1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến 2010

103 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 911,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, khi khảo cứu các công trình đã liệt kê, có thể rút ra những kết luận cơ bản sau: Thứ nhất, thành quả của những công trình nghiên cứu nêu trên, ở những mức độ khác nhau là cơ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG THỊ HƯỜNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Tang Bồng

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Tác giả

Dương Thị Hường

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Vũ Tang Bồng, người thầy đã trực tiếp

chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy,

Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, Mặt trận Tổ quốc, Trường chính trị Tỉnh đã động viên, cổ vũ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp cùng những người thân yêu nhất trong gia đình đã động viên, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn Do thời gian và cũng do năng lực nghiên cứu của tôi có hạn, luận văn chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận đuợc sự chỉ dẫn tiếp theo của các thầy cô giáo cùng

toàn thể bạn bè, đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2014

Tác giả

Dương Thị Hường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1 : YÊU CẦU KHÁCH QUAN PHẢI TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 10

1.1 Vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở và công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ sơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 10

1.1.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cán bộ cơ sở 10

1.1.2 Vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở và công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị 11

1.2 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân cư, lịch sử truyền thống yêu nước và cách mạng tỉnh Phú Thọ 17

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân cư 17

1.2.2 Lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng 20

1.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Phú Thọ trước năm 1997 23

1.3.1 Quan điểm của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở trước năm 1997 23

1.3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở trước năm 1997 27

Trang 5

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 : QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 32

2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 32

2.1.1 Chủ trương của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 32

2.1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ quán triệt chủ trương của Đảng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 39

2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010 43

2.2.1 Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, đề án, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị 43

2.2.2 Chỉ đạo hoạt động của trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện, thị xã, thành phố 46

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3 : MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 62

3.1 Nhận xét về lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở 62

3.1.1 Thành tựu 62

3.1.2 Hạn chế 66

3.2 Một kinh nghiệm chủ yếu 70

3.2.1 Bám sát và thực hiện nghiêm túc quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng lí luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 70

Trang 6

3.2.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã từng bước hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở

phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương 72

3.2.3 Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị gắn liền với thực tiễn 74

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở đào tạo 78

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” theo đó công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là công việc gốc của Đảng Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị có tầm quan trọng đặc biệt vì nó góp phần xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức, nhân cách cho người cán bộ của Đảng

Đội ngũ cán bộ cơ sở có vị trí vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Đội ngũ cán bộ

cơ sở đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và chịu

sự điều chỉnh trực tiếp của hệ thống pháp luật về chế độ công chức, công vụ mới đang hình thành và được thể chế hóa qua một số văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành trong thời gian gần đây

Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến cơ sở là yêu cầu cấp thiết cho mọi cán bộ chứ không phải chỉ riêng ở cán bộ nghiên cứu hay người làm công tác lý luận như trước đây thường quan niệm Hơn nữa, năng lực và trình độ lý luận chính trị của cán bộ

cơ sở có tác dụng quan trọng trong lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự ở địa phương, thúc đẩy sự phát triển chung cho cả tỉnh, vùng và cả nước Trình độ lý luận chính trị của người cán bộ là yếu tố “then chốt” cho mọi hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn của họ Cán bộ cấp xã, phường, thị trấn có nắm vững, hiểu biết sâu sắc lý luận chính trị mới nắm chắc các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình cụ thể ở địa phương, từ đó rút

ra những bài học, kinh nghiệm, những kết luận góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung và phát triển lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trang 9

Trong những năm đổi mới các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - quốc phòng an ninh của tỉnh Phú Thọ phát triển mạnh mẽ Quá trình đổi mới đẩy mạnh CNH-HĐH đặt ra cho cán bộ cấp xã, phường, thị trấn ở tỉnh Phú Thọ phải không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ lý luận chính trị Để có thể nắm bắt, phản ảnh đúng đắn quy luật phát triển; vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách có hiệu quả và đề ra những quyết sách đúng, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa bàn mình phụ trách

Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước, của địa phương thì trình độ năng lực đội ngũ cán bộ cấp cơ sở xã còn nhiều hạn chế bất cập Cán bộ cơ sở ở tỉnh Phú Thọ được hình thành từ nhiều nguồn, trưởng thành chủ yếu thông qua thực tiễn, chưa được đào tạo cơ bản, thiếu vốn kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị Bởi thế, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn họ thường khó tránh khỏi bệnh kinh nghiệm, giáo điều, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý công việc một cách máy móc, kém hiệu quả không đề ra được phương án giải quyết tối ưu Thực tế đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở của tỉnh Phú Thọ phải không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, trong đó có trình độ lý luận chính trị

Việc nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá thực trạng từ đó đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở Phú Thọ có vai trò hết sức quan trọng

Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên tôi mạnh dạn chọn đề tài:

"Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010" làm luận văn thạc

sĩ khoa học, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT được Đảng ta xác định là một công tác trọng tâm Ở các địa phương công tác này càng có vai trò quan trọng Từ

Trang 10

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đến nay Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương và những yêu cầu nhằm nâng cao trình độ LLCT đối với lãnh đạo quản lý các cấp các ngành Đây là những định hướng quan trọng góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên

Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị là một mảng đề tài lớn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, từ nhiều góc độ khác nhau về vấn đề này Có thể phân thành các nhóm như sau:

- Nhóm thứ nhất: Các công trình, chuyên khảo về công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị:

Trong tác phẩm “Học tập lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng của

Đảng viên: Bài nói ở lớp tập huấn Đảng viên mới do thành ủy Hà Nội tổ chức ngày 14/5/1966”, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1978, tác giả Hồ Chí Minh đã nói rõ

về động cơ vào Đảng và lý tưởng phấn đấu của người Đảng viên, nhiệm vụ của Đảng viên trong học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng

Trong tác phẩm “ Một số vấn đề về công tác tư tưởng” Nxb Sách giáo

khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1985, tác Nguyễn Đức Bình Sách gồm những bài nghiên cứu của tác giả về công tác tư tưởng của Đảng; trong đó có nhiều nội dung về GDLLCT của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiếp theo trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong

sạch vững mạnh”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tác giả Phạm Ngọc

Anh, Bùi Đình Phong đã đề cập các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng, về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về việc vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta hiện nay

Trong tác phẩm “Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo lĩnh

vực nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị”, Học viện chính trị Quốc gia Hà

Trang 11

Nội, Hà Nội, 2012 tác giả Nguyễn Tấn Hoàng (Chủ biên), Ngô Đình Xây, Mai Yến Nga đã giới thiệu về công tác giáo dục lý luận chính trị, quy trình tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng Tham mưu định hướng về GDLLCT trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia… các trường chính trị tỉnh, thành phố

- Nhóm thứ hai: Các bài nghiên cứu liên quan đến công tác giáo dục

lí luận chính trị

Tiêu biểu cho nhóm này là các công trình:

Nguyễn Phú Trọng (1999): “Tạo bước chuyển biến mới trong việc học

tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Cộng sản, số 11

Nguyễn Khoa Điềm (2004): “Nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu

quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới”, Tạp chí Thông

tin công tác tư tưởng lý luận, số1

Trần Ngọc Uẩn (2005): “Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở các trường Chính trị”, Tạp chí Lịch sử

Đảng, số 11

Trần Văn Phòng (2006): “Đổi mới phương pháp học tập lý luận chính

trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh”,Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7

Trần Khắc Việt (2006): Góp phần tích cực vào việc nâng cao chất

lượng giáo dục lý luận chính trị trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lý luận chính

Trang 12

- Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu khoa học luận văn, luận

án về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo dục lý luận chính trị

Tiêu biểu cho nhóm này là các công trình:

Nguyễn Đình Trãi (2001): “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán

bộ giảng dạy Mác - Lênin ở các trường Chính trị tỉnh”, Luận án tiến sĩ Triết

học, Học viện hành chính Quốc gia Trong luận án tác giả đã nghiên cứu đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lí luận cho đội ngũ cá bộ giảng dạy lý luận Mác- Lênin ở các trường Chính trị tỉnh; trên cơ sơ làm sáng tỏ năng lực phạm trù tư duy lý luận đối với công tác giảng dạy LLCT ở các trường Chính trị tỉnh

Nguyễn Đức Hà (2005): “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ thuộc hệ thống Chính trị cơ sở của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện”, thành

viên nghiên cứu đề tài khoa học cấp tỉnh Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở đánh giá về chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các phương hướng , giải pháp nhằm năng cao chất lượng đội ngũ chính quyền cấp xã đáp ứng được nhiệm vụ được cách mạng của một tỉnh trung du miền núi, có nhiều dân tộc, đa dạng các loại hình kinh

tế như Phú Thọ

Cầm Thị Lai (2012): “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính

cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ chính trị khoa học, Học viện Chính trị Quốc

gia Hà Nội Luận án là rõ những vấn đề lý luận về đào tạo, bồi dưỡng LLCT, hành chính cho cán bộ chuyên trách cấp xã ở tỉnh Tây Bắc; đánh giá thực trạng trình độ, thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ từ năm 2001 đến nay Chỉ ra nguyên nhân và kinh nghiệm; đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công tác ĐT, BDLLCT, hành chính cho đội ngũ cán bộ đến năm 2020

Trang 13

Tạ Bích Huệ (2012): “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác

đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm

1997 đến năm 2005”, luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đại học Khoa

học xã hội và Nhân văn Luận văn đề cập đến các chủ trương của Đảng và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chinh trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Bên cạnh đó, luận văn cũng bước đầu chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ của tỉnh Thái Nguyên, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ “Đức và Tài; Hồng và Chuyên” trong thời đại mới

Nhìn chung, khi khảo cứu các công trình đã liệt kê, có thể rút ra những

kết luận cơ bản sau: Thứ nhất, thành quả của những công trình nghiên cứu

nêu trên, ở những mức độ khác nhau là cơ sở để tác giả luận văn có điều kiện

đi sâu nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào

tạo, bồi dưỡng lí luận chính trị cho cán bộ cơ sở ở địa phương; Thứ hai, trong

những công trình nghiên cứu trên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công ĐT, BDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010 Tuy nhiên, các công trình trên đều rất bổ ích không chỉ cung cấp tư liệu mà còn gợi mở cho học viên hướng tiếp cận, triển khai

các nội dung nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn; Thứ ba, quá trình

Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lí luận chính trị cho cán đội ngũ bộ cơ sở, cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới, khỏa lấp những khoảng trống nghiên cứu vẫn còn tồn tại Đó đồng thời cũng là mục tiêu, nhiệm vụ mà luận văn cố gắng giải quyết và hoàn thành

Trang 14

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu đã được công bố, trên

cơ sở các nguồn tư liệu mới, luận văn trình bày có hệ thống, phân tích đánh giá toàn diện, khách quan theo quan điểm lịch sử về yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công đào tạo, bồi dưỡng dục lý luận chính trị cho cho đội ngũ cán bộ cơ sở

(1997 - 2010) Thông qua đó đánh giá những kết quả bước đầu và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, góp phần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận

chính trị cho đội ngũ cán bộ cở sở của tỉnh trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn trình bày những quan điểm chính của Đảng và những chủ

trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cở sở từ năm 1997 đến năm 2010

- Quá trình tổ chức triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2010

- Đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, nguyên nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh

Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở

Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối

với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 (từ sau khi tỉnh Phú Thọ tách từ tỉnh Vĩnh Phú) đến 2010 (là năm đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII)

Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Phú Thọ

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, những chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,

ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác của khoa học

lịch sử như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, để xử lý các sự

kiện, số liệu nhằm dựng lại quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2010

5.3 Nguồn tư liệu

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về

lý luận chính trị, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

- Các Văn kiện của Đảng, đặc biệt là các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, những Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư của Trung ương Đảng và Chính phủ; các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân

Trang 16

tỉnh cũng như các tài liệu của sở, ban, ngành của tỉnh Phú Thọ về công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở

- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo có liên quan (báo, tạp chí, đề tài khoa học, chuyên khảo) do các cơ quan nghiên cứu đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Sử học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội … là nguồn tư liệu quan trọng của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Trình bày có hệ thống và làm rõ đường lối, chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

- Bước đầu rút ra một số đánh giá, nhận xét về thành tựu, hạn chế và rút

ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu giảng dạy tuyên truyền về lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ đổi mới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:

Chương 1 Yêu cầu khách quan phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng lý

luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Chương 2 Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác

đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010

Chương 3 Một số nhận xét và kinh

Trang 17

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN PHẢI TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

1.1 Vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở và công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ sơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

1.1.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cán bộ cơ sở

1.1.1.1 Về “đào tạo, bồi dưỡng”

“Đào tạo” là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận được một công việc nhất định;

“Bồi dưỡng” là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo trước đó

Theo quan điểm của Đảng, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được tiến hành theo nguyên tắc học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực

tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “lý luận mà không liên hệ với thực

tiễn là lý luận suông”, “thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng” Vì vậy, nội dung đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cần

luôn phải đổi mới và xây dựng cho phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm góp phần trang bị hệ thống thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống tri thức chuyên môn, kiến thức lãnh đạo quản lý trong thời kỳ đẩy mạnh đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường mở của và hội nhập quốc tế

1.1.1.2 Về “lý luận chính trị”

Có thể hiểu: Lý luận chính trị là hệ thống quan điểm, chủ trương, đường

lối của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước

Lý luận chính trị của giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhân loại

và tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân thế giới làm công cụ đắc

Trang 18

lực cho việc giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia, dân tộc Theo Lênin, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “ chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [38, tr.30-32] Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [39, tr.268]

Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của dân tộc và nhân loại Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng luôn lấy Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của mình

Do đó đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng đối với một chính Đảng vô sản, vì trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lệnh

sử của mình, giai cấp công nhân sẽ không thành công nếu như không không

có lý luận tiên phong soi đường

1.1.2 Vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở và công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị

1.1.2.1 Vị trí của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị bốn cấp ở nước ta hiện nay Cơ sở là nơi cán bộ sinh sống và làm việc hàng ngày cùng với dân, có

Trang 19

điều kiện gần gũi và trực tiếp thường xuyên với nhân dân, đồng thời cũng là nơi thi hành các chủ trương, chính sách của ba cấp trên Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX nêu rõ: Các cơ sở xã, phường thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân sinh sống Hệ thống chính trị ở cơ

sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội tổ chức cuộc sống tại cộng đồng dân cư [18, tr.166] Do đó cán bộ cấp cơ sở phải là người hiểu biết rõ nhất tình hình đang diễn ra tại địa bàn, người nắm bắt được trực tiếp nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân và những bức xúc mà cuộc sống của nhân dân đang đặt ra

Cấp cơ sở là nơi thực thi mọi nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ, nơi biến đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước thành hiện thực Đồng thời, đây cũng là nơi kiểm nghiệm, phản ánh, cung cấp một cách khách quan những căn cứ cho việc bổ xung hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Quần chúng nhân dân ở cơ sở chỉ phát huy được sức mạnh của mình khi có sự lãnh đạo của Đảng, cụ thể là thông qua đội ngũ cán

bộ lãnh đạo cấp cơ sở Đội ngũ cán bộ cơ sở là những người lĩnh hội các chủ trương, đường lối, chỉ thị, Nghị quyết từ cấp trên để triển khai, vận dụng trong thực tế trên địa bàn ấp, xã do mình phụ trách Họ cùng Đảng bộ cơ sở xây dựng những chủ trương, chính sách cụ thể phù hợp với địa phương mình Chính đội ngũ này trực tiếp chỉ đạo và tham gia tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách đó, đồng thời kiểm tra, uốn nắn khuynh hướng lệch lạc trong tổ chức thực hiện

Những công việc của cán bộ cơ sở hết sức cụ thể Họ là người trực tiếp nhận và xử lý những yêu cầu của dân Họ phải giải quyết những công việc như xác nhận hồ sơ, lý lịch, ký tên, đóng dấu, chăm lo mọi mặt về đời sống kinh tế

Trang 20

văn hóa, y tế, giáo dục, quan tâm tới các gia đình chính sách, chống các tệ nạn

xã hội v.v Có một điểm đặc thù là cán bộ cơ sở khi giải quyết những công việc lớn nhỏ, họ vừa phải thực hiện với trách nhiệm của một cán bộ lãnh đạo lại vừa là một công dân bình thường đang sống trong cùng làng, xóm với nhiều mối quan hệ cụ thể Vì thế, trong cách làm của họ luôn phải thấu lý, đạt tình Tất cả những chủ trương, chính sách từ Trung ương đến tỉnh, quận, huyện và cuối cùng là xã, phường có đến được dân hay không, có trở thành hiện thực sống động hay không đều nhờ vào tài trí của đội ngũ cán bộ cơ sở Để hoàn thành nhiệm vụ, người cán bộ cơ sở phải không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện, tiếp thu những tri thức mới đồng thời gạt bỏ những tư tưởng, tâm lý lạc hậu, những lối suy nghĩ giản đơn, kinh nghiệm, giáo điều v.v

Có thể nói, đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cơ sở nói riêng có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng như Hồ Chí Minh đã khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Do vậy, cán bộ là nhân tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và của cả dân tộc Sự nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ sở,

mà sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc rất quan trọng ở chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý cơ sở

1.1.2.2 Tầm quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848, Các Mác - Ăng ghen khẳng định người làm cách mạng cần có sự hiểu biết về lý luận “ Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là những bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhân của các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên

Về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu những điều kiện, tiến trình và kết qủa chung của phong trào vô sản” [11, tr.614-615] Các Mác - Ăng ghen cũng khẳng định đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục lý luận

Trang 21

chính trị cho đội ngũ cán bộ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi Đảng cộng sản và đây cũng là điều kiện dẫn đến thắng lợi của các phong trào cách mạng với sự vững vàng trong lí luận chính trị mà giai cấp vô sản”…sẽ

có khả năng đảm nhận vai trò lãnh đạo nhờ sự hơn hẳn về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình…” [10, tr.632]

Lênin đã dạy: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” Người khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [52, tr.143] và “Chỉ có đảng nào có được lý luận tiền phong dẫn đường thì đảng đó mới có thể hoàn thành vai trò cách mạng tiền phong.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng lí luận chính trị, theo Người đây là hoạt động quan trọng quyết định sự nghiệp cách mạng xuyên suốt mọi giai đoạn lịch sử Người khẳng định: “ Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ hướng cho chúng ta trong công việc thực tế” [41, tr.233] và “ Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [41, tr.269]

Do thấy được vai trò to lớn của công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị, qua nhiều năm khảo sát thực tế và tiếp thu kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra rằng muốn đánh đuổi thực dân đế quốc giành độc lập tự do cho đất nước thì trước hết phải làm cho dân giác ngộ, tức là phải tiếp thu lý luận chính trị của Đảng và hành động cách mạng theo phương châm của Đảng

Theo Người, cách mạng muốn thành công, Đảng phải vững mạnh, Đảng muốn vững mạnh, Đảng phải có lý luận soi đường và tất cả cán bộ, Đảng viên cần phải hiểu và thực hành theo lí luận đó Người cho rằng công

Trang 22

tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng tiên phong phải đạt trình độ tiên phong vì: "Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam" [40, tr.268]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đào tạo, bồi dưỡng giáo dục lý luận chính trị là giáo dục chính trị, truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, nâng cao đạo đức cách mạng cho các bộ đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm thống nhất về

tư tưởng, ý chí, phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống Đồng thời, Người cũng chỉ rõ phải chống thói xem nhẹ học tập lý luận chính trị, vì “ Không học tập lý luận chính trị thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí

hủ hóa và xa rời cách mạng” [40, tr.234]

Chính vì vậy, Người yêu cầu: "Từ nay trở đi công tác giáo dục đảng viên phải là một điều quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy Phải bồi dưỡng giảng viên lý luận cho chi bộ Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình"[42, tr.95- 96] đó chính là những định hướng mà Người nêu ra cho mỗi cán bộ đảng viên

Cách học của Chủ tịch Hồ Chí Minh là học ở mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời coi trong việc tự học, Người chỉ rõ: "Cách mạng tiến lên mãi, Đảng

ta tiến lên mãi" Cho nên cán bộ đảng viên phải thường xuyên trau dồi lý luận chính trị, vì cán bộ là gốc của mọi công việc "Công việc thành hay bại là do cán bộ tốt hay xấu" Sự phát triển của tư duy, nhận thức, học vấn, trình độ văn hoá của cán bộ đảng viên là quá trình khổ công rèn luyện, tích luỹ kiến thức,

đó chính là con đường phát triển của tư duy khoa học và tư duy lý luận chính trị Người căn dặn: "Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử

Trang 23

trí mọi công việc đối với mọi người và đối với bản thân mình", “Học để làm

việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân,

Tổ quốc và nhân loại” [41, tr.684].

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân với chủ nghĩa yêu nước Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Điều đó được khẳng định rõ trong cương lĩnh đầu tiên (1930) và sau này trong cương lĩnh xây dựng đất nước được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991): “ Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[12, tr.127]

Đảng rất coi trọng việc học tập và nghiên cứu, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào từng điều kiện cụ thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) Đảng tiếp tục khẳng định: Phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của Đảng Nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, công tác tư tưởng trong Đảng, nhất là trong đội ngũ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ cơ sở [21, tr.49]

Để thực hiện tốt chức năng cơ bản của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ

sở như chỉ đạo, điều hành, xây dựng kế hoạch hoạt động , đề ra các giải pháp

cụ thể, tổ chức chỉ đạo cấp dưới thực hiện nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo Đội ngũ các bộ phải được đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị Nội dung của công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo dục lý luận chính trị là rất rộng, bao gồm việc giáo dục những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối quan điểm

Trang 24

của Đảng về các lĩnh vực của đời sống xã hội, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các nước

Nước ta có một lực lượng đội ngũ cán bộ cơ sở khá đông đảo, có phẩm chất đạo đức tốt, có trách nhiệm, có ý chí phấn đấu vươn lên Tuy nhiên trình độ lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên ở cơ sở nhất là những đảng viên mới kết nạp, đảng viên là người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng

xa đang là vấn đề được quan tâm Bên cạnh đó, trong thực tế vẫn còn những cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở chưa đủ năng lực về chuyên môn, năng lực

về lãnh đạo, quản lý chính vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, dẫn đến hiệu quả công tác chỉ đạo, lãnh đạo quần chúng còn hạn chế

Trong quá trình đổi mới ,bên cạnh những ảnh hưởng tích cực ngày càng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực và sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là sự tấn công vào các nền tảng tư tưởng - chính trị của Đảng từ nhiều phía, là dao động tư tưởng và sự hoài nghi trong một số bộ phận cán bộ, đảng viên ở cơ sở vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam Vì thế, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị thống nhất về quan điểm, lý tưởng chính trị, củng cố niềm tin, lập trường cho cán bộ cơ sở là vô cùng quan trọng và cần thiết nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thái độ đúng đắn, có ý chí sắt đá, sẵn sàng hành động nhằm thực hiện tốt công việc mà Đảng và Nhà nước đã giao phó

1.2 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân cư, lịch sử truyền thống yêu nước và cách mạng tỉnh Phú Thọ

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm dân cư

Về điều kiện tự nhiên: Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền

Ðông, cách thủ đô Hà Nội 85 km về phía Tây Bắc, đi theo Quốc lộ 2 Phía

Trang 25

Bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình; phía Đông giáp tỉnh Hà Tây và Vĩnh Phúc; phía Tây giáp tỉnh Sơn La

Đặc điểm địa hình nổi bật của Phú Thọ là bị chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Phú Thọ có địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng, thuận lợi để phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa với những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, do địa hình chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội phải đầu tư tốn kém nhất là giao thông, thủy lợi, cấp điện, cấp nước… ở vùng miền núi, dân tộc

Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất trên đây đã tạo cho Phú Thọ có khá nhiều khoáng sản như pirit, penpat, cao lanh, đá xây dựng, cát, sỏi và nước khoáng nóng… Đây là lợi thế để Phú Thọ phát triển mạnh công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng Tuy nhiên, phần lớn khoáng sản đều phân bố ở khu vực phía Tây của tỉnh (hữu ngạn sông Hồng), khu vực lãnh thổ đang có hạ tầng yếu kém nên việc đầu tư đẩy mạnh khai thác trước mắt sẽ còn gặp khó khăn

Về kinh tế - xã hội: Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp

chế biến nông - lâm sản Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ; đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tư với tốc độ nhanh

Khu di tích lịch sử Đền Hùng gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc; đầm Ao Châu, vườn quốc gia Xuân Sơn, vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, khu du lịch núi Trang… là những tiềm năng lớn để Phú Thọ phát triển

du lịch

Trang 26

Các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng khá, đạt 9,8%/ năm Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên Mạng lưới bưu chính- viễn thông đã được đầu tư xây dựng rộng khắp trong cả tỉnh, xã nào cũng có những điểm bưu điện văn hoá xã, đảm bảo sự thông suốt của thông tin giữa các vùng miền trong tỉnh với các miền trong cả nước và quốc tế, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của tỉnh

Do đặc điểm địa hình, mật độ dân cư giữa các khu vực trong tỉnh, nhất

là các đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí giữa các địa phương còn chênh lệch khá lớn, cơ sở vật chất hạ tầng của các địa phương còn nghèo

Tuy nhiên, Phú Thọ lại có những thuận lợi cơ bản như: các cấp uỷ Đảng và chính quyền từ tỉnh đến xã, phường luôn luôn quan tâm, chỉ đạo ngày càng cụ thể sâu sắc và hiệu quả hơn đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, nhất là với giáo dục phổ thông nói riêng Truyền thống hiếu học của các địa phương đã trở thành động lực, thúc đẩy phát triển giáo dục, kinh tế Phát triển không ngừng, môi trường xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo ra các nguồn lực cơ bản đảm bảo giáo dục phát triển lành mạnh

Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên là một trong điều kiện hết sức thuận lợi trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết của cả cộng đồng các dân tộc tỉnh Phú Thọ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Tuy vậy, điều kiện địa lý, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, trình độ phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn có khoảng cách nhất định; kết cấu hạ tầng, mức độ phát triển giữa các vùng có sự chênh lệch khá lớn Đây cũng là một khó khăn không nhỏ trong quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

và công tác dân tộc của Đảng

Về đặc điểm dân cư:Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 Phú Thọ có

1.313.926 người với mật độ dân số 373 người/km² Tỷ lệ dân số sống tại nông

Trang 27

thôn, vùng núi khoảng 85% và tại thành thị khoảng 15%; trong đó dân tộc thiểu số là 202.800 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ chủ yếu sinh sống ở các xã, thôn, bản miền núi đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Dân cư thưa thớt, mật độ trung bình khoảng 100 người/km2 với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu thất thường, bão lốc thường xuyên xảy ra

Phú Thọ có 13 huyện, thành thị, trong đó có 9 huyện miền núi, 1 huyện

và thị xã có xã miền núi; có 216/274 xã, phường, thị trấn là xã miền núi, được phân định thành 3 khu vực:

Khu vực I: 48 xã, thị trấn, số dân là 307.182 người

Khu vực II: 126 xã (trong đó có 10 xã ATK), số dân là 490.413 người Khu vực III: 40 xã, 32 thôn, bản, động vùng cao, vùng sâu, số dân là 136.944 người

Tỉnh Phú Thọ có trên 20 dân tộc thiểu số gồm: Kinh, Mường, Dao, Sán

La Chí, Ê Đê, Vân Kiều, Kháng, Khơ Me, Lô Lô Các dân tộc thiểu số có số dân đông, sinh sống tập trung thành làng, bản, có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán đậm nét như: Dân tộc Mường, dân tộc Dao, dân tộc Cao Lan, dân tộc

đặc biệt khó khăn, vùng sâu và xen kẽ ở một số xã miền núi khu vực II và khu vực I Còn các dân tộc khác do di cư hoặc do kết hôn mà đến sinh sống tại tỉnh Phú Thọ, có số dân ít, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác, không duy trì được bản sắc văn hóa cộng đồng riêng của dân tộc mình

1.2.2 Lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng

Phú Thọ được coi là vùng Đất tổ cội nguồn của Việt Nam Tại nơi đây các vua Hùng đã dựng nước nên nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của

Trang 28

Việt Nam, với kinh đô là Phong Châu, tức xung quanh thành phố Việt Trì ngày nay

Hàng nghìn năm qua từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, địa bàn Phú Thọ đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và thay đổi nhiều địa danh và địa giới hành chính, nhưng đại bộ phận đất đai tỉnh Phú Thọ xưa

và nay vẫn nằm trong một cương vực nhất định Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang Thời An Dương Vương với nhà nước Âu Lạc Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh Dưới thời Bắc thuộc ( từ 179 TCN đến thế kỉ X) Phú Thọ nằm trong huyện

Mê Linh

Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang, đến thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ đầu triều Nguyễn triều đại cuối cùng của Việt Nam, Phú Thọ nằm trong tỉnh Hưng Hóa và Sơn Tây

Sau khi hoàn thành xâm chiếm nước ta thực dân Pháp tiến hành chính sách chia để trị Điều I Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 8/9/1891 địa phận tỉnh Hưng Hóa bao gồm: Các huyện Tam Nông, Thanh Thủy

Các huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh của phủ Lâm Thao thuộc tỉnh Sơn Tây

Ngày 5 tháng 5 năm 1903 Toàn quyền Đông Dương ký quyết định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi từ đây tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành tỉnh Phú Thọ

Từ năm 1903 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản đơn vị hành chính của tỉnh không có sự thay đổi lớn, chỉ thay đổi tên gọi một số phủ, huyện và thêm một số làng xã mới

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ ( 1945- 1975), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Sinh thời Hồ Chủ tịch đã 9 lần về thăm, động viên đồng bào, cán bộ và chiến sĩ trong tỉnh

Trang 29

Năm 1968, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH hợp nhất 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Tỉnh Vĩnh Phú ra

huyện và 426 đơn vị hành chính cấp xã

Sau 29 năm hợp nhất, ngày 6/11/1996 Quốc hội khóa IX kỳ hợp thứ X

đã thông qua Nghị quyết “ Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một

số tỉnh” trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ Ngày 1/1/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 9, tỉnh Phú Thọ được

thị trấn [58, tr.5]

Là tỉnh có truyền thống yêu nước và cách mạng, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư sản ở Phú Thọ đã sớm xuất hiện và diễn ra rất mạnh mẽ

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) các Chi bộ cộng sản đầu tiên trên địa bàn đã được thành lập: Chi bộ Cát Trù- Thạch Đê (Cẩm Khê), Thái Ninh (Thanh Ba), Phú Hộ (Lâm Thao) và Chi bộ Nhà máy giấy Việt Trì Với sự lãnh đạo của những chi bộ trên, trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp đòi quyền dân sinh, dân chủ đã diễn ra sôi nổi

Đảng bộ tỉnh Phú Thọ được thành lập vào tháng 3 năm 1940, do Xứ ủy Bắc kỳ quyết định Đảng bộ tỉnh lâm thời (lúc đó gọi là ban cán sự Đảng tỉnh) được lập ra trên cơ sở 4 chi bộ đầu tiên trên địa bàn tỉnh, Ban Chấp hành lâm thời do Xứ ủy chỉ định gồm 5 ủy viên, đồng chí Đào Duy Kỳ được phân công làm bí thư Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Văn Ngân (tức ông Ký Hai), ấp Cầm Sơn (nay thuộc xã Liêm Hoa, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) Hội nghị thống nhất các chi bộ Đảng cộng sản trong tỉnh

có ý nghĩa chính trị rất quan trọng, thể hiện sự lớn mạnh của phong trào cách

Trang 30

mạng ở địa phương từ sau khi các chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập Từ đây dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban cán sự Đảng, các phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn đã diễn ra có tổ chức hơn Qua những cuộc đấu tranh đó, Đảng bộ đã xây dựng được hệ thống chính trị rộng lớn khắp thành thị và nông thôn

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng chủ trì, đề ra chủ trương: Trong những vùng có điều kiện về địa hình, cơ sở quần chúng, lương thực, về so sánh giữa ta và địch, chúng ta phải xây dựng những căn cứ địa kháng chiến Nhật Thực hiện chủ trương của Đảng, xứ ủy Bắc kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ- Yên Bái để phong trào cách mạng của 2 tỉnh

Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ (1945-1975) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh nhân dân Phú Thọ đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của hậu phương lớn đối với tiền tuyến

Hơn nửa thế kỷ qua, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã lãnh đạo nhân dân bước đầu thu được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, từng bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ

sở tỉnh Phú Thọ trước năm 1997

1.3.1 Quan điểm của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở trước năm 1997

Từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến

công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ Sự quan tâm

đó thể hiện qua sự phát triển của các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng

Trang 31

qua các thời kỳ lịch sử Trải qua các kỳ đại hội toàn quốc, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã luôn nhất quán trong các quan điểm lãnh đạo công tác GDLLCT, đưa ra các chủ trương, chính sách phù hợp, theo sát mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của đất nước ở từng giai đoạn lịch sử Xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng Cộng sản Việt

Nam chú trọng đến công tác ĐT, BD LLCT cho đội ngũ cán bộ, Đảng viên

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V(1982) của Đảng đã

chỉ rõ “Cần cải cách toàn diện công tác giáo dục lý luận và giáo dục chính trị trong các trường Đảng và đoàn thể về nội dung và phương pháp giảng dạy…” Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng, ngày 02 tháng 01 năm

1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 15-QĐ/TW về “ Công tác trường Đảng” nêu rõ: “ Hệ thống trường Đảng vừa là công cụ giáo dục, vừa là công cụ tổ chức của Đảng, có nhiệm vụ giáo dục lý luận Mác - Lê-nin, giáo dục những kiến thức cần thiết về lãnh đạo và quản lý cho những cán bộ đương chức và cán bộ kế cận đã được chọn lựa theo quy hoạch, để đào tạo thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chủ chốt trong các cấp ủy

đảng, các cấp chính quyền, và các tổ chức quần chúng” [56, tr.59] Đồng thời

quyết định chỉ rõ: “ Phải tổ chức lại hệ thống các trường lớp và phân công

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo những chức danh nhất định; cải tiến chương trình, nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp học tập, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục lý luận, chính trị và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [68]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) của Đảng

đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện Đại hội khẳng định, để đổi mới trước hết phải: Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới tổ chức cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác Để có được đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, có năng lực lãnh đạo cần phải thông qua công

Trang 32

tác đào tạo, bồi dưỡng Chính vì vậy Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng cũng đưa ra chủ trương “ Phải cải cách toàn diện công tác của các trường Đảng, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp” [13, tr.130]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta chỉ rõ “mục

tiêu của công tác đào tạo cán bộ là xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ và có chất lượng mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt các

ngành các cấp và cơ sở” đồng thời Đại hội cũng đưa ra nhiệm vụ đó là: “ tăng

cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao trình độ kiến thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân” Và “tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công

cuộc đổi mới và kế tục sự nghiệp cách mạng” [69]

Căn cứ vào yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 01/NQ/TW ngày 28/3/ 1992 về “công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” tiếp đó Hội nghị lần thứ 3 Khóa VII Ban Chấp hành Trung ương lại

ra Nghị quyết “về một số nhiệm vụ đổi mới và chính đốn Đảng” Nghị quyết khẳng định: “Lý luận thật sự khoa học là cơ sở để nâng cao vai trò tiên phong lãnh đạo của Đảng trong hoạt động thực tiễn, là cơ sở để giáo dục lý tưởng, nâng cao niềm tin” [69]

Nhằm đạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của tỉnh, thành ủy và UBND các tỉnh, thành phố đối với công tác lãnh đạo, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, ngày 10/3/1993, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra

Quyết định số 61- QĐ/TW Về việc sắp xếp lại các trường Đảng trung ương

chuyển thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Thực hiện Quyết

Trang 33

định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, ngày 5/9/1994, Ban Bí thư Trung

ương Đảng ban hành Quyết định số 88 - QĐ/TW “Về việc thành lập trường

chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Thành lập Trường Đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở thống nhất trường Đảng và trường Hành chính hoặc trường quản lý Nhà nước của tỉnh, thành phố, gọi là trường Chính trị tỉnh, thành phố Trường Chính trị tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh, thành uỷ và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; có vị trí như một ban, ngành cấp tỉnh; có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp trưởng, phó phòng huyện, quận; trưởng, phó phòng của các ban, ngành cấp tỉnh và cán bộ dự nguồn các chức danh trên Bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng trên về lý luận chính trị, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về quản lý hành chính nhà nước và về công tác vận động quần chúng Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương

Cùng với việc tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, thường xuyên bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục lý luận chính trị, nâng cao trình độ kiến thức và nghiệp vụ cho cán bộ đảng, chính quyền và đoàn thể công tác trên địa bàn huyện, ngày 3/6/1995 Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII ra Quyết định số 100- QĐ/TW (Gọi tắt là quyết định 100) “về việc tổ chức Trung tâm bồi dưỡng chính trị ở cấp huyện” với yêu cầu mỗi huyện, quận, thị

xã và thành phố trực thuộc tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện (quận, thị xã, thành phố) Những nơi

có Trường đảng huyện hoặc trung tâm giáo dục chính trị hoặc hình thức tổ chức khác nay tổ chức lại thành trung tâm bồi dưỡng chính trị

Trang 34

Trung tâm bồi dưỡng chính trị có nhiệm vụ: Tổ chức bồi dưỡng lý luận

chính trị, nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ trên địa bàn huyện (quận, thị xã, thành phố) không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường tỉnh, trước hết là bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, các đối tượng phát triển đảng viên, đảng viên mới…Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở để qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện; Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương, do cấp

ủy đã ra Nghị quyết số 39B- TB/TƯ về việc “ Tổ chức sắp xếp lại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh” Ngày 04 tháng 11 năm 1992 Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú ban hành quyết định số 1154/QĐ- UB về việc “Hợp nhất các trường, Trường Đảng, Trường hành chính, Trường Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh lấy tên là: Trường bồi dưỡng cán bộ tỉnh” trực thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh

Trường có chức năng thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tổ chức Đảng, trong bộ máy hành chính, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện và cán bộ chủ chốt cấp xã

Trang 35

Trường có nhiệm vụ: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp vận động quần chúng; Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cho các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các huyện, thành, thị; Phối hợp với Học viện Nguyễn Ái Quốc và Học viện Chính trị Quốc gia mở các lớp đào tạo cán bộ tại chức có trình độ cao cấp về lý luận chính trị, trung cấp về quản lý nhà nước

Ngày 04 tháng 5 năm 1995 Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú đã ban hành quyết định số 720/QĐ-UB “về việc đổi tên Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh thành Trường chính trị tỉnh Vĩnh Phúc”

Trường có chức năng nhiệm vụ đó là: Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn); trưởng, phó phòng thành, thị; trưởng, phó phòng của các sở, ban, ngành cấp tỉnh và cán bộ dự nguồn các chức danh trên; Bồi dưỡng các đối tượng trên về lý luận chính trị, đường lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nước Kiến thức về nghiệp vụ và công tác xây dựng Đảng; Quản lý hành chính nhà nước về công tác vận động quần chúng; Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương; Thực hiện các nhiệm vụ

đào tạo, bồi dưỡng khác của tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho

Khi đổi tên thành Trường chính trị tỉnh, trường có biên chế 54 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó có 36 giảng viên Trên cơ sở chức năng nhiệm

vụ, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng trong 2 năm (1995-1996), nhà trường đã triển khai đồng bộ các nội dung, chương trình công tác, các biện pháp, giải pháp hữu hiệu đáp ứng tốt nhất yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra như:

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Trường mở rộng quy mô các loại hình đào tạo về lý luận chính trị và đào tạo về quản lý hành chính Nhà nước giữa đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, giữa đào tạo và bồi dưỡng,

Trang 36

đồng thời tăng cường liên kết với các học viện, các trường đại học ở Hà Nội

để mở các hệ đại học, cao cấp lý luận chính trị…

Đối với hệ đào tạo: Trường tập trung mở các lớp trung cấp lý luận chính trị, trung cấp hành chính văn phòng cho cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn, cán bộ các phòng, ban chuyên môn cấp huyện, cán bộ chủ chốt các đoàn thể nhân dân cấp huyện, cấp xã

Kể từ khi Trường chính trị tỉnh được thành lập, các thế hệ cán bộ giảng viên, công nhân viên chức của nhà trường đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng bước đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn từ 1992 - 1996 Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh sau này đổi thành Trường chính trị tỉnh Vĩnh Phú đã hoàn thành xuất sắc chức năng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho tỉnh Trường đã đào tạo bồi dưỡng được 8.101 học viên, trong đó: Đào tạo 3.203 học viên, bồi dưỡng 4.898 học viên Kết quả các loại hình đào tạo, bồi dưỡng như sau:

Hệ đào tạo: Đào tạo đại học Chính trị 126 học viên; trung cấp lý luận

chính trị 2.874 học viên; Trung cấp hành chính 175 học viên; Liên kết đào tạo Cao học kinh tế chính trị và quản lý kinh tế 28 học viên

Hệ bồi dưỡng: Bồi dưỡng 4 chức danh chủ chốt chính quyền cơ sở:

1.443 học viên, Bồi dưỡng chuyên viên: 907 học viên; Bồi dưỡng kiến thức

quản lý nhà nước chương trình trung, cao cấp: 121 học viên; Bồi dưỡng kiến thức kinh tế đối ngoại, kinh tế thị trường, cổ phần hóa doanh nghiệp cho cán

bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện và các cán bộ quản lý doanh nghiệp: 138 học viên; Bồi dưỡng kiến thức và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cho giảng viên các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện: 38 học viên

Trang 37

Trường chính trị tỉnh ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho các công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Việc thành lập trường Chính trị tỉnh, thành phố đáp ứng được việc chủ động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung

và cán bộ cấp cơ sở nói riêng cho hệ thống chính trị, cán bộ có điều kiện thuận lợi để học tập nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ

Thực hiện Quyết định số 100- QĐ/TW, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra quyết định số 84/QĐ-UB ngày 20/01/1996 “về việc đổi tên Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ của các huyện thành Trung tâm bồi dưỡng chính trị và thành lập các Trung tâm ở các huyện Thanh Ba, Hạ Hoà, Vĩnh Tường, Yên Lạc”

Quyết định 88 - QĐ/TW và Quyết định 100- QĐ/TWcủa Ban Bí thư đã tạo ra một bước ngoặt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở, phân công, phân nhiệm rõ ràng hơn, tạo điều kiện cho mỗi đơn vị hoạt động có hiệu qủa Sự ra đời của các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện đã đáp ứng yêu cầu về thông tin và học tập lý luận chính trị của cán bộ Đảng viên cơ sở ngày càng tăng lên và nhanh chóng được triển khai ở các địa bàn huyện trong tỉnh Vĩnh Phú nói riêng và các tỉnh trong cả nước nói chung

Có thể nói công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán

bộ cấp cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phú trước năm 1997 đã đạt được nhiều thành tích

Từ 1986 - 1996 Trường chính trị tỉnh đã mở được 383 lớp với 38.436 học viên Mặc dù còn một số hạn chế song công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cũng đã góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính trị mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã đề ra

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị là một bộ phận của công tác tư tưởng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao trình độ chuyên môn năng lực công tác, chất lượng

và hiệu quả làm việc

Trong thời kỳ đất nước tiến hành đổi mới dù còn nhiều khó khăn và bề bộn, song quán triệt, vận dụng quan điểm của Đảng về tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng lí luận cho cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã đưa ra những chủ trương, biện pháp, giải pháp để thực hiện các Nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng về lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở, nhằm xây dựng đội ngũ cán

bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường của giai cấp công nhân, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh đổi mới CNH - HĐH đất nước, xây dựng tỉnh ngày càng phồn vinh và giàu mạnh

Đối với Trường chính trị tỉnh và các Trung tâm đào tạo bồi dưỡng huyện, thị xã, Tỉnh ủy cùng các ban ngành liên quan đã tạo điều kiện quan tâm xây dựng, củng cố và kiện toàn bộ máy, đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng dạy học, quan tâm đến đội ngũ giáo viên đang công tác và giảng dạy Chính vì vậy chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cũng được nâng lên một bước, góp phần nâng cao năng lực chính trị cho đội ngũ cơ sở của tỉnh

Bên cạnh đó, do một số nguyên nhân khách quan, chủ quan, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị vẫn còn một số hạn chế, nhiều vấn đề đặt

ra cần giải quyết Bước sang thời kỳ CNH- HĐH hóa đất nước đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, người trực tiếp triển khai, chấp hành, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng vào mọi hoạt động trong phong trào cách mạng

Trang 39

Chương 2 QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ

VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở

2.1.1 Chủ trương của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó có đội ngũ cán bộ cơ sở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng yêu cầu “chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ” cả về lí luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, khắc phục tính không toàn diện, coi nhẹ giáo dục đạo đức Đảng ta tiếp tục khẳng định “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, phải dành kinh phí thỏa đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và chú ý kiện toàn, tăng cường đội ngũ cán bộ cốt cán” [3, tr 151]

Tiếp tục quán triệt quan điểm đại hội VIII ,từ ngày 9 đến ngày 18/6 /1997, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII họp tại

Thủ đô Hà Nội Hội nghị đã tiến hành thảo luận và thông qua Nghị quyết “Về

chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

Trang 40

Hội nghị nhận xét tổng quát về đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo nói riêng từ trung ương đến cơ sở: có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, sáng tạo, hăng hái thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; có trình

độ, kiến thức và năng lực quản lý xã hội; đại bộ phận cán bộ có đạo đức, phẩm chất cách mạng, có lối sống lành mạnh, quan hệ gắn bó với nhân dân Nhưng trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới: “Đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [16, tr.68-69 ]

Mục tiêu của công tác cán bộ được Hội nghị Trung ương xác định là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt

là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập

tự chủ, đi lên XHCN

Để nâng cao trình độ lí luận chính trị cho cán bộ, Đảng viên, Ngày 12/5/1999 Bộ Chính trị ra Quyết định số 54-QĐ/TW “Về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng đối với cán bộ, đảng viên” Bộ Chính trị xác định: Học tập là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn Việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị được thực hiện gắn với việc tiêu chuẩn hoá đối với cán bộ, đảng viên

ở các cấp, các ngành trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội

Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, tiến hành hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, kiên định con đường đi lên CNXH, nâng cao công tác ĐT, BDLLCT cho cán bộ, đảng viên Tại Thủ đô

Ngày đăng: 15/03/2021, 14:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w