1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị của giáo lý phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở việt nam hiện nay

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIÁ TRỊ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC THỰC HIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

GIÁ TRỊ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC THỰC HIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 60 22 03 09 Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Tố Uyên

Chủ tịch hội đồng

PGS TS Trần Thị Kim Oanh

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tố Uyên Các nhận định nêu ra trong luận

văn là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân dựa trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố Luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học

Học viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị

Tố Uyên, người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong

suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô và tập thể cán bộ

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, đặc biệt các thầy cô ở Bộ môn Tôn giáo học đã giúp đỡ, dạy bảo, động viên và trao đổi ý

kiến khoa học quý báu trong suốt thời gian học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ để tôi có thể thực hiện tốt luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1.Một số khái quát chung về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam 9

1.1.1.Nguồn gốc ra đời và giáo lý cơ bản của Phật giáo 9

1.1.2.Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam 20

1.2.Luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay 27

1.2.1.Khái quát nội dung cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình từ năm 1945 – 1986 28

1.2.2.Khái quát nội dung cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình từ năm 1986 đến nay 34

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 VAI TRÒ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC THỰC HIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47

2.1.Khái quát quan niệm của Phật giáo về hôn nhân 47

2.1.1.Quan niệm về nghi thức tổ chức lễ ăn hỏi của Phật giáo 47

2.1.2.Quan niệm về nghi thức tổ chức lễ cưới của Phật giáo 61

2.2.Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

Trang 6

2.2.1.Ảnh hưởng đối với mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình 67

2.2.2.Ảnh hưởng đối với mối quan hệ giữa vợ chồng và các thành viên khác 77

Tiểu kết chương 2: 85

KẾT LUẬN 87

PHỤ LỤC 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo là một tôn giáo thế giới, xuất hiện ở Ấn Độ từ thiên niên kỉ thứ III TCN Trong quá trình phát triển và truyền bá, Phật giáo đã được lan

rộng đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Đến với nước ta bằng con đường hòa bình, đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ là con đường đồng cỏ từ Trung Á cùng với hệ thống giáo lý, giáo luật gắn sát với thực tế nên Phật giáo

dễ dàng được người dân tiếp nhận Du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, Phật giáo đã thực sự có một chỗ đứng vững chắc cùng với các tôn giáo khác trong lòng dân tộc Việt Nam

Ngay khi được truyền vào, từ thế kỷ đầu, Ðạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sông của người dân Việt và trong quá trình hình thành và phát triển trên đất nước này, Ðạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội Việt Nam Ðạo Phật đã thấm vào nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất Ðạo Phật đã lan tỏa khắp hang cùng ngỏ hẻm trên lãnh thổ Việt Nam và đã có một chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam Ðạo lý của Phật giáo Việt Nam cũng đã ảnh hưởng và ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân trên xứ sở này Trong suốt chiều dài lịch sử mười tám thế kỷ qua, Ðạo Phật đã chứng minh sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lãnh vực chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội, luật pháp và có những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực vào các mặt nói trên

Có thể nói, Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp phần định hình nên các quan niệm, chu n mực, hệ giá trị đạo đức trong

Trang 8

sở lý luận xác thực cho vấn đề đạo đức xã hội, hướng con người tới Chân, Thiện, M

Ở Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XX, đất nước ta đang ngày càng chịu nhiều tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, của quá trình công trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá Theo đó, mặt trái của quá trình này

là các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị băng hoại, nhiều biểu hiện của lối sống xa lạ, trái với thuần phong m tục trong một bộ phận cộng đồng dân

cư diễn ra ngày càng phổ biến Thái độ coi thường những giá trị truyền thống

là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là ở lớp trẻ Họ có thiên hướng đề cao cá nhân, sống ích kỷ, lạnh lùng, không tình không nghĩa, ít chú ý đến nghĩa vụ và trách nhiệm, ít quan tâm đến những người xung quanh,… Hàng loạt những hiện tượng đau lòng diễn ra thường xuyên trong thời gian gần đây khiến cho chúng ta không

thể làm ngơ Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn

của toàn xã hội Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết phải xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo

đức truyền thống đã được đặt ra

Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay Tác động của Phật giáo đến giá trị đạo đức con người Việt Nam thông các phong tục truyền thống là vô cùng rõ nét, tiêu biểu như trong việc thực hiện luật Hôn nhân và Gia đình của người Việt

Trang 9

Giáo lý của đạo Phật hướng đến mục đích giải thoát và giác ngộ, xuất

ly thế gian Tuy nhiên, giáo lý ấy luôn đặt trên nền tảng nhân bản, hướng đến con người và nhằm giúp cho con người có được hạnh phúc trong cuộc sống, cho nên những lời dạy của đức Phật không xa rời thực tiễn, không phản lại hiện thực của xã hội

Hơn nữa, tín đồ theo đạo Phật phần lớn là những người Phật tử tại gia, hàng ngũ xuất gia chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ Chính vì vậy, Đức Phật đã chỉ dạy những vấn đề về hôn nhân, gia đình, và nêu lên những quan điểm của Ngài về vấn đề ấy để giúp cho các Phật tử sống theo chánh pháp nhưng vẫn

có được hạnh phúc trong đời sống gia đình

Xuất phát từ tình hình trên, tôi lựa chọn đề tài “Giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay” để

nghiên cứu với mong muốn làm sáng rõ sự tác động của tư tưởng Phật giáo

đến hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể là luật hôn nhân và gia đình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong luận văn này, tôi xin được góp nhặt cơ sở tư liệu trong các sách, báo, tạp chí, những công trình chuyên nghiên cứu về Phật giáo, về tư tưởng nói chung trong đó có Phật giáo, những công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo Tôi xin tạm chia các tài liệu thành hai khuynh hướng sau:

Thứ nhất, khuynh hướng nghiên cứu về Phật giáo, các nghi lễ tôn giáo Trong đó tiêu biểu là các tài liệu như cuốn: Đào Nguyên, Sự gắn bó giữa dân tộc Việt nam và dân tộc Việt Nam nhìn ở góc độ văn học; Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) nhiều tác giả (1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Thuận Khiêm, Hướng đến một Phật giáo thời đại; Giác Dũng, Phật Việt Nam, dân tộc Việt Nam; Nguyễn Lang, Việt

Trang 10

văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội; Tạ Chí Hồng, “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, năm 2014; Thích Minh Châu với “Đạo đức học Phật giáo", Nxb Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1995 và “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người”, Nxb Tôn

giáo, năm 2002,

Thứ hai, khuynh hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và

tôn giáo cũng như ảnh hưởng của tôn giáo trong việc xây dựng và hoàn thiện

pháp luật: TS Nguyễn Thị Tố Uyên (2014), Mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo ở Việt Nam, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam; Ðặng Nghiêm Vạn (2007), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đức Lữ (2011), Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb Chính

trị - Hành chính, Hà Nội,…

Trong các bài viết, nghiên cứu của các tác giả chỉ nghiên cứu chung nhất về mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo mà chưa đi vào cụ thể một tôn giáo riêng biệt và một phạm vi luật độc lập Tuy nhiên những thành tựu về các

đề tài nghiên cứu nói trên là những tài liệu quan trọng cho tôi tham khảo khi thực hiện đề tài này Trên cơ sở những nghiên cứu trước, tôi xin tổng hợp lại

và phân tích giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

*Mục đích nghiên cứu

Luận văn từ việc tìm hiểu giáo lý của Phật giáo về hôn nhân và gia đình, luật hôn nhân gia đình hiện hành, trên cơ sở đó, chỉ ra giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trang 11

*Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu khái quát lịch sử, giáo lý Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

- Tìm hiểu giáo lý Phật giáo về hôn nhân và gia đình

- Tìm hiểu luật hôn nhân và gia đình từ năm 1945 đến nay

- Chỉ ra giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân

và gia đình ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu giáo lý Phật giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, trên cơ sở đó tìm ra giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay

*Phạm vi nghiên cứu

- Quan niệm về hôn nhân gia đình của Phật giáo Bắc tông và nghi lễ

Hằng thuận được tổ chức tại các chùa ở miền Bắc

- Luật hôn nhân và gia đình từ năm 1945 đến nay (Luật hiện hành ban hành năm 2014)

- Nghiên cứu trên nhóm những người Phật Tử tại gia và tu tại chùa biết, hiểu về giáo lý Phật giáo và có lối sống thực hành đạo

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Đề tài cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam của các nhà khoa học trong và ngoài nước

- Phương pháp nghiên cứu: kết hợp sử dụng một số phương pháp khác

Trang 12

được Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp xem xét tôn giáo xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo, phương pháp chuyên ngành và liên ngành như triết học, tôn giáo học, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp cấu trúc chức năng, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, điền dã, phỏng vấn

6 Ý nghĩa của luận văn

- Đề tài góp phần làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo cụ thể

là Phật giáo

- Chỉ ra giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu, kết luận, nội dung của bài nghiên cứu khoa học gồm 2 chương với 4 tiết và các tiểu kết chương Cụ thể

Chương 1 Khái quát chung về Phật giáo và luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay (gồm 2 tiết)

Chương 2.Vai trò của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay (gồm 2 tiết)

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ LUẬT HÔN

NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Một số khái quát chung về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam

1.1.1 Nguồn gốc ra đời và giáo lý cơ bản của Phật giáo

Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, trong điều kiện xã hội phân chia theo chế độ đẳng cấp bất bình đẳng Đạo Phật ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các trào lưu tôn giáo, triết học nổi tiếng của Ấn Độ

cổ đại và được coi là một trong những học thuyết xã hội chống lại sự bất công trong xã hội đương thời

Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sinh năm

624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na (Sudhodana) trị vì nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavasu) xứ Trung Ấn Độ lúc đó và hoàng hậu Ma Da (Maya) Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi Sau nhiều năm tìm thày học đạo, Thái Tử nhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hết khổ được Cuối

cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng “Nếu Ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này” Sau 49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni Đó là

ngày 08 tháng 12 năm Đức Phật 31 tuổi

Về văn hóa, thời kỳ này có những phát minh hết sức quan trọng về toán học (gồm cả số học và hình học), về thiên văn học, về triết học; đã chế tác được những đồ trang sức, đóng thuyền vượt biển,… Những thành tựu này trực

Trang 14

Về tín ngưỡng tôn giáo, thời kỳ này ở Ấn Độ đạo Bà la môn giữ địa vị thống trị “Xét về mặt tôn giáo đạo Bà la môn đề cao vai trò của đấng tối cao Phạm Thiên, hạ thấp vai trò của con người đặc biệt là tầng lớp thấp hèn Xét

về mặt xã hội, đây là tôn giáo đề cao, tuyệt đối hóa sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp Đạo Phật ra đời, một mặt nó là sự phản bác lại đạo Bà la môn, mặt khác nó lại tiếp thu, kế thừa những quan niệm của tôn giáo Bà la môn như: phản bác sự bất bình đẳng, tiếp thu quan niệm về nghiệp, kiếp, luân hồi” 51; Tr.84]

Về xã hội, thời kỳ này do có sự phát triển của sản xuất, của sở hữu tư sản về tư liệu sản xuất đã dẫn đến sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc

Ở Ấn Độ, do đặc điểm về kết cấu xã hội mà sự phân hóa này gắn chặt chẽ với

sự phân hóa đẳng cấp, làm cho sự phân hóa giai cấp và đẳng cấp thêm khắc nghiệt Về đại thể thời kỳ này có bốn đẳng cấp Đẳng cấp thứ nhất là đẳng cấp tăng lữ (hay đẳng cấp Bà la môn) – đẳng cấp được coi là có địa vị cao nhất, thực chất đẳng cấp này vừa thực hiện chức năng thần quyền, vừa thực hiện một phần chức năng thế quyền Mặc dù đạo Bà la môn không có tổ chức giáo hội song sự kết hợp của nó với thế quyền làm cho đẳng cấp này có địa vị cao nhất Đẳng cấp thứ hai là đẳng cấp quý tộc Theo sự phân công xã hội thì đẳng cấp này thực hiện chức năng thế quyền, song một phần quyền lực bị đẳng cấp Bà là môn nắm giữ, lấn lướt Thứ ba là đẳng cấp dân tự do Là bộ phận đông đảo nhất, là lực lượng sản xuất chủ yếu và có vai trò xã hội nhất định; địa vị xã hội của đẳng cấp này thấp hơn đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc Thứ tư là đẳng cấp nô lệ – đây là đẳng cấp có địa vị thấp nhất

Song khác với phương Tây, ở đây nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nô lệ có tính gia đình, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên Sự phân hóa đẳng cấp như trên bị đẳng cấp Bà la môn thần thánh hóa, tuyệt đối hóa làm cho mâu thuẫn càng thêm sâu sắc Điều này

Trang 15

dẫn đến các đẳng cấp thấp đấu tranh chống lại các đẳng cấp cao, nhất là chống lại đẳng cấp Bà la môn với mong muốn xóa bỏ bất bình đẳng giữa các đẳng cấp, tuy nhiên điều đó không đạt được kết quả trong hiện thực Trên cơ

sở ấy Phật giáo đã ra đời với mong muốn đưa lại sự bình đẳng cho con người, song đó là sự bình đẳng về tinh thần, sự bình đẳng về “tính Phật” về khả năng

“giải thoát” để “thành Phật” và để đạt tới thế giới “Niết bàn”

Giáo lý cơ bản của đạo Phật:

Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một trào lưu triết học, trong đó triết học Phật giáo là cơ sở cho những giáo lý của tôn giáo Phật giáo

“Triết học Phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập nhiều vấn đề của giới tự nhiên, xã hội và tư duy Trong triết học Phật giáo chứa đựng cả những quan niệm duy vật và quan niệm duy tâm, đặc biệt nó đã xây dựng được phương pháp biện chứng hết sức sâu sắc” 50 Tr.88]

Coi Phật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai trò của con người, thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là “Tứ diệu đế” và “Niết bàn” Vì “Tứ diệu đế” lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ, và diệt khổ là để đến thế giới “Niết bàn”

Tứ diệu đế được Phật giáo coi là bốn chân lý hay bốn nền tảng: gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế

Khổ đế: Phật giáo coi cuộc đời con người là khổ, theo quan niệm này,

“cái khổ” bao gồm cả cái khổ và cái vui của đời sống trần tục, vì cái vui cũng chỉ là giả tạm Cho nên nghĩa chung nhất của chữ khổ ở đây là “vô thường” (không thường còn) Phật giáo cũng đã cố gắng chỉ ra những cái khổ của đời sống trần tục và quy nó vào “bát khổ” (8 cái khổ) Đó là sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không đạt được thì khổ), ái biệt ly khổ (thương yêu nhau mà phải xa nhau thì khổ), oán tăng hội khổ (thù

Trang 16

của yếu tố vật chất, sự tương tác của giác quan với thế giới bên ngoài – khổ) Tám cái khổ trên thuộc về quy luật sinh tồn và quan hệ thiết thực của con người, do vậy ở đây, thoát khổ của Phật giáo là thoát khỏ quy luật sinh tồn và quan hệ hiện thực của họ

Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối Do

đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển” [33]

Tập đế: Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ “Tập” là

tụ hợp, kết tập lại Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi Phật giáo đã chỉ ra mười nguyên nhân sau: thứ nhất là tham lam; thứ hai là giận dữ; thứ ba là si mê; thứ tư là khiêu mạn; thứ năm là nghi ngờ; thứ sáu là biên kiến; thứ bảy là tà kiến; thứ tám là kiến thủ; thứ chín là thân kiến; thứ mười là giới cấm Đạo Phật cũng cho rằng nguyên

nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là do thập nhị nhân duyên, tức 12 nhân

duyên tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người 12 nhân duyên gồm: Vô

minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không sáng suốt Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ Trong 12 nhân duyên, vô minh là căn bản

Nếu không thấu hiểu Tứ diệu đế cũng được gọi là Vô minh; duyên

hành: là ý muốn thúc đ y hành động; duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối; duyên danh sắc: sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ

quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức); duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để thiêu hủy, đón nhận;

Trang 17

duyên xúc: là sự tiếp xúc của thế giới xung quanh sinh ra cảm giác Đó là sắc, thinh, hương vị, xúc và pháp khi tiếp xúc, đụng chạm vào; duyên thụ: là sự

cảm thụ, sự nhận thức khi thế giới bên ngoài tiếp xúc với lục căn sinh ra cảm

giác; duyên ái: là yêu thích mà nảy sinh ham muốn, dục vọng trước sự tác động của thế giới bên ngoài; duyên thủ: do yêu thích quyến luyến, không chịu

xa lìa, rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy không chịu buông ra; duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được; duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại; duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi

mòn, trẻ rồi già, ốm đau rồi chết

Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau Cũng có lời giải thích là 12 yếu tố tích lu đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng l n qu n của nổi khổ đau nhân loại

Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị k hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc

Diệt đế: Là chân lý về diệt khổ Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có

thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn” Một khi gốc của mọi tham

Trang 18

ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt muốn diệt khổ phải đi ngược

lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh

Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử Nói cách khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ u n dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh tử

Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm trở nên thanh thản, đầu óc tĩnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung núng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng sợ hải mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn với mọi người xung quanh rộng lượng và bao dung hơn Tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy

Ðạo đế: Là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ Đây là con đường

tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên, và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn Có 8 con đường chân chính để đạt sự diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là Bát chính đạo Bát chính đạo bao gồm: Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã; chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm; chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù phiếm; chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh

Trang 19

phạm giới luật, không làm việc xấu, nên làm việc thiện; chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh; chính tinh tiến: cố gắng nổ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu; chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát, luôn tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Kh u, Ý; chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô ngã, vô thường, tâm

ý đạt bốn định xuất thế gian

Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi

Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố duy vật

và tư tưởng biện chứng của thế giới Phật giáo khuyên con người suy nghĨ thiện và làm việc thiện nhằm góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên trong triết lý nhân sinh và con đường giải phóng của phật giáo vẫn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội Và những tư tưởng xã hội phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội

Ấn Độ cổ – trung đại và nêu lên ước vọng giải thoát nổi bi kịch cho con người lúc đó Phật giáo cũng nói lên được tự do bình đẳng trong xã hội nhưng triết

lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về

xã hội

Niết bàn: Niết bàn được Phật giáo coi là một trang thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên, tự tại, vô ngã vị tha Đây là một trạng thái lý tưởng “Về cơ bản có hai cách giải thích về sự tồn tại của Niết bàn: Cách thứ nhất cho rằng Niết bàn tồn tại ở nơi mà sau khi con người

ta chết, nếu tu hành đắc đạo, linh hồn sẽ được siêu thoát về thế giới Niết bàn, Niết bàn ở đây cũng có nhiều bậc khác nha Các giải thích thứ hai cho rằng

Trang 20

bàn là sinh tử), con người có thể đạt tới trạng thái Niết bàn này khi con người

đã loại bỏ được “tham, sân, si”, khi con người đã thoát khỏi vô minh và sống

an nhiên tự tại, vô ngã vị tha” 50 Tr.91]

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung

của 3 phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên

Vô ngã: Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các

môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2 yếu tố là “Sắc” và “Danh” Trong đó, Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa

và không khí; Danh là yếu tố tinh thần, không có hình chất mà chỉ có tên gọi

Nó bao gồm: thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ý muốn để hành động) và thức (sự nhận thức)

Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ u n” Ngũ u n bao gồm sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức), chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có “Bản ngã” hay cái tôi chân thực

Vô thường: Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn

biến đổi Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận là sinh – trụ – dị –

diệt Nghĩa là sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi

Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vât, hiện

Trang 21

tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằng không phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ mà chết là điều kiện của một sinh thành mới

Duyên: Bà la môn Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ

trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả

ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật Nhân – Quả, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu không có quả

thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy

Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng Nguyên nhân của sự vận động , biến đồi nằm trong các sự vật Đó là quan điểm biện chứng về thế giới tuy còn mộc mạc chất phác nhưng rất đáng trân trọng Và đó cũng là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới

- Giới luật căn bản của Phật giáo

Giới là điều răn, luật là quy luật thi hành giới Luật bao hàm cả giới còn giới chỉ là một bộ phận của luật Tuy gọi khác nhau như thế nhưng tính chất vốn đồng nên có tên ghép là giới luật

Giới luật gồm có nhiều loại:

Trang 22

+ Giới Thanh văn : Đây là giới của hàng xuất gia, có công năng giúp

giữ gìn bản thể thanh tịnh Tỳ kheo và phát triển sự hòa hợp Tăng đoàn

+ Giới Bồ tát : Giới này còn gọi là thông giới, tức gồm cả xuất gia và

tại gia cùng ứng dụng tu tập để thành tựu tâm Bồ đề

+ Giới tại gia: Theo nguyên tắc của Phật giáo, để trở thành một Phật tử,

yêu cầu mọi người phải phát tâm thọ nhận ba pháp quy y (Quy y Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng) và hành trì năm giới Đây chính là giới dành của các Phật

tử tu tại gia, chính là lực lượng người chủ yêu sẽ làm lễ cưới tại chùa

Năm giới : Đây là bước đầu của sự tu học Phật pháp mà cả xuất gia và tại gia đều phải chấp hành Bởi vì Năm giới là căn bản đạo đức làm người, là đức tính cơ bản của luân lý, là chiếc cầu nối đưa đến an lạc Niết Bàn Đó cũng

là yếu tố để xây dựng nền tảng cho hạnh phúc cá nhân, gia đình và xã hội Năm giới đó là: Không được sát sanh; Không được trộm cắp; Không được tà

dâm; Không được nói dối; Không được uống rượu

Mười giới: Trên nền tảng căn bản của năm giới, cũng y cứ nơi hành vi

(thân), ngôn ngữ (kh u), tâm lý (ý) mà đức Phật đã thiết lập pháp tu Thập thiện ( 10 giới) để nâng cao đời sống tâm linh, ý thức đạo đức cho hàng Phật

tử tại gia Thập thiện là:

+ Thân : Có 3 : Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm

+ Kh u : Có 4 : Không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm

+ Ý : Có 3 : Không tham lam, không sân hận, không si mê

Bát quan trai giới : Để tạo điện kiện cho hàng Phật tử tại gia tập tu hạnh xuất gia trong một ngày một đêm 24 giờ, đức Phật đã dạy thọ trì 8 giới Trong

đó, 5 giới đầu là của hàng tại gia, chỉ trừ giới thứ 3 là đổi lại thành không dâm dục; 3 giới sau tương đương với giới Sa di (của hàng xuất gia) là không được

Trang 23

nằm giường cao rộng lớn đẹp đẽ, không được trang điểm, thoa dầu thơm và múa hát hay xem múa hát, không được ăn phi thời

Nói chung, Đức Phật chế giới không ngoài việc đem lại an lạc trong đời sống hiện tại và tương lai cho những ai có ứng dụng hành trì Không phân biệt là xuất gia hay tại gia, nếu khéo nghiêm trì giới luật thì sẽ được những lợi ích sau:

+ Người có giới đức sẽ hưởng được gia tài pháp bảo nhờ tinh tấn

+ Người có giới đức được tiếng tốt đồn xa

+ Người có giới đức không sợ hãi rụt rè khi đến các hội chúng đông đúc

+ Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn

+ Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới

Ở các bộ Quảng luật (chỉ cho tất cả các bộ Luật trong Luật tạng) có nói đến 10 lợi ích của giới là:

1 Nhiếp phục Tăng chúng

2 Triệt để nhiếp phục Tăng chúng

3 Khiến cho Tăng chúng an lạc

4 Nhiếp phục những người không biết hổ thẹn

5 Khiến những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn

6 Khiến những người không tin khiến họ tin tưởng

7 Khiến những người đã tin tăng thêm lòng tin

8 Khiến dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại

9 Giúp những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi

10 Giúp cho chánh pháp được tồn tại lâu dài

Như vậy, giới luật là nền tảng để hành giả hoàn thiện nhân cách, trong sạch thân tâm, hóa giải phiền não, xây dựng Tăng đoàn, tận trừ mọi lậu hoặc Người nào tha thiết chấp trì giới luật thì chính là giữ gìn sự an lạc hạnh phúc cho mình và tha nhân ngay trong hiện tại và tương lai Ngược lại, người nào

Trang 24

không nghiêm túc vâng giữ giới luật là tự mình gây tổn hại đến nguồn an lạc hạnh phúc ấy

Nói tóm lại, để bảo hộ sự thanh tịnh trang nghiêm của Tăng đoàn, để gìn giữ bản thể của các Tỳ kheo cũng như để thiết lập một đời sống an ninh cho nhân loại, đức Phật đã tuyên bày giới luật Giới luật có công năng là dứt

đi nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sinh tử Không chỉ ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm c n thì cuộc sống sẽ an lành, thân tâm luôn thanh thản

Tuy nhiên cũng nên hiểu cho đúng nghĩa của giới luật là không chỉ ngăn ngừa đều xấu ác mà còn thể hiện ở việc năng làm điều thiện Tức là bên cạnh việc “chỉ ác”, mặt tích cực của giới luật phải là “tác thiện”

Cho nên, là đệ tử Phật chúng ta phải thể hiện đúng vai trò của mình Đối với hàng xuất gia thì phải “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, giữ gìn gia tài pháp bảo để hoằng dương chánh pháp Đối với Phật tử tại gia thì song song với việc hộ trì Tam bảo, người phật tử còn phải thể hiện nếp sống

mô phạm của hàng tại gia, góp phần xây dựng một gia đình hạnh phúc và một

xã hội văn minh

Các giáo lý, giáo luật cơ bản của Phật giáo đều hướng trực tiếp vào con người, vào mối quan hệ giữa người với người cũng như làm sao để có một cuộc sống viên mãn, an lạc Những giáo lý này, đặc biệt là phạm trù “Duyên”,

và Giới tại gia sẽ được người viết khai thác, vận dụng để lảm rõ trong quan niệm về hôn nhân trong Phật giáo ở chương 2

1.1.2 Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam

Xét về mặt địa lý, Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực Ấn Độ và Trung Hoa là hai nước có nền văn minh lớn cổ xưa Việt Nam nằm cạnh hai nước, cho nên chịu nhiều ảnh hưởng của hai nền văn minh này

Trang 25

Về kinh tế: Chủ yếu là phát triển nông nghiệp, công cụ bằng sắt ra đời

ra đời và phổ biến nên diện tích trồng trọt được mở rộng, các công trình thủy lợi được xây dựng nên năng suất lúa cao hơn trước Về thủ công nghiệp thì khai thác vàng, bạc được đ y mạnh, các nghề truyền thống phát triển hơn trước và nhân dân đã tiếp thu một số nghề mới từ Trung Quốc như làm giấy, thủy tinh Thương mại thời kì này cực kì phát triển, việc giao lưu buôn bán cũng được mở rộng hơn

Về văn hóa: một mặt nhân dân ta đã tiếp thu những yếu tố tích cực của văn hóa Trung Hoa nhưng mặt khác ta vẫn bảo tồn được nền văn hóa truyền thống dân tộc, không bị hòa tan

Về xã hội: do những chính sách cai trị tàn bạo, vơ vét nặng nề của các triều đại phương Bắc đã làm xuất hiện mâu thuẫn mới giữa nhân dân ta với chính quyền đô hộ

Trong sự nhiễu nhương của xã hội lúc bấy giờ, nhân dân vô cùng đau khổ, lầm than Họ bị chính quyền đô hộ đàn áp, bóc lột vô cùng nặng nề Thóc gạo làm ra bị mất trắng Thực dân phương Bắc quyết tâm đồng hóa dân

ta với những chính sách tàn bạo, khắp nơi đều là cướp bóc Trước tình cảnh

đó, sự xuất hiện của một tôn giáo mới mà những giáo lý vô cùng gần gũi với văn hóa truyền thống Việt Nam, giúp nhân dân thoát khỏi khổ ải về tinh thần, xoa dịu những nỗi đau hiện thực Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự

du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, hòa cùng văn hóa, tín ngưỡng bản địa

Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam bằng hai con đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ là con đường đồng cỏ từ Trung Á

Cho đến nay, Phật giáo vẫn tiếp tục phát huy giá trị tốt đẹp, cao cả của mình trong nhiều mặt của đời sống xã hội Có thể khẳng định rằng từ chỗ là

Trang 26

thành tôn giáo của Việt Nam, và là tôn giáo Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một bộ phận trong đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam

Phật giáo ở Việt Nam có cả 2 hệ phái: Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa, Nguyên thủy) và Phật giáo Bắc tông (Đại thừa, Phát triển) Hệ phái Tiểu thừa được truyền từ Ấn Độ qua Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia rồi vào Việt Nam nên cũng gọi là Phật giáo “Nam truyền” hay “Nam tông” Phái này chủ trương giữ nghiêm giới luật từ thời Đức Phật tại thế (đó chính là tinh thần Nguyên thủy Phật giáo) Hệ phái Đại thừa từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi vào Việt Nam và Triều Tiên, Nhật Bản, nên được gọi là

“Bắc truyền” hay “Bắc tông” Hệ phái Phật giáo Phát triển chủ trương linh động trong thực hiện giới luật, không câu nệ vào câu chữ trong kinh mà lựa chọn sự phù hợp, hữu ích, có hiệu quả cho tu hành và đời sống xã hội

Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã góp phần quan trọng đối với văn hóa cộng đồng, với việc nhận thức về thế giới, về xã hội và về con người, đặc biệt là việc đề cao trách nhiệm của chính con người

và của cả dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo sự gắn kết cộng đồng, tạo sức mạnh chung cho cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước

Phật giáo Việt Nam mang đầy đủ các đặc điểm của đạo Phật nói chung Nhưng khi truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã hòa nhập, thích nghi và kết hợp với đời sống tâm linh, văn hóa của người dân Việt nên có những đặc điểm riêng biệt làm cho Phật giáo ở Việt Nam trở nên linh hoạt, phong phú Những đặc trưng mà ta có thể nhận biết là:

Dung hợp các tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo Việt Nam dung hợp các tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam: thờ cúng Tổ tiên, thờ Thần, thờ Mẫu nhưng Phật giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo để làm nên Đạo Phật Việt Nam Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức,

Trang 27

trung thực hơn là đi chùa: Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật: Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu; đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật: Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích ca ngoài đường (Tục ngữ)

Điều này được thể hiện rất rõ việc bài trí tượng thờ trên chính điện chùa Phật giáo Trong đó, chư vị Phật được tôn trí ở gian giữa là đại hùng bảo điện; chư vị thánh tổ của Lão giáo, Nho giáo, được an trí ở hai bên Ngoài ra, còn tôn trí cả tượng của các vị Thiên hoàng Ngọc đế, Thập điện Diêm vương Đặc biệt, trong khuôn viên thờ tự của chùa, nhất là các chùa ở Bắc Bộ, luôn có phủ Mẫu (cũng gọi là điện Mẫu) thờ chư vị thánh Mẫu và đức Thánh Cha (Trần Hưng Đạo hiển thánh) Nhiều trường hợp khác, trên gian phụ của chính điện chùa còn thờ cả các vị có công khai mở, trùng tu, tôn tạo chùa

Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rất dân gian: ông Nhịn ăn mà mặc (Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc mà ăn (Di – lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc quăn),… Nhiều pho tượng được tạc theo lối ngồi không phải trên tòa sen mà là chân co chân duỗi rất thoải mái, giản dị Trên đầu Phật Bà chùa Hương còn lấp ló lọn tóc đuôi gà truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, Trời, Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi (hệ thống chùa Tứ pháp); ban cho người hiếm muộn có con (tục đi chùa cầu tự: Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang lạy Phật xin bùa em đeo); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ phật và hái lộc lúc giao thừa); cứu

Trang 28

độ cho người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới cầu kinh và làm lễ tiễn đưa người chết)

Phật giáo là thành tố trong Tam giáo đồng nguyên: Phật giáo Việt Nam dung hợp cùng tinh thần Nho giáo, Lão giáo để trở thành “Tam giáo đồng nguyên” nhằm hộ trì quốc gia, dân tộc Đó là sự kết hợp rất trí tuệ để hài hòa

và cùng phát triển Từ những buổi đầu xây dựng nền phong kiến độc lập chúng ta đã thấy các vị danh tăng Phật giáo thông hiểu Nho giáo, uyên thâm Lão giáo, và vận dụng tam giáo nhuần nhuyễn trong cuộc sống, tu hành của mình Các vị ấy hành trì Phật pháp, tham gia chính sự bàn quốc kế dân sinh như một vị thạc Nho, khi xong việc lớn lại rút về núi rừng thanh bạch n tu như một Đạo s Đây là điều hiếm có ở đặc trưng văn hóa mà chưa từng thấy của bất kỳ một dân tộc nào

Gắn bó với dân tộc: Phật giáo du nhập vào Việt Nam trở thành một tôn

giáo gắn bó giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế Phật giáo Việt Nam

có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, góp phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo

vệ Tổ quốc Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi nhận hai trường hợp đặc biệt:

Lý Công U n – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm bậc quân vương khai

mở triều đại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ ngai vàng

để vào núi n tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần Trong thời kỳ hội nhập, Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khốn khó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội

Đoàn kết nội bộ: Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết, gắn bó nội

bộ Tuy có nhiều tông phái Phật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả

đều sinh hoạt trong một tổ chức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Năm

1981, trải qua một năm vận động thống nhất, 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trên

Trang 29

toàn quốc đã thống nhất thành lập tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Trong Hiến chương của mình Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định “Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni,

Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước” Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn

đoàn kết với các tầng lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn để chung tay xây dựng và phát triển đất nước Đây là điều chưa có một tổ chức Phật giáo nước ngoài nào có thể làm được

Tính sơn môn, pháp phái: Du nhập vào Việt Nam, Phật giáo hình thành

và phát triển theo truyền thống của cư dân, phát triển như dòng họ thế tục Việc quản lý, kỷ luật sư sãi đều do Sơn môn, Pháp phái giải quyết Giáo hội chung chỉ chủ trương và định hướng những công tác Phật sự lớn và có tính tổng thể Còn các hoạt động tôn giáo cụ thể như: tiếp độ tăng ni, truyền thụ giới luật, trì giảng kinh điển, các nghi thức tôn giáo,… đều mang tính Sơn môn, Hệ phái, và do người đứng đầu Sơn môn, Hệ phái chỉ đạo thực hiện

Phật giáo là thành tố tạo nên tính đặc trưng văn hóa: Văn hoá, đạo đức

Phật giáo như quan điểm “ở hiền gặp lành” “báo đáp tứ trọng ân” “người Phật

tử hiếu hạnh” “hành thiện tránh ác”, “từ bi cứu khổ”, “tôn trọng con người”,

“bình đẳng tâm, không phân biệt đẳng cấp, sang hèn”, “yêu chuộng hòa bình”… đã thấm đậm trong tâm tưởng mỗi con người Việt Nam qua các thế hệ

Nó đã góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc

Mà ở đó, người ta không còn phân biệt đâu là đạo đức xã hội, đâu là đạo đức tôn giáo

Sau năm 1975, khi nước nhà được thống nhất, Phật giáo Việt Nam đã

ổn định và phát triển trong ngôi nhà chung: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong sự đồng hành cùng dân tộc, trong sự đổi mới và phát triển đất nước, trong sự hội nhập và phát triển

Trang 30

Có thể nói, Phật giáo Việt Nam đã có sự lớn mạnh cả về chất và lượng

“Năm 2009 của Nhà nước thì tính đến ngày 01 tháng 04, cả nước có 13 tôn giáo lớn nhỏ, tổng cộng 15.651.467 tín đồ, trong đó tín đồ đạo Phật là 6.802.318 người gồm 3.172.576 thiện nam và 3.629.742 tín nữ Phần còn lại

đa số theo đạo thờ cúng ông bà, theo các đạo khác và khoảng chục triệu người không theo đạo nào hết Và cho đến ngày hôm nay, nước ta có trên 10 triệu tín đồ (chưa kể số người tin Phật, lễ Phật mà chưa quy Y, hoặc đã được quy Y nhưng chưa có sự thống kê chính xác), có khoảng 42.000 chức sắc, có khoảng 17.000 cơ sở thờ tự, có 4 Học viện và trên 30 trường trung cấp; Phật giáo Việt Nam cũng có quan hệ với nhiều tổ chức Phật giáo ở các nước trong khu vực

và trên thế giới”1

Với truyền thống gắn đạo với đời, đạo pháp với dân tộc, Phật giáo đã tham gia vào nhiều hoạt động xã hội như: Cứu giúp người nghèo, người cô đơn cơ nhỡ, nuôi dạy trẻ mồ côi… Phật giáo Việt Nam ngày càng khởi sắc không chỉ ở số lượng và quy mô các lễ hội, ở việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo cơ

sở thờ tự mà còn ở việc nâng cao sự nhận thức về Phật học và thế học cho các tăng ni, ở việc tổ chức các hội thảo về Phật giáo trong lịch sử và hiện tại

Trước những đòi hỏi của hội nhập và phát triển, xu hướng đổi mới trong Phật giáo không thể không đặt ra, vấn đề truyền thống và hiện đại trong việc tu chứng, hành đạo, trong việc hoằng dương Phật pháp, trong công việc hành chính đạo,… cũng đang là một thách thức đối với Phật giáo Việt Nam hiện nay

Và đặc biệt, điểm khác biệt và độc đáo của Phật giáo Việt Nam mà trong luận văn đề cập đến đó chính là những giáo lý mang tính thời đại về vấn

đề hôn nhân và gia đình, đặc biệt là nghi thức cưới hỏi mang đậm triết lý nhân văn sâu sắc

1 Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số trên toàn quốc năm 2009

Trang 31

1.2 Luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, hôn nhân gia đình là một hiện tượng mang tính lịch sử Nó phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Hôn nhân gia đình phụ thuộc rất lớn vào các hình thái kinh tế - xã hội, khi một hình thái kinh tế xã hội này chuyển sang hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn thì hôn nhân gia đình cũng có bước chuyển mình,

mô hình hôn nhân gia đình sau bao giờ cũng cao hơn mô hình hôn nhân gia đình trước Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau và trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước và bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân gia đình phù hợp với lợi ích của giai cấp mình

Ở Việt Nam, theo quan điểm của Đảng và nhà nước, hôn nhân gia đình ghi nhận tại điều 64 Hiến pháp Được hiểu như sau:

Hôn nhân: là sự giao kết giữa nam và nữ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật, nhằm chung sống với nhau suốt đời để xây dựng gia đình hạnh phúc

Gia đình: là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, do quan hệ huyết thống, do quan hệ nuôi dưỡng, trên cơ sở đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, cùng quan tâm, giúp đỡ nhau về vật chất, tinh thần, xây dựng và nuôi dạy các thành viên trẻ trong gia đình dưới sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội

Hôn nhân và gia đình là một hiện tượng xã hội, nên trong quá trình hôn nhân gia đình hiện nay ở nước ta phát sinh nhiều quan hệ về thân nhân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Để điều chỉnh các quan hệ này, Nhà nước phải ban hành các quy phạm pháp luật về hôn nhân, gia đình Tổng hợp các quy phạm pháp luật về hôn nhân, gia đình tạo thành ngành Luật Hôn nhân và Gia đình

Trang 32

Luật Hôn nhân và Gia đình như là tập hợp các quy tắc chi phối sự thành lập và sự vận hành của gia đình Có ba dữ kiện cơ bản liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích ba dữ kiện ấy, người làm luật đề ra các quy tắc của mình: sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm xây dựng cuộc sống chung; sự sinh con và việc giáo dục con Vai trò của luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xác định tùy theo kết quả xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và gia đình, hay đúng hơn, tùy theo mức độ tự chủ của gia đình đối với Nhà nước, trong quá trình hình thành và phát triển của các dữ kiện ấy

1.2.1 Khái quát nội dung cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình từ năm

1945 – 1986

Sau cách mạng tháng 8/1945, mô hình gia đình Việt Nam có những thay đổi sâu sắc Ðại gia đình, biểu tượng của chế độ phong kiến, bị loại ra khỏi luật viết; thay vào đó là mô hình gia đình hộ gồm có vợ chồng và các con Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi Nhân dân Việt Nam được hưởng hòa bình chưa bao lâu thì Đế quốc M

âm mưu phá bỏ Hiệp định Gionevo và biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới phục vụ cho những mưu đồ quân sự của M Đất nước ta tạm thời bị chia cắt ra làm hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau Trong khi nhân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc M và bè lũ tay sai, quân dân miền Bắc quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam

Bên cạnh đó, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tác động mạnh mẽ vào các mặt của đời sống

xã hội, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình Trong khi đó, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu vẫn còn tồn tại, đè nặng lên tư tưởng của người dân kìm hãm sự phát triển của con người Tình

Trang 33

hình hôn nhân và gia đình đó không thích hợp với việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng mới là cái tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa

Vì vậy, đã đến lúc cần phải xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa, trước hết là phải ban hành một Luật Hôn nhân và Gia đình

Xuất phát từ thực tế đó, Luật Hôn nhân và Gia đình cần phải thực hiện mục đích là xây dựng những gia đình dân chủ hòa thuận, hạnh phúc, trong đó, mọi người đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái Kế thừa những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ trước, để đạt được những mục đích như trên, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã được xây dựng trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:

– Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ

– Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

– Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình – Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái

Nhằm thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã quy định nguyên tắc mới: nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Trước đây, mặc dù đã xác định được nhiệm vụ là xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, phản dân chủ của pháp luật hôn nhân và gia đình phong kiến, nhưng Nhà nước ta chưa có quy định về việc thực hiện chế độ hôn nhân một

vợ một chồng Đây là một hạn chế của pháp luật thời kỳ trước đó Việc Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định nguyên tắc một vợ một chồng bảo đảm cho hạnh phúc gia đình bền vững, đồng thời phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này còn được thể hiện trong quy định về điều kiện kết

Trang 34

Một thành tựu đặc biệt mà luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã đề cập được đến đó chính là vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh những biến đổi về cơ cấu và chức năng của gia đình luôn gắn liền với sự thay đổi về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu một thời kì mới trong quá trình phát triển xã hội của dân tộc ta Quyền bình đẳng nam, nữ và chế độ hôn nhân một vợ một chồng được Nhà nước công nhận và quy định tại Hiến pháp đầu tiên của nước

ta năm 1946 và trong luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, thể hiện sự tiến bộ

xã hội, góp phần thúc đ y việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình Việt Nam Điều 1 luật Hôn nhân và Gia đình năm

1959 quy định: “Nhà nước đảm bảo việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự

do và tiến bộ, một vợ, một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ

nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa

thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ”

Hôn nhân tự nguyên tiến bộ, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác bao hàm hai khía cạnh, đảm bảo quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến

bộ là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam nói chung và luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 nói riêng, trên cơ sở nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hôn cũng như ly hôn theo quy định của pháp luật

Theo quy định luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, kết hôn được hiểu

là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Theo quy định tại Điều 2 luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959: “Xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái”, đồng

Trang 35

thời theo quy định tại Điều 3 luật này: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, dánh đập hoặc ngược

đãi vợ Cấm lấy vợ lẽ” Quyền kết hôn là quyền gắn với nhân thân của mỗi

bên nam nữ, quyền này được ghi nhận và bảo vệ Theo quy định tại Điều 4 luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959: “Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được

ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở” Sự tự nguyện của hai bên là điều kiện kết hôn luật định; nếu thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên nam nữ thì các bên không đủ điều kiện để kết hôn, trường hợp

đã xác lập quan hệ hôn nhân ấy sẽ không được thừa nhận

Đảm bảo cho các bên nam nữ được tự do kết hôn cho nên việc tự nguyện quyết định chuyện hôn nhân của mỗi bên nam nữ là yêu cầu quan trọng được nhà làm luật ghi nhận và bảo vệ Theo đó, mỗi bên nam nữ đều bình đẳng trong việc bày tỏ ý chí của mình về việc đồng ý hay không đồng ý xác lập quan hệ hôn nhân với người kia Luật Hôn nhân và Gia đình cũng ghi nhận quyền tự do của hai bên nam nữ khi xác lập quan hệ hôn nhân, đồng thời nghiêm cấm tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ, tục nối dây, ép người khác kết hôn trái ý muốn của họ hoặc các hành vi lợi dụng việc xem tướng số hay các hình thức mê tín dị đoan khác để cản trở việc thực hiện quyền tự do kết hôn của các bên nam nữ

Tình nghĩa vợ chồng là tình cảm phù hợp với đạo lý Làm vợ, chồng của nhau phải hiểu rõ và hành động theo tình cảm, bổn phận và nghĩa vụ của mình, và lợi ích của vợ, chồng và lợi ích của các con, lợi ích của gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 có quy định cụ thể về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôi dạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia

Trang 36

nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hóa và xã hội (Điều 14) Việc xác lập quan hệ vợ chồng không làm ảnh hưởng tới nghề nghiệp của mỗi bên Ngược lại, vợ chồng có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển về chuyên môn, nghề ngiệp, năng khiếu, tư chất của bản thân theo nguyện vọng và khả năng của mỗi bên

Những quy định này nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trên thực tế giữa

vợ và chồng Trên quan điểm bình đẳng giới, những hành vi ngược đãi, hành

hạ, xúc phạm danh dự, nhân ph m của nhau giữa vợ và chồng phải được nhìn nhận từ hai phía, hành vi của chồng đối với vợ và hành vi của vợ đối với chồng Những dạng hành vi đó dưới góc độ giới được gọi là bạo lực trên cơ

sở giới Việc xóa bỏ bạo lực trong gia đình, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ

là một yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ của tất cả các quốc gia

Bên cạnh đó, quyền được làm cha mẹ là một quyền nhân thân quan trọng của con người, gắn liền với từng người, bình đẳng như nhau giữa nam

và nữ, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để cá nhân thực hiện quyền đó Quyền làm cha mẹ gắn liền với những thiên chức tự nhiên của người đàn ông và phụ nữ, đặc biệt là quyền mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng không thể thay thế được của người phụ nữ Thiên chức đó của người mẹ luôn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, vì nó ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống của dân tộc, của nhân loại

Quyền sinh con được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện đối với

vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp và đối với cả người phụ nữ độc thân Con được sinh ra trên cơ sở hôn nhân hợp pháp hoặc ngoài quan hệ hôn nhân đều có quyền lợi như nhau Để bảo vệ quyền của trẻ em, quyền làm cha, làm

mẹ, pháp luật Hôn nhân và Gia đình quy định chế định xác định cha, mẹ, con Chế định này hướng tới bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cả người cha, người mẹ, nhưng trước hết là lợi ích của đứa trẻ

Trang 37

Đối với trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái thì theo Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã khẳng định:

“Thừa nhận trách nhiệm chung của cả vợ lẫn chồng trong việc nuôi dạy và phát triển con cái, lợi ích của con cái phải được nhận thức rõ là ưu tiên hàng đầu trong mọi trường hợp” (điểm b, Điều 5) Điều đặc biệt quan trọng là Công ước đã chỉ rõ: “Quyền và trách nhiệm như nhau với vai trò làm cha mẹ trong mọi vấn đề liên quan đến con cái, bất kể tình trạng hôn nhân như thế nào” (điểm d, Điều 16) Như vậy, trách nhiệm của cha mẹ đối với con là như nhau trong mọi trường hợp: khi hôn nhân đang tồn tại, sau khi ly hôn, khi không có quan hệ hôn nhân hoặc trong hôn nhân trái pháp luật Điều 17 luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” Nam và nữ gắn bó với nhau trong hôn nhân, cùng được làm cha, mẹ nên việc nuôi nấng, giáo dục con cái do mình sinh ra hay nhận nuôi là trách nhiệm và nghĩa vụ Vợ chồng bình đẳng như nhau trong quá trình yêu thương, giúp đỡ chúng trưởng thành

Với quan điểm kế thừa và phát triển, những quy định của luật Hôn nhân

và Gia đình năm 1959 đã góp phần tạo điều kiện để chị em phụ nữ trong giai đoạn này có những cơ hội nhất định tham gia vào các hoạt động lao động, sáng tạo, vượt ra khỏi những trói buộc của gia đình phong kiến và từng bước khẳng định chỗ đứng vững chắc trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Đồng thời, cũng xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo tính khả thi đối với quyền bình đẳng của phụ nữ trong thực tiễn cuộc sống

Tiếp theo luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 là luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, tiếp tục được coi hộ gia đình như là mô hình chính thức trong

xã hội xã hội chủ nghĩa và tiếp tục hoàn thiện hệ thống liên quan đến nghĩa vụ

Trang 38

coi quan hệ nghĩa vụ giữa cha me và con là quan hệ nghĩa vụ hỗ tương: con

có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ (Ðiều 21); con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha

mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập riêng, thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình (Ðiều 23) Luật cũng có nhắc đến quan hệ giữa ông bà và cháu (Ðiều 27), nhưng không coi họ như các thành viên của cùng một gia đình hộ: quan hệ ông bà – cháu được luật chi phối trong hoàn cảnh bi kịch – cháu không còn cha mẹ Cũng trong hoàn cảnh đó

mà luật quan tâm điều chỉnh quan hệ anh – chị - em Sự thành lập gia đình gồm có ông bà và cháu hoặc gồm có anh, chị, em được coi như biện pháp cứu hộ đối với những con người bất hạnh

Việc áp dụng chính sách đổi mới đã thúc đ y quá trình tích lũy của cải trong khu vực tư nhân Theo một xu hướng tự nhiên, một khi việc thực hiện một kế hoạch đầu tư nào đó trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu công nghiệp, dịch vụ vượt quá khả năng của một cá nhân, thì những người đầu tiên mà cá nhân muốn kêu gọi sự hợp tác chính là các thành viên trong gia đình Kế hoạch đầu tư càng quan trọng, các thành viên của gia đình được tập họp càng đông Sự gắn bó về kinh tế dẫn đến sự gắn bó về tình cảm và gia đình truyền thống dần dần được khôi phục, với quy mô được xác định tùy theo quy mô của hoạt động kinh tế chung của các thành viên Gia đình có nhiều thành viên

có tổ chức phức tạp hơn gia đình ít thành viên và các mối quan hệ nội bộ cũng

Trang 39

1986 đã được kế thừa phát triển nguyên tắc này của luật Hôn nhân và Gia đình 1959, luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã bổ sung thêm những nội dung của nguyên tắc này cho đầy đủ

Trong nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nếu như luật Hôn nhân

và Gia đình năm 1959 chủ yếu quy định “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” thì luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định đầy đủ hơn “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” Với việc quy định đầy đủ hơn, phù hợp hơn, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng của luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã tạo ra một nền tảng pháp lý cần thiết cho việc xây dựng những chế định, quy phạm pháp luật chuyên biệt để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong đời sống xã hội Và lỗ hổng của luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã được khắc phục dần dần Pháp luật hôn nhân và gia đình không ngừng hoàn thiện, trước hết và trên cơ sở sự hoàn thiện hệ thống những nguyên tắc cơ bản

Tuy nhiên, trải qua quá trình áp dụng vào cuộc sống với sự biến đổi không ngừng của các mô hình kinh tế có sự chi phối trực tiếp đến nên tảng gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 tỏ ra không còn đủ sức đảm đương chức năng cơ sở pháp lý của gia đình trong thời kỳ đổi mới; trong khi

đó, tục lệ ghi nhận sự phát triển tự phát của những giá trị còn chưa được luật viết quan tâm đúng mức, nhưng có tác dụng tốt trong việc đặt nên móng cho

sự phát triển của gia đình nhiều thế hệ: nghĩa vợ chồng, quyền cha mẹ, chữ hiếu, Sự thay thế luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 bằng luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2000 diễn ra như một tất yếu

Thông qua những quy định cụ thể, luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người,

Trang 40

nhân và gia đình, tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự

an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũng như các giao dịch giữa các thành viên gia đình với các chủ thể khác trong xã hội; ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã có những thay đổi đáng kể cần có sự điều chỉnh phù hợp hơn của pháp luật Trong bối cảnh như vậy, luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bộc lộ một

số điểm bất cập, hạn chế Do đó, việc sửa đổi, bổ sung luật này là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng không tránh khỏi sự tác động đa chiều đó: gia đình hạt nhân (hai thế hệ) đang dần thay thế cấu trúc gia đình truyền thống (nhiều thế hệ); việc đề cao tự do của cá nhân trong gia đình đã làm cho sự gắn kết giữa cha, mẹ, con và giữa các thành viên khác có xu hướng giảm sút; sự thiếu bền vững về hôn nhân; quan hệ sở hữu, giao dịch được thực hiện không chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình mà còn nhằm mục đích kinh doanh, thương mại ngày càng phổ biến; một số quan niệm mới về hôn nhân, gia đình

ở nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam và gây ra nhiều hệ lụy khác nhau

Trong bối cảnh như vậy, vào ngày 19 tháng 6 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua luật Hôn nhân và Gia đình mới Ngày 26 tháng 6 năm 2014, Luật

đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh công

bố Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 và có những điểm mới sau:

Ngày đăng: 15/03/2021, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w