

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội họp kỳ đầu tiên tại nhà hát lớn

đã thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch

Quốc hội thông qua bản tuyên ngôn khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam độc lập, tuyên bố chính thể dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam, tuyên bố kiên quyết bảo vệ nền độc lập, quyền tự do của nhân dân Việt Nam

Quốc hội họp kỳ thứ 2 từ 28 tháng 10 tới 9/11/1946 đã thảo luận ra các nghị quyết về nội trị, ngoại giao thông qua Hiến Pháp, lập chính phủ mới do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và bầu Ban thường trực Quốc hội

Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng để bảo vệ quyền lợi tự do dân chủ nhân dân Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946 đã quy định chính thể, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, chức năng, vị trí của các cơ quan lập pháp và hành pháp Đó là "Bản hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà…Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do…" [49, 440]

Trang 26

Với 70 điều Hiến Pháp đã chứa đựng những tư tưởng lớn về nhà nước Pháp quyền, nhà nước dân chủ kiểu mới và các quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân

Trong hai năm 1945-1946, quyền dân chủ về chính trị, xã hội đã được thực hành căn bản, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ có thực quyền của nước nhà Họ có mọi quyền tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp, tín ngưỡng, cư trú, tư hữu tài sản, bảo vệ nhân phẩm, bí mật thư tín… và quyền đi học

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ở Hà Nội ngày 3 tháng

9 năm 1945, vấn đề giải quyết nạn đói cho nhân dân được coi là nhiệm vụ cấp bách đầu tiên Công cuộc đấu tranh chống "giặc đói" được phát động bằng phong trào tăng gia sản xuất và bằng sự đoàn kết của nhân dân Chính phủ động viên toàn dân tích cực tăng gia sản xuất, tổ chức lạc quyên, lập

"hũ gạo tiết kiệm", ban hành kịp thời các sắc lệnh tiết kiệm gạo, cấm tích trữ lương thực, ưu tiên vận chuyển lúa gạo từ Nam Bộ, Trung Bộ ra Bắc Bộ…nhờ đó nạn đói tạm thời được khắc phục trong các tỉnh phía Bắc

Chính phủ đã có chính sách điều hòa lợi ích giữa điền chủ và nông dân nhằm bảo toàn yêu cầu tăng gia sản xuất

Ngày 20 tháng 11 năm 1945 Chính phủ thông cáo cho các điền chủ

và nông dân phải thực hiện: Điền chủ có nhiệm vụ giảm tô 25% địa tô cho

tá điền, bỏ địa tô phụ và hoãn nợ cho tá điền Tá điền và nông dân có trách nhiệm phải nộp tô cho địa chủ, giữ gìn hoa màu, tôn trọng quyền tư hữu của địa chủ Kết quả của những hoạt động khuyến nông trên đã làm cho đời sống nông dân dần được ổn định

Về pháp luật: Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng để bảo

vệ quyền dân chủ cho mọi công dân: Sắc lệnh số 40/SL ngày 29 tháng 3 năm 1946 về bảo vệ quyền tự do cá nhân; Sắc lệnh số 41/SL quy định chế

độ tự do báo chí; Sắc lệnh số 52/Sl ngày 22 tháng 4 năm 1946, quy định

Trang 27

chế độ tự do lập hội; Sắc lệnh số 35/SL ngày 20 tháng 9 năm 1945, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng

Một số thành tựu to lớn khác là công tác xóa mù chữ Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh, các lớp bình dân học vụ được mở khắp nơi Hệ thống giáo dục các bậc từ tiểu học, trung học và đại học được sớm khai giảng trở lại

Những thành tựu trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa trong những năm đầu xây dựng chế độ mới đã thực sự đem lại quyền dân chủ cho nhân dân, đặc biệt là nông dân

Cùng với cả nước những ngày sau Cách mạng tháng Tám, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ cũng đã giải quyết vấn đề dân chủ cho người dân đặc biệt là nông dân, nhằm hạn chế dần phạm vi bóc lột và thu hẹp chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến

Trong những ngày tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng

bộ và Mặt trận Việt Minh, hàng vạn nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nhất

tề vùng dậy đập tan bộ máy thống trị thực dân phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng từ làng xã đến huyện, tỉnh Ngày 25 tháng 8 năm 1945 là ngày kết thúc thắng lợi cuộc khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám trên phạm vi toàn tỉnh Phú Thọ Sự kiện lịch sử đó đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử tỉnh Phú Thọ và lịch sử Đảng bộ Cách mạng tháng Tám thành công đã chấm dứt ách thống trị phong kiến tồn tại hàng nghìn năm và ách thực dân hơn tám chục năm, lập nên chính quyền cách mạng, chính quyền của dân, do dân và vì dân

Nhân dân Phú Thọ hết thế hệ này đến thế hệ khác đã anh dũng vùng lên đấu tranh suốt nghìn năm Bắc thuộc chống kẻ thù phương Bắc, sau đó chống Pháp, đuổi Nhật, nhưng phải tới Cách mạng tháng Tám họ mới được đổi đời, mới thực sự trở thành người làm chủ vận mệnh mình, quê hương, đất nước mình Từ đây nhân dân Phú Thọ cùng cả nước hân hoan bước vào

Trang 28

cuộc sống mới trong độc lập, tự do dưới chính thể dân chủ cộng hoà, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do Nhân dân Phú Thọ tự hào về trang sử Cách mạng tháng Tám của mình và tự hào vì mình đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi huy hoàng trong Cách mạng tháng Tám của cả nước

Đảng bộ Phú Thọ tuy còn rất trẻ, mới vừa được 5 tuổi (1940-1945), nhưng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là xứ uỷ Bắc Kỳ

đã thi hành các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, tập hợp được đông đảo nhân dân trong mặt trận Việt Minh, vùng lên phối hợp với nhân dân trong

cả nước làm nên Cách mạng tháng Tám lịch sử vĩ đại

Sau Cách mạng tháng Tám, Phú Thọ cũng gặp rất nhiều khó khăn, nạn đói hoành hành khắp nơi, 93% dân số toàn tỉnh bị mù chữ, quân Tưởng trên đường tiến vào Hà Nội, qua Phú Thọ, chúng hoành hành, cướp phá, phá nhiễu nhân dân

Tháng 9 năm 1945, từ biên giới phía Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch ồ ạt kéo vào nước ta Hướng Lào Cai, chúng đi theo đường sắt Lào Cai – Hà Nội, sông Thao, theo đường quốc lộ 2 qua Đoan Hùng và theo đường Lai Châu – Sơn La- Hoà Bình qua Thanh Sơn Quân Tưởng lấy thị

xã Phú Thọ và thị trấn Việt Trì là hai vị trí quan trọng để đóng quân và trạm chuyển quân của chúng Ở Phú Thọ có khoảng 3000 quân Tưởng chiếm đóng Riêng thị xã Phú Thọ, quân Tưởng đóng ở khu vực dưới phố, gần nhà ga Lợi dụng danh nghĩa quân đồng minh quân Tưởng yêu sách ta

đủ thứ cho người và ngựa của chúng, kể cả thuốc phiện, gây ra nhiều khó khăn cho chính quyền và nhân dân ta Chúng đánh bắt người trái phép, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của một quốc gia độc lập Tới Đan Thượng (Hạ Hoà), bọn Tàu Tưởng đi ngựa ngang nhiên cắt hàng mẫu lúa, ngô cho lừa, ngựa ăn; Ở Thanh Ba, tới Chí Chủ, quân Tưởng xông vào nhà dân ngang nhiên lùng bắt tự vệ, vào khám xét nhà Phó Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân cách mạng lâm thời xã Khi tới Phố Vàng (huyện lỵ Thanh Sơn) chúng

Trang 29

chiếm trụ sở huyện làm nơi đóng quân đòi ta cung cấp cả thuốc phiện cho chúng Ở Đoan Hùng, vừa đặt chân tới địa phương, quân Tưởng đã vào Phủ Đoan và các xóm lân cận cướp tài sản Dã man hơn, chúng đã đốt phá một

số nhà dân ở Chí Đám, Thọ Sơn, phố Tân Lập Ở Hạc Trì, chúng cho binh lính đi cướp phá tài sản của nhân dân thị trấn Việt Trì, xã Chính Nghĩa, xã Minh Nông

Trong khi đó, bọn tư sản, địa chủ người Hoa ở Việt Trì, dựa vào thế lực quân Tưởng ra sức đầu cơ, buôn lậu và cho con em làm tay sai đặc vụ cho Tưởng, khiến tình hình ở địa phương đã phức tạp lại càng phức tạp và

căng thẳng hơn

Núp bóng quân Tưởng, bọn Quốc dân Đảng ở Phú Thọ ngày càng hoạt động trắng trợn Chúng chiêu tập những tên phản động trong giai cấp địa chủ, tư sản bọn lưu mạnh, côn đồ lập ra chính quyền phản động

Chúng đặt thị xã Phú Thọ là “Đệ nhất chiến khu” hòng biến nơi này thành

sào huyệt chỉ huy bọn bán nước hại dân Chúng dụ dỗ và cưỡng ép nhân dân thị xã và thị trấn vào các tổ chức phản động do chúng lập ra, như “Việt Nam thanh niên đoàn, Việt Nam phụ nữ đoàn” Đồng thời, chúng lập ra lực lượng vũ trang “Quốc dân quân” Giả danh cách mạng, chúng tung ra các luận điệu nói xấu Việt Minh, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ ta Chúng phát hành những tờ báo phản động như “Việt Nam”,

“Phục Quốc” để tuyên truyền phản cách mạng Sau một thời gian lừa bịp,

dụ dỗ không kết quả, bọn Quốc dân Đảng quay sang thực hiện công khai các hành động trắng trợn và tàn bạo, điên cuồng khiêu khích, chống đối và đàn áp nhân dân ta Ở Thị xã Phú Thọ, hàng ngày bọn Quốc dân đảng dựa vào quân Tưởng đến các làng lân cận như Trù Mật, Thanh Lâu, Hà Thạch, Thanh Hà cướp của giết người

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Việt Minh và nhất là các đoàn thể cứu quốc đã giáo dục nhân dân và lực lượng vũ trang,

Trang 30

quán triệt chủ trương của Đảng, giữ thái độ Việt – Hoa thân thiện, giữ nghiêm kỷ luật, bình tĩnh, tránh gây căng thẳng với quân Tưởng; đồng thời làm cho nhân dân thấy rõ âm mưu của quân Tưởng và tay sai, căm ghét bọn cướp nước và bè lũ bán nước, nêu cao cảnh giác, ra sức chuẩn bị để đối phó với chúng

Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, ngày 25 tháng 6 năm 1946, Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ khoá I, kỳ họp thứ nhất tại Hưng Hóa (Tam Nông), đã bầu ra Uỷ ban hành chính tỉnh là cơ quan chính quyền dân

cử đầu tiên của tỉnh Phú Thọ Tại kỳ họp đầu tiên này, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua nghị quyết thực hiện tốt ba nhiệm vụ cấp bách mà Đảng

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra trong thời kỳ này là diệt giặc đói, giặc dốt giặc ngoại xâm

Thực hiện giải quyết sáu vấn đề cấp bách trước mắt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra ngày 3-9-1945, Ủy ban nhân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

- Bãi bỏ ngay thuế thân, thuế chợ thuế đò (những thứ thuế bóc lột vô nhân đạo)

- Lập ban công giáo của tỉnh để tiến hành tuyên truyền nhân dân, phá

bỏ âm mưu của thực dân và phong kiến đang thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào Lương

- Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo đối với chính quyền, nhất là trong tình hình ta mở rộng thành phần chính quyền, đưa một số thân sĩ yêu nước, nhân sĩ dân chủ, trí thức tiêu biểu và các nhà Lang có uy tín trong đồng bào dân tộc ít người tham gia vào Ủy ban nhân dân các cấp

- Mở rộng Việt Minh trong toàn tỉnh (chú trọng kéo địa chủ, lang, phong kiến và đồng bào Công giáo )

Quá trình hoạt động của chính quyền địa phương cũng đồng thời là quá trình Đảng bộ sàng lọc và đào tạo đội ngũ cán bộ

Trang 31

Cuối năm 1945, Ủy ban nhân dân lâm thời từ tỉnh đến xã đã tổ chức học tập thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Ủy ban nhân dân các cấp nhằm nâng cao quan điểm phục vụ nhân dân, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và nguyên tắc làm việc cho cán bộ chính quyền Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở Ủy ban nhân dân các cấp phải luôn luôn nhận rõ và giữ đúng mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho tới các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh

Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung” [49, 57-58]

Ngày 6 tháng 1 năm 1946 cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ hân hoan tham gia cuộc bầu cử Quốc hội Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt già trẻ, gái trai, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, địa vị xã hội trong toàn tỉnh đã phấn khởi đi bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới Phụ nữ dưới chế độ cũ bị coi thường, không ai dám nghĩ đến chốn đình chung, công sở, ngày nay dưới chế độ mới chị em được bình đẳng như nam giới, tay cầm phiếu có in cờ Tổ quốc để bầu cử Ngay cả những nơi bị quân Tưởng và bọn Quốc dân Đảng khiêu khích, phá phách, nhân dân ta cũng tìm mọi biện pháp đấu tranh để thực hiện quyền công dân của mình

Kết quả trong cuộc tổng tuyển cử này, nhân dân toàn tỉnh đã bầu được 5 đại biểu Quốc hội của khu vực Phú Thọ gồm Lê Đồng, Nguyễn Thiện Ngữ, Nguyễn Hữu Hưng, Phạm Bích Tuế, Sầm Văn Ngữ (tộc Cao Lan)

Trang 32

Ngày 24 tháng 4 năm 1946, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân Phú Thọ tiếp tục bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã Sau đó, Hội đồng nhân dân tỉnh và xã đã bầu ra ủy ban hành chính các cấp, thay cho ủy ban nhân dân lâm thời ra đời trong Cách mạng tháng Tám (theo hiến pháp 1946 quy định cấp huyện không có Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính huyện do hội nghị đại biểu Hội đồng nhân dân các xã trong huyện bầu ra).

Ngày 26 tháng 6 năm 1946, tức là hai ngày sau khi ta tấn công tiêu diệt bọn Quốc dân Đảng phản động ở thị xã Phú Thọ và Việt Trì, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính tỉnh đã làm lễ ra mắt tại Hưng Hoá

Ở huyện Thanh Sơn nơi đất rộng, người thưa, chủ yếu là đồng bào các tộc thiểu số, chế độ lang phổ biến từ lâu, đầu năm 1946 mới thành lập được Uỷ ban nhân dân lâm thời huyện Nhưng sau đó, chính quyền huyện

bị bọn phản động Quốc dân Đảng, một số địa chủ và bọn cơ hội thao túng Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tuyên bố giải tán Uỷ ban nhân dân lâm thời huyện Thanh Sơn Sau khi giải tán Uỷ ban này, Uỷ ban nhân dân tỉnh cùng Huyện bộ Việt Minh Thanh Sơn thành lập lại Uỷ ban nhân dân huyện Ngày 16 tháng 6 năm

1946, đại biểu hội đồng nhân dân các xã trong huyện đã bầu chính thức Uỷ ban hành chính huyện Thanh Sơn

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu quốc hội, Hội đồng nhân dân

và Ủy ban hành chính các cấp ở địa phương giữa lúc quân Tưởng và bọn Quốc dân đảng phản động đang ráo riết thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng là kết quả của sự hi sinh, đấu tranh của tổ tiên ta, nó là kết quả sự đoàn kết anh dũng, phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết” [49, 133]

Trang 33

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hệ thống Nhà nước bao gồm từ các cơ quan lập pháp đến hành pháp, tư pháp đã được xây dựng theo nguyên tắc của dân, do dân và vì dân

Vừa phải chống lại sự sách nhiễu của quân Tưởng và bọn phản động tay sai, nhân dân Phú Thọ vừa quyết tâm cao để đẩy lùi nạn đói – một trong những nhiệm vụ mà Đảng bộ và chính quyền cách mạng phải tập trung giải quyết ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công Việc giải quyết nạn đói lúc này không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn có ý nghĩa chính trị rất sâu sắc Trong thư gửi nhà nông về việc giải quyết nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi phải: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” [49, 115]

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ đã động viên nhân dân toàn tỉnh nổi lên phong trào “nhường áo, xẻ cơm”, “lá lành đùm là rách”, “tương thân tương ái”, lập quỹ “tương tế cứu đói” phát huy truyền thống thương người như thể thương thân của dân tộc ta Nhân dân các xã Thọ Sơn, Sóc Đăng, Tân Lập… (Đoan Hùng) còn nấu cháo đặt trong các nhà làm ở ven đường quốc lộ 2, có cả tiền và gạo quyên góp được

để cứu đói cho người qua đường Uỷ ban hành chính tỉnh còn ra lệnh cấm lấy lương thực để nấu rượu, nghiêm trị kẻ đầu cơ thóc gạo, tuyên bố chính sách của chính phủ như giảm tô 25%, xoá bỏ các khoản nợ lưu cữu, bãi bỏ thuế thân, giảm và miễn thuế điền do bị thiên tai và chia lại công điền, công thổ cho cả nam và nữ, tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân Ở một số

xã như Kinh Kệ (Lâm Thao), theo chủ trương của Đảng, chính quyền xã đã chia 4 ha công điền, 3 ha ruộng hiến điền cho gần 50 hộ nông dân nghèo

Ngày 20 tháng 11 năm 1945 Chính phủ thông cáo cho các điền chủ

và nông dân trong cả nước phải thực hiện: điền chủ có nhiệm vụ giảm tô 25% địa tô cho tá điền, bỏ địa tô phụ và hoãn nợ cho tá điền Tá điền và

Trang 34

nông dân có trách nhiệm phải nộp tô cho địa chủ, giữ gìn hoa màu, tôn trọng quyền tư hữu của địa chủ Địa chủ và tá điền ở Phú Thọ đã từng bước thực hiện theo thông cáo trên Kết quả của những hoạt động khuyến nông

đã làm cho đời sống nông dân Phú Thọ dần được ổn định

Phong trào tăng gia sản xuất được Đảng bộ, chính quyền các cấp và Mặt trận Việt Minh coi là một biện pháp cơ bản và lâu dài để giải quyết nạn đói và đảm bảo lương thực cho công cuộc chống ngoại xâm, được phát động mạnh mẽ ở tất cả các địa phương trong toàn tỉnh

Nhằm mục đích trên, tỉnh uỷ chủ trương thành lập Ban khuyến nông phụ trách việc tăng gia sản xuất và khai khẩn đất hoang ở các cấp từ tỉnh đến xã Tất cả mọi người trong được động viên vào công tác tăng gia sản

xuất theo khẩu hiệu “Không để một tấc đất bỏ hoang”, “Tấc đất tấc vàng”

Thực hiện khẩu hiệu này, nhân dân các địa phương đã khai phái hàng vạn mẫu đất hoang, đồi trọc để trồng lúa, ngô, khoai, sắn và hàng loạt các cây công nghiệp như chè, sơn, trẩu, sở, bông, gai

Mặc dù điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn do lũ lụt, sâu bệnh, vùng tạm chiếm thuộc các huyện Tây Nam Phú Thọ bị địch càn quét, bắt giết trâu bò, phá hoại mùa màng nhưng với tinh thần quyết tâm cao nên năm 1948, tổng diện tích gieo trồng của toàn tỉnh đạt 180.450 mẫu, tăng gần 4.000 mẫu so với năm 1947 Những sản phẩm làm ra không những đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong tỉnh, mà còn dành một phần cho bộ đội, một phần cho chăn nuôi tăng nguồn thực phẩm Mặt khác, tỉnh đã thành lập trại giống cây trồng Phú Hộ, địa điểm đặt tại trại thí nghiệm của thực dân Pháp trước đây, để cung cấp giống cây ăn quả như: Nhãn, vải, dứa, bưởi

và cây công nghiệp như sơn, chè cho các địa phương trong tỉnh và ngoài tỉnh

Để nhanh chóng đẩy lùi nạn đói, mọi nhà, mọi người, mọi cơ quan đoàn thể đều tận dụng triệt để nhưng điều kiện hiện có để trồng cây lương

Trang 35

thực và thực phẩm ngắn ngày như ngô, khoai, sắn, chuối, nhiều nhất là khoai lang

Sau một năm kể từ ngày Tổng khởi nghĩa, sản xuất nông nghiệp ở Phú Thọ đều tăng cả diện tích và sản lượng so với trước Nếu một năm trước đó (Từ 19/08/1944 – 19/08/1945) toàn tỉnh chỉ có 147.000 mẫu trồng cây với tổng sản lượng là 58.325 tấn, thì một năm sau, con số này lên tới

179.570 mẫu Bắc bộ với 234.461 tấn lương thực quy ra thóc Vì thế nạn đói

trong tỉnh được đẩy lùi, đời sống nhân dân nói chung bước đầu được ổn định Thắng lợi này chẳng những sớm khôi phục tình hình kinh tế tỉnh Phú Thọ sau nạn đói và lụt năm 1945, góp phần ổn định tình hình hình chính trị – xã hội, mà còn tạo ra nguồn dự trữ để sau đó giúp nhân dân, nhất là 4 vạn đồng bào miền xuôi tản cư đến Phú Thọ sớm ổn định đời sống; giúp bộ đội,

cơ quan đến Phú Thọ trong những ngày đầu kháng chiến Qua đây, nhân dân nhận thức rõ và phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa chính quyền cách mạng với chính quyền đế quốc, phong kiến làm nổi bật tính ưu việt của chính quyền nhân dân, xây dựng vững chắc khối đoàn kết toàn dân xung quanh Mặt trận Nhân dân càng tin tưởng vào Đảng, chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng gắn bó chặt chẽ với chế độ mới Do đó, Đảng

ta tập hợp được lực lượng, đặc biệt là công – nông, trong cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Đó là ý nghĩa chính trị quan trọng của công cuộc “diệt giặc đói” sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công ở Phú Thọ

Đồng thời với việc cứu đói, để đảm bảo sản xuất ổn định và có hiệu quả, chính quyền các cấp trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã tổ chức phong trào toàn dân hàn khẩu đê để khắc phục hậu quả lũ lụt; khơi ngòi tiêu úng và chống hạn, sửa chữa cầu, đường giao thông Nhân dân ở hai bờ sông Lô, sông Chảy, sông Thao đã đào đắp hàng nghìn mét đê bị vỡ Mặc dù khối lượng công việc lớn nhưng với tinh thần của người làm chủ,

Trang 36

nhân dân trong tỉnh đã tích cực góp hàng vạn ngày công, hàng trăm ngàn cây tre, gỗ, tham gia đào dắp hàng vạn mét khối đất đá Nhờ sự cố gắng vượt bậc của nhân dân, nhiệm vụ đắp đê, phòng lụt đã hoàn thành trước mùa mưa lũ, nên đã được phái đoàn chính phủ do cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền chủ tịch nước dẫn đầu dự lễ khánh thành vào ngày 31 tháng 7 năm

1946

Thực hiện chủ trương của Trung Ương, Đảng bộ và chính quyền tỉnh

tạm cấp ruộng đất của các đồn điền vắng chủ cho nông dân Hội đồng tạm cấp ruộng đất của tỉnh được thành lập và bước đầu chia 30.010 ha đất cho 1.537 gia đình nông dân nghèo Bình quân mỗi hộ nông dân được cấp từ 5 sào tới 1,2 mẫu Đồng thời, đem chia cho dân cày nghèo 182 mẫu ruộng đất hiến điền của 5 địa chủ [1, 186]

1.2.2 Từ năm 1946 tới năm 1949

Trước tình hình thực dân Pháp ngày càng mở rộng xâm lược, Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946 của Người đã thể hiện đầy đủ nguyện vọng hòa bình, độc lập của nhân dân ta, vạch trần

âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời tỏ rõ quyết tâm kháng chiến đến cùng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc Người cũng chỉ ra phương châm và cách thức tiến hành kháng chiến Lại một lần nữa, ý thức cộng đồng dân tộc được Hồ Chí minh khơi dậy ngay từ lời mở đầu:

“ Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng

ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa

Không! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ ” [49, 480]

Trang 37

Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước với mọi người Việt Nam yêu nước, đồng thời là tiếng nói của chính nghĩa, của một dân tộc yêu chuộng hòa bình và tiến bộ – những giá trị cao đẹp mà nhân loại đang hướng tới

Cuộc kháng chiến mới này là sự kế tục cuộc Cách mạng tháng Tám bằng phương thức chiến tranh cách mạng có tính chất giải phóng dân tộc và dân chủ mới Trường Chinh nói rõ: “Cuộc kháng chiến này chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ cộng hòa dân chủ, không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày, chỉ tịch thu bổ sung ngân quỹ kháng chiến hay ủng hộ gia đình các chiến sĩ hi sinh” [21, 30-31]

Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh cho thấy rõ: " Cuộc Cách mạng tháng Tám tuy đã lập nên chế độ Cộng hòa dân chủ Việt Nam, nhưng chế độ ấy chưa được hoàn chỉnh Cuộc kháng chiến này sẽ mở rộng và củng cố chế độ Cộng hòa dân chủ Việt nam và phát triển

nó trên nền tảng dân chủ mới Cho nên cuộc kháng chiến của Việt Nam hiện nay không những có tính chất dân tộc giải phóng mà còn có tính chất dân chủ mới" [21, 29-30]

Như thế, có thể nói rằng, sau Cách mạng tháng Tám, do tính chất cách mạng nước ta là cách mạng giải phóng, cho nên nhiệm vụ chiến lược quan trọng của cách mạng nước ta lúc bấy giờ là đấu tranh giải phóng dân tộc Song, điều đó không có nghĩa chúng ta chỉ tiến hành một cuộc kháng chiến với nhiệm vụ đánh giặc một cách đơn thuần mà trong hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ đòi hỏi ta phải vừa chiến đấu, vừa xây dựng, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc

Cuộc kháng chiến của Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân ở một nước vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, trong đó, đại đa

số nhân dân là quần chúng nông dân và nông dân chính là lực lượng chủ

Trang 38

yếu của cách mạng và kháng chiến Vì vậy, Đảng ta hết sức chú trọng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dântộc và vấn đề nông dân, giữa nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong

Trong quá trình lãnh đạo kháng chiến thực hiện hai nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn của đất nước và bằng tư duy khoa học biện chứng Đảng ta đã giải quyết các mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ một cách sáng suốt đúng đắn

Khi hướng mũi nhọn của cách mạng chủ yếu vào bọn đế quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai, Đảng ta chủ trương từng bước thực hiện ở một mức

độ nhất định nhiệm vụ ruộng đất bằng cách thực hiện giảm tô, giảm tức, vận động hiến điền…

Tháng 8 năm 1948, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị cán bộ lần thứ V (từ ngày 8-8 tới ngày 16-8-1948), Hội nghị này là bước tiến mới trong việc định ra đường lối đấu tranh chống phong kiến của Đảng trong

thời kỳ kháng chiến Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phải tập trung mọi lực lượng làm cho xong nhiệm vụ phản đế, nhưng nhiệm vụ phản phong kiến (bài trừ những tàn tích bóc lột phong kiến và cải cách ruộng đất) không phải hoàn toàn gác lại sau khi đã làm xong nhiệm vụ phản đế rồi mới tính đến” [30, 198]

Mặt khác, Hội nghị cũng nêu rõ phải dùng phương pháp cải cách mà dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến bản xứ trong phạm

vi không có hại cho Mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược [30, 199]

Tháng 1 năm 1948, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ 2 lần đầu tiên diễn ra một cách có hệ thống chính sách ruộng đất của Đảng trong kháng chiến, gồm những điểm sau:

- Triệt để giảm 25% địa tô

Trang 39

- Bài trừ những địa tô phụ thuộc như tiền trình gặt, tiền đầu trâu, lễ lạt quá nặng

- Bỏ chế độ quá điền

- Đem ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân cày nghèo, hoặc giao cho bộ đội cày cấy để tự cấp phần nào

- Chia lại ruộng công điền cho hợp lý và công bằng hơn

- Đem ruộng đất, đồn điền của địch cấp cho nông dân cày nghèo, chấn chỉnh đồn điền do Chính phủ quản lý

- Chấn chỉnh các hợp tác xã cảu dân cày và khuyến khích việc làm giúp, đổi công

- Cấp trâu bò và hạt giống cho nông dân ở vùng bị địch tàn phá

- Mở mang việc vận tải và chỉ huy nông nghiệp để giữ giá nông sản

- Tiếp tế, vận tải hàng hóa cần thiết cho nông dân

- Ấn định giá nhân công (công nhật, công mùa) cho chủ ruộng đỡ thiệt

- Địa tô của đồn điền mà chủ điền đã đi vắng lâu ngày ở trong vùng địch kiểm soát, tạm giao cho Ủy ban kháng chiến hành chính Tỉnh để dùng vào việc tiếp tế nạn nhân… (Chính phủ bảo đảm việc hoàn lại địa tô ấy cho chủ ruộng khi nào chủ ruộng trở về xét ra được hưởng địa tô ấy)

- Củng cố đê điều, ấn định mọi biện pháp phòng lụt, sửa sang việc dẫn thủy, nhập điền

- Tùy từng địa phương mà đặt lệ thu thuế bằng nông sản để cho dân quê dễ nộp Giảm thuế hoặc xá thuế các vùng chiến sự mà không cày cấy được

- Điều tra ruộng đất để bỏ thuế "khống thu" và thủ tiêu chế độ "điền bất cập hạ"

- Chấn chỉnh tín dụng sản xuất

- Điều tra về nợ để quy định tiền nợ lãi của dân quê [30, 31]

Ý nghĩa quan trọng của nghị quyết là ở chỗ, nó chỉ rõ chính sách ruộng đất của Đảng trong kháng chiến cùng các chính sách khác nhằm phát

Trang 40

triển sản xuất nông nghiệp - nguồn cung cấp chủ yếu của kháng chiến Vấn

đề giảm tô 25% được đặt thành nhiệm vụ hàng đầu trong bước đầu giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ "Chính sách này nhằm phân hóa địa chủ trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến" [58, 60]

Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ V cũng đã khẳng định chỉ có đem lại quyền lợi ruộng đất cho nông dân thì mới bồi dưỡng được lực lượng kháng chiến, góp phần đưa kháng chiến tới thắng lợi Hội nghị còn chỉ ra phương hướng lớn về cách làm cách mạng ruộng đất thích hợp với điều kiện riêng biệt của nước ta là:

a Chính sách ruộng đất phục vụ cho việc đẩy mạnh kháng chiến Phải tiến hành như thế nào để không có hại cho mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược, mặc dù bản thân việc chống phong kiến gắn bó rất chặt chẽ và thúc đẩy công cuộc kháng chiến cứu nước

b Trong hoàn cảnh cụ thể của ta, để đạt yêu cầu trên đây, không thể một bước mà thủ tiêu ngay tức khắc quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, mà phải dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến thông qua giảm tô, giảm tức, chia lại công điền…

Sau ngày toàn quốc kháng chiến ở Việt Nam đã hình thành hai vùng với hai chế độ chính trị khác nhau: vùng tự do và vùng địch kiểm soát Tính chất xã hội Việt Nam lúc này vừa là dân chủ nhân dân ở vùng tự do, vừa là một phần thuộc địa - phong kiến ở vùng địch tạm thời chiếm giữ Bởi vậy mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với quân xâm lược Pháp, giữa nông dân với địa chủ, giữa công nhân với tư sản trong nước, trong đó mâu thuẫn chủ yếu nhất là giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai Cũng chính vì thế, mọi sức mạnh dân tộc cần được tập trung để giải quyết mâu thuẫn này

Nhiệm vụ chống phong kiến, thực hiện dân chủ và chính sách ruộng đất vẫn phải đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ chống đế quốc Song vì

Ngày đăng: 15/03/2021, 14:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w