1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong doanh‬‬‬‬‬ nghiệp thông qua liên kết với trường đại học nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp viettel

86 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ QUANG ĐẠO ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP THÔNG QUA LIÊN KẾT VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Nghi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ QUANG ĐẠO

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP THÔNG QUA LIÊN KẾT

VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC (Nghiên cứu trường hợp Doanh nghiệp Viettel)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ QUANG ĐẠO

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP THÔNG QUA LIÊN KẾT

VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC (Nghiên cứu trường hợp Doanh nghiệp Viettel)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12 Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Ngọc Thạch

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp trong cơ quan, đơn vị và người thân trong gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Lãnh đạo khoa Khoa học Quản lý cùng các thầy cô giảng dạy các bộ môn đã giảng dậy và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình cao học

Đặc biệt là TS Trịnh Ngọc Thạch, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chia sẻ và góp ý giúp học viên hoàn thành đề tài cùng với PGS.TS Đào Thanh Trường, PGS.TS Vũ Cao Đàm đã gợi ý đề tài, bổ sung kiến thức giúp tôi hoàn thành đề tài và chương trình học

Lãnh đạo và các nhân viên của doanh nghiệp Viettel đã trực tiếp hỗ trợ, phối hợp khảo sát và cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thiện đề tài

Các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn này

Do năng lực còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi các khiếm khuyết, học viên rất mong được cảm thông và chia sẻ

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 9

9 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.1 1 Đào tạo và phát triển Nguồn nhân lực (NNL) 11

1.1.2 Nhân lực Khoa học và công nghệ 12

1.1.3 Đào tạo nhân lực KH&CN 15

1.1.4 Mô hình và mô hình liên kết đào tạo 16

1.1.5 Mô hình quản lý đào tạo 18

1.2 Vị trí, vai trò của trường đại học trong đào tạo và phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ 19

1.2.1 Vị trí 19

1.2.2 Vai trò 19

Trang 5

1.3 Mối quan hệ giữa trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nhân

lực KH&CN cho doanh nghiệp 20

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về liên kết giữa trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN 22

1.4.1 Kinh nghiệm Hoa Kỳ (trường hợp MIT) 22

1.4.2 Kinh nghiệp Singapore (trường hợp NUS) 24

1.4.3 Kinh nghiệm Trung Quốc (trường hợp ĐH Thanh Hoa, ĐH Phúc Đán).26 Tiểu kết Chương 1 29

Chương 2: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CHO DOANH NGHIỆP GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐHQGHN VÀ DOANH NGHIỆP VIETTEL 30

2.1 Giới thiệu khái quát 30

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Viettel Hà Nội- Tập đoàn Viễn thông Quân đội 30

2.1.2 Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) 34

2.2 Thực trạng liên kết đào tạo giữa ĐHQGHN với Viettel Hà Nội trong đào tạo nhân lực KH&CN cho doanh nghiệp 36

2.2.1 Khảo sát và phân tích 36

2.2.2 Viettel Hà Nội 41

2.3 Đánh giá sự liên kết đào tạo giữa hai đơn vị 44

2.3.1 Các mặt mạnh (strengths) - yếu (weeknesses) và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN 48

2.3.2 Đánh giá sự mạnh yếu trong liên kết đào tạo giữa trường ĐHQGHN với Viettel Hà Nội 48

Chương 3: MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CHO DOANH NGHIỆP 54

3.1 Chia sẻ nguồn lực - hình thành các cách thức phối hợp khác nhau 57

Trang 6

3.2 Liên kết xây dựng nội dung chương trình đào tạo - nghiên cứu 60

3.3 Môi trường chính sách và pháp lý 65

3.4 Các giải pháp vận hành mô hình liên kết đào tạo 67

3.4.1 Liên kết hợp tác đào tạo song hành 67

3.4.2 Liên kết hợp tác đào tạo theo địa chỉ, dự án (đơn đặt hàng) 69

3.4.3 Liên kết hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ, tư vấn 72

3.4.4 Liên kết hợp tác trong nghiên cứu khoa học 73

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

3 KH&CN Khoa học và công nghệ

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng quan mô hình của Tập đoàn Viễn thông Quân đội 32

(Bao gồm a, b, c, d) 32

Bảng 2.2: Mô hình quản lý của Viettel Hà Nội 34

Bảng 2.3: Kết quả tuyển sinh nguồn nhân lực KH&CN qua các năm (2012 – 2015) 37

Bảng 2.4: Quy mô đào tạo qua các năm (2012 – 2015) 37

Bảng 2.5: Chất lượng đào tạo qua các năm (2012 - 2015) 39

Bảng 2.6: Nguồn kinh phí phục vụ đào tạo giai đoạn 2012 - 2015 40

Bảng 2.7: Số lượng cán bộ nhân viên Viettel Hà Nội có nhu cầu được đào tạo về KH&CN giai đoạn 2012 - 2015 41

Bảng 2.8: Số lượng cán bộ nhân viên được tham gia đào tạo theo mô hình liên kết đào tạo giai đoạn 2012 – 2015 42

Bảng 2.9: Cơ cấu cán bộ nhân viên Viettel Hà Nội được tham gia mô hình liên kết đào tạo giai đoạn 2012 – 2015 42

Bảng 2.10: Quy mô chi phí chi nhánh đầu tư cho mô hình liên kết đào tạo giai đoạn 2012 – 2015 43

Bảng 2.11: Cơ sở đánh giá qua điều tra khách thể về mức độ liên kết 44

giữa nhà trường với doanh nghiệp 44

Trang 9

DANH MỤC HÌNH – ĐỒ THỊ Hình 1.1: Mô hình QLĐT trong trường ĐH theo hệ thống điều khiển 18

của Nobert Winer 18

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Đại học Quốc gia Hà Nội 36

Hình 2.2: Đồ thị thể hiện tương quan ý kiến đánh giá của CBNV Viettel Hà Nội

về mức độ phù hợp của mục tiêu và nội dung đào tạo so với yêu cầu của DN 46 Hình 2.3: Đồ thị về sự phù hợp giữa thời lượng học lí thuyết và thực hành 46 theo ý kiến của CBNV Viettel Hà Nội 46 Hình 2.4: Đồ thị so sánh tương quan ý kiến về việc liên kết xây dựng 47 mục tiêu, chương trình đào tạo 47

Hình 2.5: Biểu đồ so sánh tương quan ý kiến về liên kết giữa nhà trường và

doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN 48 Hình 3.1: Mô hình chung về liên kết đào tạo Đại học – Doanh nghiệp 55

Trang 10

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp chưa thực sự phát triển, đặc biệt là đối với doanh nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin và công nghệ cao Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế, xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng phát triển đất nước Nước ta hiện tại đang nằm trong hệ thống các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) ở nước ta được tiến hành từ một nền kinh tế với trình độ thấp, đội ngũ lao động ít qua đào tạo và đào tạo kém chất lượng chiếm tỷ lệ cao Trong khi đó, trước những bức bách, thách thức như hiện nay và thêm mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta phải cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển mạnh về kinh tế, đặc biệt là kinh tế hướng biển, điều đó đã đặt ra nhu cầu lớn về đào tạo nguồn nhân lực (NNL), đặc biệt là nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ CNH, HĐH đất nước; cùng với nó,

đó là nhu cầu về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động đào tạo, nhất là các hoạt động đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ cho doanh nghiệp Trên thực tế, nguồn nhân lực được đào tạo từ những mô hình liên kết này chưa nhiều, chưa phổ biến ở nước ta nhưng chắc chắn sẽ hứa hẹn

sự tin cậy của xã hội, sự chấp nhận của các doanh nghiệp, đáp ứng tốt yêu cầu

về NNL khoa học và công nghệ Tuy đã có những kết quả rất đáng trân trọng trong tham gia đào tạo NNL phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nói chung và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho các doanh nghiệp, nhưng trên thực tế, vẫn không tránh được những hạn chế, bất cập như: Chưa có nhiều mô hình đào tạo liên kết theo nhu cầu của doanh nghiệp, của xã hội; hiệu quả, nếu

có, thì mới đang gói gọn trong doanh nghiệp; chưa giải quyết tốt các mối

Trang 11

2

quan hệ giữa nhiệm vụ đào tạo NNL khoa học và công nghệ của nhà trường với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong các doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp và nhu cầu về NNL của doanh nghiệp trong tiến trình CNH, HĐH đất nước Trước thềm hội nhập và trong bối cảnh phức tạp về tranh chấp chủ quyền biển đảo hiện nay, sự nghiệp CNH, HĐH cần đẩy mạnh hơn bao giờ hết Sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học trên thế giới đòi hỏi một lực lượng lao động phải có năng lực và trí tuệ cao để tiếp cận, tiếp nhận và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước Nền tảng cho việc này phải là giáo dục Giáo dục và đào tạo cần phải chuyển mình để thích ứng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, những nhu cầu xã hội cần mà không hoàn toàn bắt buộc đào tạo tất cả những gì mà nhà trường có Kết hợp doanh nghiệp và trường Đại học trong đào tạo nhân lực tạo ra khả năng tận dụng tốt nguồn lực của cả hai tổ chức Về phía doanh nghiệp: Đảm bảo, hỗ trợ được nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị; sẵn sàng cử người hay cung ứng, đáp ứng nhu cầu về sử dụng nhân lực Về phía trường Đại học: Sẵn có đội ngũ Giảng viên, nghiên cứu khoa học (NCKH) chất lượng cao, giàu kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, thích ứng nhanh với thay đổi của xã hội Đào tạo gắn kết giảng dạy, NCKH và ứng dụng chắc chắn sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; các học viên được giảng dạy lý thuyết, thí nghiệm nghiên cứu sau đó ứng dụng luôn vào sản xuất và thương mại Quá trình đó là động lực mạnh nhất, hiệu quả nhất của việc gắn kết, liên kết đào tạo Liên kết còn đẩy nhanh tiến độ đào tạo, tiết kiệm thời gian và vật chất; giảm thiểu thời gian tìm việc, thời gian đào tạo lại của doanh nghiệp vì ở đây đào tạo gắn với

sử dụng, đào tạo theo nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp

Trang 12

3

Từ thực tế hoạt động cho thấy, nhà trường và doanh nghiệp, cả hai, phải cùng liên kết, hợp tác xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo đặc thù của đại học gắn với nền kinh tế thị trường Mô hình liên kết giữa Doanh nghiệp với các trường Đại học đẩy mạnh đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ là một mô hình thiết thực và góp phần nâng cao và phát triển nhân lực khoa học và công nghệ cho các DN Hiện tại, mô hình này đang được ban lãnh đạo Đại học quốc gia Hà Nội khá chú trọng đầu tư Tuy nhiên, vấn đề liên kết giữa nhà trường với DN thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế nhất định: Nội dung và hình thức liên kết còn thiếu phong phú, mức độ liên kết chưa cao, công tác đào tạo chưa thực sự gắn với thực tiễn hoạt động của DN Việc phải đổi mới mô hình và phương thức liên kết đào tạo giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với DN luôn được đặt ra Xuất phát từ thực tế này, tác giả đã

chọn đề tài: “Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

thông qua liên kết với trường Đại học: Nghiên cứu trường hợp Doanh nghiệp Viettel” làm đề tài nghiên cứu

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn:

Ý nghĩa khoa học: Về cơ sở lý thuyết, mô hình liên kết giữa Doanh nghiệp với các trường Đại học trong đào tạo sẽ đẩy mạnh hoạt động R&D của doanh nghiệp Quá trình đào tạo được bổ sung bằng nhiều thực nghiệm, sản xuất thử và hướng đến sản xuất thương mại Đó là cơ sở rõ nhất để khẳng định sự thành công của mô hình liên kết này Thêm vào đó, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực Khoa học và công nghệ của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và đây là lợi thế hàng đầu của doanh nghiệp khi muốn khẳng định, nâng tầm thương hiệu Bởi vì nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển của doanh nghiệp Vì thế hình thành mô hình đào tạo nhân lực gắn với sản xuất và kinh doanh, tạo sự gắn kết trường đại học với doanh nghiệp và các ngành công nghiệp có thể coi

là tất yếu và là định hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và nhà trường

Trang 13

4

Nhận thức tầm quan trọng của nguồn nhân lực này trong doanh nghiệp, Đảng

và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp, phát huy vai trò của nhân lực Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ TW về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ nhân lực Khoa học

và công nghệ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc

tế Sau khi Nghị quyết ra đời, số lượng và quy mô của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tăng rất nhanh Theo số liệu thống kê từ Cơ sở Dữ liệu Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) năm 2016, tính đến hết ngày 20/12/2016 đã có 110.100 doanh nghiệp mới được thành lập Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đã và đang từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế, ký kết và gia nhập các Hiệp định thương mại tự do (FTA- Free Trade Agreement) song phương và đa phương thế hệ mới Đây vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi liên tục phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ, trình độ lao động vào cuộc cạnh tranh chung ngày càng khốc liệt và khó khăn hơn với quy mô ngày càng mở rộng Chưa lúc nào vấn

đề đào tạo nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ trở thành vấn đề cấp thiết

ở nước ta như giai đoạn hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố quyết định là chất lượng nguồn nhân lực Nếu được đào tạo cơ bản về kiến thức, giáo dục thường xuyên về đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động sẽ được duy trì và phát triển Thông qua đào tạo, bồi dưỡng, người lao động hiểu được bản chất công việc, thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ, làm việc có trách nhiệm, gắn bó với doanh nghiệp và dĩ nhiên hiệu suất lao động tăng, thu nhập người lao động ổn định, doanh nghiệp phát triển bền vững Cần phải đổi mới mô hình và phương thức đào tạo nhân lực Khoa học và công nghệ của nhà trường cho doanh nghiệp Xây dựng chu trình khép kín từ đào tạo đến sử dụng nhân lực sau đào tạo: Đào tạo - ứng dụng - kinh

Trang 14

5

doanh; đánh giá được thực trạng và đề xuất hiệu quả các giải pháp đào tạo; phương án mới trong đào tạo, mục tiêu đào tạo; thông qua mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, nhà trường phải nắm giữ vai trò chính trong việc đào tạo, nghiên cứu và sản xuất thử, đảm bảo độ tin cậy cao để doanh nghiệp yên tâm liên kết, đầu tư, hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm, sử dụng nhân lực đầu ra

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Về đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp thông qua mô hình liên kết giữa các trường đại học và doanh nghiệp, đã có các công trình nghiên cứu nổi bật sau:

Năm 2009, cuốn sách “Liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp

trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu” của tác giả Trần Văn Tùng, Trần Anh

được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia ấn hành Các tác giả tập trung vào nghiên cứu ba nội dung chính: Thứ nhất, các quan điểm chính sách về mối liên kết giữa trường đại học với các doanh nghiệp; thứ hai, phân tích các quá trình liên kết giữa các trường đại học tại Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore với doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các mối liên kết hợp tác đó; thứ ba, thực tiễn quá trình hợp tác giữa các trường đại học của Việt Nam với các doanh nghiệp trong đào tạo và nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu ba nội dung chính và phân tích thực tiễn ở Việt Nam, các tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp về liên kết đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

Tiếp đó, cuốn sách “Mô hình đại học doanh nghiệp - Kinh nghiệm

Quốc tế và gợi ý cho Việt Nam”, của hai tác giả Trịnh Ngọc Thạch và Trần

Anh Tài xuất bản năm 2013, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, đã đưa ra các mô hình đại học doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới như

Mỹ (Viện Công nghệ Masachusetts), Singapor (Đại học Quốc gia Singapore), Trung Quốc (Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh) Trên cơ sở phân tích đặc điểm

Trang 15

6

cơ bản mô hình đại học doanh nghiệp và việc dẫn chứng các mô hình đại học doanh nghiệp hiệu quả ở các nước phát triển và trình bày thực trạng phát triển

mô hình đại học doanh nghiệp ở Việt Nam, nhóm tác giả đã đưa ra một số gợi

ý về một mô hình đại học doanh nghiệp hiệu quả ở Việt Nam bao gồm: Thành lập doanh nghiệp, vườn ươm công nghệ, trung tâm công nghệ, văn phòng chuyển giao công nghệ trong các trường đại học và học viện; phát triển thị trường công nghệ và các cơ sở đào tạo là một trong những cá thể hữu cơ của thị trường; liên kết đào tạo với các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường và chính quyền địa phương; đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý của trường đại học

Trong bài viết “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở

Việt Nam hiện nay” của Phùng Xuân Nhạ trên Tạp chí Khoa học Đại học

Quốc gia Hà Nội, Số 25 năm 2009, vấn đề giáo dục ĐH của Việt Nam thiếu gắn kết với doanh nghiệp được chỉ rõ Bài viết làm nổi bật lợi ích liên kết, cơ chế liên kết và điều kiện thành công Ngoài ra tác còn giả nhấn mạnh đến nhận thức và quyết tâm của lãnh đạo, chiến lược phát triển cũng như các chính sách phù hợp

Bài viết “Mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp” của

Nguyễn Minh Phong, đăng trên Kinh tế Sài Gòn online ngày 12/10/2008 đã nêu bật sự cần thiết trong hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp trước hết bắt nguồn từ tầm quan trọng của giáo dục trong việc không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để duy trì và phát triển sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của bản thân mỗi doanh nghiệp, nhà trường Sự hợp tác nói trên sẽ mang lại các lợi ích cho tất cả các bên liên quan Việc tham gia vào quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư phát triển, sẽ giúp doanh nghiệp

có thêm quyền và cơ hội lựa chọn các “sản phẩm” lao động chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu, giảm bớt thời gian và chi phí đào tạo lại Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thêm cơ hội quảng bá hình ảnh của mình với xã hội

Trang 16

7

Về “Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp ở Việt

Nam”, trong bài viết của mình đăng trên Tạp chí Khoa học của Đại học

Quốc gia Hà Nội, số 24 (2008), Trịnh Thị Hoa Mai cho rằng đó là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường đại học luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp Như vậy, các nhà trường đại học luôn có nhu cầu phải được gắn kết với doanh nghiệp Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất Được hợp tác với một cơ sở đào tạo đại học cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp Tuy nhiên các giải pháp nhằm tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay chắc chắn phải liên quan đến cả nhà trường, doanh nghiệp và Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Chuyên san Kinh tế

và kinh doanh, tập 32, số 4 năm 2016, Đinh Văn Toàn đề cập đến “Hợp tác

đại học - doanh nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam” Trong bài

viết của TS Đinh Văn Toàn, đã nói về hợp tác giữa đại học - doanh nghiệp là

xu hướng phổ biến trên thế giới Bài viết có tác động tích cực tới hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển trong đại học, khai thác tối ưu nguồn lực của các bên Song song bên cạnh đó, dựa trên các luận chứng lý thuyết, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực tế một số trường hợp trong nước đã chỉ

ra các hạn chế, nguyên nhân chủ quan từ hai phía, các rào cản từ cơ chế quản

lý và chính sách của Nhà nước

Về giải pháp giúp liên kết đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp

hiệu quả, tác giả Vũ Tiến Dũng có bài viết “Một số giải pháp tăng cường liên

Trang 17

8

kết đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Lý luận

chính trị số 5 năm 2016 Trong bài viết, tác giả trình bày mối quan hệ biện chứng trong quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học Tác giả nêu ví dụ mô hình liên kết đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm Huế, trường đại học đầu tiên trong cả nước thí điểm mô hình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng từ năm 2005, như là một mô hình phát triển hiệu quả Trên cơ sở khảo sát thực trạng, tác giả chỉ ra những tồn tại trong việc vận hành mô hình trên Từ đó, tác giả đưa ra hai nhóm giải pháp từ phía

hệ thống trường đại học và từ phía doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho mô hình liên kết đào tạo giữa các trường đại học và doanh nghiệp có hiệu quả hơn nữa

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng mô hình liên kết đào tạo nhân lực Khoa học và công nghệ giữa doanh nghiệp và đại học trong đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp

Trang 18

9

+ Doanh nghiệp kết hợp với nhà trường thông qua các mô hình liên kết

để đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ (trường hợp Viettel)

5 Mẫu khảo sát

- Khảo sát các cán bộ công nhân viên Tập đoàn Viễn thông Quân đội – Chi nhánh Viettel Hà Nội và các giảng viên trong các trường Đại học (Khoa học Tự nhiên; Công nghệ; ,) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội

- Khảo sát chương trình đào tạo liên kết giữa trường ĐH và Chi nhánh Viettel Hà Nội - Tập đoàn Viễn thông Quân đội (sau đây gọi là Doanh nghiệp Viettel)

6 Câu hỏi nghiên cứu

Liên kết giữa trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp theo mô hình nào ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với đại học trong đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong một doanh nghiệp nói riêng và cho doanh nghiệp chung bao gồm các thành tố:

- Doanh nghiệp: Cơ sở thực tập, thị trường lao động

- Đại học: Nhân lực giáo dục, Nhân lực khoa học, Điều kiện cơ sở vật chất

- Môi trường pháp lý, thể chế

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Nghiên cứu tài liệu: Bao gồm các tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết của Đại học Quốc gia Hà Nội, các tài liệu liên quan đến công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trên các phương tiện thông tin như báo, đài phát thanh, internet ,

- Khảo sát thực tế: Thu thập thông tin về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất

- Xử lí số liệu: Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra

Trang 19

10

9 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm:

- Chương 3: Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và trường đại học trong đào tạo nhân lực KH&CN cho doanh nghiệp

- Kết luận và khuyến nghị

Trang 20

1.1.1 Đào tạo và phát triển Nguồn nhân lực (NNL)

Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là những người lao động trong doanh nghiệp được tổ chức theo những cơ cấu nhất định Với những chức năng nhiệm vụ được phân công, quy định trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp trong từng thời kỳ

Theo Giáo trình quản trị nguồn nhân lực của Học viện Tài chính, “Đào tạo bao gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành” [6, tr 183]

Bên cạnh đó, một số khái niệm khác cho rằng đào tạo và phát triển là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học hỏi kỹ năng mới và thay đổi quan điểm, hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công tác của các

cá nhân” Đào tạo định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc thực tế của cá nhân, nhằm vào những kỹ năng thiếu hụt của người lao động, giúp người lao động có ngay những kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một hoạt động có tổ chức và được điều khiển bởi doanh nghiệp Trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đổi về nhận thức, trình độ, kỹ năng, ý thức của người lao động đối với công việc của họ Công tác đào tạo và phát triển có liên quan đến tổ chức

và cá nhân Nội dung của đào tạo là định hướng cho con người về hành động theo một chuyên môn, một nghiệp vụ nào đó bao gồm:

- Đào tạo kiến thức chuyên môn nghiệp vụ: Là trang bị kiến thức về lý thuyết, kỹ năng về chuyên môn, nghề nghiệp

Trang 21

12

- Đào tạo kiến thức phổ thông: Là đào tạo những kiến thức liên quan đến nghề phổ thông

- Đào tạo nâng cao: Là nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức về lý thuyết,

kỹ năng thực hiện, về nghề nghiệp chuyên môn của người lao động để họ có thể tiếp tục hoàn thành và hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, đáp ứng kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật

- Đào tạo mới: Đào tạo những người chưa tham gia hoặc những người

đã tham gia vào quá trình sản xuất nhưng chưa có nghề; hoặc đào tạo lại cho những người có nghề rồi nhưng nghề đó không phù hợp với quản lý sản xuất, yêu cầu kỹ thuật

1.1.2 Nhân lực Khoa học và công nghệ

Nhân lực khoa học và công nghệ có thể được hiểu theo những cách khác

nhau Theo cuốn Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003 và cuốn “Manual on

the Measurement of Human Resources devoted to S & T” (Cẩm nang về đo

lường nguồn nhân lực KH&CN) của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development), nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:

1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN;

2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào;

3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương

Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng Theo đó, có thể hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia

Trang 22

13

Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu và triển khai hay còn gọi là R&D (Research and Development), để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình

Theo hướng dẫn thống kê R&D của OECD trong Cẩm nang FRASCATI, khái niệm nhân lực R&D bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động R&D hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động R&D Nhân lực R&D được chia thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu nhà khoa học kỹ sư nghiên cứu)

Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng đại học, thạc sĩ

và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới

- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương

Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN Họ tham gia vào nghiên cứu triển khai bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới

sự giám sát của các nhà nghiên cứu

- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp R&D

Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án R&D Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục

vụ công việc R&D của các tổ chức R&D

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đưa ra khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN được hiểu là tổng số nhân lực có trình độ và số nhân lực có trình độ hiện đang công tác

Trang 23

14

Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này như sau:

Về tổng số nhân lực có trình độ, khái niệm này cần phải được xem xét như một đại lượng đo, bởi qua đó có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư, bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không Nói cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một Quốc gia về nhân lực KH&CN Tổng số nhân lực có trình độ chính là chỉ số nhân lực KH&CN

Về số nhân lực có trình độ hiện đang công tác, điều ấy được hiểu là phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc

là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác chính là chỉ số nhân lực R&D

Trên cơ sở này, UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau: Nhân lực trong lĩnh vực KH&CN không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người, mà bên cạnh việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent - FTE) và các đặc trưng của họ

Khuyến nghị của OECD và UNESCO được nhiều quốc gia áp dụng Các nước OECD như Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản , đều chú trọng vào nhân lực R&D theo các tiêu chí cụ thể như: Đếm đầu người (headcount), FTE

Trong khi đó, hệ thống số liệu nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay mới chỉ là phương thức phản ánh “Tổng số nhân lực có trình độ” của một Quốc gia

Hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây:

1 Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học

Trang 24

5 Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Bởi vậy, số lượng cán bộ KH&CN làm việc trực tiếp trong lĩnh vực R&D vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ KH&CN của nước ta Vì thế ta cần phải thúc đẩy phát triển nhân lực khoa học và công nghệ thông qua nhiều hình thức đào tạo

1.1.3 Đào tạo nhân lực KH&CN

Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Quá trình chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động quản lý về kinh tế - xã hội, điều đó đòi hỏi càng ngày phải ứng dụng rộng rãi KH&CN vào hoạt động quản lý của Bộ, ngành, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trong điều kiện mới Tri thức khoa học và các thành tựu công nghệ cùng với việc lựa chọn được các biện pháp xây dựng, quản lý đội ngũ nhân lực KH&CN, trong đó xây dựng và hoàn thiện hệ thống chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học, công nghệ là một mũi nhọn, sẽ tạo lên sức mạnh tổng thể và là nguồn sức mạnh bền vững Đặc biệt hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN, cũng là hoạt động được sự quan tâm nhiều của Đảng, Nhà nước và bản thân Doanh nghiệp

Trang 25

16

Trên cơ sở khái niệm nhân lực KH&CN và khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ta có thể hiểu đào tạo nhân lực KH&CN là hoạt động bồi dưỡng nâng cao kiến thức về lý thuyết, kỹ năng thực hiện, về nghề nghiệp chuyên môn cho đội ngũ nhân lực KH&CN của các chủ thể nhất định, để họ

có thể tiếp tục hoàn thành và hoàn thành tốt hơn công việc của mình hay nhiệm vụ được giao; đáp ứng kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật

1.1.4 Mô hình và mô hình liên kết đào tạo

1.1.4.1 Mô hình

Theo tác giả Trịnh Ngọc Thạch, trong cuốn sách: “Mô hình quản lý đào

tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục đại học Việt Nam” do Nhà

xuất bản Đại học quốc gia ấn hành năm 2012, thì thuật ngữ mô hình được hiểu theo hai nghĩa (nghĩa hẹp và nghĩa rộng) Theo nghĩa hẹp, mô hình là

mẫu khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt; Là thiết bị,

cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa vì mục đích khoa học và sản suất)

Theo nghĩa rộng mô hình là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả, v.v ,) ước

lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hiện tượng)

Khái niệm “Mô hình” được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa

học khác nhau, xét về mặt triết học, mô hình có thể được hiểu là sự hiển thị mối quan hệ giữa tri thức của con người về các khách thể và bản thân các khách thể đó Mô hình không chỉ là phương tiện mà còn là một trong những hình thức của sự nhận thức của tri thức Trong quan hệ với lý thuyết, mô hình không chỉ là công cụ tìm kiếm những khả năng thực hiện lý thuyết mà còn là công cụ để kiểm tra các mối liên hệ, quan hệ, cấu trúc, tính qui luật được diễn đạt trong lý thuyết ấy có tồn tại thực hay không

Ở góc độ thuật ngữ khoa học, mô hình được hiểu là một đối tượng được tạo ra tương tự với đối tượng khác về một số mặt nào đó Nếu ta gọi a là mô

Trang 26

17

hình của A, thì a là cái thể hiện, còn A là cái được thể hiện Giữa cái thể hiện

và cái được thể hiện có một sự phản ánh không đầy đủ

Có thể nhận thấy rõ nhất mô hình là sự mô tả một thực thể, một quá

trình, một quy trình , (gọi chung là đối tượng) bằng một thực thể khác dưới dạng tổng hợp và khái quát bởi những đặc trưng cơ bản, phản ánh đầy đủ các thuộc tính của đối tượng, nhờ đó người ta có thể dễ dàng nhận thức về đối tượng ấy một cách bản chất, toàn diện và đúng đắn

1.1.4.2 Mô hình liên kết đào tạo

Theo Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân, liên kết là "kết,

buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau" hoặc rõ hơn liên kết là "kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng lẽ nhằm mục đích nào đó"

[7, tr 453]

Các khái niệm trên cho thấy liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hay giữa các tổ chức khác nhau Các khái niệm cũng chỉ ra rằng tính mục đích là tiêu điểm, là

cơ sở hình thành sự liên kết Có thể thấy rằng, liên kết sẽ tạo ra sức mạnh mới, trạng thái mới mà mỗi thành phần sẽ không có được khi chưa liên kết với nhau

* Mô hình liên kết đào tạo

Liên kết đào tạo được hiểu là sự hợp tác giữa các bên tham gia để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo với những đối tượng, mục đích, nội dung đào tạo đã được thống nhất khi tiến hành liên kết

Trong thực tế có nhiều dạng thức khác nhau trong thực hiện liên kết đào tạo như liên kết đào tạo giữa nhà trường với nhà trường; liên kết đào tạo giữa nhà trường với các trung tâm, viện nghiên cứu; liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp ,

Mô hình liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là sự hợp tác giữa một bên là nhà trường và một bên là doanh nghiệp để thực hiện các mục đích, chương trình đào tạo đã được hai bên xác lập

Trang 27

18

1.1.5 Mô hình quản lý đào tạo

Cũng theo tác giả TS Trịnh Ngọc Thạch, mô hình quản lý đào tạo

trong các trường đại học được mô tả theo sơ đồ hệ thống điều khiển của Nobert Winer như sau:

Hình 1.1 : Mô hình QLĐT trong trường ĐH theo hệ thống điều khiển

của Nobert Winer

Đầu vào (Input): Chương trình đào tạo, các quy chế, quy định, cơ chế, chính sách thể hiện quan điểm chiến lược của nhà trường, các nguồn lực: Đội ngũ GV, SV, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác

Quá trình (Process): Sự biến đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm đầu ra Đây là đối tượng (Objective) của hệ thống quản lý gồm: Các công đoạn thực hiện quy trình đào tạo theo những phương thức nhất định

Chủ thể quản lý (Subjective): Vai trò của nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, lãnh đạo, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện quy trình đào tạo Chức năng này thuộc về Ban điều hành chương trình đào tạo của trường/khoa (hiện nay, các trường gọi là phòng ban đào tạo)

Đầu ra (Output): Sản phẩm của quá trình SVTN các chương trình đào tạo, các sản phẩm khác: Phương pháp tổ chức, chính sách trong quá trình thực hiện một hay một số chương trình đào tạo và NCKH

Phản hồi (Feedback): Đây là mối liên hệ ngược từ đầu ra quay trở lại đầu vào, cung cấp các thông tin phản hồi từ người sử dụng lao động, từ thị

Trang 28

19

trường lao động, từ cơ quan kiểm định chất lượng, từ yêu cầu của Chính phủ, các tổ chức chính trị, xã hội và của các nhóm lợi ích có liên quan (Stakeholders) để điều chỉnh các nguồn lực đầu vào, nội dung, phương pháp, quy trình đào tạo

Môi trường (Environment): Là yếu tố bên ngoài hệ thống, tác động ảnh hưởng vào tất cả các yếu tố bên trong hệ thống, tạo ra tính ổn định, cân bằng của hệ thống, thúc đẩy phát triển hoặc kìm hãm quá trình hoạt động nhằm đạt mục tiêu đào tạo Môi trường của hệ thống bao gồm: Các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, luật pháp, văn hoá nhà trường, dư luận, thái độ, tình cảm , của các tầng lớp xã hội, mà trực tiếp nhất là lợi ích các nhóm lợi ích có liên quan

1.2 Vị trí, vai trò của trường đại học trong đào tạo và phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ

1.2.1 Vị trí

- Đào tạo và quản lý sinh viên bậc đại học, sau đại học đồng thời triển khai các công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, bồi dưỡng nhân tài; tạo ra tri thức, sản phẩm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế

- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, có đạo đức; có kiến thức,

kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng KH&CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo

và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc, có ý thức phục vụ nhân dân

Trang 29

20

- Thể hiện vai trò chính về điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất, từ đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển giáo dục đào tạo

- Giữ vai trò đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích công về giáo dục đại học Lợi ích này lan tỏa ra toàn xã hội, đảm bảo tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận với giáo dục đại học

- Là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển giáo dục đại học của quốc gia, của chính quyền các cấp Có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, NCKH và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

- Định hướng cho hoạt động và sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học Quốc gia Phát triển các chương trình đào tạo bằng cách bổ sung, hoàn thiện các chương trình đã có sẵn, xây dựng các chương trình đào tạo mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội; định hướng cho nghiên cứu khoa học thông qua việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, duy trì các hướng nghiên cứu cơ bản, triển khai các hướng nghiên cứu mới

1.3 Mối quan hệ giữa trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN cho doanh nghiệp

- Quan hệ hợp tác giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp là quá trình tương hỗ mật thiết với nhau vì lợi ích của cả hai phía và lợi ích chung của toàn xã hội Từ kết quả này, nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo, cho ra những “sản phẩm” được trải nghiệm với hoạt động thực tiễn, tiếp cận nhanh và gắn bó chặt chẽ với thị trường lao động Về phía doanh nghiệp, trước mắt là thời cơ nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường, về lâu dài thì quan hệ hợp tác này là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp vươn lên tầm cao trong quá trình phát triển Và như thế, cả nhà trường và doanh nghiệp (DN) đều góp sức mình cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,

Trang 30

sự kỳ vọng ở các trường, các mô hình đào tạo, liên kết Với tư cách là đơn vị cung cấp nguồn nhân lực, trường đại học cũng luôn phải cạnh tranh về chất lượng sản phẩm Sự hợp tác giữa trường đại học với DN bởi vậy là tất yếu khách quan, nó diễn ra theo quy luật cung - cầu

- Trong thực tế, mối quan hệ hợp tác này có thể diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:

+ Sự hợp tác giữa trường ĐH với DN trong việc triển khai xây dựng mục tiêu và nội dung đào tạo theo quy chế của Bộ GD–ĐT Mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phải xét đến tính đặc thù của DN là nơi sẽ tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp, sử dụng con người sau đào tạo;

+ Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khóa cho học sinh;

+ Đánh giá chất lượng đào tạo;

+ DN đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo như: Kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia, thợ bậc cao, v.v ,

+ Hợp tác trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng lao động qua việc hoạch định chiến lược phát triển của trường ĐH với DN để từ đó xác định nhu cầu đào tạo về số lượng, cơ cấu ngành nghề, hình thức đào tạo (đào tạo mới, đào tạo lại…,)

- Để mối quan hệ hợp tác giữa trường ĐH với DN được tốt cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

+ Sự hợp tác phải đảm bảo mục tiêu đào tạo đề ra, không làm ảnh hưởng đến quy trình đào tạo của nhà trường cũng như tiến độ sản xuất của DN, mà trái

Trang 31

22

lại nó góp phần vào sự phát triển của hai đơn vị, có lợi cho cả hai đơn vị

+ Sự hợp tác phải đảm bảo tính giáo dục, nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho người học, không quá thiên về lợi ích kinh tế mà quên đi tính giáo dục

+ Sự hợp tác phải đảm bảo yếu tố vừa sức với giáo viên và học sinh trong quá trình đào tạo Đó là sự vừa sức về trình độ nhận thức công nghệ, về sức khỏe, v.v ,

- Những điều kiện đảm bảo mối quan hệ hợp tác giữa trường ĐH với DN: + Điều kiện về mặt pháp lý: Phải quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học với

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về liên kết giữa trường đại học với doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực KH&CN

1.4.1 Kinh nghiệm Hoa Kỳ (trường hợp MIT)

Viện Công nghệ Massachusetts (tiếng Anh: Massachusetts Institute of Technology - MIT) là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ MIT nổi tiếng nhờ hoạt động nghiên cứu và giáo dục trong các ngành khoa học vật lý, kỹ thuật, cũng như trong các ngành sinh học, kinh tế học, ngôn ngữ học, và quản lý Trọng tâm giảng dạy ở MIT là nhấn mạnh đến việc giảng dạy trong phòng thí nghiệm, hướng đến các ngành công nghệ ứng dụng ở bậc đại học và sau đại học việc này Điều đó giúp MIT thiết lập sự hợp tác gần gũi với các công ty công nghiệp MIT giảng dạy đa ngành nghề với nhiều khoa học thuật khác nhau,

Trang 32

23

nhấn mạnh đến nghiên cứu và giáo dục trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật

và công nghệ Hoạt động nghiên cứu đã đóng góp nhiều nhất vào sự gia tăng nhanh chóng số lượng giảng viên và sự phát triển của MIT

Từ việc tìm hiểu MIT, có thể nhận thấy ở Mỹ, đầu tư của Chính phủ

Mỹ cho KH&CN cao hơn tổng đầu tư tương tự ở các chính phủ các nước Châu Âu và Nhật Bản cộng lại Trong khi đó, đầu tư cho KH-CN của các công ty Mỹ còn cao hơn gấp 3 lần giá trị đầu tư của Chính phủ Riêng năm

2013, Chính phủ Mỹ đầu tư 112 tỷ USD cho nghiên cứu KH-CN (trong đó Bộ Quốc phòng chiếm 50%) với mục tiêu sáng chế ra những sản phẩm của tương lai, kiểm soát những ngành thông tin liên lạc, công nghệ cao Hiện nay, rất nhiều các công trình nghiên cứu KH&CN trên thế giới được công bố hàng năm đều mang thương hiệu Mỹ Gần một nửa số lượng Giáo sư, nhà khoa học giảng dạy tại các trường đại học Mỹ là mang quốc tịch nước ngoài Đặc biệt, ngân sách khoa học Liên bang sẵn sàng tài trợ cho cả các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu tư nhân thông qua hợp đồng nghiên cứu Bất kỳ một nhà khoa học nào cũng có quyền nộp đơn xin tài trợ cho những dự án nghiên cứu do mình đề xuất Việc tuyển chọn dự án để tài trợ sẽ được tiến hành, nếu

có từ 2 dự án đăng ký trở lên và mức độ giải ngân sẽ được gia tăng tỷ lệ thuận với kết quả nghiên cứu thu được trên thực tiễn

Chủ trương của Chính phủ Mỹ là tạo điều kiện cho mọi công dân Mỹ đều có thể tiếp cận với nền giáo dục và đào tạo mà họ cần Bộ Lao động Mỹ cũng tích cực hỗ trợ trong việc huấn luyện kỹ thuật, nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động , nhà nước hỗ trợ đầu tư cho những công nghệ có thể tăng hiệu quả đào tạo ở các trường chính thống, đào tạo trong công nghiệp và tại nhà; tăng thêm đầu tư của Nhà nước cho các soạn thảo chương trình nhằm trang bị những kỹ năng cần thiết về toán, khoa học và kỹ thuật trong các trường phổ thông, Đại học, sau Đại học và dạy nghề; thúc đẩy chuyển giao kinh nghiệm đào tạo trong các trường quốc phòng sang các trường dân sự

Trang 33

24

1.4.2 Kinh nghiệp Singapore (trường hợp NUS)

Đối với Singapore, trường hợp Đại học quốc gia Singapore (National University of Singapore- NUS) là một ví dụ điển hình Trường đại học này được thành lập vào năm 1905, nằm ở tây nam Singapore Được đánh giá là một trong những trường hàng đầu Châu Á NUS bắt đầu nỗ lực giáo dục kinh doanh của mình trong năm 1980 và bây giờ trở thành người bạn đồng hành lớn nhất cùng với các doanh nghiệp về cung cấp nguồn nhân lực Các hoạt động được tổ chức thành 4 khu vực, bao gồm cả một Vườn ươm doanh nghiệp, giáo dục thực nghiệm, phát triển doanh nghiệp và nghiên cứu kinh doanh

Là đại diện lớn nhất của Singapore về giáo dục và là trường đại học kết hợp hiệu quả các chương trình giáo dục của hai hệ thống đào tạo Anh và Mỹ Hiện tại, NUS có truyền thống hợp tác rất mạnh mẽ với các doanh nghiệp Học viên, sinh viên trường này tìm kiếm việc làm dễ dàng trong khu vực và trong cả nước Qua các hoạt động như tổ chức thực tập, hợp tác nghiên cứu, cấp phép công nghệ, bổ nhiệm phụ tá và sự tham gia của các doanh nghiệp trong những hội đồng tư vấn của các khoa đã xây dựng được văn hóa tương tác giữa trường Đại học với doanh nghiệp

Sự phát triển và mở rộng quan hệ Nhà trường – Doanh nghiệp trong những năm gần đây là kết quả của những nỗ lực trong chính sách công với những mục tiêu rõ ràng và được cân nhắc kỹ lưỡng Những lĩnh vực được tập trung nhiều như xác định cương vị pháp lý của nhà trường và các giáo sư, giảm nhẹ hoặc hủy bỏ những quy định hạn chế giáo viên làm việc với các Doanh nghiệp, giải quyết vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, tạo ra những cơ chế tài trợ, và bảo đảm nguồn ngân sách cho R&D ở trường Đại học

Theo một nghiên cứu do OECD và WB thực hiện, Singapore xếp hàng đầu về bảo vệ quyền SHTT và hợp tác nghiên cứu giữa Nhà trường và Doanh nghiệp Văn phòng SHTT của Singapore (IPOS), trực thuộc Bộ Tư pháp, đem

Trang 34

Singapore ưu tiên cao cho việc bảo đảm nguồn ngân quỹ tương xứng cho các hoạt động của trường ĐH và Viện nghiên cứu Những hoạt động nghiên cứu này tạo ra một khối lượng lớn tri thức và phát minh, một nguồn lực lớn gắn với mục đích hợp tác giữa NT và DN Hơn nữa, có một số hình thức tài trợ, hỗ trợ về thiết bị ban đầu, công viên khoa học, và các khoản vay lãi suất thấp dưới giá thị trường, hỗ trợ thương mại hóa, khởi sự, phát triển

DN, đầu tư, khích lệ bằng thuế, và kinh doanh mạo hiểm

Nhìn chung, các DN nhỏ và vừa có xu hướng bị loại trong những chương trình R&D của quốc gia, vì khả năng chuyên môn về kỹ thuật công nghệ của họ khá giới hạn Nhưng họ có nhu cầu trực tiếp được sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài Những hỗ trợ ấy là từ các đối tác bên ngoài như các trung tâm nghiên cứu, các viện nghiên cứu của trường ĐH Nhu cầu của họ không phải lúc nào cũng là những lĩnh vực công nghệ tiên tiến nhất mà thường là ở

mức thông thường và thực tế “Singapore, hỗ trợ tài chính về việc nộp hồ sơ

xin cấp bằng sáng chế và nâng cấp năng lực kỹ thuật được hầu hết các DN nhỏ và vừa này tận dụng Những động lực trong việc hợp tác giữa NT và DN

Trang 35

26

ở Singapore đã làm tăng áp lực đối với các trường đại học và viện nghiên cứu khiến họ thay đổi ưu tiên theo hướng bảo vệ quyền SHTT với các bằng sáng chế Cho dù lợi ích thương mại hóa không phải lúc nào cũng là mục đích của các trường đại học và viện nghiên cứu, xin cấp bằng sáng chế, quản

lý quyền SHTT là vấn đề trọng tâm trong việc nâng cao quan hệ đối tác giữa nhà trường và DN Là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),

và cụ thể là bộ phận Thương mại Liên quan đến quyền SHTT, Singapore có một hệ thống được xác định rất tốt nhằm bảo vệ giá trị kinh tế của các sáng kiến đổi mới, và có những chính sách rất rõ ràng nhằm quản lý SHTT Singapore, quyền sở hữu và việc phân chia lợi tức thu được từ công nghệ ấy được xử lý như hai vấn đề khác nhau Singapore, NUS chia lợi tức (đến tối đa 15% tổng thu) như sau: 50% cho nhà đầu tư, 30% cho khoa và 20% cho trường Mặt khác, ở NUS, lợi tức được chia với 75% dành cho nhà sáng chế

và nhà trường bằng nhau tính đến 500.000 SD đầu tiên, phần vượt hơn nếu có

sẽ được chia với tỉ lệ thấp hơn dành cho nhà sáng chế” [12, tr 72]

Các trường ĐH Singapore đã có một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sự tiến triển của nền kinh tế dựa trên sáng tạo đổi mới Một nhân tố trọng yếu đã góp phần to lớn cho điều đó là những nỗ lực tích cực mà các đơn vị chuyển giao công nghệ của họ đã thực hiện nhằm xây dựng và thúc đẩy quan

hệ hợp tác mạnh mẽ giữa NT và DN

1.4.3 Kinh nghiệm Trung Quốc (trường hợp ĐH Thanh Hoa, ĐH Phúc Đán)

Đại học Thanh Hoa (tên giao dịch: Tsinghua University - THU) là một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Bắc Kinh, Trung Quốc Trường này được xem là một trong những trường đại học danh tiếng nhất ở Trung Quốc Trường được thành lập năm 1911 Là trường khoa học và công nghệ tốt nhất Trung Quốc, có đến 41 viện nghiên cứu, 35 trung tâm nghiên cứu, 167 phòng thí nghiệm bao gồm 15 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia Đẩy mạnh

Trang 36

- Xây dựng công viên khoa học Hiện nay, ở Trung Quốc có 3 khu công nghệ cao ở Quảng Đông, Bắc Kinh và Thượng Hải

- Lập vườn ươm công nghệ để tạo thuận lợi về môi trường thể chế, nhà cửa, dịch vụ hạ tầng và ưu đãi thuế hỗ trợ cho các công ty trong thời kỳ đầu khởi nghiệp

- Thành lập các công ty chuyển giao công nghệ để môi giới bán các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng DN

* Điều dễ nhận thấy nhất ở hai trường đại học là về số lượng viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm đều rất lớn Qua đó có thể nhận thấy tập chung cho hoạt động nghiên cứu và thí nghiệm hiện được xem như chủ đạo trong hệ thống đào tạo và quốc sách của Trung Quốc

* Trung Quốc khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư với vốn góp từ 3 nguồn: 10% từ các trường đại học; 30% từ các nhà nghiên cứu/nhà giáo

(trong đó 2/3 đóng góp bằng tri thức công nghệ và 1/3 từ đóng góp đầu tư

của các cá nhân); 60% từ ngân sách nhà nước và tài trợ của các công ty Cho

đến nay, để tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản, Trung Quốc đã có Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia với số vốn hơn 600 triệu nhân dân tệ Ngoài ra, còn có hơn 50 Quỹ khoa học khác với tổng số vốn hơn 250 triệu nhân dân tệ, do các

Bộ và chính quyền địa phương thành lập

Trang 37

28

Kinh nghiệm quan trọng trong việc tổ chức và thúc đẩy hợp tác khoa học và công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp, cũng như phát triển thị trường công nghệ ở Trung Quốc là việc thành lập các trung tâm chuyên phục vụ trao đổi, chuyển giao công nghệ, tạo ra một môi trường thông thoáng cho các DN có thể tìm được những dự án phù hợp để đầu tư Các viện, trường ĐH có thể tìm được nhiều nguồn tài chính hơn cho công việc nghiên cứu của họ

Trang 38

29

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, những khái niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực khoa học & công nghệ đã được tác giả trình bày Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về mô hình liên kết đào tạo và vai trò của hệ thống trường đại học trong việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học và công nghệ Thêm vào đó, tác giả cũng phân tích kỹ lưỡng mối liên hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp

Đó là mối quan hệ biện chứng giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra điều kiện cần thiết về tổ chức và pháp lý nhằm đảm bảo mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp hiệu quả Cùng với đó, tác giả cũng đưa ra một số mô hình liên kết đào tạo hiệu quả từ những nước phát triển như Mỹ với Học viện Công nghệ Masachusette, Singapore với Đại học quốc gia Singapore, Trung Quốc là mô hình đại học Thanh Hoa và Đại học Phúc Đán như là kinh nghiệm trong việc tổ chức mô hình liên kết đào tạo Tựu trung, mô hình đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của các cơ

sở này đều là mô hình liên kết đào tạo với doanh nghiệp, gắn thực tế với chương trình đào tạo, tăng thời lượng kỹ năng thực hành áp dụng lý thuyết với lý thuyết, đảm bảo nguồn nhân lực đầu ra đáp ứng đòi hỏi thực tế công việc của ngành khoa học và công nghệ Tóm lại, toàn bộ các khái niệm lý thuyết, phân tích các vấn đề liên quan và việc dẫn chứng thực tế về những cơ

sở đào tạo có mô hình liên kết giữa đại học và doanh nghiệp là minh chứng cho thấy sự đúng đắn của vấn đề liên kết đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ giữa đại học và doanh nghiệp và giải quyết điểm mấu chốt trong việc gắn kết giữa đào tạo, giảng dạy với thực tế đòi hỏi, nhu cầu của doanh nghiệp, xã hội

Trang 39

30

Chương 2:

THỰC TRẠNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CHO DOANH NGHIỆP GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP DOANH NGHIỆP VIETTEL

VÀ ĐHQGHN 2.1 Giới thiệu khái quát

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Viettel Hà Nội - Tập đoàn Viễn thông Quân đội

2.1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành Viettel

Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng, chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt của Quân ủy Trung ương; thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt do Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao và sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp quân đội kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin Lịch sử hình thành và phát triển của Viettel cơ bản được thể hiện qua các mốc sau:

- Ngày 1/6/1989, thành lập Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin, trực thuộc Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc Là tiền thân của Tập đoàn Viễn thông Quân đội

- Năm 1995, Viettel trở thành Doanh nghiệp đầu tiên được cấp giấy phép kinh doanh đầy đủ các dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam

- Năm 1999, hoàn thành đường trục cáp quang Bắc – Nam với hơn 2.000 km có dung lượng 2.5Mbps và có công nghệ cao nhất Việt Nam Cũng

là năm thành lập Trung tâm Bưu chính Viettel

- Năm 2000, chính thức tham gia thị trường Viễn thông phá thế độc quyền của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT - Vietnam Posts and Telecommunications Group) Doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam cung

Trang 40

31

cấp dịch vụ thoại sử dụng công nghệ IP (VoIP – Voice Over Internet Protocol) trên toàn quốc Lắp đặt thành công cột phát sóng của Đài Truyền hình Quốc gia Lào, cao 140m

- Năm 2001, cung cấp dịch vụ VoIP quốc tế

- Năm 2002, cung cấp dịch vụ truy nhập Internet

- Năm 2003, đổi tên thành Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc Cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN - Public Switched Telephone Network) đường dài tại Hà Nội và Hồ Chí Minh Khởi công xây dựng tuyến cáp quang Quân sự Bắc Nam 1B và bắt đầu lắp đặt mạng lưới điện thoại di động

- Năm 2004, cung cấp dịch vụ điện thoại di động và cổng cáp quang Quốc tế Thành lập Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng

- Năm 2006, bắt đầu đầu tư nước ngoài; tại 2 thị trường là Lào và Campuchia

- Năm 2007, thành lập Công ty Công nghệ Viettel (nay là Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel) Hội tụ đủ, hoàn thiện 3 dịch vụ: Điện thoại cố định – Internet – Di động

- Năm 2008, nằm trong 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới;

số 1 tại Campuchia về hạ tầng viễn thông; lọt vào top 100 thương hiệu uy tín nhất thế giới (Intangible Business and Informa Telecoms 2008)

- Năm 2010, Tổng Công ty chuyển đổi tên thành Tập đoàn Viễn thông Quân đội (VTQĐ), trực thuộc Bộ Quốc phòng

- Năm 2011, vận hành chính thức dây chuyền sản xuất thiết bị viễn thông hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á

- Năm 2013, đầu tư nước ngoài lên đến 9 thị trường trên 3 châu lục (Á, Phi và Mỹ Latinh) Doanh thu đầu tư nước ngoài cán mốc 1 tỷ USD

Ngày đăng: 15/03/2021, 14:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm