Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến tiêu hoá sinh trưởng phòng chống tiêu chảy ở lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21 56 ngày tuổi Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến tiêu hoá sinh trưởng phòng chống tiêu chảy ở lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21 56 ngày tuổi luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH THUẬN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
HỖN HỢP VI KHUẨN PROBIOTIC ĐẾN TIÊU HOÁ, SINH TRƯỞNG, PHÒNG CHỐNG TIÊU CHẢY
Ở LỢN CON GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA
(21- 56 NGÀY TUỔI)
Chuyên nghành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 62 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN PHÙNG
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Thuận
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, trong suốt quá trình thực hiện tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô, bạn bè, gia đình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban giám đốc Trung tâm thực hành thực nghiệm, Khoa sau Đại Học, Viện Khoa học Sự Sống, Khoa chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, quan tâm, tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Phùng đã không quản thời gian tận tình giúp đỡ về phương hướng
và phương pháp nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Thuận
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 0
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt trong luận văn vi
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cở sở khoa học 4
1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con 4
1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con 5
1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá dạ dày lợn con 5
1.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hoá ruột 7
1.1.2.3 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá của lợn con 9
1.1.2.4 Cấu tạo nhung mao ruột non và pH của đường tiêu hoá 11
1.1.3 Thức ăn và dinh dưỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa 13
1.1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa 13
1.1.3.2 Các nguyên liệu thức ăn chính dùng trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa 16
1.1.4 Tổng quan về Probiotic 18
1.1.4.1 Khái niệm về Probiotic 18
1.1.4.2 Cơ chế tác dụng của Probiotic 19
1.1.4.3 Thành phần hỗn hợp vi khuẩn Probiotic sử dụng trong thí nghiệm 20
i
Trang 51.1.5 Một số nét chính về hội chứng tiêu chảy ở lợn con 23
1.1.5.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con và nguyên nhân gây tiêu chảy 23
1.1.5.2 Một số loại vi khuẩn thường gặp trong bệnh tiêu chảy 25
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28
1.2.1 Tình hình nghiên trong nước 28
1.2.2 Tình hình nghiên trên thế giới 31
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 33
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 33
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Thí nghiệm thử mức tiêu hoá 34
2.3.2 Phương pháp thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng hỗn hợp vi khuẩn probiotic đến sinh trưởng, phòng chống tiêu chảy và hiệu quả chăn nuôi lợn ngoại giai đoạn sau cai sữa 37
2.3.3 Phương pháp xác định thành phần hoá học của thức ăn và trong phân lợn 42
2.3.3.1 Phương pháp xác định vật chất khô 42
2.3.3.2 Phương pháp xác định hàm lượng nitơ 42
2.3.3.3 Phương pháp xác định hàm lượng tinh bột 42
2.3.4 Phương pháp sử lý số liệu 42
Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến khả năng tiêu hoá của lợn con giai đoạn sau cai sữa 44
Trang 63.1.1 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của
lợn con thí nghiệm 44
3.1.2 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá nitơ của lợn thí nghiệm 45
3.1.3 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ tiêu hoá tinh bột toàn phần của lợn thí nghiệm 47
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung một số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa 49
3.2.1 Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm 49
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 52
3.2.3 Tình hình mắc tiêu chảy của lợn con thí nghiệm 54
3.2.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn 57
3.2.4.1 Lượng thức ăn tiêu thụ/con/ngày 57
3.2.4.2 Tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng lợn 58
3.2.4.3 Tiêu tốn năng lượng/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 59
3.2.4.4 Tiêu tốn protein/1 kg tăng khối lượng lợn 60
3.2.4.5 Tiêu tốn lysine/kg tăng khối lượng 61
3.2.5 Chi phí thức ăn/ 1kg tăng khối lượng 63
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 65
4.1 Kết luận 65
4.2 Tồn tại 66
4.3 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm I 34
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí lợn trong thí nghiệm thử mức tiêu hoá 35
Bảng 2.3 Thành phần của các chủng vi khuẩn và nấm men trong hỗn hợp vi khuẩn bổ sung vào khẩu phần thí nghiệm 35
Bảng 2.4 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của KPCS thí nghiệm I 35
Bảng 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm II 38
Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ tiêu hoá VCK của lợn thí nghiệm 44
Bảng 3.2 Tỷ lệ tiêu hoá nitơ tổng số của lợn thí nghiệm 46
Bảng 3.3 Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con thí nghiệm 47
Bảng 3.4 Sinh trưởng tích luỹ của lợn con thí nghiệm 49
Bảng 3.5 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 52
Bảng 3.6 Tình hình mắc tiêu chảy của lợn con thí nghiệm 55
Bảng 3.7 Lượng thức ăn tiêu thụ 57
Bảng 3.8 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 58
Bảng 3.9 Tiêu tốn năng lượng/1kg tăng khối lượng 59
Bảng 3.10 Tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng 60
Bảng 3.11 Tiêu tốn lysine/ kg tăng khối lượng 62
Bảng 3.12 Chi phí thức ăn/ 1kg tăng khối lượng 63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Lactobacillus acidophilus 20
Hình 2.2 Bacillus subtilis 21
Hình 2.3 Saccharomyces cerevisae 22
Hình 2.4 Lactobacillus casei 22
Hình 2.5 Beta glucana 23
Hình 2.6 Vi khuẩn E.coli 25
Hình 2.7 Vi khuẩn Salmonella 27
Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm 52
Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong nhữmg năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa đất nước
ta tiến nhanh trên mọi lĩnh vực, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Một trong những nghành được Đảng và Nhà nước quan tâm, đó là nghành chăn nuôi Đặc biệt là chăn nuôi lợn chiếm một vị trí đáng kể, bởi lẽ nó cung cấp nguồn thực phẩm chính cho con người hàng ngày Thời gian nuôi giết thịt nhanh, vốn quay vòng ngắn, do vậy nó được phát triển hầu khắp toàn quốc Tuy nhiên, người chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh Hội chứng tiêu chảy thường gặp ở lợn, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế và làm giảm năng suất chăn nuôi Hội chứng tiêu chảy không những xảy ra ở lợn con theo mẹ mà còn khá phổ biến ở lợn con giai đoạn sau cai sữa
Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như: virus, vi khuẩn, độc tố, thức ăn, thời tiết, vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy
ở lợn, phần lớn các tác giả đều tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu chảy ở giai đoạn lợn con theo mẹ Giai đoạn lợn con từ sau cai sữa, các tác giả tập
trung chủ yếu vào việc xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli gây bệnh Coli dung huyết (bệnh phù đầu) và vai trò của vi khuẩn Salmonella trong
bệnh phó thương hàn ở lợn Từ đó cũng đưa ra nhiều biện pháp phòng trị
bệnh tiêu chảy cho lợn như (tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6
tuần và 2 tuần trước khi đẻ, tiêm Dextran- Fe cho lợn con vào 3- 7 ngày tuổi,
bổ sung kháng sinh vào thức ăn, tập cho lợn con ăn sớm vào 7- 10 ngày tuổi Hiện nay, đang tồn tại những quan điểm khác nhau về việc sử dụng kháng sinh liều thấp như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi nhưng giảm tối đa tiến tới hoàn toàn không sử dụng kháng sinh đang là một
xu thế chung của thế giới Theo báo cáo của uỷ ban sử dụng dược phẩm trong
Trang 11thức ăn chăn nuôi trực thuộc Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (NRS- Mỹ), thiệt hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi có thể lên tới 2,5
tỷ USD mỗi năm (Donna U.Vogt 1999) [47] Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm ra các chất thay thế đang thực sự trở thành một nhu cầu cấp bách Trong đó có giải pháp sử dụng probiotic cho lợn con sau cai sữa được quan tâm nghiên cứu nhiều do có những đặc điểm ưu việt: an toàn đối với vật nuôi, cải thiện được các chức năng tiêu hoá, ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng khả năng miễn dịch ở gia súc, không để lại tồn dư kháng sinh và đảm bảo vệ sinh,
an toàn thực phẩm, (Jans, 2005) [56]
Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, việc nghiên cứu bổ sung một
số hỗn hợp vi khuẩn Probiotic cho lợn con giai đoạn sau cai sữa là rất quan
trọng Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
hỗn hợp vi khuẩn Probiotic đến tiêu hoá, sinh trưởng, phòng chống tiêu chảy ở lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21- 56 ngày tuổi”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của một số hỗn hợp vi khuẩn probiotic đến khả năng tiêu hoá vật chất khô, nitơ và tinh bột của lợn con giai đoạn sau cai sữa
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung hỗn hợp vi khuẩn probiotic vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi lợn con giai đoạn 21- 56 ngày tuổi
- Xác định được vai trò của hỗn hợp vi khuẩn probiotic trong việc
phòng chống tiêu chảy ở lợn con giai đoạn 21- 56 ngày tuổi
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung một số hỗn hợp vi khuẩn probiotic vào khẩu phần ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa đó là:
+ Phòng và trị hội chứng tiêu chảy, đặc biệt tiêu chảy do E.coli gây ra
thông qua việc làm tăng số lượng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn có hại ở đường tiêu hoá
Trang 12+ Kích thích tiêu hoá, tăng khả năng hấp thụ và chuyển hoá thức ăn + Kích thích tăng trưởng và hiệu quả chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa
+ Là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế phẩm trong chăn nuôi lợn
* Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đưa ra được khuyến cáo về việc cần thiết sử dụng probiotic bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa để thay thế kháng sinh, nhằm hạn chế các bệnh về đường tiêu hoá của lợn con, góp phần nâng cao khả năng sinh trưởng, tạo điều kiện nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cở sở khoa học
1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính Theo Dương Mạnh Hùng (2007) [13] đã khái quát: sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và
sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh Theo TS Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Tốc độ sinh trưởng của lợn không đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5- 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7- 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần
và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12- 14 lần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp Do lợn có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9- 14g protein/1kg khối lượng cơ thể Trong khi đó lợn trưởng thành tích luỹ được 0,3- 0,4 kg protein Hơn nữa để
Trang 14tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn thức ăn lớn Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg thịt mỡ
Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng thì người chăn nuôi phải nắm vững đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn để tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh tế cao
1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con
Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể có sự phát triển các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh và hoàn thiện dần về chức năng Có sự phát triển theo tuổi một cách rõ rệt nhưng vẫn chưa hoàn thiện Khi còn trong bào thai cơ quan tiêu hoá của lợn đã hình thành đầy đủ nhưng mang dung tích bé Trong thời gian bú sữa cơ quan tiêu hoá phát triển và phát dục nhanh
1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá dạ dày lợn con
Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh
về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt so với lợn lớn Theo Trương Lăng (2004) [17] lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch còn chưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ acid của dịch
vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém Hàm lượng acid biến đổi theo lứa tuổi của lợn con, acid HCl tự do xuất hiện ở 25-
30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40- 50 ngày tuổi Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [32] cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện sự thay đổi hoạt tính các enzyme trong dịch vị
Trang 15- Men pepsin: lợn con dưới 1 tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCl tự do, lượng acid tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu acid hay còn gọi là “Hypoclohydric” Sau 3 tuần tuổi, lượng HCl tự do trong dịch vị mới tăng dần Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới
có khả năng tiêu hoá đầy đủ Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng
Có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5- 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14 Còn trong dạ dày của loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5- 3 với nồng độ HCl tự do từ 0,1- 0,5%
-Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thuỷ phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp trong khoảng pH= 4- 5 Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCl tự do hình thành chưa nhiều Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày
- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau giảm dần Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở pH= 4- 5
hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hoá
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hoá ruột
Theo Trương Lăng, (2004) [17] thì dung tích ruột non ở lợn con sơ sinh
là 100ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, 12 tháng đạt 20 lít Ruột già ở lợn sơ sinh dung tích 40 - 50ml, 20 ngày 100ml, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít, tháng thứ 7 là 11 - 12 lít
Tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tuỵ, tuyến tuỵ tiết ra dịch tuỵ theo ống dẫn tuỵ Wirsung đổ vào tá tràng (chức năng ngoại tiết) Dịch tuỵ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hoá: Dịch tuỵ có tác dụng phân giải từ 60- 80% protein, gluxit và lipit của thức ăn Trong dịch tuỵ có chứa các enzyme phân giải protein, phân giải bột đường và enzyme phân giải mỡ Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành
* Nhóm enzyme phân giải protein
- Men trypsine: Là enzyme chính của dịch tuỵ được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hoá trở thành dạng trypsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hoá trypsinogen
Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở trong thai 2 tháng tuổi chất chiết
đã có men trypsine, thai càng lớn hoạt tính của men trypsine càng cao Khi lợn con mới đẻ ra, hoạt tính của men trypsine dịch tuỵ rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày
Trypsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn Ngoài ra trypsin còn phân giải protein thành polipeptid và amino acid
- Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là Chimotripsinogen sau đó được trypsin hoạt hoá chuyển thành Chimotripsin hoạt động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự trypsin
- Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptid và amino acid
Trang 17- Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO
-tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptid
- Dipeptidase phân giải đipepti thành 2 amino acid
- Protaminase phân giải protamin thành peptid và amino acid
- Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid
* Nhóm men thuỷ phân glucid:
- Men Amylase và Mantase: Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tuỵ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém, chỉ tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn vào Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém Sau 3 tuần tuổi, enzyme amylase và mantase có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn Amylase hoạt động tối ưu trong pH = 7,1 Nó cắt liên kết
1 - 4α glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose Maltase phân giải đường maltose thành glucose
- Men Saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi, men saccarase hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarase thì rất dễ bị ỉa chảy
- Men lipase: Hoạt động tối ưu ở pH= 6,8 Lipase cắt các liên kết este giữa glycerol và acid béo,do đó phân giải glycerid đã được nhũ hoá bằng dịch ruột để tạo ra mono glycerid, acid béo và glycerol
- Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Men này
có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con sinh ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần
Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết của men amylase, maltase và protease, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của các men này tăng dần theo sự tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó giảm dần Riêng men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó giảm dần theo sự tăng lên của ngày tuổi Đây chính là điểm cần lưu ý khi bổ sung thức ăn cho lợn con
Trang 18Như vậy, để tăng tỷ lệ tiêu hoá và giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con cũng như để phù hợp với khả năng tiêu hoá của lợn thì trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn
dễ tiêu hoá như: bột sữa, đường lactose thức ăn cần được rang chín và nghiền nhỏ đồng thời bổ sung thêm một số acid vô cơ như acid lactic
1.1.2.3 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá của lợn con
Hệ vi sinh vật đường tiêu hoá của lợn con có vai trò nâng cao khả năng
sử dụng thức ăn, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn Sự phát triển mạnh của vi khuẩn sinh acid và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế các vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho
cơ thể (Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [4] )
Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàng ngày một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, Chúng có thể bị biến đổi ít nhiều và căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tuỳ theo loại thức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo acid trong ruột rất phát triển
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “vi sinh vật tuỳ tiện” thay đổi tuỳ theo loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh
viễn Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: steptococcus, lactic, lactobacterium, acid
ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường
ruột Trong đường ruột và dạ dày là môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như dịch mật, dịch vị và tác động đối kháng của các vi khuẩn khác nhau
Trang 19* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật từ các nguồn trên Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng HCl rất lớn (0,2%) Acid trong dịch vị dạ dày
có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt Số lượng vi sinh vật ở dạ dày rất ít do
tác dụng diệt khuẩn của acid dạ dày gồm các vi khuẩn lên men (Saccharomyces
minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lactobacillus beljerincke ) Ngoài ra còn
có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày xuống ruột
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn Trong ruột non
chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào,
Aerobacter aerogenes Ở gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu
tăng lên
* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên Trong ruột già
của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây bệnh nhưng chưa biểu hiện bằng triệu chứng lâm sàng Vi khuẩn phó thương hàn,
vi khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [24]
Trang 20Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [4] trong hệ tiêu hoá của động vật, hệ
vi sinh vật luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hoá, khi đó phần lớn
các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chiếm 90% và hoạt động
hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hoá, gây tiêu chảy (nhất là
lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và Salmonella
Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng: Vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh như: Vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn thối rữa Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, cho nên chưa tạo được sự cân bằng về hệ vi sinh vật đường tiêu hoá lợn con, tạo điều kiện cho
các vi khuẩn gây bệnh như E.coli phát triển mạnh nên lợn con bị rối loạn tiêu hoá YuYu (2005) [42], ở lợn con bú sữa, nhóm vi khuẩn Lactobacillus spp,
trong dạ dày và đường tiêu hoá phát triển mạnh Vi khuẩn này sử dụng một số
đường lactose của sữa để sản sinh ra acid lactic làm giảm độ pH trong dạ dày,
sự tăng lượng acid này làm cho quá trình tiêu hoá tốt hơn và ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn khác, một vài loại vi khuẩn trong đó bất lợi cho tiêu hoá của lợn con
1.1.2.4 Cấu tạo nhung mao ruột non và pH của đường tiêu hoá
* Cấu tạo nhung mao ruột non
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [32]: Niêm mạc ruột non được
có tới 20- 40 nhung mao Mỗi một nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, dài 0,5- 1mm được bao phủ bằng lớp tế bào biểu mô trụ Trong nhung mao có mạng lưới mao mạch và mạch huyết Mỗi nhung mao lại được bao phủ bằng các vi nhung mao làm diện tích hấp thu của ruột non tăng lên hàng trăm lần Trên toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống gọi là hõm Lieberkin tiết ra
Trang 21dịch ruột chứa men Riêng ở tá tràng có tuyến brunner là dạng trung gian của tuyến ở vùng hạ vị và tuyến ruột, chất tiết là dịch nhầy
nhung có 3 loại tế bào:
+ Tế bào biểu mô: hình trụ, nhân bầu dục, trên mỗi tế bào biểu mô có
4000 - 5000 vi nhung, trên vi nhung còn có lưới Glycocalic
+ Tế bào panet: chức năng chưa rõ thúc đẩy hoạt động tiêu hoá, hấp thu qua màng
- Ruột lông nhung (lõi): là một hệ thống mạng lưới gồm có ống dưỡng chấp, động và tĩnh mạch Hoạt động của lông nhung giống như một cái bơm
mà sợi cơ là lực tạo ra sức ép, khi bề mặt lông nhung căng phồng (coi như ta đẩy pittong vào), tất cả các chất dinh dưỡng được thấm qua lỗ nhỏ của vi nhung mao Khi bề mặt lông nhung co lại (khi kéo pittong ra) thì tất cả các chất dinh dưỡng được dồn về ống dưỡng chấp, động mạch, tĩnh mạch Khi các chất dinh dưỡng vào trong mạng lưới tất cả các dịch hấp thu có tính chất là lipit qua ống dưỡng chấp, còn thức ăn protit và đường theo hệ thống mạch quản
Trong giai đoạn sinh trưởng, hệ thống nhung mao ruột non phát triển rất mạnh Tuy nhiên, lợn con sau cai sữa thường rất hay bị tổn thương nhung mao ở thành ruột non do ảnh hưởng của thức ăn, khi đó sẽ làm giảm khả năng sản xuất men tiêu hoá ở ruột non của lợn con, giảm khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn Thức ăn không được hấp thụ sẽ chuyển xuống ruột già, làm tăng
sự phát triển của vi sinh vật có hại và làm tăng khả năng bùng phát vi khuẩn
E.coli, làm lợn con bị ỉa chảy
* Điều kiện pH dạ dày và ruột non
Nhờ sự phân tiết HCl của tế bào vách tuyến tuỵ mà pH của môi trường
dạ dày lợn con giảm dần và đạt tới độ ổn định vào khoảng 2,5 - 3,0 Ở 21 - 35 ngày sau khi đẻ, lúc này men pepsin có hoạt lực đầy đủ để tiêu hoá protein thức ăn
Trang 22Ở lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày, nếu được tập ăn sớm thì sau
2 tuần tuổi trở đi lượng HCl tự do tăng dần, đã tạo môi trường pH phù hợp để tiêu hoá protein trong thức ăn bổ sung Do vậy pH dạ dày lợn con phải cần thời gian nhất định từ khi đẻ ra để đạt mức phù hợp với tiêu hoá protein Trị
số pH ruột non nằm trong khoảng pH = 7 - 8 do các muối kiềm trong dịch tuỵ, dịch mật, dịch ruột non tạo ra Ở tá tràng, pH môi trường được quy định bởi
pH của dịch tuỵ (7,8 - 8,4) và dịch ruột (pH = 8,0 - 7,4) để tạo môi trường tá tràng có pH nằm trong khoảng 7,5 - 8,0 Trị số pH của tá tràng dễ thay đổi khi tiếp nhận thức ăn từ dạ dày xuống theo từng đợt Với khối lượng thức ăn được trộn acid dịch vị (pH acid) thì các muối kiềm trong dịch tuỵ và muối mật của dịch ruột sẽ trung hoà acid trong thức ăn vì thế nguyên tắc pH chất chứa trong
tá tràng phải giảm đi
Còn ở không tràng pH có độ kiềm cao (pH = 8,2 - 8,7) Trị số pH kiềm tính của đoạn ruột là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại hoạt động
Vì thế đứng trên quan điểm dinh dưỡng người ta tìm cách đưa vào đường ruột
những chất hay các vi khuẩn lên men acid như Lactobacillus để làm giảm bớt
đi trị số pH nếu có độ kiềm cao ở đường ruột non nhằm kìm hãm hoạt động của vi khuẩn có hại
1.1.3 Thức ăn và dinh dưỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
1.1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
Nhu cầu về dinh dưỡng đối với lợn con rất lớn, nó đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, đặc biệt đối với lợn con
Nhu cầu các chất dinh dưỡng tăng theo độ lớn của lợn
* Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng lượng trao đổi (ME, kcalo/kg) Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng nhu cầu của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng Ở giai đoạn bú
Trang 23sữa, mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp được cho lợn con Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ mẹ Từ tuần thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của lợn con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21 ngày tuổi giảm dần Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn cho lợn con khá cao Theo Tiêu chuẩn VN - TCVN 1547 - 1994, mức năng lượng trao đổi trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa cần 3200 kcal/kg
* Nhu cầu protein và acid amin cho lợn con
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [2]: Protein là nhóm chất hữu
cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng của lợn là qúa trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong
cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không
giống nhau Protein có nhiều nhất ở trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng
protein của cơ thể
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích luỹ protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả
năng sống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16 - 18%
Acid amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [9] vai trò của các acid amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính
là nhu cầu về acid amin Cơ thể của con vật chỉ có thể tổng hợp acid amin trong thức ăn, nhưng acid amin nào nằm ngoài cân đối sẽ bị oxy hoá cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp acid amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn
Trang 24Một số thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các acid amin
thì protein thô cần 11 - 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối acid amin thì
cần 20- 22% protein thô Yêu cầu về protein thô và protein tiêu hoá trong thức
ăn hỗn hợp cho lợn con (tính theo % khô trong không khí, Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) khuyến cáo, đối với lợn con 1 - 5 kg là 24 và 22%; đối với lợn 5 -
10 kg là 22 và 20%; đối với lợn 10 - 30 kg yêu cầu 18 và 16% (Trích dẫn theo Trần Văn Phùng và cs, 2004) [26]
Cũng trích theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26], nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho lợn (tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) nhu cầu protein thô và protein tiêu hoá là 53 và 47 g/ngày (đối với lợn 1 - 5kg); 84 và 76 g/ngày (đối với lợn
5 - 10 kg); 190 và 166 g/ngày (đối với lợn 10 - 30 kg)
Trong các loại thức ăn khác nhau hàm lượng protein khác nhau Một số lợi thức ăn giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng Một số protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó
* Nhu cầu khoáng chất
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [10] gia súc non cần cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra
trong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối
lượng cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi chất khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Gia súc non có khả năng tích luỹ canxi, photpho cao Tuổi càng tăng khả năng tích luỹ càng giảm Nhìn chung gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp
Trang 25thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh các hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc
non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5 - 2/1)
* Nhu cầu về các vitamin
Vitamin là nhóm chất dinh dưỡng đóng vai trò xúc tác trao đổi chất Trong các loại vitamin, lợn con rất cần vitamin A và D Vitamin A và D cần thiết cho sinh trưởng lợn con, giúp phát triển bình thường và nhiều chức năng sinh lý quan trọng khác Thiếu vitamin A và D có thể gây thiếu máu làm cho lợn còi cọc
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [9] cho biết: tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết luận tốt hơn cả gồm vitamin A= 2000 UI/kg thức
ăn, vitamin D= 2500 UI, vitamin E= 10 - 15 mg
* Nhu cầu nước
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng hay vật liệu xây dựng
cơ thể nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Nước trong cơ thể động vật vừa là dung môi, vừa là phương tiện vận chuyển
Lợn con từ 5 ngày tuổi hàng ngày cần cung cấp lượng nước khoảng 10%
so với khối lượng cơ thể Cách duy nhất để cung cấp nước tốt nhất cho lợn con là tiếp xúc tự do với nguồn nước và uống tự do
1.1.3.2 Các nguyên liệu thức ăn chính dùng trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
Nguồn dinh dưỡng cho lợn con trong 21 ngày đầu chủ yếu là sữa mẹ, số lượng và chất lượng sữa của lợn nái có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lợn con Sau 21 ngày sữa lợn mẹ bắt đầu giảm cả về số lượng và chất lượng, do
đó không đáp ứng được nhu cầu phát triển của lợn con Các chất dinh dưỡng
mà lợn con nhận được từ thức ăn ngày càng tăng mới đảm bảo cho sự phát triển bình thường Do vậy để bổ sung năng lượng cho lợn con cần chọn những loại thức ăn có chất lượng cao, dễ tiêu hoá và có hàm lượng xơ thấp
Trang 26* Ngô
Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam (2002) [19] trong số các hạt cốc dùng làm thức ăn gia súc, trừ cao lương, ngô có hàm lượng năng lượng cao nhất nhưng hàm lượng protein lại thấp Ngô giàu tinh bột, ngon miệng, tỷ lệ tiêu hoá cao Ngô thường được dùng làm thức ăn chuẩn về năng lượng để so sánh với các loại hạt cốc khác Ngô chứa khoảng 720 - 800g tinh bột/kg vật chất khô và hàm lượng xơ thấp, giá trị năng lượng cao từ 3100 - 3200 kcal/kg Hàm lượng protein thô trong ngô biến động lớn từ 80 - 120 g/kg phụ thuộc vào giống Tỷ lệ chất béo trong ngô tương đối cao (4 - 6%), chủ yếu tập trung trong mầm ngô Gia súc, gia cầm tiêu hoá tốt các chất dinh dưỡng trong hạt ngô (tỷ lệ tiêu hoá xấp xỉ 90%) Tuy vậy lượng protein ngô vẫn còn thấp hơn
so với nhu cầu của gia súc Trong protein của ngô thiếu tới 30 - 40% lysine,
15 - 30% tryptophan, 80% leusine so với nhu cầu của lợn (Vũ Duy Giảng và
cs, 2009) [6]
* Gạo tấm
Gạo có hàm lượng xơ 40 - 80 g/kg và protein là 70 - 87 g/kg Hàm lượng lysine, arginine, tryptophan trong protein của gạo cao hơn ở ngô Nhưng hàm lượng các nguyên tố khoáng đa, vi lượng ở gạo lại thấp hơn so với nhu cầu của gia súc, gia cầm
* Khô dầu đỗ tương
Khô dầu đỗ tương là nguồn thức ăn giàu protein lý tưởng cho gà con, lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa Vì khô đỗ tương vừa đảm bảo protein, acid amin, và đảm bảo năng lượng Khô đậu tương giàu lysine nên khi phối hợp thức ăn hạt hoà thảo (nghèo lysine) sẽ tạo cân bằng lysine trong khẩu phần cho lợn Tỷ lệ khô đỗ tương thích hợp trong khẩu phần lợn con sau cai sữa là 20 - 25% (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [10]
* Bột cá
Bột cá là thức ăn động vật có hàm lượng chất dinh dưỡng cao nhất, được chế biến từ cá tươi hoặc sản phẩm phụ trong công nghiệp chế biến cá hộp
Trang 27Trong protein bột cá có đầy đủ acid amin không thay thế: Lysine 7,5%, methionine 3%, izoleucine 4,8% Protein trong bột cá sản xuất ở Việt Nam biến động từ 35 - 60%, khoáng tổng số biến động từ 19,6 - 34,5% trong đó muối: 0,5 - 10%; canxi: 5,5 - 8,7%; phốt pho: 3,5 - 48%, các chất hữu cơ trong bột cá được gia súc, gia cầm tiêu hoá với tỷ lệ cao: 85 - 90% (Vũ Duy Giảng và cs, 2009) [6]
* Bột sữa khử bơ
Bột sữa khử bơ được chế biến từ sữa đã khử bơ dùng để nuôi bò sữa và sản xuất thức ăn cho lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa Bột sữa khử bơ có hàm lượng protein: 32%, có đầy đủ acid amin không thay thế phù hợp với nhu cầu của gia súc non, vì vậy nó có thành phần thiết yếu trong thức ăn lợn con (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) [19]
* Acid amin tổng hợp
Hiện nay trên thị trường có 4 loại acid amin được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biến thức ăn Đứng đầu là L- lysine HCl Đây là acid amin được sử dụng rộng rãi nhất trong thức ăn cho lợn Ba loại acid amin là DL- methionine, L- threonine và L- tryptophan được sử dụng ít hơn đặc biệt
là tryptophan, chủ yếu dùng để sản xuất thức ăn cho lợn con
1.1.4 Tổng quan về Probiotic
1.1.4.1 Khái niệm về Probiotic
Thuật ngữ probiotic được nhắc tới đầu tiên bởi Lilly và Stillwell (1965) để miêu tả những yếu tố kích thích sinh trưởng được sản sinh bởi vi sinh vật Probiotic được bắt nguồn từ gốc Hy Lạp với nghĩa trợ sinh (Prolife) Fuller (1989) [51] định nghĩa Probiotic như một loại thức ăn bổ sung vi sinh vật sống, có tác động có lợi đến động vật chủ nhờ khả năng duy trì sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Năm 1989, US FDA (Food and Drug Administriation) đã yêu cầu những nhà sản xuất dùng thuật ngữ vi sinh vật được cho ăn trực tiếp là DFM
Trang 28(Direct Fed Microbials) hơn là dùng probiotic FDA định nghĩa DFM như một nguồn vi sinh vật sống tìm thấy trong tự nhiên, nó bao gồm cả vi khuẩn, nấm mốc, nấm men (trích dẫn bởi Lã Văn Kính, 1998) [15]
1.1.4.2 Cơ chế tác dụng của probiotic
Trong ống tiêu hóa có hàng trăm nghìn tỷ vi khuẩn, số lượng vi khuẩn có lợi đường ruột thường được duy trì ở một tỷ lệ cân bằng so với vi khuẩn có hại, tỷ lệ này vào khoảng 85/15 (85% vi khuẩn có lợi và 15% vi khuẩn có hại) Nếu tỷ lệ cân bằng này nghiêng về phía vi khuẩn có hại thì xuất hiện rối loạn tiêu hóa, suy giảm khả năng miễn dịch niêm mạc ruột, dẫn đến suy giảm sức kháng bệnh của toàn cơ thể Sự suy giảm vi khuẩn có ích thường xẩy ra khi sử dụng kháng sinh, tiếp xúc với hóa chất nông nghiệp hoặc do ô nhiễm
Bổ sung probiotic là gieo lại vi khuẩn có ích bị tổn hại do các yếu tố trên Theo tài liệu của Han Poong industry Co., Ltd., (2002) [14], Fuller (1992) [52], Fuller (1989) [51], Lã Văn Kính (1998) [15], cơ chế tác dụng của probiotic như sau:
- Duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột bằng cách l oại trừ cạnh tranh và hoạt động đối kháng
Cạnh tranh bao gồm : Cạnh tranh về vị trí bám dính trên nhung mao ruột , cạnh tranh chất dinh dưỡng , cạnh tranh về khối lượng các chất sinh ra bởi vi sinh vật Nhiều ng hiên cứu chứng m inh probiotic ức chế bám dính trên nhung
mao của vi sinh vật gây bệnh như : E.coli, sallmonella, tryphimurium (Barnes
và cs, 1997) [44] Việc ức chế khả năng bám dính của vi sinh vật gây bệnh sẽ ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh củ a chúng , từ đó probiotics được coi là giải pháp phòng ngừa bệnh đường ruột
- Tăng khả năng tiêu hóa thức ăn : Kích thích tính thèm ăn , làm tăng tích lũy mỡ , nitrogen, Ca, P, Cu, Mn (Nahason và cs , 1992 - 1996; trích dẫn bởi
Lã Văn Kính, 1998) [15]
Trang 29- Làm giảm urease trong chất chứa ruột non , ngăn chặn tổng hợp những amin độc , giảm nồng độ NH 3 trong phân gia súc , gia cầm, do đó ảnh hưởng
có lợi đối với môi trường
- Tổng hợp vitamin nhóm B như : B1, B2, B6, B12
probiotic trong thức ăn là sự sản xuất các chất kháng khuẩn có tác dụng trung
hòa độc tố tiêu chảy của vi khuẩn E.coli
- Kích thích hệ thống miễn d ịch: Yếu tố được xác định có vai trò kích thích hệ thống miễn dịch là thành phần của vách tế bào vi khuẩn
(peptidoglycan ) Sự phân hủy peptidoglycan tạo ra chất muramin peptid có tác dụng kích thích hoạt động của đại thực bào Khả năng bám vào niêm mạc ruột của p robiotic tạo lên sự tương tác giúp p robiotic tiếp xúc với hệ thống lympho đường ruột và hệ thống miễn dịch , nhờ đó thúc đẩy hiệu quả miễn dịch và tạo nên sự ổn định của hàng rà o bảo vệ của ruột
1.1.4.3 Thành phần hỗn hợp vi khuẩn probiotic sử dụng trong thí nghiệm
được môi trường pH thấp, (<5), lên
men đường glucose, lactose và
maltose sinh acid nhưng không sinh hơi
Tác dụng: Bám chặt vào màng nhầy ruột, ức chế sự bám dính của vi sinh vật gây bệnh; sản xuất các acid hữu cơ (acid lactic, acid acetic, acid
Hình 2.1 Lactobacillus acidophilus
Trang 30benzoic), làm giảm pH đường ruột, tạo môi trường không thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật có hại; sản xuất một số kháng sinh có tác dụng tiêu
vật có hại; sản xuất các enzym tiêu hoá (amylase, cellulase, lipase, protease) nên có tác dụng kích thích tiêu hoá, và các vitamin như B1, B2, B6, B12; khử độc tố trong đường ruột
Theo Gorbach (1996), tiêu chuẩn của vi khuẩn Lactobacillus lí tưởng
dùng trong probiotic phải đạt các yêu cầu: Chịu đựng được tính acid và mật,
có khả năng bám dính vào niêm mạc ruột, sống tốt trong môi trường ruột, sản xuất được các chất kháng khuẩn để tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh
* Bacillus subtilis
Hình 2.2 Bacillus subtilis
Đặc điểm: Trực khuẩn gram dương, có bào tử, hiếu khí, di động được không có giáp mô, thích hợp ở nhiệt độ 350C, lên men đường glucose và saccharose
Tác dụng: Sản sinh enzyme tiêu hoá: amylase, cellulase, pectinase, protease, lipase, tripsin, mannase, sản sinh các acid hữu cơ: acid lactic, acid acetic làm giảm pH đường ruột, tổng hợp vitamin nhóm B, cạnh tranh vị trí bám với vi khuẩn gây bệnh
Trang 31Hình 2.4 Lactobacillus casei
* Saccharomyces cerevisiae
Loài Sacchoramyces cerevisae
hiện đang được sử dụng như một
công cụ đắc lực để mang các DNA tái
tổ hợp phục vụ cho việc sản xuất các
sản phẩm thế hệ mới của kỹ thuật di
truyền (Nguyễn Lân Dũng, 1998) [3]
Đặc điểm: Nấm men đơn bào
hiếu khí, hình tròn hoặc hình bầu dục,
nhân rất nhỏ, tế bào phân chia theo
cách nẩy chồi, thích hợp môi trường
có pH từ 2-9, có khả năng lên men
một số loại đường và sinh acid
Tác dụng: Tạo sinh khối chứa acid amin và vitamin nhóm B Vách tế bào chứa mannan và glucan có tác dụng hoạt hoá đại thực bào, do đó giúp tăng cường miễn dịch Hấp phụ độc tố và thải ra ngoài Chuyển hoá glucose thành acid pyruvic, là cơ chất giúp các vi sinh vật có lợi hoạt động và sinh sản Sản xuất các enzym tiêu hoá: amylase, cellulase, lipase, protease Sản xuất các acid lactic, acid acetic, acid pyruvic, acid propionic, đưa pH ruột xuống 4-5
* Lactobacillus casei
Đặc điểm: là một vi khuẩn kị
khí tạm thời của loài Lactobacillus
được tìm thấy ở ruột non và miệng của
người vì sản sinh acid lactic lên nó trợ
giúp cho sự phát triển của các vi khuẩn
mong muốn Lactobacillus casei chịu
được biên độ hilus, sản sinh ra các
enzyme amylase
Tác dụng: tăng cường tiêu hoá, giảm sự không dung nạp sữa và chứng
táo bón Lactobacillus casei thường được sử dụng trong chế biến sữa Các sản
phẩm bao gồm: kem pho mát, kem chua
Hình 2.3 Saccharomyces cerevisae
Trang 32* Beta glucana
Đặc điểm: Là hỗn hợp sinh học tự nhiên bao gồm Beta 1- 3, 1- 6
glucan và Manna Oligosaccharide được chiết xuất từ các thành tế bào của
nấm men Saccharomyces cerevisiae Bản chất là một carbohydrate tinh chế
tạo thành chuỗi phân tử glucose
Tác dụng: Tiêu hoá chất xơ, nó giúp khắc phục các vấn đề tiêu hoá như kém hấp thu Là một enzyme rất quan trọng mà cơ thể không tự tổng hợp được giúp phá vỡ tổ chức liên kết bên ngoài của cellulose, tăng hiệu quả loại thải chất độc ra ngoài cơ thể
Những vi khuẩn trên được dùng để trộn hỗn hợp men bổ sung vào thức
vi khuẩn
Hình 2.5 Beta glucana 1.1.5 Một số nét chính về hội chứng tiêu chảy ở lợn con
1.1.5.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con và nguyên nhân gây tiêu chảy
Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng đặc thù của nhiều bệnh đường tiêu hoá gây ra bởi vi trùng, nấm, kí sinh trùng Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau
Trang 33Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho nghành chăn nuôi, xuất hiện ở 3 giai đoạn chính (chia theo lứa tuổi) là thời kỳ sơ sinh, giai đoạn bú sữa mẹ và thời kỳ lợn con sau cai sữa Ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ Đông xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm
* Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Nguyên nhân gây tiêu chảy ở từng nơi và từng giai đoạn khác nhau cũng thu được những kết quả khác nhau
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [41] có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như: vi khuẩn, virus, kí sinh trùng, độc tố thức ăn gây nên các bệnh khác nhau đều dẫn đến tiêu chảy
Những nguyên nhân chính:
- Ảnh hưởng của môi trường, quản lý, chăm sóc: Thời tiết thay đổi đột ngột, chuồng trại không đảm bảo thông thoáng, không hợp vệ sinh
- Di virus: Trong phạm vi nghiên cứu của mình, một số tác giả xác định,
có nhiều loại virus là tác nhân gây tiêu chảy Ở lợn, người ta thống kê được
hơn 10 loại virus gây tiêu chảy: Adenovirus typ IV, Enterovirus các virus
này tác động làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy (Khootenghuat, 1995) [16]
Bolh E.H và cs, (1979) [43] nghiên cứu bệnh viêm ruột, ỉa chảy ở lợn
con cũng tìm thấy rotavirus Cũng vào thời gian này, người ta còn tìm thấy
nguyên nhân gây tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn là một loại virus giống như
coronsvirus Dùng virus phân lập được gây bệnh thực nghiệm thấy virus
không chỉ gây bệnh cho lợn con mà cả lợn nuôi thịt, và cũng từ đó virus này được gọi là virus gây tiêu chảy truyền nhiễm của lợn là (PEDV), (trích theo
Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [4]
- Do vi khuẩn: Đa số các tác giả đều cho rằng nguyên nhân gây tiêu chảy
ở lợn là vi khuẩn, đặc biệt là E.coli và Salmonella
Trang 34E.coli là nguyên nhân gây nên các bệnh tiêu chảy thường gặp, người ta
chứng minh vai trò của E.coli trong bệnh lợn con phân trắng Vai trò gây bệnh của E.coli gồm các Sezotype: 08; 0139; 0141; 0145; 0147; 0149 (Glawisching
E và cs, 1992) [54]
Theo Hồ Văn Nam và cs, (1996) [20] khi nghiên cứu về vi khuẩn nhận
thấy: Vi khuẩn E.coli không chỉ là vi khuẩn có mặt thường xuyên trong ruột
lợn đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa phân trắng, mà nó còn được tìm thấy trong 100% mẫu phân lợn ở những lứa tuổi lớn hơn Ngay ở lợn khoẻ mạnh,
E.coli cũng bội nhiễm theo lứa tuổi: Trong 1g phân lợn ở 1- 21 ngày tuổi, số
lượng E.coli là 55,4 triệu con Con số đó tăng dần theo lứa tuổi, ở lợn 22- 60
gày tuổi là 90,9 triệu con và 150 triệu vi khuẩn trong 1g phân lợn nái Khi lợn
viêm ruột ỉa chảy, kết quả nghiên cứu cho thấy, E.coli không chỉ bội nhiễm ở
lợn con 2 tháng tuổi, mà ở lợn lớn hơn và cả lợn nái cũng có tình trạng tương
tự Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu tương tự của (Cù Hữu Phú và
cs, 1999) [23] Các tác giả này cho thấy 70% mẫu bệnh phẩm của lợn con mắc
bệnh tiêu chảy ở các lứa tuổi khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli, chiếm 85,75% và Salmonella chiếm 80% Từ kết quả này đã khẳng định, hai loại vi khuẩn E.coli và Salmonella đóng vai trò chính gây chứng tiêu chảy
1.1.5.2 Một số loại vi khuẩn thường gặp trong bệnh tiêu chảy
* Vi khuẩn E.coli
Tên gọi đầy đủ của vi khuẩn
E.coli là Escherichia coli thuộc họ
tròn, khi trong cơ thể có hình cầu
Trực khuẩn đứng riêng lẻ đôi khi xếp
ADN
Tế bào chất
Màng tế bào Lông roi
Hình 2.6 Vi khuẩn E.coli
Trang 35thành chuỗi ngắn, xung quanh thân có lông nên có thể di động được Khi nhuộm bắt màu Gram (-) không hình thành nha bào Trong tổ chức và dịch thể ngâm ra từ bệnh tích thỉnh thoảng thấy hiện tượng bắt màu sẫm ở 2 đầu Tuy nhiên cũng có khi gặp những biến chủng không di động và không có lông
- Đặc tính nuôi cấy: Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [31] trực khuẩn
E.coli hiếu khí và yếm khí tùy tiện, mọc trên môi trường dinh dưỡng bình
C
C, độ pH thích hợp nhất là 7,4 Vi khuẩn
E Coli phát triển dễ dàng trên cá c môi trường nuôi cấy thông thường nh ư môi
trường nước thịt, môi trường thạch thường
- Đặc tính sinh hóa: Trực khuẩn E.coli lên men và sinh hơi đường
Glucoza, Galactoza, Mantoza, Arabinoza, lactoza, xyloza, ramnoza, mannitol, fructoza Có thể lên men hay không lên men : Saccaroza, rafinoza, salixin,
esculin,dunxit, glyxerol Chủng Bacterium coli commune không lên men saccaroza, trái lại ba chủng khác là B Coli communior, B lactis và B Cloacae lên men saccaroza Không nên men Dextrin, Amindin, Glycozen, Xenlobio
- Sức đề kháng của mầm bệnh: Trực khuẩn E.coli không chịu được
C trong vòng 15 - 30 phút, 1000C chết ngay Các chất sát trùng thông thường như Formon 1%, Crezin 5%, nước vôi
20% có thể tiêu diệt E.coli trong vòng từ 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy
khô, chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh
- Các chủng E.coli gây bệnh: Bệnh ỉa chảy của lợn con gây ra chủ yếu
do 4 type: O8; O138; O147; O(1,117).
- Đường nhiễm bệnh: Đường nhiễm bệnh chủ yếu do ăn uống Khi bị
nhiễm bệnh E.coli phát triển nhanh trong đường ruột Chúng tự hủy hoại và giải
phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng lympho, do đó máu nhiễm độc và con vật sẽ chết
Trang 36* Vi khuẩn Salmonella
- Nguồn bệnh của vi khuẩn: Giống Salmonella gồm trên 600 chủng vi
khuẩn, chủng đại diện của giống này
là Salmonella cholerae suis, trực
Salmon và Smith phân lập vào năm
1885 trên lợn mắc bệnh dịch tả
- Đặc điểm hình thái và đặc
tính nuôi cấy: Salmonella là một vi
khuẩn hình gậy , hai đầu tròn , kích
thước 0,4 - 0,6µm x 1 - 3µm Không
hình thành giáp mô và nha bào , phần
lớn có từ 7 - 12 lông nên có khả năng
di động được Bắt màu Gram âm , dễ
nhuộm với các thuốc nhuộm t hông thường sống được ở điều kiện hiếu khí và yếm khí, nhiệt độ thích hợp 370
C, pH = 7,2 - 7,6 Salmonella gây bệnh cho
động vật sinh trưởng tốt ở môi trường hiếu khí hơn ở môi trưởng yếm khí
- Đặc tính sinh hóa: Trực khuẩn Salmonella phần lớn lên men sinh hơi đường Glucoza, Mantoza, Levuloza, Galactoza… trừ một số Salmonella sau chỉ lên men nhưng không sinh ra hơi như: Salmonella abortus equi,
Salmonella abotus bovis, Salmonella typhisuis, Sal gallinarum và Sal Enteritidis dublin Salmonella pullorum không lên men đường maltoza và Salmonella cholerae suis không lên men arabinoza
Đa số Salmonella không làm tan chảy genlatin , không thủy hóa ure ,
lập vi khuẩn Salmonella như thạch E M.B (Eosin methylen blue ), môi trường kauffman , môi trường S S (Shigella - Salmonella)
Hình 2.7 Vi khuẩn Salmonella
(Pilus: tiên mao, Plagellum: lông roi, Plasma membaranse: màng plasma, cell wall: thành tế bào, capsule: bao nang)
Trang 37- Sức đề kháng của Salmonella: Có sức đề kháng cao đối với tác động của môi trường bên ngoài, trong phân sống được 4 năm, Salmonella chết trong canh
trùng ở nhiệt độ 600
C và 2 - 3h trong
C trong vòng 115
ngày, ở nhiệt độ đong lạnh Salmonella tồn tại được 7 tháng
- Đường nhiễm và khả năng truyền bệnh: Chủ yếu qua đường tiêu hóa
và đường hô hấp
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên trong nước
Trong đường ruột của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo trạng thái thăng bằng cho hoạt động của đường ruột Khi hệ vi sinh vật
cân bằng thì những vi sinh vật có lợi, phần lớn là vi khuẩn lactic, chiếm 90%
sẽ hoạt động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển, gây rối loạn đường tiêu hoá đẫn tới tiêu chảy Xuất phát từ cơ sở trên, nhiều nhà nghiên cứu đã tạo các dạng chế phẩm khác nhau của vi khuẩn hữu ích để đưa vào đường ruột tạo sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Ở nước ta nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố
Nguyễn Như Viên (1976) (dẫn qua Chu Đức Thắng, 1997) [33] đã sản
xuất thành công chế phẩm Bacillus subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus
subtilis vào môi trường đậu tương, nước cám gạo, thậm chí trong cả nước râu
ngô Theo tác giả, trong hàm lượng subtilis có thể hạn chế được vi khuẩn
gram âm và gram dương Có thể dùng chế phẩm để điều trị viêm ruột, ỉa chảy
ở lợn các lứa tuổi khác nhau
Đậu Ngọc Hào và cs (2000) [8] đã tiến hành bổ sung chế phẩm
Saccharomyces cerevisiae cho lợn con sau cai sữa, kết quả cho thấy, sau 14
Trang 38ngày thí nghiệm, lô thí nghiệm tăng trọng so với lô đối chứng là 103%, sau 21 ngày là 102%, sau 35 ngày là 102% Như vậy khi bổ sung 1% chế phẩm nấm
men Saccharomyces cerevisiae thì khối lượng trung bình của lợn con sau cai
sữa ở lô thí nghiệm cao hơn so với lô đối chứng Ngoài việc giúp cho tăng
trọng của lợn con thì việc sử dụng chế phẩm Saccharomyces cerevisiae còn
giảm được phần nào lượng thức ăn tiêu tốn Ở lô có bổ sung 1% chế phẩm vào thức ăn thì lượng thức ăn tiêu tốn cho một lợn trong 17 ngày ít hơn so với
lô đối chứng 1,5 kg thức ăn và trong 25 ngày ít hơn 1,1 kg
Vũ Văn Quang (1999) [27] dùng chế phẩm vi sinh vật Lactobacillus
acidophilus bổ sung cho lợn con thì tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy giảm từ
58,33% xuống còn 25% Đồng thời chế phẩm vi sinh vật này có tác dụng làm
cho vi khuẩn E.coli giảm đi như sau: Lô ĐC E.coli 68 ± 1,79 triệu vi khuẩn/1g phân Salmonella 27,75 ± 0,81 triệu vi khuẩn/ 1g phân Còn lô TN
E.coli 61,18 ± 0,92 triệu vi khuẩn /1g phân, Salmonella 26,17 ± 1,81 triệu vi
khuẩn/ 1g phân
Phạm Khắc Hiếu và cs (2002) [12] nghiên cứu thức ăn vi sinh vật dạng kháng khuẩn của chế phẩm EM1 đã cho thấy chế phẩm EM1 có tác dụng ức
chế với E.coli, Samonella, Klebsiella, Shigella, Staphylococcus, Steptococcus,
Clostridium perfringen, Sarcina lutae Kết quả điều tra số lượng vi khuẩn E.coli trong 1g phân lợn sau khi dùng EM1 cho thấy giảm 7% ở lợn 1- 21
ngày tuổi, giảm 5,3% ở lợn 22- 60 ngày tuổi (phòng bệnh) và giảm 93% ở lợn 1- 21 ngày tuổi, giảm 53,6% ở lợn 22- 66 ngày tuổi (điều trị tiêu chảy)
Nguyễn Như Pho và Trần Thị Thu Thủy (2003) [22] bước đầu thông báo các kết quả sử dụng chế phẩm Probiotics (Organic Green) trong phòng ngừa tiêu chảy trên lợn con giai đoạn theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa cho thấy tỷ lệ tiêu chảy giảm 1,5 - 3% trên lợn con theo mẹ và giảm 1,5 - 5,7% trên lợn con cai sữa; Tỷ lệ chết giảm 2 - 6% trên lợn con theo mẹ và trên lợn con cai sữa tỷ lệ chết là 0%
Trang 39Ngô Thị Hồng Thịnh (2008) [34] sử dụng chế phẩm BIOSAF (probiotic)
BIOSAF được sản xuất từ chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae Trong
khẩu phần lợn nái nuôi con và lợn con giống ngoại từ tập ăn đến cai sữa kết luận rằng:
+ Đối với lợn nái: việc bổ sung Biosaf trong thức ăn của lợn nái với 2 mức 0,1% và 0,16% không ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ hao mòn và thời gian động dục trở lại của lợn nái Tuy nhiên lại có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiết sữa của lợn nái
+ Đối với lợn con: ảnh hưởng tích cực đến khả năng thu nhận và chuyển hoá thức ăn Tăng dần từ lô ĐC, TN1, TN2 là 10,4; 10,65; 10,80 g/con/ngày Tăng khối lượng lợn con cai sữa/ổ Lô ĐC là 45,23kg, tăng dần ở
lô TN1 là 52,93kg và TN2 là 61,98kg Giảm tỷ lệ tiêu chảy 22% ở TN2 so với
ĐC, giảm chết với ĐC là 9,02%, ở TN2 so với ĐC là 12,73%
Trần Quốc Việt (2006 - 2009) [38] kết quả nghiên cứu hết năm 2008 đã phân lập được 64 chủng vi sinh vật từ các nguồn khác nhau , trong đó có 27 chủng vi khuẩn lactic và 39 chủng nấm men Các chủng trên lại tiếp tục được sàng lọc, đánh giá các đặc điểm hình thái , trao đổi chất, phân loại sơ bộ và các
Các chủng này đã đư ợc đánh giá là có các đặc tính probiotics , sau đó đã được định danh bằng phân tích trình tự 16S ARN Kết quả phân loại và định dạnh
cho thấy 2 chủng vi khuẩn lactic là : Lactobacillus fermantum và lactobacillus
casei Hai chủng n ấm men là Saccharomyces cerevisiae và saccharomyces boulardi Đã nghiên cứu tính tương thích của các chủng vi sinh vật probiotics
Các kết quả nghiên cứu cho thấy , tất cả các chủng vi sinh vật probiotics đều
có tính chất tương thí ch cao và có thể tổ hợp theo nhiều cách khác nhau
Đã tạo được môi trường lên men thích hợp để tạo chế phẩm probiotics dạng lỏng (môi trường MT0) Xác định được thời gian lên men thích hợp (48
Trang 40giờ đối với vi khuẩn Bacillus và nấm men và 56 giờ đối với vi khuẩn Lactic)
Chọn được chất mang thích hợp để sản xuất probiotics dạng bột theo phương pháp sấy phun và đưa ra được qui trình kỹ thuật sản xuất chế phẩm probiotics dạng lỏng và bột Đã sản xuất được chế phẩm probiotics dạng lỏng (mật độ
vi sinh vật hữu ích đạt 108-109 cfu/g) và dạng bột (mật độ vi sinh vật hữu ích đạt 107-108 cfu/g)
Những kết quả nghiên cứu trên lợn cho thấy, lợn ở các lô được ăn khẩu
phần có bổ sung chế phẩm probiotics đa chủng (Bacillus subtilis (H4);
Saccharomyces boulardi - (SB); Enterococcus faecium - 6H2; Lactobacillus acidophilus - C3; Pediococcus pentosaceus - Đ7 và Lactobacillus fermentum -NC1) dạng bột có tốc độ sinh trưởng cao hơn so với lô đối chứng (không bổ
sung kháng sinh và probiotics) 16,4%
Trần Quốc Việt và cs (2007) [39] khi bổ sung chế phẩm Probiotic được
sản xuất từ 2 chủng vi khuẩn lactic (Enterococcus faecium - 6H2; Lactobacillus
acidophilus- C3) và một chủng Bacillus (Bacillus subtilis - H4) có hiệu quả rõ
rệt với lợn con giai đoạn từ sau cai sữa 21 đến 60 ngày tuổi cả về khả năng tiêu hoá thức ăn (tỷ lệ tiêu hoá tăng từ 3,4- 6%) tốc độ sinh trưởng tăng (11,9%), hiệu quả chuyển hoá thức ăn (giảm tiêu tốn thức ăn 5,3%)
Nguyễn Quang Tuyên và cs (2000) [30] khi nghiên cứu sử dụng chế
phẩm vi sinh vật Probiotic - Lactobacillus acidophilus trong việc phòng và điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con từ 21 - 60 ngày tuổi tại trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên cho kết quả như sau: Lợn ở 45 ngày tuổi lô TN đạt 9,96 kg, lô ĐC chỉ đạt 9,49 kg Sang đến giai đoạn 60 ngày tuổi lô TN đạt 17,19kg, lô ĐC chỉ đạt 14,89kg Tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy ở lô TN chỉ có 13,3% trong khi lô
ĐC lên đến 41,1%
1.2.2 Tình hình nghiên trên thế giới
(2001) [48] Viện nghiên cứu thực phẩm thuộc Trường Đại Học Wisconsin - Madison tập hợp như sau: