1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân

147 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở quan hệ với người lao động Bảng 3.5.. Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở quan hệ với người tiêu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA DOANH NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA DOANH NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Mã số: 603180

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS LÊ THỊ MINH LOAN

HÀ NỘI 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Nguyễn Thị Minh Phương hiện đang công tác tại Trường ĐH Y Thái Bình Tôi xin cam đoan bài Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Minh Loan Luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Tâm lý học”

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành, tôi trân trọng cảm ơn toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo đã dìu dắt, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Minh Loan- người đã gợi mở, chỉ bảo cho tôi rất tận tình và chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Qua đây, tôi muốn gửi lời tri ân đến các Thầy, Cô Trường ĐH Y Thái Bình- nơi tôi công tác, đặc biệt là các thầy, cô trong Khoa Y tế công cộng, Bộ môn Tâm lý và đạo đức y tế đã hết sức tạo điều kiện và giúp đỡ tôi điều tra thực

tế và hoàn thành đề tài

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Bình, Hội nhà báo, Sở LĐ-TB &XH tỉnh Thái Bình cùng các cơ quan ban ngành

có liên quan

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các doanh nghiệp may mặc, gốm sứ

và cơ sở sản xuất hàng thủ công truyền thống ở Thái Bình – những người đã trực tiếp giúp đỡ tôi từ khâu thu thập tài liệu đến khi có kết quả nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả của những tác phẩm tôi đã tham khảo và trích dẫn trong quá trình làm Luận văn

Cuối cùng, cho tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và toàn thể bạn bè của mình, những người luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2011

Nguyễn Thị Minh Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Khách thể nghiên cứu 2

6 Giả thuyết nghiên cứu 3

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu đạo đức và đạo đức trong kinh doanh 5

1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Khái niệm đạo đức 11

1.2.2 Khái niệm hoạt động kinh doanh và doanh nhân 17

1.2.3 Khái niệm đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 24

1.3 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 25

1.3.1 Một số nguyên tắc đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 25

1.3.2 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở phạm vi cá nhân 31

1.3.3 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở phạm vi liên nhân cách 31

1.3.4 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở phạm vi xã hội 33

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 34

1.4.1 Yếu tố chủ quan 34

1.4.2 Yếu tố khách quan 34

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 37

2.2 Tổ chức nghiên cứu 39

2.2.1 Các giai đoạn tổ chức nghiên cứu 39

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Thực trạng đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 44

3.1.1 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở phạm vi cá nhân 44

Trang 6

3.1.2 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở phạm vi liên nhân cách 55

3.1.3 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở phạm vi xã hội 77

3.2 Nhận xét chung về đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 90

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân 94

3.3.2 Yếu tố khách quan 97

3.4 Chân dung một số doanh nhân tiêu biểu 101

3.4.1 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở mức tốt 101

3.4.2 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở mức khá tốt 102

3.4.3 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở mức chưa tốt 103

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC

Trang 7

MTTN Môi trường tự nhiên NN&PL Nhà nước và pháp luật

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Cơ cấu doanh nhân trong điều tra nghiên cứu

Bảng 2.2 Cơ cấu công nhân trong điều tra nghiên cứu

Bảng 3.1 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

Bảng 3.4 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với người lao động

Bảng 3.5 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với người tiêu dùng

Bảng 3.6 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với đối tác

Bảng 3.7 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với đối thủ cạnh tranh

Bảng 3.8 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở

phạm vi liên nhân cách (%)

Bảng 3.9 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với môi trường tự nhiên

Bảng 3.10 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

việc tuân thủ quy định của Nhà nước và pháp luật

Bảng 3.11 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân thể hiện ở

quan hệ với địa phương

Bảng 3.12 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ở phạm vi xã hội (%) Bảng 3.13 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân ( %)

Bảng 3.14 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân theo

trình độ học vấn

Biểu đồ 3.1 Tổng hợp đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân

Biểu đồ 3.2 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân theo giới tính

Trang 9

Biểu đồ 3.3 Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân theo

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội Đại biểu toàn quốc (ĐHĐBTQ) lần thứ X năm 2006 khẳng định vị trí, vai trò của doanh nhân Việt Nam trong nền kinh tế đất nước Đó là phát triển sản xuất, mở rộng, thu hút sự đầu tư, tạo ra viêc làm và nâng cao thương hiệu Việt

Nam: “Đối với doanh nhân, tạo điều kiện phát huy tiềm năng và vai trò tích cực trong phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng đầu tư trong nước và nước ngoài, giải quyết việc làm cho NLĐ; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn

thương hiệu hàng hóa Việt Nam” (ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ, tr 119) [43]

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm

2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đạt 1,98 triệu tỷ đồng Con số này tương đương khoảng 104,6 tỷ USD (tính theo tỷ giá liên ngân hàng ngày 28/12/2010), nhiều hơn so với năm 2009 khoảng 13 tỷ USD Để có được những thành quả đó, bên cạnh sự nỗ lực của nhiều thành phần kinh tế khác nhau thì còn có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ doanh nhân Song song với việc đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, đội ngũ doanh nhân còn quan tâm đến việc xây dựng trường học dành cho trẻ em nghèo, thành lập quỹ khuyến học giúp đỡ trẻ em nghèo vượt khó, ủng

hộ việc xây dựng công trình phúc lợi xã hội DN ngày càng tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến trách nhiệm đối với NLĐ và đối với người tiêu dùng

Mặc dù có những đóng góp không nhỏ như đã nói ở trên thì trong thời gian gần đây đã xuất hiện khá nhiều vấn đề có liên quan đến đạo đức (ĐĐ) trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) của các doanh nhân Công ty Vedan xả nước thải ra dòng sông Thị Vải; sản phẩm của Công ty cổ phần sữa Hà Nội bị nhiễm Milamine ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng; sự cố trong sản phẩm nước tương có chất MCDP của chin-su vượt quá ngưỡng cho phép Hậu quả của việc không tuân thủ các quy định trong sản xuất kinh doanh ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên như: ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí…;

vì sức khỏe của người tiêu dùng, vì lợi nhuận kinh doanh, doanh nhân không quan tâm đến quyền lợi của NLĐ, xem nhẹ vấn đề an toàn trong sản xuất; không

ít doanh nhân lợi dụng kẽ hở của pháp luật để lách luật hoặc có những hành vi hối lộ; nhiều doanh nhân kinh doanh rất phát triển nhưng không quan tâm đến việc

Trang 11

tham gia các hoạt động trợ giúp xã hội hoặc tham gia nhưng cảm thấy không thoải mái… Đó là tiếng chuông cảnh báo cho các doanh nhân Việt Nam về thực trạng ĐĐ trong HĐKD của họ

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân”, nhằm làm rõ thực trạng và một số yếu tố ảnh

hưởng đến ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và phân tích yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân Trên cơ sở đó chúng tôi đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao

ĐĐ trong HĐKD của họ

3 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện phẩm chất ĐĐ thông qua nhận thức, hành vi và thái độ trong HĐKD của doanh nhân ở một số lĩnh vực: may mặc, gốm sứ và một số làng nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) ở Thái Bình

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận của đề tài như: khái niệm ĐĐ, khái niệm doanh nhân, khái niệm ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân

- Điều tra thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐ trong HĐKD của các doanh nhân ở DN may mặc, cơ sở sản xuất gốm sứ và các làng nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) tại Thái Bình

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân ở DN may mặc, cơ sở sản xuất gốm sứ và một số làng nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) tại Thái Bình

5 Khách thể nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành khảo sát điều tra 360 khách thể thuộc DN may mặc,

cơ sở sản xuất gốm sứ và một số làng nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) tại Thái Bình

60 chủ cơ sở sản xuất tại các DN may mặc;

60 chủ cơ sở sản xuất tại các DN sản xuất gốm sứ;

60 chủ cơ sở sản xuất nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan)

180 phiếu dành cho NLĐ ở 3 nhóm đối tượng trên

36 phiếu phỏng vấn sâu doanh nhân tại các cơ sở sản xuất kinh doanh trên

Trang 12

30 phiếu phỏng vấn sâu NLĐ tại các cơ sở sản xuất kinh doanh trên

6 Giả thuyết nghiên cứu

ĐĐ trong HĐKD của phần lớn doanh nhân ở các DN may mặc, cơ sở sản xuất gốm sứ và một số làng nghề truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) tại Thái Bình ở mức độ khá tốt

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này, trong đó yếu tố chủ quan cơ bản là: động cơ thúc đẩy kinh doanh (mong muốn khẳng định uy tín của bản thân

và DN, tham gia các hoạt động trợ giúp xã hội), sự hiểu biết về ĐĐKD của cá nhân… và yếu tố khách quan cơ bản là: cơ chế chính sách và quy định của pháp luật, lợi nhuận, đối thủ cạnh tranh, sự hiểu biết của NLĐ và người tiêu dùng…

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân ở một

số cơ sở kinh doanh may mặc, cơ sở sản xuất gốm sứ và một số làng nghề

truyền thống (dệt đũi, chạm bạc và mây tre đan) tại Thái Bình

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Chúng tôi đã tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước để xây dựng cơ

sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân qua khảo sát ở một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại Thái Bình

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn, chi tiết hơn thực trạng ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân qua khảo sát ở một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại Thái Bình Làm sáng

tỏ những vấn đề mà phương pháp điều tra bằng bảng hỏi chưa đáp ứng được

8.3 Phương pháp quan sát

Nghiên cứu ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân cần tiến hành quan sát các

cử chỉ, biểu hiện lời nói và việc làm, thái độ của doanh nhân trong quá trình giao tiếp với chính bản thân mình, người khác và với xã hội

8.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Là phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu đề tài, qua đó thu thập những ý kiến chủ quan của doanh nhân và ý kiến của người lao động về ĐĐ của doanh

Trang 13

nhân biểu hiện thông qua mối quan hệ với chính doanh nhân, với người khác và với xã hội Từ đó đưa ra kết quả định lượng nhằm rút ra kết luận về thực trạng

ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân qua khảo sát ở một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại Thái Bình và một số yếu tố ảnh hưởng

8.5 Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý những kết quả thu thập được từ điều tra bằng bảng hỏi và đưa ra kết quả cuối cùng cho thực trạng ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân qua khảo sát ở một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại Thái Bình và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu đạo đức và đạo đức trong kinh doanh

1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong tác phẩm “Politics” (ra đời vào khoảng năm 300 TCN), Aristotle đã

chỉ rõ những mối liên hệ thương mại khi bàn về quản lý gia đình [2, 30] Ông đã

đặt ra những câu hỏi mang tính ĐĐ trong hoạt động quản lý kinh doanh: “Tôi muốn người ta đối xử với tôi như thế nào khi tôi là thành viên của cơ quan?”,

“Những tiền đề tiềm năng nào có được để phát triển các tài năng và cả tiềm năng của các thành viên trong cơ quan?”, “Tôi có nhận nhiều hơn công sức đóng góp của mình vào quỹ chung hay không?”, “Liệu hệ thống phân chia lợi nhuận có ảnh hưởng như thế nào tới không khí ĐĐ chung của cơ quan?”, “Các nhân viên sẽ nhận được tiền thưởng chiếm bao nhiêu phần trăm số lợi nhuận thu được nhờ áp dụng các sáng kiến và ý tưởng cho họ?” Aristotle đã nêu ý tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện để tất cả cán bộ dưới quyền mình có dịp thể hiện được mọi năng lực ở mức cao nhất Ông đưa ra nhiều phán xét về sự tham lam và việc lạm dụng quá đáng sức lực con người để theo đuổi sự giàu có Ông cũng chỉ trích việc cho vay nặng lãi vì nó liên quan đến lợi nhuận của bản thân tiền tệ hơn là từ quá trình trao đổi mà trong đó đồng tiền chỉ là sự trao đổi Theo Giáo sư James O’Toole của trường Đại Học Tổng hợp Nam Califonia: chính triết gia thời Hy Lạp cổ đại này là người thực tế nhất và có “tâm hồn doanh nhân” nhất trong lịch sử triết học của loài người

Các nhà tư tưởng thời cổ ở Hy Lạp có cái nhìn không mấy thiện cảm đối với hoạt động buôn bán thương mại Platon và Aristotele đều cho rằng kinh doanh buôn bán là một loại hoạt động phi ĐĐ bởi vì đây là những hoạt động vụ lợi Hình ảnh của thương nhân đối với các vị hiền triết này là tiêu cực Từ ngữ Hy Lạp gọi những người bán lẻ là Kapelas, đồng nghĩa với người gian lận Những suy nghĩ này làm cho khía cạnh ĐĐ - kinh doanh bị tách rời hoàn toàn và vẫn tồn tại cho tới ngày nay ở nơi này nơi khác, lúc này lúc khác

Trong tác phẩm “Nghiên cứu tính chất và nguyên nhân sự giàu có của các

quốc gia” xuất bản năm 1776 [45], Adam Smith cho rằng: con người ai cũng vị

kỷ, người nào cũng quan tâm tới lợi ích của mình và ra sức chạy theo nó, xã hội

Trang 15

là do nhiều cá nhân hợp thành, vì thế lợi ích của xã hội là tổng hòa lợi ích của các cá nhân Theo ông, các cá nhân trong xã hội đều có tự do kinh tế đầy đủ, tức

là họ có thể dùng vốn và lao động của mình để tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh Ông đề cập đến những nguyên nhân thúc đẩy và cản trở sự tăng trưởng của cải; lợi nhuận là yếu tố quyết định sự thành công trong kinh doanh; sản phẩm làm ra phải được bán cao hơn nhiều lần giá trị thực của nó

Norman Bowie - nhà nghiên cứu ĐĐKD nổi tiếng, là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Đạo đức kinh doanh” trong một Hội nghị Khoa học vào năm 1974

[40, 55] Tại Hội nghị, ông đã chỉ ra những mâu thuẫn giữa ĐĐ và kinh doanh

Một mặt, xã hội luôn mong muốn các công ty tạo ra nhiều việc làm lương cao, nhưng mặt khác, những công ty này lại mong muốn giảm bớt chi phí và nâng cao năng suất lao động Người tiêu dùng luôn mong muốn mua hàng với giá thấp nhất còn các cơ sở thương mại lại muốn có lãi suất cao nhất Xã hội mong muốn giảm ô nhiễm môi trường, còn các công ty lại muốn giảm tối đa chi phí phát sinh khi tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của họ

Từ đó đã nảy sinh xung đột không thể tránh khỏi trong quan niệm về ĐĐ trong HĐKD, do khác biệt về lợi ích của công ty, lợi ích của NLĐ, người tiêu dùng và toàn thể xã hội Vì tất cả những điều đối lập nói trên là tất yếu nên các nhà quản

lý buộc phải làm sao để cân bằng lợi ích của công ty với lợi ích của các cổ đông (shareholders) và những người có quyền lợi liên quan (stakeholders), bao gồm nhân viên, khách hàng và toàn thể cộng đồng Kể từ đó, ĐĐ trong HĐKD đã trở thành một chủ đề phổ biến trong các cuộc tranh luận của các lãnh đạo trong giới kinh doanh, NLĐ, các cổ đông, người tiêu dùng cũng như các giáo sư đại học ở

Mỹ, và từ đó lan ra toàn thế giới

Những năm 80, ĐĐ trong HĐKD đã được các nhà nghiên cứu và các nhà kinh doanh thừa nhận là một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể Nhiều Trung tâm nghiên cứu ĐĐ kinh doanh xuất hiện Trung tâm nghiên cứu ĐĐKD ở trường Cao đẳng Bently thuộc bang Massachusetts khởi đầu hoạt động năm 1976, hướng đến một phong trào trong phạm vi thương trường nhằm tạo dựng nền móng ĐĐ trong cơ cấu DN qua những quy phạm, cùng những viên chức và hội đồng kiểm tra ĐĐ DN

Trang 16

Tạp chí Business Ethics (Mỹ) trong 16 năm liền (1988 – 2004) thường

xuyên công bố bảng xếp hạng những công ty mà họ cho là có tính ĐĐ nhất ở Mỹ Trong số những tiêu chí để xếp hạng có tính tới quan hệ với các nhà đầu tư và đội ngũ nhân viên (trong đó có quan hệ với phụ nữ; với các cộng đồng sắc tộc thiểu số, khác màu da, tôn giáo và quan điểm ); với các cơ quan chính quyền sở tại và cộng đồng những nhà cung cấp nguyên, nhiên liệu; với những người tiêu dùng; chính

sách bảo vệ môi trường [41] Bảng xếp hạng đã cho thấy vấn đề ĐĐ được các

công ty chú ý Kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận mà còn quan tâm đến quyền lợi của con người (nhân viên, người tiêu dùng), quan tâm đến môi trường tự nhiên

Năm 2000, hai Giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard, tác giả cuốn sách "Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích", đã phân tích những kết quả khác nhau ở các công ty với những truyền thống ĐĐ khác nhau Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11 năm (1989 – 2000), những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 68.2% (trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực ĐĐ chỉ đạt được 3.6%) Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 90.1% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 7.4%) Lãi ròng của các công ty

"đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 75.6% (1%) [43]

Trong cuốn “Business – Its Legal, Ethical, and Global Environment – Kinh doanh – tính hợp pháp, tính ĐĐ và môi trường toàn cầu của nó” của Matianne Moody Jennings, tác giả có đề cập đến vấn đề đạo đức và trách nhiệm của các Công ty trong thời kỳ hội nhập, đặc biệt là trách nhiệm của DN trước thực trạng

môi trường tự nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng [39, 70] Tác giả nhấn mạnh đến

ĐĐ của nhà quản lý nói riêng và ĐĐ của DN nói chung trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên, đặc biệt việc sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường

Ở góc độ xã hội, trách nhiệm xã hội được nhìn nhận dưới khía cạnh ĐĐ Nhiều DN nhận thức rất rõ trách nhiệm của mình Trong cuộc khảo sát của công

ty McKinsey năm 2007 [46, 74], khi được hỏi về ảnh hưởng xấu mà các công ty

lớn có thể gây ra cho cộng đồng, ô nhiễm môi trường được đưa lên hàng đầu, sức khỏe con người được quan tâm thứ hai Những yếu tố tích cực mà DN đem lại thì tạo việc làm được xếp cao nhất, tiếp đó là tiến bộ khoa học công nghệ,

Trang 17

cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho nhu cầu con người, nộp thuế Điều này cho thấy, các nhà DN bên cạnh mục tiêu kinh doanh đem lại lợi nhuận, họ còn quan tâm tới môi trường, vấn đề ĐĐ trong kinh doanh

Năm 2007, Viện Đạo đức kinh doanh quốc tế (International Business Ethics Institute) ở Mỹ đã từng xác định 4 công việc mà công ty cần phải thực

hiện để củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu của mình [42] Thứ nhất,

trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng Thứ hai, cải thiện ngày một tốt hơn tình hình nội bộ hãng bằng cách gia tăng tinh thần trách nhiệm và lợi ích của các nhân viên, giảm biến động đội ngũ cán bộ, tăng năng suất lao động Thứ ba, đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất Cuối cùng, xử lý một cách bài bản những việc liên quan tới cổ phiếu và tài chính - chỉ

có ứng xử thật đàng hoàng với luật pháp thì mới có thể tạo dựng tương lai lâu dài và bền chắc cho hãng

Từ đó đến nay, chủ đề ĐĐ trong HĐKD đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu khá thú vị, hấp dẫn Các vấn đề của ĐĐ trong HĐKD đang được tiếp cận, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: từ luật pháp, triết học và các khoa học xã hội khác Điều này cho thấy, ĐĐ trong HĐKD là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Trước kia người Việt Nam có cái nhìn khá mâu thuẫn về vị trí của đội ngũ những người làm công việc kinh doanh Một mặt họ cho rằng muốn làm giàu

thì phải kinh doanh nên có câu “phi thương bất phú”, một mặt lại xếp tầng lớp

thương nhân vào vị trí cuối cùng trong các tầng lớp xã hội Có thể nói trong xã hội Việt Nam xưa đã tồn tại cái nhìn không thiện cảm với kinh doanh buôn bán mặc dù họ cho rằng muốn giàu thì phải buôn bán ĐĐ trong HĐKD là một vấn

đề mới ở Việt Nam, tuy nhiên đã được nhiều nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực như kinh tế, triết học, tâm lý học quan tâm nghiên cứu

Dưới góc độ Kinh tế, tác giả Trần Thị Vân Hoa chủ nhiệm đề tài cấp Bộ:

“Văn hóa DN với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN thuộc khu vực kinh

tế tư nhân trên địa bàn Hà Nội” [13, 38] có đề cập đến tính trung thực, tính cạnh

tranh lành mạnh, mối quan hệ giữa chủ DN và NLĐ, bảo vệ quyền lợi của khách hàng, thương hiệu trong kinh doanh những nét cơ bản của ĐĐ trong HĐKD

Trang 18

Tác giả Nguyễn Thị Lan với bài viết “Nhìn nhận của người dân về ĐĐ

kinh doanh của các chủ DN tư nhân” [18, 22] đã nghiên cứu đánh giá của người

dân Hà Nội về ĐĐ trong HĐKD của các chủ DN tư nhân trong giai đoạn phát triển kinh tế nước ta hiện nay Nghiên cứu đã phản ánh rõ nhận thức của người dân về ĐĐ trong HĐKD của chủ DN tư nhân dưới các góc độ: trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội; trách nhiệm và nghĩa vụ đối với người tiêu dùng và bạn hàng; trách nhiệm đối với NLĐ trong DN và trách nhiệm đối với bản thân

Tác giả Đỗ Ngọc Khanh với đề tài “Khó khăn liên quan đến những người

làm công của chủ DN tư nhân” [16, 25] chỉ ra những vấn đề mà NLĐ gặp phải

trong quá trình tuyển dụng và làm việc Theo thống kê, có đến 60.3% các chủ

DN đánh giá rằng việc NLĐ “thỉnh thoảng” không biết tiết kiệm (thời gian, nguyên – nhiên liệu ) và 26.7% cho rằng công nhân DN của họ “thường xuyên” không biết tiết kiệm Lý giải điều này, chủ DN cho rằng: nguyên nhân

có thể bắt nguồn từ việc NLĐ có cảm giác không phải mình là chủ, chỉ là người làm thuê, động cơ làm việc chưa cao, hay bản thân NLĐ không biết, không được đào tạo làm thế nào để tiết kiệm được chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh Từ những bất đồng đó gây nên những tranh luận xung quanh vấn

đề ĐĐ trong kinh doanh

Tác giả Văn Thị Kim Cúc trong nghiên cứu “Tìm hiểu năng lực làm chủ

của DN kinh tế tư nhân hiện nay” [7, 15] có đề cập đến thái độ ứng xử của chủ

DN đối với NLĐ Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 69.4% chủ DN có thể có thái độ cư xử tốt với NLĐ Thái độ cư xử tốt vô điều kiện của các nhà lãnh đạo, quản lý, đó là các chủ DN khu vực kinh tế tư nhân đối với NLĐ, theo tác giả, đây là con đường thu phục nhân tâm, vô cùng cần thiết Nhưng vẫn còn tồn tại tới 30.6% chủ DN kinh tế tư nhân chưa làm được Điều này cho thấy, chủ DN còn gặp khó khăn hoặc chưa trang bị cho mình kỹ năng, thái độ ứng xử tốt với mọi người, đặc biệt là với nhân viên và khách hàng

Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết Kinh tế thị trường và trách

nhiệm xã hội [5, 28], đã cho rằng ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện

kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất

Trang 19

nước, và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội Bởi vậy, chỉ những ai biết tôn trọng khách hàng, biết tôn trọng đạo lý và biết lấy chữ Tín làm đầu mới

hy vọng thành đạt trên thương trường Ý thức về trách nhiệm của DN cũng như vai trò của cá nhân sẽ giúp những người sản xuất, kinh doanh tự điều chỉnh các hoạt động của mình sao cho phù hợp với chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực ĐĐ để cân bằng lợi nhuận DN và quyền lợi của khách hàng

Nguyễn Hoàng Ánh trong nghiên cứu “Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam –

Thực trạng và giải pháp” [2, 5] đã đưa ra quan điểm của NLĐ về ĐĐ trong

HĐKD, trách nhiệm của DN đối với xã hội, mối quan hệ giữa NLĐ và chủ DN Đặc biệt, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sở hữu trí tuệ (bản quyền) của các

DN, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao ĐĐ trong HĐKD

Trong đề tài “Một số hành vi ứng xử với môi trường không mang tính đạo

đức ở nước ta hiện nay” [10, 27] tác giả Vũ Dũng và cộng sự đã bước đầu nghiên

cứu hành vi ĐĐ môi trường ở Việt Nam Trong nghiên cứu đó, nhóm tác giả phản ánh một số biểu hiện về những hành vi chưa mang tính chất ĐĐ đối với môi trường, đặc biệt là những DN, công ty sản xuất kinh doanh và làng nghề Ở làng nghề chế biến gỗ Tân Hòa, phường Tân Hòa, Thành phố Biên Hòa với 350 hộ cá thể, 29 DN; công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn của Đồng Nai có trên

4000 cơ sở chế biến lương thực thực phẩm, thu hút khoảng 31.000 lao động, cũng

là những điểm gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân Tại Đồng Nai, hàng tháng Công ty Veđan xả ra hơn 45.000 m3

nước thải ra sông Thị Vải Điều đáng nói là hành vi này được thực hiện một cách có chủ ý, tinh vi và liên tục trong 14 năm liền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh

tế và tinh thần của người dân sống tại khu vực này Điều đó chứng tỏ, ĐĐ của người làm kinh doanh đáng được xã hội quan tâm

Tác giả Nguyễn Ngọc Thức đã đề cập đến vấn đề ĐĐ trong kinh doanh

“Đạo đức kinh doanh với môi trường tự nhiên” [31, 9] Trong bài viết này tác

giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng ĐĐ trong HĐKD và vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay, trách nhiệm của các nhà DN với môi trường tự nhiên

Thời gian gần đây, do áp lực của tiến trình toàn cầu hóa, đã có khá nhiều bài báo trên các báo và tạp chí như: Chúng ta (Tạp chí lưu hành nội bộ của công

ty FPT, website: www.chungta.com) hay báo Diễn đàn DN (tờ thời báo cho giới

Trang 20

doanh nhân Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI phát hành, website: www.dddn.com.vn) và một số báo, tạp chí khác như: Saigon Times, Thời báo kinh tế Sài Gòn, báo Lao động có đề cập đến vấn đề ĐĐ trong kinh doanh Các bài báo này thường chỉ dừng ở việc nhận định về những

sự kiện gần đây ở Việt Nam có liên quan đến ĐĐ trong HĐKD hoặc cung cấp

về một số vụ việc trên các sách báo nước ngoài, chứ không tiến hành khảo sát hay đưa ra một khái niệm cụ thể nào về ĐĐ trong HĐKD

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bước đầu đã quan tâm đến ĐĐ trong HĐKD Tuy nhiên, nghiên cứu về ĐĐ trong HĐKD của doanh nhân trong nền kinh tế thị trường với xu thế Hội nhập quốc tế dưới góc độ Tâm lý học còn vắng bóng Đặc biệt là những nghiên cứu về ĐĐ của người làm kinh doanh ở những tỉnh, thành phố nhỏ với ngành tiểu thủ công nghiệp, làng

nghề truyền thống còn rất hạn chế Do đó, nghiên cứu “Đạo đức trong hoạt động

kinh doanh của các doanh nhân qua khảo sát ở một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại Thái Bình” là vấn đề mới, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp

phần làm phong phú hơn lý luận về ĐĐ trong HĐKD dưới góc độ Tâm lý học và góp phần làm rõ thực trạng ĐĐ trong HĐKD của các doanh nhân Thái Bình

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm đạo đức

1.2.1.1 Định nghĩa

Khái niệm ĐĐ luôn được nhiều ngành khoa học khác nhau quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trong phạm vi Luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào quan điểm của một số nhà tâm lý học về ĐĐ

Theo Platơnôp, cấu trúc của nhân cách bao gồm năng lực và phẩm chất

được kết hợp hữu cơ trong chỉnh thể con người hoạt động [3, 136] Đây là quan

hệ giữa đức và tài Đức hay ĐĐ, quy tụ những phẩm chất, còn tài hay tài năng là

sự biểu hiện tập trung và nổi bật của năng lực Điều này có nghĩa là “đức” (ĐĐ) được xem là một thành phần quan trọng trong cấu trúc của nhân cách Hai mặt này tác động qua lại một cách biện chứng với nhau Mặt khác, khi xem xét mối quan hệ giữa ĐĐ với toàn bộ chỉnh thể của nhân cách con người nói chung, ta thấy nổi bật vai trò của ĐĐ và giáo dục ĐĐ đối với sự phát triển nhân cách, và

Trang 21

giáo dục nhân cách con người đối với sự phát triển, trưởng thành của con người

vi xấu, độc ác, phản ĐĐ, phi nhân tính Ngược lại, không có năng lực, ĐĐ không thể trở thành hành động thực tế, chỉ dừng lại như một mong muốn, nguyện vọng mà không trở thành giá trị hiện thực Sự tốt đẹp của ĐĐ, tác động

và hiệu quả của ĐĐ phải được chứng thực ở hành động, việc làm, ở kết quả của

nó chứ không chỉ dừng lại ở lời nói tốt đẹp về ĐĐ Chính năng lực đảm bảo điều đó Như vậy, trong cấu trúc của nhân cách, ĐĐ và năng lực gắn liền với nhau, biểu hiện và chi phối lẫn nhau, đúng như Bác Hồ nhận xét: “Có tài mà không có đức là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Do đó, khi xem xét nhân cách của con người, cần tránh tách rời ĐĐ và năng lực, tuyệt đối hóa mặt này mà xem nhẹ mặt kia và tránh đồng nhất học vấn với ĐĐ của nhân cách hoặc thu gọn, giản lược nhân cách và ĐĐ

Tóm lại, ĐĐ và nhân cách thống nhất với nhau trên cả phương diện giá trị lẫn phương diện chủ thể Một mặt, ĐĐ hiện ra như một phẩm chất xã hội của nhân cách, như một bộ phận cấu thành của nhân cách Mặt khác, ĐĐ thống nhất với nhân cách ở sự thống nhất giữa ĐĐ với các yếu tố khác của nhân cách (như năng lực, khí chất, xu hướng…) Sự thống nhất này quyết định vai trò của ĐĐ đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người

Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Đạo đức theo nghĩa hẹp, là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng

Trang 22

trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và ĐĐ bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống”

Theo nghĩa rộng, khái niệm ĐĐ liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận ĐĐ là “Một hình thái ý thức xã hội” thì ĐĐ của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cùng phản ánh ý

thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [11, 153-154]

Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên cho rằng: Đạo đức – trong Tâm

lý học là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay nhóm, biểu hiện ở hành vi phù hợp

với các quy tắc, chuẩn mực xã hội [9]

Trong nghiên cứu về ĐĐ sinh viên, tác giả Nguyễn Văn Phước cho rằng:

“Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực ĐĐ, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể

hay toàn xã hội” [13, 25]

Tóm lại, chúng tôi tán thành với quan điểm của Phạm Thành Nghị [23,

201]: Đạo đức là hệ thống các chuẩn mực xã hội được đặt ra để điều chỉnh hành

vi con người trong mối quan hệ với bản thân, với người khác và với xã hội.

1.2.1.2 Chức năng của đạo đức

Đạo đức góp phần quan trọng xây dựng mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội Chức năng của ĐĐ là giúp con người nhận thức, giáo dục

và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những yêu cầu của xã hội Nhờ đó, con người tự giác tuân theo những quy tắc, chuẩn mực trong xã hội Đạo đức có vai trò lớn lao giúp con người sáng tạo hạnh phúc và giữa gìn, bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của xã hội và phẩm giá con người Những giá trị ĐĐ cao cả có sức rung cảm sâu sắc làm thức tỉnh những tình cảm cao đẹp và bền lâu trong tâm hồn con người Đạo đức giúp con người nâng cao lòng tin vào cuộc sống, nâng cao tính tích cực xã hội của họ, bên cạnh đó là biểu hiện lòng tin vào con người và xã hội

Trang 23

Chức năng nhận thức: Các quan điểm, tư tưởng ĐĐ là kết quả của sự phản

ánh đời sống xã hội Đồng thời, là công cụ để con người nhận thức xã hội Những quan điểm ĐĐ tiến bộ, khoa học giúp con người nhận thức, đánh giá đúng đắn các quá trình vận động, phát triển ĐĐ Nhờ những nguyên tắc, chuẩn mực ĐĐ đã được nhận thức, con người phân biệt được cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái

ác trong đời sống Trên cơ sở đó mà định hướng một cách đúng đắn hành vi của mình trong thực tiễn Trong quá trình tham gia vào đời sống ĐĐ thực tiễn, mỗi người nhờ nỗ lực của mình mà làm cho nhận thức ĐĐ của bản thân thêm sâu sắc

và phong phú

Chức năng giáo dục: Chức năng này nhằm hình thành cho con người những

quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ĐĐ Nhờ đó, con người có thể có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng ĐĐ xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, hành vi của bản thân mình Vì thế ĐĐ góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người Nhờ hoạt động tích cực, con người càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, ý thức danh dự

và các phẩm chất ĐĐ của cá nhân đối với bản thân mình trong đời sống xã hội

Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức, hành vi ĐĐ

Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong xã hội, cần có một hệ thống quy tắc,

chuẩn mực nhằm kết hợp bằng cách này hay cách khác lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Trong đời sống ĐĐ, tự điều chỉnh có vai trò hết sức quan trọng Nhờ nắm được những quan điểm ĐĐ tiến bộ, hiểu rõ vai trò của ĐĐ, các chủ thể ĐĐ luôn hướng hoạt động của mình vào những lợi ích chung Trên cơ sở

đó thoả mãn nhu cầu ĐĐ và lợi ích chính đáng của mình Chức năng này được thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu, trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ xã hội Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị

ĐĐ Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan trọng của ĐĐ

Trang 24

1.2.1.3 Các yếu tố cấu thành đạo đức

Khi phân tích cấu trúc của ĐĐ, người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ, mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định

Nếu xét ĐĐ theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo

đức hợp thành hai yếu tố: ý thức ĐĐ và thực tiễn ĐĐ [12, 11]

Ý thức ĐĐ là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những quy tắc

ĐĐ xã hội đặt ra Nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ ĐĐ

Thực tiễn ĐĐ là quá trình hiện thực hóa ý thức ĐĐ trong cuộc sống Ý thức ĐĐ phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác

Quan điểm khác cho rằng, ĐĐ được hợp thành bởi ý thức ĐĐ, hành vi

ĐĐ và quan hệ ĐĐ [21, 17]

- Ý thức ĐĐ: là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại, mặt khác nó bao hàm cả những cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người Ý thức ĐĐ thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những quy tắc ĐĐ xã hội đặt ra, giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và tự nguyện hình thành những nghĩa vụ ĐĐ Tóm lại, về mặt cấu trúc,

+ Động cơ ĐĐ: Là yếu tố bên trong thúc đẩy bởi con người thực hiện hành vi ĐĐ trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội

Trang 25

+ Tình cảm ĐĐ: Là những rung cảm của cá nhân đối với hành vi ĐĐ của mình và của người khác Sự rung cảm ấy xuất hiện nhiều lần sẽ trở thành tình cảm

ĐĐ, thúc đẩy và điều chỉnh hành vi ĐĐ của cá nhân

+ Thói quen ĐĐ: Là những hành vi ĐĐ ổn định, thường xuyên lặp lại, liên quan chặt chẽ với nhu cầu ĐĐ Nhu cầu này được thực hiện thì con người cảm thấy thoải mái, hài lòng Nhu cầu không được thỏa mãn thì con người thấy khó chịu, day dứt

Thói quen ĐĐ, niềm tin ĐĐ soi sáng con đường đi đến hành vi ĐĐ; còn động cơ ĐĐ, tình cảm ĐĐ phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần tiềm ẩn của con người để thực hiện hành vi ĐĐ, góp phần tạo nên sự thống nhất giữa ý thức

ĐĐ và hành vi ĐĐ

- Quan hệ ĐĐ: Là một hệ thống những quan hệ xác định giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội về mặt ĐĐ Quan hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những quy luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn biến đổi qua các thời kỳ lịch sử và

nó chính là một trong những cơ sở hình thành nên ý thức ĐĐ

Như vậy, theo quan điểm của tác giả Phạm Kiều Linh, ý thức ĐĐ, hành

vi ĐĐ và quan hệ ĐĐ là những yếu tố tạo nên cấu trúc của ĐĐ Các yếu tố này không tồn tại độc lập mà liên hệ, tác động lẫn nhau tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống ĐĐ

Chúng tôi tán thành với quan điểm: Đạo đức được cấu thành bởi các thành tố: nhận thức ĐĐ (ý thức ĐĐ), thái độ ĐĐ và hành vi ĐĐ

Ý thức ĐĐ là sự nhận thức, thấu hiểu của con người về các chuẩn mực

ĐĐ, thái độ và hành vi ĐĐ của bản thân và người khác, qua đó điều chỉnh hành

vi ĐĐ của mình Ý thức ĐĐ có vai trò rất quan trọng trong tiếp thu các chuẩn mực ĐĐ, hình thành thái độ và có hành vi ứng xử phù hợp với yêu cầu xã hội

Thái độ ĐĐ là xúc cảm của con người đối với các hành vi ĐĐ của người khác cũng như của bản thân trong mối quan hệ với con người và với xã hội

Thái độ ĐĐ có thể thấy ở lòng yêu nước, tình yêu con người, trách nhiệm

và nghĩa vụ, danh dự và lương tâm, tình đồng loại, tình yêu lao động và người lao động…

Trang 26

Hành vi ĐĐ là những việc làm cụ thể của cá nhân mang trách nhiệm, được thể hiện thông qua mối quan hệ với cá nhân, người khác và xã hội Khi đáp ứng được những nhu cầu thực thi các chuẩn mực ĐĐ trong hành động ở con người thì xuất hiện động cơ ĐĐ

1.2.2 Khái niệm hoạt động kinh doanh và doanh nhân

1.2.2.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh

Theo quan điểm của A N Leonchiev, khi tiến hành hoạt động, phía chủ thể bao gồm 3 thành tố: hoạt động – hành động và thao tác; về phía khách thể bao gồm: động cơ – mục đích – phương tiện Các thành tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau HĐKD được tiến hành bởi các hoạt động, các hành động được diễn ra bằng các thao tác HĐKD luôn gắn với những động cơ cụ thể như: muốn làm giàu, muốn được khẳng định mình, muốn được mạo hiểm, muốn được kinh doanh lĩnh vực mà mình yêu thích Và để đạt được điều đó, doanh nhân phải có những mục đích cụ thể, sử dụng các công cụ, phương tiện để đạt được mục đích

Kinh doanh là một khái niệm rộng, dùng để chỉ tổ chức sản xuất, buôn bán dịch vụ, nhằm mục đích sinh lợi Kinh doanh hiểu theo nghĩa thông thường

là việc xây dựng và điều hành cơ sở sản xuất, dịch vụ theo nguyên tắc mua và bán (thương mại) HĐKD và nhà kinh doanh (doanh nhân) chỉ tồn tại và phát triển khi quan hệ mua – bán trở thành phổ biến (hay trong nền kinh tế thị trường) và với mục tiêu phải có lãi

Hiện nay, HĐKD rất phong phú, đa dạng, nhiều hướng HĐKD có thể do

xí nghiệp sản xuất ra những sản phẩm, sau đó cung cấp cho thị trường, hoặc là quá trình phân phối các sản phẩm do nơi sản xuất khác cung cấp tới người tiêu dùng, hoặc là làm xong công việc dịch vụ cho những nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp nhân dân: du lịch, khách sạn, hàng cơm, hàng phở…

Dưới góc độ Kinh tế, Trần Thị Vân Hoa quan niệm: “Hoạt động kinh doanh là hoạt động bất kỳ mang tính rủi ro để nhận được lợi nhuận Lợi nhuận – Phần doanh thu vượt trội so với phần chi phí, tức là hiệu giữa thu nhập và chi phí Nếu chi vượt thu, tức là thua lỗ Người ta gọi lợi nhuận (hoặc thua lỗ) là kết

quả tài chính của HĐKD” [13, 121]

Trang 27

Chúng tôi tán thành với định nghĩa của tác giả Nguyễn Hữu Thụ: “Hoạt động kinh doanh là một khâu trong quá trình kinh doanh, là việc cụ thể hoá những hành động, những thao tác trong quá trình kinh doanh” HĐKD được tiến

- Hiệu quả của HĐKD không chỉ đo bằng sản phẩm do nó tạo ra mà còn

là hiệu quả của toàn bộ hệ thống sản xuất, kinh doanh trước mắt và dài hạn, thông qua các chỉ tiêu trực tiếp và gián tiếp, số lượng cũng như chất lượng

- HĐKD có tính sáng tạo cao Đây là dạng hoạt động mà lao động trí óc

là chủ yếu Nhà DN không có sẵn thị trường, kế hoạch, sản phẩm và lợi nhuận Tất cả những cái đó phải được tạo ra bằng óc sáng tạo để đạt được lợi thế trên thương trường đầy cạnh tranh và biến động

- HĐKD mang tính mạo hiểm Nó có thể mang lại hoặc lấy mất của nhà kinh doanh không chỉ của cải vật chất mà đôi khi là danh tiếng, sự nghiệp, sự ổn định và hạnh phúc trong cuộc đời

- Môi trường kinh doanh (thị trường) luôn luôn biến động, rất bất ngờ Nó đòi hỏi nhà kinh doanh phải có đầu óc mạo hiểm và biết cách chấp nhận sự thành công và cả sự thất bại với phương châm: được ăn, lỗ chịu và có chí làm quan, có gan làm giàu

- Kinh doanh chịu sức ép của nhiều yếu tố: giá cả, đổi mới của khoa học -

kỹ thuật, luật pháp, các chính sách tài chính của nhà nước, sự ổn định an ninh của đất nước và của thế giới, trình độ dân trí, truyền thống tiêu thụ (thị hiếu) và tình hình cạnh tranh trên thị trường

Theo các nhà kinh tế tổng kết – xác xuất mạo hiểm càng cao thì kinh doanh càng thắng lợi, mau giàu có Còn xác xuất an toàn cao thì kinh doanh nhỏ, chỉ đủ ăn, đủ tiêu

- Kinh doanh là một nghề khó khăn, phức tạp trong mối quan hệ, giống như

“làm dâu trăm họ” nên đòi hỏi các nhà kinh doanh cần có sự hiểu biết nhiều tri

Trang 28

thức như: kinh tế học, tâm lý, quản lý, văn hoá… Nó cũng đòi hỏi khả năng thiên bẩm trong tính nhạy cảm, trực giác với thị trường và ứng xử có nghệ thuật

- Kinh doanh là một khoa học Nó tuân theo những quy luật rất khắc nghiệt Chẳng hạn, quy luật sòng phẳng và tính toán lỗ, lãi hết sức chi ly Những lý lẽ của tri thức khoa học là kim chỉ nam dẫn đường để đưa đến thành công

Kinh doanh phải có đạo lý dẫn đường Đạo lý đó được kết tinh vào mục tiêu, giá cả, tinh thần phục vụ xã hội, khách hàng, phương châm xử thế, sự tuân theo pháp luật, giữ uy tín

1.2.2.2 Khái niệm doanh nhân

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về doanh nhân, sau đây chúng tôi xin trích dẫn một vài định nghĩa của một số tác giả tiêu biểu Cụ thể:

Richard Cantillon (1755) đã đưa ra định nghĩa “Doanh nhân là người mua các yếu tố sản xuất với một giá cả nhất định để kết hợp chúng trong sản xuất sản

phẩm và bán với giá không chắc chắn trong tương lai” [37, 189] Ông nhắc tới

doanh nhân như là một cá nhân hoạt động trong điều kiện mà việc tiêu dùng là yếu tố xác định, trong khi thu nhập không rõ và không xác định Theo định nghĩa của ông, doanh nhân bao gồm những người thực hiện mọi giao dịch trong bất kỳ thị trường nào

Theo Schumpeter (1968), Doanh nhân là người cung cấp sản phẩm mới hoặc quá trình sản xuất mới thông qua sự kết hợp chưa được thử nghiệm của các yếu tố đầu vào Doanh nhân là một tác nhân năng động tạo ra sự phát triển kinh tế hơn là tạo điều kiện cho nó Anh ta không phải là người điều chỉnh quá

trình khi có tập hợp mới của các điều kiện về cung và cầu [37, 190]

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa Doanh nhân là người làm nghề

tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng Doanh nhân xuất hiện và tồn tại trong lịch sử loài người cùng với sản xuất hàng hoá và thị trường

Theo Từ điển Ngôn ngữ học - Viện Ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng -

2000), doanh nhân là những người làm nghề kinh doanh [35]

Trong từ điển Từ và ngữ Hán Việt, Nguyễn Lân chú giải từ “doanh” theo

ba nghĩa: (1) doanh là lo toan làm ăn; (2) là đầy đủ và (3) là biển lớn [19, 168]

Hiểu theo nghĩa (1) thì doanh nhân có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những người

Trang 29

biết lo toan làm ăn; là tất cả những người làm việc trong lĩnh vực kinh tế, trước hết là nhóm những người làm việc quản lý kinh tế, bao gồm những người làm công việc quản lý Nhà nước về kinh tế và những người hoạt động trong các DN,

cả DN công ích không có mục tiêu vị lợi lẫn DN kinh doanh vị lợi Quan niệm như vậy là quá rộng, không phân biệt được doanh nhân với những dạng người khác cùng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế

Trong cuốn Bài giảng Văn hóa kinh tế do Đại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2006, chọn cách giải thích từ Hán Việt “doanh” là lãi, “nhân” là người,

“doanh nhân” là người làm kinh doanh để kiếm lời Doanh nhân là người làm kinh doanh, là chủ thể lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật Doanh nhân có thể là chủ một DN, là người sở hữu và điều hành, Chủ tịch công

ty, Giám đốc công ty hoặc cả hai [20, 196]

Nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuấn, trong bài “Doanh nhân – một góc nhìn” trên báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 13/10/2007, viết: “Nói một cách chặt chẽ, doanh nhân là những người chủ DN trực tiếp kinh doanh DN của mình, những người được cử hoặc được thuê để quản lý DN, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của DN, mà yêu cầu đầu tiên của họ là phải có đủ điều kiện để sáng tạo, không ngừng phát

triển DN” [34, 5]

Theo Đỗ Minh Cương thì: “Doanh nhân là một cộng đồng xã hội gồm những người làm nghề kinh doanh, trước hết là bộ phận những người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ kinh doanh (có mục tiêu vị lợi) của

các hộ gia đình và DN” [8, 17]

Nguyễn Đức Thạc định nghĩa: “Doanh nhân là những người làm chủ thực

sự những quan hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, các DN tư nhân, từ quan hệ

sở hữu đến quan hệ điều hành và quan hệ phân phối Doanh nhân là những “ông chủ” DN tư nhân” Tác giả còn cho rằng khái niệm doanh nhân có thể được thay thế bằng khái niệm Nhà DN, dùng chung cho chủ thể cá nhân ở các thành phần

kinh tế khác nhau: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân [30, 19]

Tóm lại, chúng tôi cho rằng: Doanh nhân là người sáng lập hoặc kế tục một DN để hình thành công việc kinh doanh của DN Họ là người chủ chốt trong việc quản trị, điều hành một DN Đó có thể là những người đại diện cho các cổ

Trang 30

đông, các chủ sở hữu (thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát) hoặc trực tiếp điều hành các DN (thành viên Ban Giám đốc)

Đặc điểm của doanh nhân:

Doanh nhân thường có nhiều tham vọng trong cuộc sống và thường tranh đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn Họ không phải là người an phận hay thường hài lòng với hiện tại của mình

Do có tham vọng lớn nên họ dám chấp nhận rủi ro trong việc thiết lập và điều hành DN Thực tế cho thấy doanh nhân có thể gặp nhiều rủi ro như rủi ro

về tài chính, về hàng hóa, dịch vụ… trong công việc, nếu không dám dấn thân thì họ khó có thể thăng tiến, khó tạo sự đột phá

Họ có sự tự tin rất lớn Mặc dù họ nhìn thấy những khó khăn nhưng họ luôn tin rằng có những giải pháp và có đủ khả năng để vượt qua những khó khăn đó

Có nhu cầu thoát ly, tự lập Các doanh nhân luôn muốn được tự khẳng định mình, muốn thoát ly khỏi gia đình, dòng họ, muốn tự gây dựng cơ nghiệp

Ngoài những đặc điểm chung của doanh nhân Việt Nam, doanh nhân ở Thái Bình có những nét riêng Thái Bình là một tỉnh thuần nông, tâm lý của người dân mang đậm nét của những người sản xuất nhỏ, với tư duy manh mún,

tự cung tự cấp Song với sự tác động của nền kinh tế thị trường, doanh nhân ở đây có phần năng động hơn, nhạy bén hơn, phạm vi giao tiếp rộng hơn tuy quy

mô còn nhỏ lẻ Đặc biệt, với tư tưởng tiểu nông ăn sâu từ bao đời, nên tâm lý doanh nhân đôi khi vẫn mang tính chộp giật, nghĩ đến lợi ích trước mắt, lợi ích của cá nhân mà quên đi tính cộng đồng Ở những làng nghề truyền thống, sự giao lưu tiếp xúc của chủ cơ sở sản xuất còn ít, trình độ học vấn có hạn nên tư tưởng của họ nhiều khi còn bảo thủ, ngại thay đổi

Vai trò và chức năng của doanh nhân trong HĐKD:

Khi nói tới nhân cách doanh nhân, cần nhấn mạnh tới vai trò và chức năng của họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Họ đồng thời là nhà quản lý, người đứng đầu cấu trúc chính thức của DN Vì thế, vai trò và chức năng được thể hiện cụ thể bằng văn bản mang tính pháp lý, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho họ thực hiện tốt các mục tiêu HĐKD của DN Khi có được quyền lực do tổ chức trao cho, không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể lãnh

Trang 31

đạo và quản lý tốt giúp cho DN phát triển Hiệu quả của hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh, phụ thuộc rất nhiều vào các phẩm chất và năng lực của nhà kinh doanh Vì thế, quyền lực (vai trò, chức năng) chỉ là điều kiện để thực hiện HĐKD mà thôi Thông thường khi nói tới doanh nhân, người ta thường nhấn mạnh đến tổ hợp những phẩm chất và năng lực, giúp họ có thể thực hiện tốt vai trò và chức năng tổ chức, quản lý HĐKD có kết quả

HĐKD là một dạng hoạt động hết sức đặc biệt, được tiến hành trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, có nhiều thách thức, rủi ro, nhưng bên cạnh đó cũng

ẩn chứa nhiều cơ hội và chịu sự quy định của chủ trương, chính sách của nhà nước… Để HĐKD có hiệu quả, đòi hỏi nhà kinh doanh cần phải có các phẩm chất và năng lực đặc thù riêng biệt mà không phải ai cũng có được, với môi trường và thời cơ kinh doanh thuận lợi Nếu trong một môi trường kinh doanh ổn định, chính các phẩm chất và năng lực độc đáo, đặc thù này của họ đã phác họa ra chân dung nhà doanh nhân

Trong DN, doanh nhân thường đảm nhiệm các chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá Với tư cách là người chủ DN doanh nhân có vai trò cực kỳ quan trọng Nó mang tính quyết định đối với việc xây dựng và phát triển DN DN là tổ chức bao gồm những thành viên cùng liên kết với nhau, cùng làm việc với nhau để kinh doanh

vì mục đích thương mại Vai trò của doanh nhân chính là việc động viên, cổ vũ những thành viên cùng chung một chí hướng, cùng chia sẻ giá trị cốt lõi, tán thành mục tiêu của DN, đóng góp cho DN với sự cố gắng cao nhất

- Doanh nhân là người ra quyết định với tầm nhìn xa trông rộng Để lãnh đạo và điều hành DN một cách hữu hiệu rất cần có những quyết định đúng đắn,

có sức sáng tạo và tầm nhìn Doanh nhân nghiên cứu điều kiện kinh doanh để thấy được ưu thế và tiềm lực có thể khai thác, dự báo được những thách thức, cơ hội, lường trước những thay đổi có thể ảnh hưởng đến DN Trên cơ sở đó, doanh nhân phân tích, đánh giá, điều chỉnh các giải pháp sử dụng năng lực sản xuất để thích ứng với yêu cầu của thực tiễn nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đây là một trong những công việc quan trọng, đòi hỏi doanh nhân phải có tư cách như một thủ lĩnh, có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực kinh doanh, có bản lĩnh vững vàng trên thương trường

Trang 32

- Doanh nhân trong vai trò một người chỉ huy Mọi hoạt động của DN được diễn ra theo một quy trình công nghệ nhất định Mọi yếu tố của sản xuất đều được sử dụng trong quá trình đó Để hoạt động có hiệu quả, DN phải có sự chỉ huy tập trung, thống nhất Đây là đòi hỏi khách quan và nó được trao cho doanh nhân

- Vai trò tổ chức DN DN muốn sản xuất được phải tổ chức thật khoa học và tối ưu hóa các yếu tố nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin, công nghệ Mặt khác, với lượng thông tin khổng lồ, mối quan hệ vừa rộng, vừa phức tạp, môi trường kinh doanh thay đổi… càng đặt ra yêu cầu phải tổ chức DN sao cho thông tin thông suốt, mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận càng chặt chẽ, bố trí và sản xuất lao động hợp lý, quy chế quản lý được thực thi có hiệu quả

- Doanh nhân là người luôn cổ vũ, động viên và khích lệ các thành viên trong DN Doanh nhân – lãnh đạo, quản lý và điều hành thông qua các thành viên trong DN để thực hiện mục tiêu mình đã đặt ra Để định hướng các thành viên trong DN cùng liên kết với nhau, cùng làm việc, nhằm kinh doanh vì mục đích thương mại, doanh nhân không chỉ là người tổ chức giỏi mà còn là người hiểu biết sâu sắc tâm lý quản lý và lãnh đạo, biết cổ vũ, động viên và khích lệ nhằm kích thích động cơ làm việc của các thành viên Điều đó đòi hỏi doanh nhân cần coi trọng lợi ích cá nhân, cố gắng kết hợp có hiệu quả lợi ích cá nhân với lợi ích DN,

cố gắng vừa thỏa mãn lợi ích cá nhân, vừa bảo đảm lợi ích DN, làm tốt công tác phân phối, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong DN

- Doanh nhân với vai trò điều hòa, phối hợp, thúc đẩy sự hợp tác Mặc dù

DN là tổ chức gồm những thành viên cùng liên kết với nhau, cùng làm việc với nhau để kinh doanh vì mục đích thương mại nhưng giữa các thành viên rất khác nhau về trình độ chuyên môn, mức độ trách nhiệm, tuổi tác, giới tính, vai trò địa

vị xã hội… cùng với những tác động của các nhân tố bên ngoài nên nhận thức,

tư tưởng có thể khác nhau, dẫn đến hành động khác nhau Từ đó có thể làm phương hại đến mục tiêu DN Do đó, doanh nhân phải là người cần làm tốt vai trò điều hòa, phối hợp, thúc đẩy sự hợp tác, xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa các bộ phận, giữa các thành viên vì mục tiêu DN

Trang 33

1.2.3 Khái niệm đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân

Trong đề tài này, chúng tôi đồng nhất khái niệm “đạo đức kinh doanh” với “đạo đức trong hoạt động kinh doanh” Để thuận tiện, chúng tôi xin được sử dụng thuật ngữ “đạo đức kinh doanh” phổ biến hơn

Có rất nhiều nghiên cứu và quan tâm về đạo đức kinh doanh, các tác giả

đã đưa ra những cách hiểu khác nhau:

Tác giả Norman Bowie cho rằng: “Đạo đức kinh doanh là một hình thức nghệ thuật của ĐĐ, được xem là các nguyên tắc ĐĐ được phát sinh trong môi

trường kinh doanh” [40, 96] Quan điểm này được đặt trong phạm vi kinh doanh,

chưa chú trọng đến vấn đề quyền lợi của khách hàng cũng như trách nhiệm xã hội

ĐĐKD là những nguyên tắc được chấp nhận để phân định đúng sai, nhằm

điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh [36, 391] Định nghĩa này khá chung

chung, vì thế cũng bỏ qua nhiều nhân tố quan trọng, ví dụ như: những loại hành

vi nào, những nguyên tắc ĐĐ có thể điều chỉnh; Hay những ai có thể được coi

là “nhà kinh doanh” và hành vi của họ cần được điều chỉnh như thế nào?

Phillip V Lewis (Tạp chí Business Ethics) đưa ra khái niệm về đạo dức

kinh doanh như sau: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực ĐĐ hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử, chuẩn mực

và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định” [41]

Tác giả Ferrels và John Fraedrich có một cách định nghĩa khác về ĐĐKD: “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh Tuy nhiên, việc đánh giá một hành

vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với ĐĐ hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống

pháp lý cũng như cộng đồng” [38, 201]

Theo Bùi Xuân Phong, thì “Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực, có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành

vi của các chủ thể kinh doanh Đạo đức kinh doanh chính là ĐĐ được vận dụng

vào trong kinh doanh” [24, 8]

Tóm lại, dưới góc độ Tâm lý học, chúng tôi hiểu Đạo đức trong hoạt động

kinh doanh của doanh nhân là hệ thống các chuẩn mực xã hội được đặt ra để điều chỉnh hành vi của người làm kinh doanh, người sáng lập hay kế tục DN

Trang 34

trong mối quan hệ với bản thân, người khác và xã hội Các thành tố cấu thành

đạo đức trong HĐKD của doanh nhân là: nhận thức – hành vi và thái độ đạo đức của doanh nhân

Đặc điểm của đạo đức trong hoạt động kinh doanh:

Hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với lợi ích kinh tế, nên đạo đức kinh doanh cũng có những đặc trưng riêng của nó Chẳng hạn, tính thực dụng, coi trọng hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu hàng đầu đặt ra đối với giới kinh doanh, thì đối với người khác đôi khi lại là những biểu hiện không tốt Khi đánh giá đạo đức kinh doanh, người ta thường dựa vào các nguyên tắc và chuẩn mực về:

+ Tính trung thực: Trung thực với bản thân, với khách hàng Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh, nhất quán trong nói và làm, trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước

+ Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và dưới quyền tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên Đối với khách hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng Đối với đối thủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ

+ Trách nhiệm với cộng đồng, xã hội: Luôn gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của xã hội Tích cực góp phần giải quyết những vấn đề chung của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển

Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức nghề nghiệp của những người hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, xây dựng, phát triển đạo đức kinh doanh không chỉ

là trách nhiệm của cá nhân, mà nó là cả một quá trình, gắn liền với sự phát triển của cả doanh nghiệp

1.3 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân

1.3.1 Một số nguyên tắc đạo đức trong hoạt động kinh doanh của doanh nhân

Thứ nhất, nguyên tắc rèn luyện tính quan tâm đúng mực:

Mọi nghề nghiệp đều được ràng buộc bởi một tiêu chuẩn đặc biệt về khả năng và sự quan tâm đối với công việc Theo đó, các nhà quản lý kinh doanh

Trang 35

cũng luôn có xu hướng vươn tới tiêu chuẩn cao về tính quan tâm Nó được xem như tiêu chuẩn của tất cả mọi người, dù họ là nhân viên của các công ty hay người thực hiện cung cấp các dịch vụ cho khách hàng Nguyên tắc này thể hiện:

- Các nhà quản lý có trách nhiệm giám sát các hoạt động của người cấp dưới Tuỳ theo tính chất công việc mà có những cách thức, phương pháp giám sát khác nhau Có thể là giao đầu việc, giám sát quá trình thực hiện, triển khai,

có thể là kiểm tra kết quả hoặc song hành cùng nhân viên ở mức độ nhất định

Đối với nhân viên mới được tuyển dụng, nhà quản lý quan tâm đến việc đào tạo, giúp họ làm quen với công việc Thế hệ trẻ muốn tiếp nối nghề thủ công truyền thống ở địa phương, rất muốn được những nghệ nhân chỉ bảo tận tình Với nhân viên lâu năm, công ty có thể cử đi học để bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng nghề nghiệp, nhất là đối với công nhân may Thông qua sản phẩm làm ra, cùng với thái độ của công nhân với công việc, chúng ta có thể đánh giá được tinh thần trách nhiệm của người quản lý

- Các doanh nghiệp có trách nhiệm kiểm tra sản phẩm một cách phù hợp Điều này được thể hiện rõ đối với những doanh nghiệp sản xuất, bộ phận KCS

có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi tiêu thụ

Đối với hàng thủ công mỹ nghệ, công nhân là những người lao động tự

do, họ nhận hàng về nhà làm và khi hoàn thành thì trực tiếp giao nộp sản phẩm Chủ cơ sở sản xuất nhận hàng có trách nhiệm kiểm tra sản phẩm, phát hiện lỗi, chất lượng sản phẩm, những sai sót trong quá trình làm Ở những công ty lớn như may mặc, gốm sứ, bộ phận KCS trực tiếp đảm nhận vai trò này

- Các doanh nghiệp phải biết định mức và hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường đến sản phẩm cuối cùng và các quá trình sản xuất Thái độ của doanh nghiệp, cụ thể là thái độ của nhà lãnh đạo đối với sản phẩm của mình

có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường làm việc, sức khoẻ của người lao động và quá trình lưu thông cũng như sử dụng sản phẩm

Nhà sản xuất phải đặc biệt quan tâm đến quá trình sản xuất và tính an toàn của sản phẩm đối với môi trường khi sử dụng Ở những làng nghề thủ công, hiện nay vấn đề ô nhiễm nguồn nước khi chất tẩy rửa được thải tự do ra đồng ruộng, sông ngòi Những công ty may, gốm sứ, phế liệu cần được xử lý tránh ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên

Trang 36

Ngoài ra, tính quan tâm đúng mực còn được thể hiện thông qua việc tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện như: ủng hộ người nghèo, xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương,

Thứ hai, nguyên tắc bí mật:

Rất nhiều mối quan hệ giao dịch kinh doanh yêu cầu trao đổi thông tin một cách bí mật Các nhà quản lý phải có trách nhiệm hạn chế sử dụng những thông tin này trong các tình huống kinh doanh Họ cũng không nên sử dụng những thông tin này cho các mục đích khác hoặc để bộc lộ ra bên ngoài trừ phi thật cần thiết hay khi được sự đồng ý của các bên liên quan Đồng thời họ cần có trách nhiệm cao hơn trong việc bảo vệ các tin tức bí mật khi cần có sự tiếp cận những thông tin đó Thể hiện:

- Một doanh nghiệp khi tham dự vào những cuộc thương lượng phải có trách nhiệm bảo vệ bí mật những thông tin mà bên đối tác có triển vọng đã đưa

ra các nhân viên không nên sử dụng những thông tin nội bộ để trao đổi lấy những thông tin khác của bên đối tác và những tin tức bí mật về bên đối tác cũng không nên để lộ ra bên ngoài

- Các nhà quản lý phải có trách nhiệm giữ bí mật những đánh giá về hoạt động của các nhân viên và chỉ tiết lộ những đánh giá này duy nhất cho những con người có trách nhiệm đối với doanh nghiệp Trong việc thanh toán tiền lương hàng tháng cho nhân viên, chỉ có giám đốc, kế toán và nhân viên đó biết được lương của mình, để tránh tình trạng ganh tỵ, ảnh hưởng đến công việc cũng như mối quan hệ với các nhân viên khác Ở các công ty, doanh nghiệp lớn, thường diễn ra sự đánh giá, nhận xét giữa các nhân viên, khoảng 6 tháng hoặc

12 tháng tiến hành một lần Sự bí mật sẽ giúp nhân viên tự tin hơn khi đưa ra ý kiến cá nhân một cách chính xác nhất

- Những người đại diện cho phía quản lý và phía công đoàn cần thiết giữ các cuộc đàm phán bí mật cho đến khi một sự thỏa thuận trên lý thuyết có thể đạt tới và không được để lộ thông tin ra bên ngoài

- Người quản lý phải đảm bảo tính bí mật khi tham gia ký kết hợp đồng, thỏa thuận làm ăn;

- Người quản lý không được phép tiết lộ thông tin cá nhân của nhân viên khi không cần thiết;

Trang 37

- Nhiều nghề, đặc biệt là nghề thủ công truyền thống, tùy theo tính chất công việc, doanh nhân có thể chia sẻ với người lao động những bí mật nghề nghiệp

Thứ ba, trung thành là một nguyên tắc về sự tận tâm đối với trách nhiệm

Các trách nhiệm có thể nảy sinh từ luật pháp, hợp đồng hoặc các mối quan hệ giao dịch kinh doanh ngầm Các nhà quản lý muốn có được trách nhiệm đặc biệt thì phải đưa ra những ưu tiên hàng đầu cho những trách nhiệm đó Chẳng hạn: xây dựng mối quan hệ với đối tác làm ăn lâu dài

Tính trung thành của doanh nhân được thể hiện trong mối quan hệ hợp tác làm ăn với đối tác Khi tiến hành hợp tác làm ăn, hai bên đã ký kết những điều khoản nhất định, sự trung thành được thể hiện thông qua việc thực hiện nghiêm túc các điều khoản

Trung thành còn thể hiện trong việc tuân thủ các điều khoản trong luật lao động, các chế độ đối với người lao động

Đối với khách hàng, trung thành thể hiện trong việc cung cấp sản phẩm chất lượng, uy tín, cùng những điều khoản trong mua bán (hạn sử dụng, thời gian bảo hành…) Kinh doanh muốn tồn tại và phát triển bền vững, chữ Tín phải được đặt lên hàng đầu Sản phẩm phải “sống” trong lòng khách hàng chỉ khi doanh nhân ý thức được điều đó

Thứ tư, tránh sự xuất hiện xung đột về quyền lợi:

Các nhà kinh doanh không nên đặt bản thân mình vào những hoàn cảnh cần

có những khuyến khích cá nhân để làm việc Bởi vì điều đó có thể làm tổn hại đến bản thân doanh nghiệp và kế hoạch của họ Đối tượng của những xung đột về quyền lợi đó là đối tác, cổ đông, nhân viên trong công ty, người tiêu dùng…

Với đối tác và cổ đông đó là những người cùng hợp tác làm ăn và phân chia lợi nhuận theo những điều khoản đã thoả thuận Tuy nhiên, khi triển khai thực tế, thường diễn ra những mâu thuẫn về quyền lợi, thể hiện thông qua việc phân chia lợi nhuận, phân chia thị trường, chất lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất và bán ra trên thị trường, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp, nghĩa vụ đối với cổ đông Chẳng hạn, hai bên cùng ký hợp tác làm ăn

và phân chia theo tỷ lệ 40 và 60 Nhưng khi bắt tay vào việc, bên A cảm thấy

Trang 38

như thế chưa thoả đáng với công sức, vốn của mình nên có những đòi hỏi ngoài bản hợp đồng…

Thứ năm, tự nguyện tuân thủ pháp luật:

Tránh tìm kiếm và lợi dụng khe hở của luật pháp vì lợi ích cục bộ Các nhà quản lý không nên dễ dàng chấp nhận những biện hộ thiếu căn cứ xác đáng

để vi phạm luật pháp Chẳng hạn: mọi người đều làm, luật pháp không phải là chính sách tốt

Tự nguyện tuân thủ pháp luật thể hiện trong việc: đóng thuế, hoạt động trong lĩnh vực, quyền hạn đã đăng ký kinh doanh, sử dụng hoá đơn, chứng từ hợp lý, bảo hiểm cho nhân viên, đăng ký bản quyền…

Thứ sáu, hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán

Thiện chí có thể được coi như là yếu tố thuận lợi trong giao dịch kinh doanh Từng cá nhân phải có tính thẳng thắn, phù hợp với những lời nói trung thực Các nhà quản lý với một thiện chí cao đẹp sẽ biến hoạt động phù hợp với những tính chất của xã hội trong kinh doanh, hạn chế được việc sử dụng những … Thiện chí thể hiện trong việc tôn trọng thái độ, lợi ích của người khác cũng như lợi ích của chính mình, đúng hẹn, tính sẵn sàng cho một hợp tác lâu dài Mục đích đạt được chỉ khi thoả mãn nhu cầu của các bên

Thiện chí của doanh nhân thể hiện trong việc tuyển dụng lao động với những tiêu chí rõ ràng, cụ thể, tuyển đúng đối tượng, sắp xếp công việc phù hợp

Những người lao động thực sự có tâm huyết với công việc, gắn bó với công ty, người quản lý có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, quan tâm đến đời sống công nhân

Thứ bảy, tôn trọng hạnh phúc của người khác:

Nhà quản lý phải quan tâm đến thể chất và tinh thần của các nhân viên, nhà cung cấp, người tiêu dùng và cả những người có liên quan Các nhà quản lý phải tạo ra được sự ưu tiên cao nhất về tính an toàn và phải biết được hết mọi rủi

ro tại nơi làm việc Hơn nữa, nhân viên, khách hàng, người cung cấp cũng không nên để xảy ra những phiền nhiễu ảnh hưởng đến doanh nghiệp

Là nhà kinh doanh, lợi nhuận là luôn được đề cao, nhưng với đối thủ, việc tôn trọng đối thủ khi cạnh tranh trên thương trường cũng chính là tôn trọng bản thân mình Tôn trọng thể hiện trong chính sách định giá, các chương trình

Trang 39

khuyến mại, chương trình marketing… Chẳng hạn: nếu doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm của mình, đề cao sản phẩm của mình nhưng bên cạnh đó lại khuyến cáo khách hàng không nên dùng sản phẩm của doanh nghiệp khác, thể hiện sự không tôn trọng đối thủ trong kinh doanh Các công ty gốm sứ không vì lợi ích

cá nhân quá đề cao chất lượng tốt nhất của sản phẩm công ty mình mà quên đi tính cạnh tranh trên thương trường

Hạnh phúc của xã hội là được sống trong bầu không khí trong lành, không

bị ô nhiễm nguồn nước, khí quyển do chất thải của các nhà máy Công ty sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc cần quan tâm đến phế liệu, chất thải khi đưa ra môi trường tự nhiên

Khách hàng là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh Nếu như quá đề cao lợi nhuận mà bỏ qua quyền lợi của khách hàng thì cũng không thể phát triển bền vững Doanh nhân cần nắm rõ quyền lợi của người tiêu dùng

để xác định mục tiêu, phương hướng, cách thức kinh doanh cũng như giá thành sản phẩm

Với nhân viên, hạnh phúc của họ chính là được làm việc phù hợp với trình

độ chuyên môn, mức lương thỏa đáng với công sức bỏ ra, môi trường làm việc thân thiện, có cơ hội thăng tiến… Hạnh phúc đôi khi chỉ là sự quan tâm, động viên, lời thăm hỏi của lãnh đạo đối với nhân viên

Thứ tám, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác

Những hạn chế ở nơi làm việc về các quyền lợi cơ bản gồm: vấn đề thuộc

về lời ăn tiếng nói, thời gian, quyền tự do cá nhân… phát sinh sự phân biệt đối

xử thiếu thiện cảm Việc tiếp xúc với ban lãnh đạo có thể rất có ý nghĩa trong việc thỏa thuận về những khả năng của nhân viên, điều này sẽ làm cho mọi người hiểu được giá trị của những quyền lợi trên Các nhà quản lý nên tạo ra những ưu tiên đặc biệt nhằm duy trì các quyền tự do và quyền hạn khác, thậm chí ngay ở nơi mà những hình phạt theo luật định cụ thể không tồn tại

Nhân viên mong muốn được nói lên những suy nghĩ, những ý kiến cá nhân, đưa ra những đề xuất trong công việc, làm việc trong môi trường bình đẳng, không phân biệt đối xử, không định kiến Trong doanh nghiệp thường có hòm thư góp ý nhưng nhiều nhân viên vẫn muốn được có dịp tiếp xúc với ban lãnh đạo để được trao đổi trực tiếp

Trang 40

Với người tiêu dùng, quyền tự do thể hiện trong việc lựa chọn sản phẩm, khi có những cuộc trưng cầu ý kiến, họ có quyền đưa ra những ý kiến, những đánh giá của mình về sản phẩm đó, cũng như những mong muốn của họ về sản phẩm, có quyền được tư vấn hỗ trợ khi cần thiết…

Đối tác có quyền đưa ra những yêu sách, những điều khoản phát sinh trong quá trình hợp tác, đưa ra những khó khăn, trở ngại trong quá trình triển khai công việc…

1.3.2 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở phạm vi cá nhân

Trong phạm vi này vai trò của cá nhân rất quan trọng vì mọi phẩm chất

ĐĐ đều thể hiện qua nhận thức, thái độ và quyết định ứng xử của cá nhân Ở phạm vi cá nhân, các chuẩn mực ĐĐ xã hội phổ thông như lòng nhân ái, vị tha, thủy chung, khoan dung… có giá trị điều chỉnh rất lớn các quan hệ và các lĩnh vực của cá nhân

Những tiêu chí cơ bản để đánh giá doanh nhân trong phạm vi cá nhân là:

 ĐĐKD thể hiện thông qua ý thức ĐĐ nghề nghiệp Bao gồm:

- Tôn trọng bản thân;

- Gương mẫu trong công việc;

- Tham gia các lớp bồi dưỡng về lãnh đạo, quản lý;

- Công minh trong công việc;

- Quan tâm xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể lao động đoàn kết, gắn bó

 ĐĐKD thể hiện thông qua động cơ thúc đẩy Bao gồm:

- Muốn khẳng định bản thân;

- Quan tâm tới lợi ích của con người;

- Lợi nhuận

1.3.3 Biểu hiện đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở phạm vi liên nhân cách

Ở phạm vi này ĐĐ trong HĐKD được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa nhà quản lý kinh doanh và NLĐ, người tiêu dùng, đối tác, đối thủ Trong quan hệ với NLĐ bao gồm tất cả các quan hệ trong và ngoài hợp đồng lao động, quyền lợi hợp pháp và nghĩa vụ của NLĐ như: việc làm, phúc lợi lao động, quy tắc làm việc, khuyến khích lao động… Những vấn đề trên được phản ánh trong các quan hệ chủ - thợ, quan hệ lãnh đạo – điều hành, quản lý và bị quản lý, tiền lương… Đảm bảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có ĐĐ nhất trong vấn

đề bảo vệ NLĐ NLĐ có quyền làm việc trong một môi trường an toàn Mặt

Ngày đăng: 15/03/2021, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w