ỜI CẢ ƠN Để hoàn thành luận văn với đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá từ năm 1991 đến năm 2012” không chỉ là công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CA ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn là chân thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những đánh giá, kết luận được rút ra trong luận văn là những gợi
mở bước đầu về đề tài nghiên cứu
Hà Nội, tháng 10/2013 Học viên
Vũ Thị Thanh Tú
Trang 4ỜI CẢ ƠN
Để hoàn thành luận văn với đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá từ năm
1991 đến năm 2012” không chỉ là công sức của riêng tôi, ngoài sự cố gắng,
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, lớp Cao học (Khóa 2010 – 2013) cùng gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp
đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Quang Liệu – người đã nhiệt tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện để tôi hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
Hà Nội, tháng 10/2013 Học viên
Vũ Thị Thanh Tú
Trang 51.2 Quá trì Đả bộ tỉ N A ỉ đạ ô tá bả tồ và p át huy giá tr á i tí l s vă á từ ă đế ă 22
1.2.1.Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ 22 1.2.2 Những kết quả đạt được 27
Quá trì ỉ đạ t ự i ủ Đả bộ tỉ N A 46
Trang 62.2.1 Quá trình chỉ đạo thực hiện 46
2.2.2 Những kết quả đạt được 53
C ƣơ 3: NH N XÉT CHUNG VÀ ỘT SỐ KINH NGHI CHỦ U 75
3 N ậ xét u 75
3.1.1 Kết quả đạt được 75
3.1.2 Hạn chế 80
3 N ữ i i ủ ếu 84
3.2.1 Kinh nghiệm trong xác định chủ trương 84
3.2.2 Kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện 88
K T U N 95
TÀI I U THA KHẢO 98
PHỤ ỤC 106
Trang 7Ở ĐẦU
1 Lý đề tài
Di tích lịch sử, văn hóa là nơi hình thành, nuôi dưỡng, tồn tại và kết tinh những tinh hoa từ nhiều thế hệ trước để lại Di tích lịch sử, văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, dân tộc, đất nước và cả nhân loại Chúng là nơi lưu giữ và lưu truyền cho thế hệ sau những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, về kỹ năng, kỹ xảo và tâm linh con người Trong sức ép toàn cầu hóa hiện nay, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại càng trở nên quan trọng và được xác định là một trong những nhân tố phát triển bền vững của xã hội
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc giữ gìn giá trị toàn vẹn của di tích, nên từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm, tạo điều kiện để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa Các hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích đã diễn ra sôi động khắp nơi, bằng nhiều nguồn vốn và do nhiều lực lượng tiến hành Phần lớn các di tích đã được đầu tư chống xuống cấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ và trình độ khác nhau Di tích đã thực sự trở thành tài nguyên cho du lịch Nguồn thu trực tiếp từ di tích đã phát triển, góp một phần không nhỏ cho hoạt động tôn tạo di tích và ngân sách Nhà nước Rõ ràng những kết quả đó đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, góp phần giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đóng góp phần thiết thực vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội đất nước trong thời kỳ đổi mới
Nghệ An là tỉnh in đậm dấu ấn văn hoá – lịch sử của đất nước trong suốt cả quá trình dựng nước và giữ nước Trên địa bàn tỉnh có nhiều loại hình di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu như: Di tích khảo cổ, Di tích lịch sử,
Trang 8Di tích lưu niệm danh nhân, Di tích kiến trúc nghệ thuật Đây là những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyền thống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ
Tuy mật độ di tích nhiều nhưng việc tôn tạo di tích còn hạn chế: nhiều di tích, cổ vật tồn tại từ hàng vạn năm đã và đang liên tục bị tác động của thời tiết, chiến tranh và các biến cố lịch sử, sự xâm hại của con người, hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất mát và sai lệch so với di tích gốc; Nhiều giá trị văn hoá phi vật thể đang bị lãng quên, đội ngũ nghệ nhân dân gian đang mai một dần Thêm vào đó, hiện nay với sự phát triển mạnh của kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt thuận lợi mang lại thì nó cũng tác động không nhỏ đến việc bảo tồn di tích như: mâu thuẫn giữa nhu cầu khai thác nguyên vật liệu, xây dựng các công trình kinh tế, công trình dân dụng, nhà ở… với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn
di tích Trước những thách thức đó, sự cần thiết nhất là phải tăng cường công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa ở tỉnh nhà với những chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình mới
của đất nước Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Nghệ An
lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa
từ năm 1991 đến năm 2012 làm Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tì ì i ứu li qu đế đề tài
Bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước
và các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm Vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
N ữ ô trì đề tài i ứu về lý luậ u về vấ đề
Trang 9nước ta; Dương Văn Sáu (2000), Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội với nội dung trình
bày các khái niệm, phân loại các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh của Việt Nam; Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý (2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh với
nội dung trình bày hiện trạng bảo tồn và phát huy ở một số di sản văn hóa
tiêu biểu ở Việt Nam; Từ Mạnh Lương (2003), Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử - văn hoá của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước, LATS kinh tế Cuốn Luận án này đã nêu bật lên được thực trạng
về các chính sách bảo tồn di tích ở Việt Nam, trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp về kinh tế xã hội nhằm nâng cao hơn nữa năng lực bảo tồn, phát huy giá trị di tích ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới
của đất nước; Khoa Thị Khánh Chi (2010), Vi phạm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh – thực trạng và giải pháp, Luận văn Th.s Luật,
H.Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội Từ chỗ trình bày những sai phạm chủ yếu trong công tác bảo tồn di tích và danh thắng, luận văn đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhất để nhằm hạn chế tối đa thực trạng này;
Nguyễn Quang Điển (1999), Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc: Vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, luận
bàn về những giá trị của văn hóa đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc nghiên cứu và giáo dục để đưa ra những biện pháp nhằm thúc đẩy công cuộc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa ở Việt Nam,
Bên cạnh đó, còn có một số bài đăng trên các tạp chí, như:
Hà Văn Tấn (2005), Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam; Lưu Trần Tiêu (2002), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật; Đặng Văn Bài (2006), Tu bổ và tôn tạo các di
Trang 10tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành, Tạp chí Di sản văn hóa; Nguyễn Xuân Phúc (2004), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới, Tạp chí Du lịch Việt Nam; Đinh Trung Kiên (2003), Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử với việc phát triển du lịch Việt Nam, Tạp chí
Khoa học xã hội nhân văn
Những bài báo, sách và luận văn, luận án trên đều đề cập đến vấn đề
di sản văn hóa, các lý luận chung đối với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử dưới sự lãnh đạo của một Đảng bộ địa phương
3 Mụ đí và i vụ i ứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và đường lối của Đảng và Đảng bộ Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày có hệ thống chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm
1991 đến năm 2012
- Làm sáng tỏ một cách khách quan và toàn diện nhất quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012 của Đảng bộ Nghệ An Từ đó đánh giá quá trình bảo tồn này
- Khẳng định thành tựu và hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012
Trang 114 Đối tƣợ và p ạ vi i ứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012
- Quá trình triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa
từ năm 1991 đến năm 2012
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung tìm hiểu những chủ trương,
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trên cơ sở những thành tựu đã đạt được và những mặt hạn chế, bước đầu đưa ra những nhận xét cơ bản về chính sách, chủ trương của Đảng bộ về công tác bảo tồn
- Về thời gian: Luận văn tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An
về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2012
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề trên địa bàn tỉnh Nghệ An
5 P ƣơ p áp i ứu và uồ tƣ li u
từ năm 1991 đến năm 2012
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, thống kê, so sánh, đồng đại, lịch đại, khảo sát thực tế…
5.3 Nguồn tư liệu
Luận văn chủ yếu dựa vào Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI của Đảng; các nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIII, XIV, XV, XVI, XVII; số liệu thống kê của của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng, Thư viện tỉnh Nghệ An, Ban quản
lý di tích danh thắng Nghệ An, Ban quản lý Khu di tích Kim Liên – Nam Đàn ; các công trình nghiên cứu sách, báo, tạp chí
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử, văn hóa, những thành tựu, hạn chế và bước đầu nêu lên một
số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh trong lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa
7 Kết ấu ủ luậ vă
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2001
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Nghệ An đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2001 đến năm 2012
Chương 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu
Trang 13C ƣơ ĐẢNG Ộ T NH NGH AN ÃNH ĐẠO C NG T C ẢO TỒN VÀ PH T HU GI TR C C I T CH CH S
VĂN HO T NĂ Đ N NĂ
cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Thấy rõ được tầm quan trọng của di tích lịch sử, văn hóa hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam đã xuất hiện từ cách đây từ rất lâu Ở cấp độ Quốc gia, Nhà nước quân chủ đã xây dựng hệ thống văn bản pháp quy thông qua các đạo luật, sắc phong và bộ máy quản lý của chính quyền Trung ương Tại các làng, xã hệ thống hương ước, tục lệ đều có những điều quy định hướng vào việc chăm lo xây dựng và bảo vệ các di sản văn hóa của địa phương phù hợp với truyền thống
Năm 1945, chỉ trong vòng thời gian 4 tháng, từ sau ngày giành được độc lập và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/9/1945 đến ngày
Trang 1431/12/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký 56 sắc lệnh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đất nước Một trong những văn bản pháp luật đầu tiên nhất của Nhà nước ta sau Cách mạng tháng Tám 1945 là Sắc lệnh số 65-SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương bác cổ học viện”, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 Sắc lệnh ấn định Đông Dương bác cổ có nhiệm vụ “bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam”, đồng thời “cấm phá huỷ đình chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như: cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn” [9, tr.8]
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, hệ thống các di tích của Việt Nam đang trong tình trạng bị phá huỷ nhiều và xuống cấp nghiêm trọng do chiến tranh, sự phá hoại của thiên nhiên và việc quản lý,
sử dụng của con người… nên việc cấp bách là phải cứu vãn ngay hệ thống các công trình có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học đang có nguy cơ mất mát hoàn toàn Do vậy, Pháp lệnh số 14 – PL/HĐNN ngày 4/4/1984 của Hội đồng Nhà nước (nay là của Chủ tịch nước) về công bố Pháp lệnh bảo
vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh và Nghị định
số 288/HĐBT ngày 31/12/1985 của Hội đồng Bộ trưởng quy định việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh ra đời Vào các năm 1985, 1986, Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định việc thi hành pháp lệnh và Thông tư hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) được ban hành Đây được coi là bước tiến lớn của ngành nhằm thống nhất việc quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động của ngành trên cơ
sở pháp lý
Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển một nền văn
Trang 15hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mặc dù đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh ác liệt, mới bắt đầu vào công cuộc xây dựng và phát triển, nhưng vấn đề văn hóa luôn được đánh giá như là nền tảng tinh thần của xã hội Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện đại hội của Đảng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng khẳng định:
“Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa, đậm đà bản sắc dân tộc”[16, tr.222] Trong vấn đề phát triển văn hóa đó, lĩnh vực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc là một trong những lĩnh vực được Đảng quan tâm: “Phải coi các di tích lịch sử, các tác phẩm, công trình văn hóa, nghệ thuật, các tài năng và danh nhân là tài sản quý của quốc gia;
có những chủ trương và biện pháp có hiệu lực bảo tồn lâu dài các di tích lịch sử và các giá trị văn hóa để giáo dục nhân dân về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử và văn hóa, tạo điều kiện cho nhiều thế
hệ có thể thưởng thức, tiếp thu, nghiên cứu các giá trị văn hóa mới thể hiện được tầm cao của thời đại và chiều sâu của truyền thống, vừa dân tộc, vừa hiện đại, đấu tranh chống xu hướng mất gốc, hư vô chủ nghĩa”[16, tr.226]
Năm 1991, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế rơi vào khủng hoảng, nhiều Đảng Cộng sản mất vị thế lãnh đạo, vai trò của các Đảng Cộng sản thu hẹp phạm vi ảnh hưởng ở nhiều nước Diễn biến phức tạp của đời sống chính trị - xã hội thế giới đã tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.Tình hình đó đã gây xáo động lớn về tư tưởng, tình cảm trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Riêng trên lĩnh vực văn hóa cũng có nhiều biến động: các thế lực thù địch ráo riết chống phá ta trên mặt trận tư tưởng vǎn hóa nhằm thực hiện
"diễn biến hòa bình" Cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực to lớn, cũng đã bộc lộ mặt trái của nó, ảnh hưởng
Trang 16tiêu cực đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta Việt Nam còn nghèo, nhu cầu vǎn hóa của nhân dân rất lớn nhưng khả nǎng đáp ứng còn hạn chế do thiếu những điều kiện và phương tiện vật chất cần thiết
Chính trong thời điểm khó khăn của cách mạng thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) thể hiện quan điểm, bản lĩnh chính trị của mình Cương lĩnh nêu lên 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam: nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; không ngừng củng cố tăng cường khối đại đoàn kết; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đồng thời, cương lĩnh đã vạch ra 7 phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa; Phát triển lực lượng sản xuất; Đa dạng về hình thức sở hữu; Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc; Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức
Bên cạnh đó, tại Đại hội, các nghị quyết về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và định hướng cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã giành một vị trí thích đáng cho lĩnh vực bảo tồn và tôn tạo di tích Trong báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm
1991 – 1995 trình tại Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VII: “Tiếp tục trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử và sửa chữa các công trình văn hóa Xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh Đấu tranh có hiệu
Trang 17quả chống văn hóa đồi trụy, mê tín dị đoan, đồi phong bại tục, chống các loại tuyên truyền phản động” [18, tr.449]
Để cụ thể hóa chủ trương này, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi ngày 18/4/1992 đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh Hiến pháp đã công bố: Nhà nước và xã hội cần bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch
sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh Việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc nói chung và di tích nói riêng được Hiến pháp quy định trước tiên là thuộc trách nhiệm của Nhà nước Đây là cơ sở pháp
lý cao nhất, nó xác định quan điểm, trách nhiệm của Nhà nước trước nhiệm
vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc, là cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nguồn ngân sách Nhà nước hàng năm cho các hoạt động bảo tồn và phát huy di tích
Tiếp đó là Quyết định số 25/TTg ngày 19/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hoá nghệ thuật cũng xác định Nhà nước đầu tư 100% kinh phí cho việc tu
bổ, tôn tạo các di tích cách mạng, những di tích gắn với quá trình hoạt động của Đảng và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (thuộc loại hình di tích lịch sử), hỗ trợ một phần kinh phí và huy động mọi nguồn lực, kể cả thu hút viện trợ và vốn đầu tư của nước ngoài, để giữ gìn tôn tạo các di tích khác,
kể cả các công trình mang tính chất tôn giáo đã được công nhận là di tích, còn lại phải huy động các nguồn vốn đầu tư khác Chính sách này được nghiên cứu xây dựng dựa vào đặc điểm, giá trị của di tích và thực tế khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư của mỗi loại hình di tích Đây chính
là chính sách đầu tư cho di tích cả về quan điểm đầu tư và định hướng sử dụng nguồn vốn đầu tư ngân sách Nhà nước
Trang 18Ngày 03/02/1994, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 62/TTg giao cho Bộ Văn hóa thông tin quản lý điều hành 3 chương trình có mục tiêu cấp Nhà nước trong đó có chương trình lớn “Chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá ở Việt Nam” Chương trình này được triển khai thực hiện trong thời gian từ năm 1994 đến năm 2000, với ngân sách Nhà nước đầu tư trên dưới 100 tỷ đồng [75, tr.96], chưa kể phần gọi vốn đầu tư của nước ngoài và phần bổ sung của ngân sách Nhà nước từng địa phương Nội dung của chương trình chủ yếu là tập trung vào công việc bảo tồn di tích và công tác bảo tàng với các nhiệm vụ chính là: bảo vệ, phục cấp, nâng cấp, tôn tạo các di tích lịch sử, cách mạng và kháng chiến đặc biệt quan trọng, các di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị lớn đang có nguy
cơ sụp đổ cần tu bổ gấp; xây dựng mới một số khu di tích lịch sử và cách mạng quan trọng; phục cấp, nâng cấp, sắp xếp lại và hiện đại hoá các nhà bảo tàng và một số kho bảo tàng có nhiều hiện vật quý hiếm; xây dựng mới một vài viện hoặc khu bảo tàng đặc biệt; bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ quản lý di tích, quản lý bảo tàng…
Vấn đề đầu tư cho việc tôn tạo di tích còn được nhắc đến trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: “Giữ gìn và nâng cao các loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử Nhà nước đầu tư thích đáng và có cơ chế quản lý thích hợp với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật” [17, tr.36]
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành ngày 16 tháng 7 năm 1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền văn hóa nước nhà, việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc được đẩy lên tầm cao mới Nghị quyết đã đề ra phương hướng chung của sự nghiệp vǎn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền
Trang 19thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục
vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa
xã hội Với những quan điểm chỉ đạo cơ bản:
- Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
- Nền vǎn hóa mà chúng ta xây dựng là nền vǎn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Nền vǎn hóa Việt Nam là nền vǎn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Xây dựng và phát triển vǎn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
- Vǎn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển vǎn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng
Từ quan điểm chỉ đạo đó, Đảng đã đưa ra nhiệm vụ cụ thể cho ngành văn hóa nước nhà Trong đó, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc được đề cập di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn
Trang 20hóa vật thể và phi vật thể Tiếp đó, Đảng đã đề ra phương hướng cụ thể cho
sự nghiệp văn hóa nước nhà: Trong quy hoạch xây dựng các công trình lớn phải tính đến một số thiết chế vǎn hóa cần thiết nhất như thư viện, nhà thông tin, khu giải trí, bảo đảm cảnh quan môi trường cho các di tích lịch
sử, vǎn hóa và danh lam thắng cảnh Thực hiện chính sách miễn, giảm phần chịu thuế cho các khoản đầu tư, đóng góp của các doanh nghiệp vào sự nghiệp vǎn hóa
Chính sách bảo tồn, phát huy di sản vǎn hóa dân tộc hướng vào cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể Tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh
lý vốn vǎn hóa truyền thống (bao gồm vǎn hóa bác học và vǎn hóa dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số; phiên dịch, giới thiệu kho tàng vǎn hóa Hán nôm Bảo tồn các di tích lịch sử, vǎn hóa và các danh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống
Năm 2001, Nhà nước ban hành Luật Di sản văn hóa, trong văn bản luật đã dành một chương để quy định những việc có liên quan đến di tích, đây được coi là một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng Năm 2002, khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia được thành lập Bộ Văn hóa đã thành lập Hội đồng khoa học về bảo tồn di tích để tư vấn cho Nhà nước các vấn đề về bảo tồn, tôn tạo di tích
Từ những chính sách đúng đắn của Đảng, đồng thời với sự nỗ lực khai thác có hiệu quả, nhiều di tích lịch sử văn hóa đã trở thành điểm du lịch quan trọng, thu hút khách thăm quan trong và ngoài nước, góp phần giới thiệu các giá trị văn hóa của đất nước, đồng thời tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách Trung ương và địa phương
Như vậy, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan có trách
Trang 21nhiệm, mà đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành trong sự nghiệp xây dựng đất nước Nhận thức rõ điều đó, trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2001, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kịp thời đề ra những chủ trương đúng đắn để nhằm tăng cường công tác tu bổ, tôn tạo ở các di tích xuống cấp và những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia Những chủ trương của Đảng là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo và thực hiện công tác này một cách có hiệu quả nhất định tại địa phương
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá
Nghệ An in đậm dấu ấn văn hoá – lịch sử của đất nước trong suốt cả quá trình dựng nước và giữ nước Khi nói đến Nghệ An, chúng ta đều nghĩ đến điều kiện địa lý đặc biệt, núi rừng, sông ngòi, đồng bằng, biển cả hội tụ trong một dải đất cổ, vừa ban cho con người một cảnh sắc thiên nhiên hùng
vĩ tạo nên những cảm hứng thẩm mỹ, thăng hoa; vừa đặt con người nơi đây trước những đối mặt gay gắt với những khó khăn của tự nhiên như gió Tây Nam, nắng hạn, bão lụt Có lẽ chính vì vậy mà con người xứ Nghệ có cốt cách thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm, khảng khái, dám xả thân vì nghĩa lớn, chịu thương, chịu khó, chịu khổ Vùng đất còn nhiều khó khăn, thiên nhiên khắc nghiệt đã phần nào tạo cho con người những đức tính cần
cù, chịu khó, dũng cảm và kiên nghị Người dân xứ Nghệ tuy nghèo nhưng vẫn luôn nổi tiếng về tinh thần hiếu học cũng như thái độ lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống Đất Nghệ cũng là cái nôi của nhiều anh hùng dân tộc như Mai Hắc Đế, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Hồ Chí Minh…
Nghệ An giàu truyền thống trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Đặc biệt, phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) như một dấu son
Trang 22trong truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của người dân xứ Nghệ còn được minh chứng qua hàng loạt di tích, lịch sử cách mạng đã được xếp hạng, những bảo tàng để giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau Hệ thống di tích – danh thắng Nghệ An được sinh ra và nuôi dưỡng bằng tín ngưỡng, đạo lý và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sức sống, sức lan toả lâu bền và mãnh liệt Mặc
dù có những biến cố thăng trầm, song nhìn chung từ các triều đại phong kiến Việt Nam đến chế độ hiện nay, nhân dân vẫn nhận thức được rằng: di tích – danh thắng là một trong những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyền thống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ Vì thế, nhiều di tích được xây dựng sớm, bảo vệ và tôn tạo chu đáo, tiêu biểu: đền Cuông, đền Cờn, đền thờ và miếu mộ Mai Hắc Đế, đền Quả Sơn, đền Bạch Mã, khu di tích Kim Liên…
Ở Nghệ An từ năm 1991 đến năm 2001 dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy cùng các ban ngành trong tỉnh đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm tăng cường công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử địa phương
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp, Đảng bộ tỉnh Nghệ An tiến hành Đại hội lần thứ XIII (5/1991) với nhiệm
vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, xây dựng phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 1991 - 1995 trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, xây dựng tỉnh Nghệ An thành một tỉnh khá trong cả nước Đại hội đã xác định hoàn cảnh đất nước: chưa thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, sự sụp đổ chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã ảnh hưởng lớn đến kinh tế và tư tưởng của nhân dân ta, các thế lực thù địch nhân đà đó ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chĩa mũi nhọn chống phá cách
Trang 23mạng Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn thâm độc Đại hội cũng đã thẳng thắn nhìn nhận khó khăn của tỉnh nhà: kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất hàng hóa chậm phát triển, chưa có sức hút đầu tư trong và ngoài nước Dân số tăng nhanh, xuất phát điểm quá thấp, nguy cơ tụt hậu xa so với các tỉnh trong cả nước Song chúng ta đã phát huy được truyền thống cách mạng, đoàn kết, tự lực tự cường, vượt qua khó khăn thử thách và vươn lên đạt được một số thành tựu quan trọng
Riêng vấn đề phát triển văn hóa, tại Đại hội đã đưa ra nhiệm vụ “Các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể phải chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ hoạt động trên mặt trận văn hóa – xã hội, làm cho
họ có đủ nhiệt tình, năng lực và điều kiện hoạt động Phải ra sức chăm lo đời sống, thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cán
bộ hoạt động trên mặt trận văn hóa” [19, tr.52]
Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIV (năm 1996) đã được tiến hành với tinh thần: “Dân chủ, trí tuệ, đoàn kết, xây dựng”, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến vào bản tóm tắt dự thảo báo cáo Trong đó, tuyệt đại đa số đều đóng góp chân thành, tâm huyết, vừa góp ý cho cái chung, vừa liên hệ vào thực tiễn tình hình nhiệm vụ của đơn vị mình, với mong muốn và quyết tâm xây dựng Nghệ An sớm trở thành một tỉnh giàu đẹp, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh Đại hội nhận thấy những khó khăn của tỉnh: kết cấu
hạ tầng thấp kém, trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất hàng hóa chậm phát triển, song chúng ta đã phát huy được truyền thống cách mạng, đoàn kết vươn lên giành được những thành tựu quan trọng Trong đó, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có những chuyển biến phục vụ tốt cho nhiệm vụ chính trị, xây dựng con người mới, thúc đẩy kinh tế phát triển
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII trình đại hội XIV nhiệm kỳ 1996 – 2000 đã đưa ra những chủ trương nhằm phát
Trang 24huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp của văn hóa và con người xứ Nghệ: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa trong và ngoài nước, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa xứ Nghệ Đẩy mạnh công tác văn hóa quần chúng, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Cần có nhận thức đúng về nhân tố gia đình trong cộng đồng dân cư, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa Phát triển mạng lưới phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tin cổ động đến tận cơ sở Khuyến khích các sáng tạo văn hóa – nghệ thuật lành mạnh, cổ
vũ người tốt, việc tốt, cái đẹp, cái thiện, lên án những tệ nạn xã hội, những hành vi tiêu cực trong quan hệ xã hội Bảo tồn và nâng cấp các di tích lịch
sử, văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống, bảo vệ các danh lam thắng cảnh, sưu tầm các tư liệu lịch sử, nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương, lịch
sử đảng bộ” [20, tr.42]
Cũng trong đại hội Đảng lần thứ XIV này, Đảng bộ đã đề ra những nhiệm vụ cho ngành văn hóa trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2000:
“Đẩy mạnh phong trào văn hóa quần chúng, xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa Có chính sách đầu tư ưu tiên để phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin, một số công trình văn hóa, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa xứ Nghệ, chống xuống cấp một số di tích quan trọng” [20, tr.93] Với tất cả tinh thần trách nhiệm và sự nỗ lực cố gắng trong các nhiệm vụ, mục tiêu mà Đại hội đề ra, trong đó đặc biệt chú
ý tới lĩnh vực văn hóa mà cụ thể là bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, nhân dân toàn tỉnh hy vọng Đại hội
sẽ hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử của Đảng bộ, đáp ứng lòng mong mỏi của đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Trang 25Di tích lịch sử - văn hóa giữ vai trò quan trọng, là nguồn tài nguyên
vô hạn cho việc sản xuất hàng hóa dịch vụ du lịch Từ đó kích thích tiêu dùng tạo ra những sản phẩm mang giá trị đặc trưng, làm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch và đem lại nguồn tài chính đáng kể, góp phần làm tốt công tác bảo tồn Hơn nữa, việc phát huy tốt giá trị của di sản còn mang lại một lợi nhuận vô giá về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về di sản văn hóa sẽ có tác động trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của các di tích lịch sử - văn hóa trong việc phát triển ngành
du lịch, thu hút khách thập phương về tham quan và nghỉ dưỡng, Đảng bộ Nghệ An đã đưa ra một số nhiệm vụ cho ngành du lịch: “Tiến hành quy hoạch, xây dựng các khu du lịch hòa nhập với tuyến du lịch của cả nước và quốc tế Trước mắt, tập trung quy hoạch và từng bước tiến hành xây dựng khu du lịch Cửa Lò, Bãi Chùa (Đảo Ngư), Bãi Hoang (Nghi Thiết), lâm viên núi Quyết, công viên trung tâm thành phố Vinh, cụm di tích Nam Đàn, khu rừng nguyên sinh Phù Mát; có kế hoạch bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các
di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng, nâng cấp và xây dựng mới các tụ điểm vui chơi giải trí, hệ thống khách sạn, nhà hàng và nâng cao chất lượng phục vụ” [20, tr.36]
Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV đã kế thừa công tác của nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Đại hội đã có hướng đi mới, quan tâm hơn đến vấn đề kết hợp thăm quan di tích lịch sử văn hóa với phát triển du lịch, đồng thời nâng cấp cải tạo các công trình phục vụ phát triển văn hóa - du lịch, đây được coi
là một bước tiến mới khả quan Tin tưởng với những hướng đi mới, Đại hội
Trang 26sẽ gặt hái được nhiều thành công trong công tác, đưa tỉnh Nghệ An phát triển giàu mạnh hơn nữa
1.2 Quá trì Đả bộ tỉ N A ỉ đạ ô tá bả tồ và phát hu iá tr á i tí l s vă á từ ă đế ă
1.2.1 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã ra quyết định số 320/QĐ-UB về việc ban hành “Quy chế quản lý, bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An” (ngày 29/1/1997), trên cơ sở căn cứ vào Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng
di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh ngày 31/3/1984 và căn cứ vào Nghị định 288/HĐBT ngày 21/12/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) quy định việc thi hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh Quy chế bao gồm 4 chương, trong
đó có 18 điều Thực chất bản Quy chế này nhằm cụ thể hoá một số điểm được quy định trong Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Chính phủ về việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Nhằm tăng cường quản lý di tích, Quy chế đã đề cập đến vấn đề phân cấp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ tuỳ theo giá trị của di tích mà
có thể là thuộc tỉnh quản lý; hoặc thuộc tỉnh và huyện, thành phố, thị xã đồng quản lý; hoặc thuộc huyện, thành phố, thị xã quản lý; hoặc thuộc xã, phường, thị trấn quản lý Như vậy, với điều khoản của quy chế này đã làm tăng thêm ý thức, trách nhiệm đối với các đơn vị, địa phương, cũng như người dân nơi có di tích Các đơn vị được phân công quản lý di tích sẽ chịu trách nhiệm trùng tu, tôn tạo và bảo vệ di tích Di tích nằm trên địa phương nào thì địa phương ấy có trách nhiệm phải bảo vệ Để bảo vệ di tích, Sở Văn hoá thông tin đã quy định “Các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đã xếp hạng được thành lập tổ bảo vệ, tổ có trách nhiệm quản lý, bảo
Trang 27vệ các động sản và bất động sản, hướng dẫn các sinh hoạt văn hoá lành mạnh” [67, tr.7]
Về phía Sở Văn hóa Thông tin, trước những định hướng, chỉ đạo của Đảng bộ đã có nhiều văn bản, tờ trình đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định phân cấp quản lý cụ thể cho từng địa phương, đơn vị quản lý di tích danh thắng Đồng thời, đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Tập trung khắc phục những hạn chế còn tồn tại, đáp ứng được yêu cầu quản lý chuyên môn trong bối cảnh xã hội mới, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội của tỉnh, đưa Nghệ An thực sự trở thành một tỉnh giàu mạnh về kinh tế, phát triển về du lịch và giàu đẹp về văn hóa
Để trùng tu, tôn tạo di tích, Sở Văn hoá quy định các nguồn vốn chống xuống cấp di tích gồm có: Kinh phí Nhà nước đầu tư hàng năm; Đóng góp của tập thể, hoặc cá nhân có hảo tâm; Vận động nhân dân địa phương tự nguyện đóng góp; Một phần tiền lệ phí tham quan di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; Các nguồn vốn tài trợ của nước ngoài [67, tr.8]
Gắn liền với các di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh đó là các lễ hội Việc tổ chức lễ hội cũng được đề cập trong quy chế: “Việc tổ chức lễ hội ở các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, lịch sử của di tích, phù hợp với thuần phong mỹ tục
và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời phải được sự cho phép của Sở Văn hóa Thông tin” [67, tr.8]
Tiếp đó, ngày 30/10/1998 Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã ra Quy định tạm thời về việc đặt hòm công đức, quản lý sử dụng tiền công đức ở các khu di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 28Quy định này đã có những chi tiết, cụ thể như hòm công đức được làm như thế nào? Hòm công đức được làm bằng gỗ hoặc bằng kim loại đảm bảo chắc chắn, có lỗ để bỏ tiền vào, phía trong lỗ phải có lưỡi gà đảm bảo không thể lấy tiền ra được nếu như không mở khoá Ai là người giữ chìa khoá hòm công đức? Quy định ghi rõ: mỗi hòm công đức phải có 2 khoá loại tốt Một khoá giao cho người đại diện Uỷ ban nhân dân xã có di tích giữ chìa, một khoá giao cho đại diện của trung tâm Văn hoá Thông tin huyện sở tại giữ chìa, đảm bảo hòm công đức khi cần mở phải có cả 2 khoá cùng mở Mẫu thống nhất của phiếu công đức cũng được Sở Văn hoá thông tin phát hành
Việc đặt hòm công đức ở các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh phải có quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sở Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn hóa Thông tin các huyện, thành phố, thị xã, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn được giao nhiệm vụ quản lý tiền, hiện vật công đức phải mở sổ sách kế toán theo dõi, quản lý đúng chế độ quy định
Sử dụng nguồn công đức như thế nào đã được quy định rõ tại điều 6
về đối tượng được sử dụng và nguyên tắc phân phối tiền công đức - Trích 65% nguồn công đức bằng tiền mặt để tu sửa, tôn tạo di tích Nếu di tích, danh thắng thuộc quyền quản lý của Sở Văn hoá thông tin thì kinh phí này được chuyển về Sở Văn hoá thông tin quản lý, chi tiêu Những di tích, danh thắng do Sở Văn hoá Thông tin và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, thị
xã đồng quản lý và những di tích, danh thắng do Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, thị xã trực tiếp quản lý thì kinh phí được để lại trung tâm Văn hoá Thông tin huyện, thành phố, thị xã quản lý, chi tiêu Những di tích, danh thắng do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý, kinh phí được chuyển về Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý, chi tiêu – 5% chi cho công tác tuyên truyền, in ấn phiếu công đức phục vụ cho các
Trang 29khu di tích, kinh phí được chuyển về Sở Văn hóa Thông tin quản lý, chi tiêu – 30% chi phí các ngày lễ tết, chi phí cho tổ quản lý, bảo vệ di tích (kể
cả chi phí cho những người trực tiếp viết giấy chứng nhận công đức), kinh phí được chuyển về Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có di tích quản
lý, chi tiêu
Điều 7 đã quy định quản lý quỹ công đức Hàng năm, Uỷ ban nhân dân xã phải báo cáo quyết toán thu, chi quỹ công đức với trung tâm Văn hóa Thông tin và phòng tài chính huyện để các cơ quan này tổng hợp, báo cáo lên các cơ quan chủ quản cấp trên Sở Văn hoá Thông tin có trách nhiệm lập và tổng hợp báo cáo quyết toán thu chi quỹ công đức toàn tỉnh gửi Sở Tài chính và Uỷ ban nhân dân tỉnh
Kho bạc Nhà nước tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Kho bạc Nhà nước địa phương hướng dẫn Sở Văn hóa Thông, các trung tâm Văn hóa thông tin huyện, thành phố, thị xã, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn mở tài khoản tiền gửi công đức tại kho bạc Nhà nước nơi giao dịch [69, tr.2-4]
Để tăng cường nguồn lực đầu tư cho hoạt động Văn hóa Thông tin nói chung và công tác di tích nói riêng, Sở Văn hóa Thông tin đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 148/1999/QĐ-
UB ngày 29/11/1999 về một số chế độ chính sách và đầu tư phát triển công tác Văn hóa Thông tin Trong quyết định nêu rõ quy định đối với việc chống xuống cấp di tích: “Hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh bố trí thêm ngân sách gấp 2 lần so với ngân sách đã được Trung ương cấp cho tỉnh trong việc trùng tu, tôn tạo và bảo vệ di tích đã xếp hạng Giao cho Sở Văn hóa Thông tin và Sở Tài chính – Vật giá thống nhất đề xuất chế độ làm hồ
sơ xếp hạng di tích và quản lý bảo vệ di tích” [71, tr.2] Cùng với chương trình chống xuống cấp di tích của Bộ Văn hóa Thông tin, quyết định này đã
Trang 30giúp ngành và các địa phương tháo gỡ một số khó khăn trước mắt về ngân sách cho việc chống xuống cấp di tích
Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2001, Đảng bộ Nghệ An chủ yếu tập trung chỉ đạo các ban ngành liên quan kiểm kê và tiến hành lập hồ
sơ về di tích để trình lên Bộ Văn hóa xếp hạng và quản lý để bảo vệ di tích Chẳng hạn:
Năm 1990, trình hồ sơ lên Bộ Văn hóa để xếp hạng di tích Quốc gia đối với quần thể di tích lịch sử Xứ ủy làng Đỏ - Hưng Dũng – Thành phố Vinh
Năm 1993, trình hồ sơ lên Bộ Văn hóa để xếp hạng di tích Quốc gia đối với di tích lịch sử, kiến trúc , nghệ thuật đền Cờn – huyện Quỳnh Lưu;
di tích lịch sử đền Bạch Mã – huyện Thanh Chương
Năm 1996, trình hồ sơ lên Bộ Văn hóa để xếp hạng di tích Quốc gia đối với di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật đình Trung Cần – huyện Nam Đàn; di tích lịch sử - văn hóa Mộ - đền thờ Vua Mai Hắc Đế - huyện Nam Đàn
Năm 1998, trình hồ sơ lên Bộ Văn hóa đế xếp hạng di tích Quốc gia đối với di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật đền Cuông – huyện Diễn Châu;
di tích lịch sử, văn hóa đền Quả Sơn – huyện Đô Lương; di tích cách mạng đình Võ Liệt – huyện Thanh Chương
Năm 1999, trình hồ sơ lên Bộ Văn hóa sếp hạng di tích Quốc gia đối với di chỉ khảo cổ học Làng Vạc – huyện Nghĩa Đàn
Trước tình trạng di chỉ khảo cổ học Làng Vạc bị tàn phá nghiêm trọng như: rừng cao su bị chặt phá, nhiều ngôi mộ táng bị phá hủy để đào bới cổ vật trái phép… năm 1999 Đảng bộ Nghệ An đã chỉ đạo Huyện ủy,
Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn phối hợp với phòng Văn hóa thông tin huyện, công an huyện tăng cường tuần tra, canh gác, bắt giữ và xử lý nghiêm minh đới với những đối tượng có hành vi trái phép gây xâm phạm đến di chỉ khảo cổ này Đồng thời Đảng bộ đã tham mưu cho Sở văn hóa
Trang 31kết hợp với Đảng bộ, chính quyền huyện nhà lập đề án xây dựng nhà bia di chỉ văn hoá làng Vạc và đền thờ tâm linh hương hồn tổ tiên người Việt linh thiêng làng Vạc nhằm đáp ứng lòng mong mỏi, nguyện vọng tha thiết của nhân dân
1.2.2 Những kết quả đạt được
Nhìn chung, từ thời điểm 1980 trở về trước, ở Nghệ An nói riêng và
cả nước nói chung thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn rất hạn chế Đến năm 1980, cả tỉnh Nghệ An mới chỉ có 3 di tích lịch sử văn hóa được Nhà nước xếp hạng đặc cách cấp Quốc gia, đó là: Đình Hoành Sơn - huyện Nam Đàn, Đền Cuông - huyện Diễn Châu, Núi Dũng Quyết
và Phượng Hoàng Trung Đô - Thành phố Vinh
Thế nhưng, sau khi có pháp lệnh số 14 của Bộ Văn hóa Thông tin, cộng với việc nhận thức di tích có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu, giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của của dân tộc, công tác bảo tồn di tích đã bước đầu có những chuyển biến
Công tác lập hồ sơ, xếp hạng di tích
Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, thành phố, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đã được Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An giao trọng trách tiến hành kiểm kê và lập hồ sơ xếp hạng và bảo tồn di tích Việc lập hồ sơ khoa học xác định giá trị di tích là cơ sở quyết định công nhận xếp hạng di tích Nhưng để lập được một bộ hồ sơ đảm bảo chính xác, khoa học, thỏa mãn yêu cầu chuyên môn phải tiến hành qua rất nhiều bước, do đó cần rất nhiều thời gian và kinh phí Trong khi đa số các di tích ở Nghệ An nằm phân tán, rải rác khắp các huyện, chủ yếu thuộc loại hình di tích cách mạng
ở địa bàn rừng núi xa xôi, đi lại khó khăn, trong khi kinh phí hỗ trợ cán bộ công tác eo hẹp… Đó là những nguyên nhân làm ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng hồ sơ khoa học của di tích tại địa phương
Trang 32Đi đầu trong việc xây dựng hồ sơ di tích trình Bộ Văn hóa Thông tin
ra quyết định công nhận di tích lịch sử quốc gia, đến năm 1988, Bảo tàng
Xô Viết Nghệ - Tĩnh đã lập hồ sơ 7 di tích tiêu biểu cho phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia (Đình Võ Liệt – Thanh Chương, Hiệu Yên Xuân – Anh Sơn, Nghĩa trang 12/9 – Hưng Nguyên, Ngã ba Bến Thủy – Thành phố Vinh, Nhà thờ họ Nguyễn Duy – Thanh Chương)
Nhờ vậy, số lượng di tích được công nhận từ năm 1991 đến năm
2001 ở Nghệ An tăng đáng kể Theo báo cáo thống kê của Sở Văn hóa Thông tin thì đến năm 1997 đã công nhận 680 di tích, danh thắng
Trong đó: - Di tích kiến trúc nghệ thuật: 25
Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã trực tiếp quản lý 251 di tích danh thắng; Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn quản lý 403 di tích danh thắng [72, tr.22]
Số lượng di tích được đầu tư bảo tồn, tôn tạo tăng lên
Nghệ An là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm mưa bão, lũ lụt xảy ra thường xuyên, vì vậy mà hệ thống di tích lịch
sử xuống cấp nghiêm trọng Nhờ tranh thủ được nguồn vốn đầu tư của trung ương, của tỉnh và huyện, xã đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa nên nhiều di tích ở Nghệ An đã được đầu tư để tôn tạo có hiệu quả như: di tích Làng Đỏ - Hưng Dũng, Thành phố Vinh, Cơ sở hoạt động của xứ ủy ở
Trang 33Hưng Châu, Hiệu Yên Xuân trụ sở tiêu biểu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên…
Để động viên các tổ bảo vệ di tích, năm 1990, mỗi di tích được hỗ trợ 30 ngàn đồng, di tích quốc gia hỗ trợ 100 ngàn đồng, di tích cấp tỉnh hỗ trợ 70 ngàn đồng [5, tr.71]
Bên cạnh việc đầu tư tôn tạo có hiệu quả, bảo tàng còn đẩy mạnh công tác đầu tư để phát huy tác dụng của di tích, bằng việc xây dựng các nhà trưng bày truyền thống bổ sung cho các di tích
Bốn ngôi đền được mệnh danh là “tứ linh” của Nghệ An đã được quan tâm tu bổ và làm hồ sơ xếp hạng, được công nhận là Di tích cấp Quốc gia:
Đền Cờn (ở xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu) thờ Tứ vị Thánh Nương, là ngôi đền được xếp vào hàng thiêng nhất ở Nghệ An Được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số: 68/QĐ – BVHTT ngày 29/01/1993 công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia
Đền Quả Sơn (ở xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương) thờ Uy Minh Vương
Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ được bổ làm Tri châu Nghệ An, người có công tổ chức khai hoang mở đất, xây dựng và phát triển kinh tế cho vùng đất xứ Nghệ Từ năm 1996, được sự giúp đỡ của ngành Văn hóa Thông tin tỉnh Nghệ An, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện
Đô Lương đã khởi công phục hồi lại Đền Quả Sơn trên chính vị trí ngày xưa Ngày 12/02/1998, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định công nhận Đền Quả Sơn là Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia
Đền Bạch Mã (xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương) được coi là một trong tứ linh từ của đất Nghệ An Đền Bạch Mã thờ Phan Đà, một vị tướng trẻ của Bình Ngô vương Lê Lợi Ngày 24/3/1994, Bộ Văn hóa Thông tin đã
có quyết định số 226/QĐ-BVH xếp hạng đền Bạch Mã là Di tích Lịch sử văn hoá kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
Trang 34Đền Cuông (xã Diễn An, huyện Diễn Châu) là một trong những ngôi đền thờ Thục An Dương Vương tọa lạc trên núi Mộ Dạ Đền được xây dựng lên từ xưa và được trùng tu, hoàn thiện nhiều lần dưới thời nhà Nguyễn Năm 1864, vua Tự Đức có sắc chỉ xây dựng lại với quy mô như ngày nay Năm 1994, Sở Văn hóa Thông tin xây dựng sân lễ hội với diện tích 10.000 m2 Năm 1998, xây dựng nhà bia trên núi Mộ Dạ Năm 1998,
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt dự án khả thi xây dựng vùng văn hoá -
du lịch Đền Cuông – Cửa Hiền với tổng mức đầu tư là 6.000.000 đồng
Khu di tích Kim Liên được thành lập từ năm 1956, thuộc lại hình di tích lưu niệm danh nhân, là di tích đầu tiên trong hệ thống bảo tàng và di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn quốc được Đảng và Nhà nước có chủ trương bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng những giá trị di sản văn hoá về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới” Là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia Khu di tích Kim Liên được Nhà nước chú trọng đầu tư trong nhiều năm qua Ngày 5/7/1983, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh ra Nghị quyết 03/NQ.TU tôn tạo, nâng cấp khu mộ bà Hoàng Thị Loan Ngày 19/5/1984, Đảng bộ, nhân dân Nghệ Tĩnh và lực lượng vũ trang Quân khu IV tổ chức lễ khởi công Chỉ một năm sau, công trình được hoàn thành, ngày 16/5/1985, khu mộ được khánh thành, đón khách trong và ngoài nước đến tham quan
Khu di tích lịch sử Kim Liên được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo quyết định số 993/QĐ-BVH ngày 28/9/1990 của Bộ Văn hóa thông tin Từ đó đến nay, mỗi năm Khu di tích Kim Liên đón tiếp tận tình chu đáo, an toàn tuyệt đối cho nhiều đoàn khách cao cấp của Đảng, Nhà nước, các đoàn nguyên thủ quốc gia của các nước và phục vụ hàng triệu lượt khách trong nước và bầu bạn quốc tế về tham quan, nghiên cứu, học tập
Trang 35Cùng với các di tích lưu niệm, tại Kim Liên còn có nhà trưng bày bổ sung giúp khách tham quan có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử của đất nước
và quê hương vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; những nhân
tố tác động sâu sắc đến tư tưởng yêu nước, tinh thần dân tộc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh thời niên thiếu
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 12 di tích lưu niệm về thời niên thiếu
và 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương và có 6 điểm di tích đã được dựng bia ghi dấu sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, nói chuyện thân mật với cán bộ, đảng viên và công nhân viên chức lao động trong tỉnh Trong số đó, có 8 di tích và hơn 4 ngàn hiện vật tài liệu do Khu di tích Kim Liên trực tiếp quản lý, số còn lại do Ban di tích danh thắng tỉnh Nghệ An
và một số đơn vị, địa phương khác quản lý
Số lượng khách tham quan và doanh thu du lịch của di tích có xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở các di tích quốc gia
Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh không chỉ
là lưu giữ những giá trị, tinh hoa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà nó còn mang lại nguồn lợi kinh tế có giá trị khi trở thành những điểm tham quan
du lịch cho du khách thập phương Theo số liệu thống kê, trong những năm qua, số lượng khách tham quan tại địa phương có xu hướng tăng
Trang 36515.887 15.227 500.660
888.868 30.032 858.836
4 Bình quân số ngày lưu trú/ lượt khách
- Khách quốc tế
- Khách trong nước
Ngày/
lượt khách
1,20 1,12 1,20
1,72 1,97 1,72
5 Lao động kinh doanh du lịch
- Tỷ lệ so với tổng lao động xã hội
Người
%
1,181 0,11
2,500 0,21
6 Tổng vốn đầu tư cho du lịch Tỷ đồng 60,0 350,0
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Nghệ An năm 2006
Chỉ trong vòng 5 năm từ năm 1995 đến năm 2000, số lượng khách
du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã tăng 1,4 lần; trong đó khách nội địa chiếm từ 96,6 – 97,1%; khách quốc tế chiếm 2,9 – 3,4% Nhờ đó mà doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 2,2 lần từ 61,5
tỷ đồng năm 1995 lên 136,3 tỷ đồng năm 2000
Tập huấn công tác nghiệp vụ bảo tồn, bảo tàng cho cán bộ làm công tác quản lý di tích
Để bảo tồn và phát huy tốt hệ thống di tích ở cơ sở, công tác bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các thành viên trực tiếp trông coi, bảo vệ và phát huy giá trị di tích có tầm quan trọng đặc biệt
Trang 37Hàng năm, bảo tàng luôn quan tâm đến công tác tổng kết, mở các lớp tập huấn ngắn hạn nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời là dịp để tuyên truyền pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh” Các lớp tập huấn là dịp để những người trực tiếp bảo vệ di tích ở cơ sở có điều kiện giao lưu học hỏi lẫn nhau, đồng thời phản ánh, đề đạt những nguyện vọng thiết thực để các cấp quản lý nắm bắt, từ đó tham mưu cho chính quyền có giải pháp và chính sách cụ thể nhằm đáp ứng với tình hình thực tiễn đang diễn ra ở cơ sở
Khôi phục lại được một số lễ hội truyền thống ở một số di tích tiêu biểu
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần lâu đời của nhân dân
ta, có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp xã hội tham gia, đã trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ Lễ hội được tổ chức nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: Tưởng nhớ công đức của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các bậc tiền bối đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Đáp ứng nhu cầu văn hoá, tín ngưỡng, tham quan các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh và các nhu cầu chính đáng khác của nhân dân… Lễ hội được tổ chức gắn liền với các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh Vì vậy mà vấn đề đặt ra là phải bảo tồn và phát huy song hành cả di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh lẫn lễ hội được tổ chức hàng năm tại di tích đó
Nghệ An là một vùng đất rộng, đông dân, nhiều dân tộc sinh sống với bề dày truyền thống lịch sử văn hoá Cũng vì vậy mà ở Nghệ An từ xưa đến nay có hàng trăm lễ hội truyền thống lịch sử và cách mạng Nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng bộ và các ban ngành liên quan, nhiều lễ hội truyền thống, lễ hội mới gắn với di tích, danh thắng được phục hồi và phát triển đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tâm linh của các tầng lớp nhân
Trang 38dân, như: Lễ hội vua Mai, đền Cờn, đền Quả, đền Cuông, đền Bạch mã, đền Hoàng Mười…
Tiểu ết
Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2001, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn kho tàng di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Điều này không chỉ
có giá trị, có ý nghĩa với bản thân các di sản mà nó tác động sâu sắc nhiều đến đời sống kinh tế, xã hội, thậm chí là cả đời sống chính trị của địa phương Hoạt động bảo tồn di sản, tự bản thân nó đã có nhiều mối liên hệ với quá khứ, hiện tại và tương lai, với nhiều thành phần xã hội, nhiều chủ thể, nhiều thực thể văn hóa Mặt khác, để làm được công việc này, yêu cầu phải liên quan đến nhiều bộ môn khoa học, nhiều ngành nghề, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và chịu sự điều chỉnh của nhiều chế tài, từ nghiên cứu khoa học cho đến đất đai, tài chính… Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trong tỉnh đã đem lại những thành tựu đáng kể, đặc biệt đã góp phần nâng cao ý thức trân trọng, bảo vệ di tích của nhân dân đối với những giá trị lịch sử văn hóa dân tộc Công tác nghiên cứu, sưu tầm lịch sử, bảo tồn, bảo tàng được củng cố
và bước đầu hoạt động có kết quả, phục vụ tích cực cho kỷ niệm các ngày
lễ lớn và giáo dục truyền thống cho nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ
Tuy nhiên, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở tỉnh vẫn còn nhiều bất cập so với tiềm năng và yêu cầu của công cuộc đổi mới Sự xuống cấp các di tích vẫn đang ở mức báo động Việc chủ yếu tập trung tu
bổ, tôn tạo những công trình trọng điểm, những công trình khác rất ít nhận được vốn đầu tư, thậm chí là không có Nguồn ngân sách phần lớn do quản
lý địa phương và nhân dân tự nguyện đóng góp, do đó dẫn tới hiện tượng khi nguồn kinh phí không đủ cho hoạt động dẫn tới tình trạng nhiều di tích
Trang 39bị xuống cấp cần tu sửa, tôn tạo nhưng lại bị bỏ ngỏ vì thiếu kinh phí Nhiều di tích (nhất là các đình làng) không được quan tâm (kể cả chính quyền và người dân) nên cái thì bị xóa sổ, cái thì trở thành nơi họp chợ, cái thì trở thành nơi nhốt trâu, bò
Việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng cán bộ, các cơ chế chính sách trong lĩnh vực di sản chưa đáp ứng kịp thời Nghệ An thiếu đội ngũ chuyên gia trình độ cao, thiếu kinh nghiệm xây dựng mô hình bảo tồn di sản văn hóa lễ hội cộng đồng Công tác quảng bá hình ảnh di sản địa phương và gắn kết các di sản văn hóa hiện có với hoạt động du lịch, các tuyến điểm tham quan còn hạn chế Mặc dù có tiềm năng lớn về di sản văn hóa nhưng chưa
có di sản văn hóa nào của tỉnh được công nhận là di sản văn hóa thế giới Việc tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể mới bắt đầu được triển khai nên gặp khó khăn trong việc lập quy hoạch bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của tỉnh Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa
ở tỉnh còn yếu do khối lượng di sản văn hóa quá lớn nên việc bảo tồn gặp nhiều khó khăn, khó tránh khỏi nhiều loại hình di sản văn hóa bị mai một… Pháp chế về tu bổ và bảo tồn di tích trên địa bàn tỉnh ra đời muộn, còn thiếu nhiều
Trong giai đoạn này, cơ quan có trách nhiệm trực tiếp về kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ, quản lý, tiến hành công tác tu bổ di tích… trên địa bàn tỉnh Nghệ An là Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh Trong lúc đó nhiệm vụ chính của Bảo tàng là trưng bày tuyên truyền; sưu tầm, bảo quản tài liệu, hiện vật; Bảo tồn và phát huy giá trị di tích; nghiên cứu khoa học để ghi nhớ những sự kiện lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam những năm 1930 – 1931 Chính việc kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ như thế này, cộng với đội ngũ cán bộ bảo tàng
Trang 40còn mỏng, kinh nghiệm quản lý còn thiếu, yếu, vốn đầu tư còn hạn chế nên tất yếu việc tu bổ và bảo tồn di tích trong thời gian này gặp nhiều khó khăn Chắc chắn nhiều di tích với những hoạt động lễ hội tại các di tích lịch
sử, văn hóa đó đã bị mai một dần, nhiều di tích chưa được quan tâm đúng mức
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2001, trên địa bàn tỉnh Nghệ An chỉ mới đầu tư để kiểm kê, công nhận di tích; bước đầu đi vào công tác tu bổ và bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa chứ chưa có đủ điều kiện để chú trọng nhiều trong công tác phát huy giá trị của di tích lịch
sử, văn hóa