Đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” được thực hiệnvới mong muốn áp dụng kiến thức được học về công tác xã hội để nghiên c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ THẮM
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ TIỀN AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ THẮM
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ TIỀN AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
MÃ SỐ: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM THỊ THU HOA
Hà Nội - 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Thu Hoa Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
là trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Thắm
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Phạm
Thị Thu Hoa -người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài này
Tôi chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm và tất cả các thầy, cô trong
Khoa Xã hội học – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã trang bị kiến
thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện
luận văn
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã
hội thị xã Quảng Yên, Lãnh đạo Đảng uỷ - Uỷ ban nhân dân xã Tiền An cùng
các tổ chức chính trị- xã hội xã Tiền An, nhân dân thôn Cỏ Khê, xã Tiền An
đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số
liệu phục vụ luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp đã
luôn bên cạnh quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
Nguyễn Thị Thắm
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu can thiệp 3
4 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu can thiệp 4
5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO 9
1.1 Khái quát về công tác xã hội cá nhân 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Lý do ứng dụng CTXH cá nhân 10
1.1.3 Các bước trong tiến trình CTXH cá nhân 10
1.2 Một số khái niệm liên quan 13
1.2.1 Khái niệm nghèo 13
1.2.2 Khái niệm phụ nữ nghèo 15
1.2.3 Công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo 15
1.3 Lý thuyết áp dụng 16
1.3.1 Lý thuyết nhận thức-hành vi 16
1.3.2 Lý thuyết hệ thống 18
1.3.3 Lý thuyết nhu cầu 21
Tiểu kết Chương 1: 23
CHƯƠNG 2: CAN THIỆP HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ TIỀN AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN DƯỚI GÓC NHÌN CTXH CÁ NHÂN 25
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 25
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu – xã Tiền An, thị xã Quảng Yên 25
2.1.2 Thực trạng công tác giảm nghèo tại xã Tiền An: 26
Trang 6iv
2.2 Thực trạng phụ nữ nghèo trên địa bàn xã Tiền An 28
2.3 Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo tại xã Tiền An 34
2.4 Nhu cầu của phụ nữ nghèo tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên 36
2.5 Thực trạng CTXH đối với phụ nữ nghèo là chủ hộ 40
2.6.Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân hỗ trợ phụ nữ nghèo 42
2.6.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề 44
2.6.2 Thu thập thông tin 46
2.6.3 Chẩn đoán 49
2.6.4 Lên kế hoạch trị liệu 56
2.6.5 Triển khai kế hoạch 58
2.6.6 Lượng giá và Kết thúc 64
2.6 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp 65
2.6.1 Thuận lợi: 65
2.6.2 Khó khăn: 65
2.7 Mối quan hệ giữa lý thuyết khoa học và ứng dụng thực tiễn 66
2.8 Bài học rút ra trong quá trình sử dụng phương pháp CTXH cá nhân trong việc can thiệp, hỗ trợ phụ nữ nghèo 67
Tiểu kết Chương 2: 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 7
v
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CTXH Công tác xã hội CTXHCN Công tác xã hội cá nhân NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội
TC Thân chủ
Trang 8vi
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG
Hình 1.1 Sơ đồ thuyết hệ thống 20
Hình 1.2 Tháp nhu cầu Abraham Maslow 23
Hình 2.1 Sơ đồ phả hệ gia đình chị H 51
Hình 2.2 Biểu đồ sinh thái 52
Hình 2.3 Cây vấn đề 54
Bảng 2.1 Thực trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo các thôn ở xã Tiền An 29
Bảng 2.2 Thực trạng hộ nghèo ở các thôn có phụ nữ làm chủ hộ tại xã Tiền An 30
Bảng 2.3 Nhu cầu cơ bản của phụ nữ nghèo xã Tiền An 37
Trang 9Trong những năm qua, kết quả giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã từng bước thể hiện sự hiệu quả của chính sách giảm nghèo và sự tích cực, chủ động của các cấp uỷ, chính quyền tỉnh Sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước, sự đoàn kết của nhân đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng của các huyện, xã có tỷ lệ
hộ nghèo cao được tăng cường, đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt,
tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 4,56% đầu giai đoạn xuống còn 2,25% vào cuối năm 2017, trong đó tỷ lệ giảm tuyệt đối là 2,31% (năm 2016 giảm 1,17%; năm 2017 giảm 1,14%), ước 6 tháng đầu năm 2018 tỷ lệ giảm nghèo
là 0,3%; tính đến tháng 6/2018 tỷ lệ giảm nghèo ước đạt 74,57% so với kế hoạch Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra cho cả giai đoạn 2016 –
2020 Riêng xã Tiền An, cuối năm 2017, toàn xã hiện còn 45 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,77%, giảm 69 hộ nghèo và có 200 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 14,17% Tuy nhiên, để đạt được chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 0,98% vào năm 2020, BCĐ giảm nghèo xã cần tham mưu cho UBND thực hiện đồng bộ các chính sách liên quan đến công tác giảm nghèo bền vững kết hợp với các hoạt động công tác xã hội, giáo dục, phổ biến thông tin chính sách, pháp luật tới người dân, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn xã
Qua đánh giá sơ bộ ban đầu, chất lượng sống của hộ nghèo trên địa bàn xã không được đảm bảo, chỗ ở và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, mất an toàn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, sức khoẻ không đảm bảo, khó phát triển kinh tế
Trang 102
Đặc biệt, đối với phụ nữ thuộc hộ nghèo với sức chịu đựng kém hơn nam giới thì nguy cơ về sức khoẻ và khả năng tham gia và các hoạt động xã hội, tìm kiếm việc làm cũng gặp hạn chế Quan sát ban đầu cho thấy, phụ nữ nghèo thường có xuất phát điểm là trình độ học vấn không đồng đều, nên khó tìm được việc làm hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, công việc mang tính thời
vụ, bấp bênh thiếu ổn định Họ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, đào tạo, từ đó thiếu cơ hội nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân
Bên cạnh đó, tâm lý lo âu, cảm giác không an toàn và lo sợ rủi ro ở họ rất cao vì họ chưa được đảm bảo về các điều kiện sinh hoạt thiết yếu Việc không được đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cá nhân đã làm ảnh hưởng đến chất lượng sống và tâm lý của phụ nữ Chất lượng sống không đảm bảo dẫn đến suy giảm sức khỏe và kéo theo đó là phụ nữ không thể tiếp tục làm việc hay tìm cho mình một công việc phù hợp
Phụ nữ nghèo thường có những đặc điểm về tâm lý như mặc cảm, tự
ti, nhưng họ lại là những người có nghị lực sống và mong muốn vươn lên Bản thân họ có những thế mạnh riêng, có những kinh nghiệm, trải nghiệm sống quý báu mà không phải ai cũng có được Nhân viên công tác xã hội chính là người hỗ trợ họ nhận thức được tiềm năng, nguồn lực giúp họ phát huy năng lực, vươn lên trong cuộc sống
Đề tài “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” được thực hiệnvới mong muốn áp
dụng kiến thức được học về công tác xã hội để nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và bài bản vấn đề này nhằm góp phần nâng cao đời sống cho phụ nữ nghèo ở xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, hướng tới cộng đồng xã vững mạnh, văn minh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên các cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động CTXH trợ giúp phụ
nữ nghèo, luận văn sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề như sau:
Trang 113
- Mô tả thực trạng về phụ nữ nghèo trên địa bàn nghiên cứu;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với phụ nữ nghèo trên địa bàn xã Tiền An, thị xã Quảng Yên
- Vận dụng và tiến hành một số phương pháp đặc thù của công tác xã hội là công tác xã hội cá nhân vào một trường hợp thực tiễn tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên Từ đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động CTXH trong việc thay đổi nhận thức về phụ nữnghèo, giảm thiểu khó khăn, vươn lên trong cuộc sống và hòa nhập tốt với cộng đồng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần:
- Hệ thống hóa các lý thuyết được sử dụng trong đề tài thông qua các công trình nghiên cứu đã thực hiện và các tài liệu thứ cấp
- Tìm hiểu một số thông tin liên quan đến tình hình thực hiện chương trình giảm nghèo tại xã Tiền An
- Mô tả thực trạng về phụ nữ nghèo trên địa bàn nghiên cứu đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo
- Xác định và lượng giá được nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ nghèo trên đại bàn xã Tiền An
- Tiến hành làm việc với một đối tượng cụ thể; xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp đối tượng; đánh giá hiệu quả của sự giúp đỡ
- Định hướng và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị có tính thực tiễn, đảm bảo thực hiện tốt công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo tại xã Tiền An
3 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu can thiệp
3.1 Đối tượng nghiên cứu can thiệp:
Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại thôn Cỏ Khê, xã Tiền
An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu can thiệp
Trang 124
- Phạm vi thời gian:Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2017 đến
tháng 7/2018
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại xã Tiền An, thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nội dung: (i) thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân
hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo trên địa bàn xã Tiền An, xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; (ii) ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo; (iii) những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH cá nhân trong việc hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo
4 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu can thiệp
4.1 Phương pháp luận:
Luận văn này được nghiên cứu dựa trên cơ sở duy vật biên chứng: từ mối quan hệ giữa phụ nữ thuộc hộ nghèo và cộng đồng, gia đình của họ để đánh giá thực trạng về đời sống của những người phụ nữ này và các hoạt động CTXH cánhân Đưa ra những đề xuất, khuyến nghị để nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với nhóm đối tượng này trên địa bàn tỉnh
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp một cách khoa học nhiều phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát, phương pháp công tác xã hội cá nhân
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đây là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, nghiên cứu và phân tích các tài liệu có liên quan như các tài liệu về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội với người thuộc hộ nghèo, báo cáo tổng kết chương trình giảm nghèo, báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội qua các năm của xã Tiền An, các báo cáo về kết quả các chương trình hỗ trợ giảm nghèo của thị xã Quảng Yên và các văn bản pháp
Trang 135
lý, tài liệu từ các nguồn sách báo, báo điện tử, công trình nghiên khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.v.v
4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Luận văn này được áp dụng kết hợp giữa hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm có cái nhìn tổng thể, toàn diện cho kết quả nghiên cứu
4.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp thu thập thông tin dựa trên hình thức phỏng vấn trực tiếp dựa trên các câu hỏi được soạn trước trong một bảng hỏi Đây là phương pháp nghiên cứu hữu dụng trong việc cung cấp cái nhìn chuyên sâu trong một vấn đề cũng như đánh giá quan điểm, cách nhìn nhận của đối tượng điều tra Người được hỏi trả lời theo ý kiến cá nhân về hoạt động công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình bằng cách đánh giá theo thang đo có sẵn và trả lời một số câu hỏi mở
Trong nghiên cứu này, bảng hỏi sẽ được áp dụng cho 24 phụ nữ thuộc
hộ nghèo trên địa bàn xã Tiền An để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của nhóm đối tượng người này như điều kiện về nhà ở, thu nhập, nghề nghiệp, tình trạng tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản…, thực trạng các hoạt động CTXH đối với phụ nữ thuộc hộ nghèo như các hoạt động
hỗ trợ xã hội, kết nối nguồn lực, truyền thông và tuyên truyền…
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập thông tin sâu hơn để phục vụ nghiên cứu thông qua việc hỏi đáp, phỏng vấn đối tượng nghiên cứu Trong luận văn này, phỏng vấn sâu được sử dụng để tìm hiểu các phản ứng, suy nghĩ, thái độ, động cơ, quan điểm, chính kiến của các đối tượng nghiên cứu, nhận diện những vấn đề khó khăn của đối tượng và địa bàn nghiên cứu khi triển khai các hoạt động CTXH cá nhân trong việc hỗ trợ phụ
nữ thuộc hộ nghèo
Trang 14Cán bộ chính sách xã; Chi hội trưởng Phụ nữ thôn 02
Phụ nữ thuộc hộ nghèo (đứng tên làm chủ hộ) 05
4.2.5 Phương pháp công tác xã hội cá nhân
Luận văn sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để can thiệp
và hỗ trợ thực tiễn 01 trường hợp phụ nữ thuộc hộ nghèo trên địa bàn xã Tiền An Công tác xã hội cá nhân được nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng trong các cơ sở xã hội hoặc trong các tổ chức công tác xã hội để giúp những người có vấn đề thực hiện chức năng xã hội Phương pháp này là một hoạt động tương tác giữa NVCTXH và TC để giải quyết vấn đề Thông qua mối quan hệ tương giao giữa NVCTXH với TC, bằng quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng của mình để giúp TC hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ chia sẻ tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính bản thân
Nhân viên CTXH sẽ thực hiện hoạt động này theo một tiến trình được sắp xếp và tiến hành theo trình tự lô-gic kết hợp với những kĩ năng của chuyên ngành công tác xã hội như: kĩ năng quan sát, kĩ năng phỏng vấn, kĩ năng vấn đàm… Tiến trình này bao gồm 6 bước như sau:
Bước 1 Tiếp cận và xác định vấn đề ban đầu
Bước 2 Thu thập thông tin
Trang 157
Bước 3 Chẩn đoán
Bước 4 Lập kế hoạch trị liệu
Bước 5 Thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch
Bước 6 Lượng giá và Kết thúc
5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn đề giảm nghèo tại Việt Nam với nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau và cùng đã có những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo, trong đó có một vài nghiên cứu điển hình như:
Luận văn chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên với đề
tài “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” với những
nội dung chủ yếu là phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới, chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế- xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những kiến thức và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Thị Thu Hoài với đề tài“Hoạt động
giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội (Nghiên cứu tại thôn Cổ Nhuế, và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)”
Nghiên cứu làm rõ nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nghèo đói của nhóm phụ nữ nghèo và các chiến lược hiện đang được sử dụng với tư cách là tác nhân đầy tích cực để thoát nghèo Làm rõ xu hướng hành vi tìm cơ hội thoát nghèo của họ và khẳng đinh vai trò của hội phụ nữ trong việc triển khai các chính sách xóa đói giảm nghèo
Báo cáo “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở
Đồng Bằng Sông Hồng” do Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ và gia
đình tiến hành năm 2006 Nghiên cứu đã khẳng định vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo và nghiên cứu đã đề cập đến
Trang 168
vai trò của đoàn thể chính trị -xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân trong phát triển kinh tế xã hội và thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài
“Phụ nữ nghèo ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, thực trạng, nguyên nhân, chiến lược thoát nghèo”được thực hiện vào năm 2010 Nghiên cứu này được
thực hiện tại thành phố Vinh nhằm đưa ra số liệu thống kê về thực trạng đời sống của phụ nữ ở khu vực này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra chiến lược giúp họ thoát nghèo
Hiện nay, chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo chưa nhiều Các chính sách hiện hành chủ yếu hỗ trợ tới đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ và các chính sách phát triển sản xuất được ưu tiên khác Tuy nhiên, những chính sách này cũng là cơ hội để người phụ nữ thuộc hộ nghèo giảm bớt khó khăn khi phát triển kinh tế
Qua một số nghiên cứu kể trên, những người làm công tác nghiên cứu
về khía cạnh hỗ trợ phụ nữ khó khăn hiện nay cũng đã có những nền tảng khá vững chắc để tiếp cận các vấn đề khác nhau khi thực hiện nghiên cứu Tuy nhiên, đối với khía cạnh CTXH cá nhân đối với phụ nữ thuộc hộ nghèo nói riêng thì còn khá hạn chế
Trên cơ sở tiếp thu các kết quả nghiên cứu và việc đánh gía trực tiếp các vấn đề của phụ nữ thuộc hộ nghèo trên địa bàn xã Tiền An, luận văn này được xây dựng và ứng dụng một số mô hình của CTXH với cá nhân cụ thể nhằm phát huy vai trò, tiềm năng của họ, giúp họ dễ dàng hoà nhập cộng đồng, tự giải quyết vấn đề của bản thân
Trang 179
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO
1.1 Khái quát về công tác xã hội cá nhân
1.1.1 Khái niệm
Công tác xã hội cá nhân là hoạt động dịch vụ xã hội trực tiếp hướng đến các TC do các nhân viên cộng đồng thực hiện Các nhân viên này phải
có các kỹ năng trong việc giải quyết các vấn đề về nguồn lực, các vấn đề về
xã hội và xúc cảm Đây là một hoạt động mang tính chuyên ngành để qua đó các nhu cầu của TC được đánh giá trong các bối cảnh xã hội và quan hệ xã hội của cá nhân đó CTXH cá nhân hướng đến nâng cao sức mạnh của các
TC nhằm giải quyết các vấn đề và đối mặt các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của TC Các dịch vụ thông qua nhân viên xã hội bao trùm nhiều vấn đề từ việc trợ giúp về vật chất đến các vấn đề tham vấn phức hợp (Specht và Vickery, 1977)
Công tác xã hội cá nhân được xem như phương pháp của công tác xã hội thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa NVCTXH với cá nhân TC nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự kinh tế - xã hội của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường (Bùi Thị Xuân Mai, 2004)
Cũng có định nghĩa khác rằng, công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ từng cá nhân thông qua mối quan hệ một- một nhằm giúp những người có vấn đề trong việc thực hiện các chức năng xã hội, những vấn đề liên quan đến vai trò xã hội và đến việc thực hiện vai trò ấy (Mai Thị Kim Thanh, 2011)
Như vậy, CTXHCN là một cách thức, một quá trình nghiệp vụ mà nhân viên công tác xã hội sử dụng các kĩ năng, kiến thức chuyên môn để
Trang 18có thể tập trung can thiệp toàn diện một trường hợp, từ đó phát hiện ra những nhu cầu cụ thể trong khi vận dụng các kỹ năng CTXH để tham vấn tâm lý, tạo cảm giác tự tin cho thân chủ
Mục đích của phương pháp này đối với phụ nữ nghèo là thiết lập mối quan hệ tốt với TC, giúp cho họ hiểu rõ về chính họ, xác định lại mối tương quan giữa những người xung quanh, giúp họ tăng khả năng vận dụng các nguồn lực xã hội và của bản thân để thay đổi Nói cách khác, phương pháp này nhằm phục hồi củng cố và phát triển sự thực thi bình thường của chức năng xã hội của TC, cung cấp cho TC một cách hệ thống những vấn đề đang gặp phải, nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội,tìm ra nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức, trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn giải pháp của bản thân, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của phụ
nữ nghèo trong gia đình và xã hội, tăng khả năng hoà nhập cộng đồng, tiếp cận chính sách Mặt khác, nhân viên CTXH huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng để vận động, kết nối nguồn lực, tuyên truyền, hỗ trợ tâm-sinh lý xã hội…
1.1.3 Các bước trong tiến trình CTXH cá nhân
Theo Nguyễn Thị Thái Lan và cộng sự (2011), tiến trình CTXH cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVCTXH với TC để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan hệ tương giao giữa NVCTXH với TC, NVCTXH dùng chính các quan điểm, giá trị, kiến thức
Trang 1911
chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của mình để giúp thân chủ hiểu rõ vấn
đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình
Tiến trình CTXH cá nhân là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động do NVCTXH và TC thực hiện để giải quyết vấn đề Trong quá trình giúp đỡ từ nhiều nguồn khác nhau, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thẩm định và lượng giá Có thể mô phỏng theo 6 bước sau:
Bước 1: Tiếp cận đối tượng
Tiếp cận là bước đầu tiên của tiến trình.Có thể thân chủ tự tìm đến với nhân viên xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu NVCTXH tạo được ấn tượng tốt với TC thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn
Bước 2: Thu thập thông tin
Sau khi tiếp cận với TC, NVCTXH phải tiến hành thu thập thông tin nhằm xác định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình CTXHCN, nó đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cá các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chẩn đoán và cách trị liệu đúng
Bước 3: Chuẩn đoán
Gồm 3 bước: Chuẩn đoán, Phân tích, Thẩm định
- Chuẩn đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên cơ sở các dữ liệu thu nhân được
- Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn
- Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông qua những năng lực nào của thân chủ
Trang 2012
Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ là kế hoạch tạm thời
Để tiến hành chuẩn đoán tốt nhằm xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả, nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng một số công cụ như: Cây phả hệ; Biểu đồ sinh thái; Bảng phân tích điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ…để
có thể phân tích sâu và đưa ra chuẩn đoán chính xác
Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu
Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu và mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích Nhiệm vụ của hoạt động này:
- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích đến là gì?
- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu?
- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào?
- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thực hiện? NVCTXH hay TC?
- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? Bao lâu?
Bước 5: Trị liệu
Là quá trình nhân viên xã hội cùng TC thực thi các hoạt động cụ thể
có thể đi đến mục tiêu đặt ra Đó là sự giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mắt và điều chỉnh sự khó khăn với sự chấp nhận và tham gia của thân chủ Nhiều trường hợp mục tiêu chỉ là giữ cho tình hình không trở nên xấu hơn thông qua các hỗ trợ về vật chất và tâm lý
Bước 6: Lượng giá và kết thúc
Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội cá nhân để thẩm định kết quả Lượng giá là một hoạt động liên tục, đồng thời dù cho là một bộ phận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân và chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động
Trang 2113
Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoawch không thay đổi thì tiếp tục điều trị và người lại là phải thay đổi phương pháp trị liệu
- Nếu kết quả cho thấy chiều hướng xấu thì xác định mức độ đến đâu
từ đó thay đổi hoặc bổ sung kế hoạch trị liệu
- Nếu kết quả cho thấy tích cực có sự thay đổi tiến bộ của thân chủ thì nhân viên xã hội chủ động giảm dần vai trò tạo điều kiện giúp thân chủ tang tính độc lập trong việc thực hiên kế hoạch trị liệu
Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với TC thường là khi NVCTXH hoàn thành nhiệm vụ giúp thân chủ giải quyết vấn
đề hoặc là chuyển ca sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giải quyết và sự hiện điện của NVCTXH là không còn cần thiết
Việc kết thúc ca dựa trên:
- Nhu cầu và quyền lợi của thân chủ
- Không kéo dài vì ý tưởng chủ quan của thân chủ
- Không kết thúc vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội
- Trước khi kết thúc cần nới lỏng quan hệ
1.2 Một số khái niệm liên quan
1.2.1 Khái niệm nghèo
Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của
sự nghèo Ngưỡng nghèo phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ hay từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
Cụm từ "Xóa đói giảm nghèo, xóa đói giáp hạt” đã được thay bằng
"Giảm nghèo bền vững” Phương pháp đo lường nghèo đói đang đổi từ đơn
chiều sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Cách tiếp cận đa chiều mới này giúp xóa bỏ các rào cản, hạn chế của các chính sách giảm nghèo hiện tại, khuyến khích người nghèo bày tỏ tiếng nói, hàng vạn hộ nghèo tăng tính tự chủ tự vươn lên
Trang 2214
Giảm nghèo là quá trình Nhà nước, cộng đồng hỗ trợ, tạo điều kiện
thuận lợi cho hộ nghèo vươn lên trong sản xuất, trong cuộc sống, thoát
nghèo bền vững Công tác giảm nghèo bền vững là tổng thể các hoạt động
trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (ăn, ở, đi lại, học hành…) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển dần đạt đến mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng
Hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo hay giảm nghèo bền vững chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Nói một cách khác, giảm nghèo bền vững là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn để người nghèo có thể phát triển dần tính tự chủ của bản thân mình Ở khía cạnh khác, giảm nghèo bền vững là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được
là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo (Trần Quế Anh, 2017)
Giai đoạn 2016 - 2020: Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, tiêu chí xác định chuẩn nghèo như sau:
Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản trở lên (Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết
định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở,
Trang 2315
nước sạch và vệ sinh, thông tin Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.)
1.2.2 Khái niệm phụ nữ nghèo
Khái niệm phụ nữ nghèo có thể hiểu là phụ nữ là thành viên thuộc hộ nghèo Họ thường là người có học vấn thấp, hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt Nghề nghiệp của nhóm người này thường không
ổn định, không yêu cầu trình độ chuyên môn cao Nhóm người này cũng ít
có cơ hội được tiếp cận với khoa học, công nghệ, tín dụng và đào tạo… Do
đó, trong xã hội, nhóm người này dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi, ít
cơ hội được thể hiện bản thân, khó khăn trong việc tạo ra thu nhập… Trong nghiên cứu này
1.2.3 Công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo
Theo Nguyễn Trọng Tiến (2012) có vấn đề cơ bản của công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo như sau:
Thứ nhất là công tác xã hội đưa ra các dịch vụ đáp ứng như cầu cơ bản
và giải quyết vấn đề Do đó, đối với phụ nữ nghèo – người phải gánh chịu nhiều thiếu thốn đặc biệt là những thiếu thốn và không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản, đôi khi là những nhu cầu tối thiểu sinh tồn như có đủ thức
ăn, có đủ áo ấm để mặc, có chỗ ở an toàn, tâm sinh lý Và do nhiều nhu cầu không được đáp ứng cộng thêm với những khó khăn cản trở khác do sự nghèo khó mang lại, họ gặp rất nhiều vấn đề và cần có sự hỗ trợ giải quyết
Thứ hai là công tác xã hội phấn đấu cho sự công bằng xã hội CTXH
có nhiệm vụ hỗ trợ cho phụ nữ nghèo tiếp cận được chính sách giảm nghèo của nhà nước và tiếp cận các nguồn lực bên ngoài phù hợp để phát triển kinh
tế Đồng thời, CTXH cũng là cầu nối giúp chính phủ, các cơ quan xây dựng
Trang 2416
chính sách hiểu sâu hơn về thực trạng nghèo để từ đó xây dựng chính sách phù hợp
Thứ ba là CTXH hướng đến các quyền con người Định hướng này có
nghĩa là CTXH tham gia vào hỗ trợ phụ nữ nghèo có được cơ hội thực hiện các quyền con người của mình Ví dụ các quyền được tiếp cận một cách công bằng tới các dịch vụ giáo dục như con cái phụ nữ nghèo được đến trường học, có cơ hội bồi dưỡng và phát triển tri thức hay quyền được bình đẳng tham gia các hoạt động công cộng giống như những thành viên khác trong cộng đồng và trong xã hội
Thứ tư là CTXH hướng tới sự phát triển xã hội CTXH có vai trò hỗ trợ
người nghèo, cộng đồng và xã hội một cách tích cực để có thể đạt được sự phát triển tối đa tiềm năng bản thân và từ đó cũng là đóng góp cho sự phát triển xã
hội
1.3 Lý thuyết áp dụng
1.3.1 Lý thuyết nhận thức-hành vi
Khái niệm về nhận thức: là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế
giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Khái niệm về hành vi: hành vi là xử sự của con người trong một hoàn
cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định Lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâm sàng sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của tâm lý học của Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành vi Chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó Do đó, chúng
ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào đó có thể xảy ra trong ý thức của chúng
Trang 2517
Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu
Thuyết nhận thức - hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ ràng là hành vi không phù hợp xuất hiện từ việc hiểu sai và lý giải sai Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại
* Quan điểm của Sheldon về Trị liệu hành vi - nhận thức cho cá nhân:
Sheldon đưa ra một thành tố quan trọng trong trị liệu hành vi chính là việc lựa chọn các yếu tố tăng cường, thúc đẩy để củng cố hành vi Các yếu tố này cần được quan sát, khái quát hóa và mô hình hóa (học hỏi qua trải nghiệm)
Lượng giá là một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận hành vi - nhận thức để:
- Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau
- Đưa ra những ví dụ về ai bị tác động và tác động như thế nào?
- Tìm kiếm những hình thức khởi đầu của các vấn đề, chúng biến đổi
ra sao và tác động đến chúng ở những vấn đề gì?
- Xác định những khía cạnh khác nhau của các vấn đề và chúng phù hợp với nhau ra sao?
- Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi
- Xác định những mô hình tư duy và những cảm xúc có trước, trong và sau những biến cố về hành vi của vấn đề
- Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ
Phụ nữ thuộc hộ nghèo thường có nhận thức không đồng đều trong việc phát triển kinh tế dẫn đến phương pháp làm ăn không phù hợp hoặc
Trang 2618
không hiệu quả đối với hoàn cảnh thực tế gia đình, thậm chí còn có tâm lý sợ thay đổi, thiếu ý chí vươn lên thoát nghèo Chính vì vậy việc ứng dụng thuyết nhận thức - hành vi trong quá trình hỗ trợ phụ nữ nghèo là vô cùng cần thiết
Tiếp cận thân chủ - thành viên trụ cột kinh tế của hộ gia đình theo phương pháp nhận thức - hành vi quan niệm rằng con người không phải là sinh vật thụ động bị kiểm soát chặt chẽ của môi trường Các cách thức con người hành động đều xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ Nếu sự nhận thức dựa trên các quan điểm hay niềm tin phi lý nó thường gây ra các hỗn loạn cảm xúc và cách ứng xử không thích ứng Có thể diễn giải quan điểm tiếp cận nhận thức - hành vi như sau: suy nghĩ, cảm xúc và hành vi liên quan mật thiết với nhau Vì vậy, trong quá trình trợ giúp phụ nữ nghèo, NVCTXH cần phân tích cho họ hoàn cảnh của gia đình và bối cảnh kinh tế -
xã hội tại địa phương nhằm mục đích cung cấp thông tin, thay đổi nhận thức, phương pháp làm ăn Từ đó, phụ nữ nghèo có thể lựa chọn hướng phát triển phù hợp nhất với điều kiện và năng lực của bản thân và gia đình
1.3.2 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết về những
hệ thống tổng quát được triển khai trong những thập kỷ 1940 và 1950 trong các ngành học về khoa học quản trị và tâm lý học, và được Von Bertalanffy (1971) tổng hợp lại Lý thuyết hệ thống cho rằng: con người là bộ phận của
xã hội và được tạo ra bởi sự lưu thông của hệ thống và tế bào được cấu thành bởi các nguyên tử lập nên bởi những phần tử nhỏ hơn Lý thuyết này được áp dụng cho các hệ thống xã hội như các nhóm, gia đình và xã hội cũng như cho các hệ thống sinh học khác.Đại diện cho những người đi theo lý thuyết hệ thống: Bertalanffy (1901-1972), Hanson, Mancoske, Siporin, Germain, Giterman và đặc biệt Hearn là người có những đóng góp sớm nhất trong việc
áp dụng lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội Thuyết hệ thống tác động lớn đến công tác xã hội kể từ thập niên 1970 theo nguyên tắc: con người phụ
Trang 2719
thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống Các tư tưởng lý thuyết về hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ hệ thống khái quát của Von Bertalanffy Đây là một thuyết sinh học trong đó đề xuất rằng mọi tổ chức đều là các hệ thống Một người là một phần của xã hội và được làm nên bởi các hệ thống chu kì Các tế bào và hệ thống này đến lượt mình được làm nên bởi các nguyên tử vốn được tạo ra bởi các phần tử nhở hơn Thuyết hệ thống được
áp dụng cho các hệ thống xã hội, như các nhóm, các gia đình, các xã hội cũng như các hệ thống sinh học
Vận dụng lý thuyết hệ thống trong luận văn
Lý thuyết Hệ thống cung cấp cho chúng ta những kiến thức quan trọng
về sự đa dạng của con người cũng như mối quan hệ giữa con người và môi trường của họ Hệ thống con người được coi như là thực thể văn hóa tâm lý
… đưa ra những khả năng vô tận trong việc xây dựng những hiểu biết và sự thay đổi Những nhà nghiên cứu CTXH đã nghiên cứu việc áp dụng thuyết
hệ thống vào trong thực hành CTXH thông qua 5 bước cơ bản sau:
Hệ thống trọng tâm là gì?
Nhận dạng được hệ thống trong hệ thống hệ thống(cá nhân, nhóm, gia đình, tổ chức, cộng đồng…)
Cái gì xảy ra bên trong hệ
thống?
Khám phá các chiều cạnh về cấu trúc, tâm sinh
lý, sự tác động, văn hóa trong hệ thống trung tâm
Cái gì bên ngoài hệ thống?
Chỉ ra được mạng lưới các hệ thống khác và nguồn tài nguyên trong môi trường của hệ thống trọng tâm
Sự kết nối bên trong và
ngoài hệ thống như thế
nào?
Khám phá sự tác động giữa các tiểu hệ thống
và hệ thống lớn hơn
Trang 2820
Trên cơ sở đó, thuyết này yêu cầu NVCTXH phải xem xét TC như một hệ thống có mối liên hệ tổng hợp với các hệ thống khác lớn hơn như bối cảnh, môi trường gia đình, cộng đồng… không được xem TC như các yếu tố tách biệt, tự thân, vận hành một mình Do đó, khi phân tích nhận diện về TC cần đặt TC trong hệ thống sinh thái môi trường, gia đình và cộng đồng… để hiểu rõ các mối quan hệ cũng như các vấn đề của họ Bên cạnh đó, đặt TC trong hệ thống môi trường cũng là để tìm ra cấp độ can thiệp (vấn đề của TC
ở đâu và cần can thiệp ở mức độ nào)
Như vậy, việc NVCTXH ứng dụng lý thuyết hệ thống như một công
cụ giúp việc tổng hợp, nhìn nhận vấn đề một cách sáng tỏ hơn Ở đây lý thuyết hệ thống được dùng để xem xét nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo của phụ nữ trên địa bàn xã Tiền An: những hệ thống gia đình, các tổ chức xã hội, cộng đồng, các nguồn lực hỗ trợcó ảnh hưởng gì tới nhu cầu, nguyện vọng và khả năng ổn định cuộc sống của họ Từ đó NVCTXH sẽ cùng TC đưa
ra được những nhận định sáng tỏ nguyên nhân gây ra khó khăn cho cá nhân TCvà đưa ra được giải pháp hoạt động cho nhằm giải quyết được vấn đề của mình
Hình 1.1 Sơ đồ thuyết hệ thống
Thân chủ
Tổ
chức
xã hội
Cộng đồng
Nhân viên CTXH
Gia đình
Trang 2921
1.3.3 Lý thuyết nhu cầu
Abraham Maslow (1908- 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyêt về thang bậc nhu cầu (Hieraechy of Needs) của con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này
có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng rất nhiều lĩnh vực khoa học Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông
đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh
An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
- Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm
Trang 3022
chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác
Những nhu cầu xã hội (tình yêu và sự chấp nhận)
- Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội
và được người khác thừa nhận
- Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự
lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau
- Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này
Nhu cầu được tôn trọng
- Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng
+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,…Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã:
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó
Trang 3123
- Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân (nguồn)
Hình 1.2 Tháp nhu cầu Abraham Maslow
Từ thuyết nhu cầu của Maslow thì khi trợ giúp nhóm đối tượng là phụ
nữ nghèo, nhân viên xã hội cần xem xét những nhu cầu nào của TC chưa được đáp ứng và cần giúp TC làm những gì để đáp ứng được nhu cầu đó, đảm bảo cho cá nhân được tồn tại và phát triển một cách toàn diện Thông qua đánh giá các nhu cầu thì nhu cầu nào quan trọng, cấp thiết nhất cần tập trung ưu tiên giải quyết trước, những nhu cầu xếp sau sẽ giải quyết sau
Đối với phụ nữ nghèo, họ cũng có đủ 5 bậc thang nhu cầu như những nhóm đối tượng khác trong xã hội Tuy nhiên, do sự thiếu thốn các nguồn lực hỗ trợ và hoàn cảnh khó khăn làm ảnh hưởng tới khả năng tự thoả mãn các nhu cầu này Việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cũng là động cơ thúc đẩy
cá nhân tham gia các hoạt động phát triển kinh tế, hoạt động xã hội
Thuyết này định hướng cho NVCTXH có phương án hỗ trợ hiệu quả, tránh dư thừa hoặc không đầy đủ đối với TC dựa trên việc phân tích thực tế khả năng tự đáp ứng nhu cầu của TC
Tiểu kết Chương 1:
Qua nghiên cứu lý luận về hoạt động CTXH đối với phụ nữ nghèo và các lý thuyết áp dụng, đề tài cũng đưa ra những khái niệm liên quan đến nội
Trang 3224
dung nghiên cứu, hướng tiếp cận nghiên cứu, các lý thuyết về hệ thống, nhu cầu Từ đó có cơ sở khẳng định CTXH trong việc hỗ trợ phụ nữ nghèo là rất cần thiết giúp họ giải quyết các vấn đề khó khăn, thúc đẩy đối tượng người này tiếp cận các nguồn lực cộng đồng, chính sách, hỗ trợ tâm lý – xã hội nhằm nâng cao chất lượng và mức sống
Trang 3325
CHƯƠNG 2: CAN THIỆP HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO TẠI XÃ TIỀN
AN, THỊ XÃ QUẢNG YÊN DƯỚI GÓC NHÌN CTXH CÁ NHÂN
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu – xã Tiền An, thị xã Quảng Yên
* Vị trí địa lý tự nhiên:
Xã Tiền An nằm ở phía Đông của Thị xã Quảng Yên, cách trung tâm Thị xã 3 km, phía Đông Bắc giáp với Phường Minh Thành, phía Tây Bắc giáp với Phường Cộng Hòa; phía Đông giáp với Phường Tân An; phía Nam giáp với phường Hà An; phía Tây giáp với phường Quảng Yên Tiền An là
xã thuần nông nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp chuyên rau tương đối lớn, đất có độ mầu mỡ Bên cạnh đó còn có những vùng đồi núi có thổ nhưỡng tốt, phù hợp trồng cây ăn quả, phát triển kinh tế vườn đồi Là cửa ngõ của khu vực phường Hà An, Tân An, Hoàng Tân và có dự án đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng đi qua địa bàn, Trung tâm y tế thị xã, tuyến đường tỉnh lộ 331B, vì vậy trong năm qua được sự quan tâm rất lớn của các cấp, các ngành, sự nỗ lực của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng với nhân dân chung tay xây dựng Tiền An hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao cũng như hoàn thành mục tiêu về đích nông thôn mới trong năm 2017
*Dân số, diện tích, số thôn:
Xã Tiền An hiện có 2507 hộ/9638 khẩu Tổng diện tích đất tự nhiên là
1.142,6 ha Trong đó: Đất nông nghiệp 618,2ha; Đất lâm nghiệp 133,7 ha; Đất chuyên dùng 113,1 ha; Đất ở 85 ha; Đất sông suối, mặt nước 49,8 ha; Đất nuôi
trồng thủy sản 84,5 ha Đất chưa sử dụng và các loại đất khác 58,3 ha
Xã Tiền An có 16 thôn được phân bố rải rác, nằm xen kẽ giữa các khu sản xuất và đồi núi thấp Hệ thống chính trị - xã hội đảm bảo đủ và hoạt động
có hiệu quả Tình hình an ninh trật tự nông thôn được giữ vững, không có những điểm nóng hay vụ việc phức tạp trên địa bàn
* Tình hình kinh tế:
Trang 3426
Đến cuối năm 2017, xã Tiền An đã hoàn thành các mục tiêu phát triển
đã đề ra: Giá trị tổng sản phẩm đạt 265,3 tỷ đồng đạt 100,2% kế hoạch thị xã
giao, bằng 101,7% kế hoạch năm, tăng 17% so với cùng kỳ Trong đó: Giá
trị sản xuất CN, TTCN, XDCB đạt 111 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch thị xã giao, xã xây dựng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt 105,3 tỷ đồng đạt 99,2% kế hoạch thị xã giao, xã xây dựng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; Giá trị ngành thương mại dịch vụ, giao thông vận tải đạt 49 tỷ đồng, đạt 114% kế hoạch thị xã giao, bằng 112,1% kế hoạch năm, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm trước Tỷ trọng của các ngành là: Ngành CN, TTCN, XDCB là 41,8%; Ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 39,7%; Ngành thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải là 18,5%
Công tác thu, chi ngân sách cơ bản đảm bảo; tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội được duy trì ổn định.Tỷ lệ sinh con thứ 3 bằng 4,62%; tỷ lệ
hộ nghèo còn 1,77% ; tỷ lệ hộ cận nghèo còn 14,17%.Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 94,5% Tỷ lệ rác thải được thu gom 92%
2.1.2 Thực trạng công tác giảm nghèo tại xã Tiền An:
2.1.2.1 Thuận lợi:
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng uỷ, chính quyền địa phương, của các ban ngành, đoàn thể và sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân nên kinh tế, văn hoá - xã hội của nhân dân đã từng bước được ổn định, đời sống của nhân dân địa phương được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, bộ mặt
xã hội được thay đổi, chương trình giảm nghèo được quan tâm, chú trọng, tỷ
lệ hộ nghèo đã được giảm nhiều so với những năm trước
2.1.2.2 Khó khăn và thách thức:
Do đặc điểm kinh tế của xã đa số sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên thu nhập của các hộ dân thấp, phụ thuộc nhiều vào thời tiết và giá cả thị trường.Phần lớn các hộ nghèo đều thiếu vốn sản xuất, muốn vay vốn ngân
Trang 3527
hàng thì không đủ tài sản thế chấp do đó hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao đời sống các hộ nghèo Bên cạnh đó, các hộ nghèo thường thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn, thiếu phương tiện thông tin Những điều
đó đã làm cho các hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không ứng dụng được những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào canh tác, không có kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp.Đa số các hộ nghèo bản thân bị tàn tật, không còn khả năng tự phục vụ bản thân, không còn khả năng lao động, già cô đơn không nơi nương tựa, mắc bệnh tâm thần, bệnh hiểm nghèo nên khó có thể lao động sản xuất để có mức thu nhập khá hoặc ổn định trong cuộc sống hằng ngày
2.1.2.3 Đánh giá chung:
Công tác giảm nghèo trong những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng Các ban, ngành, đoàn thể thường xuyên tổ chức tuyên truyền cung cấp thông tin việc làm, hỗ trợ sản xuất, đặc biệt là ý thức tự vươn lên của hộ nghèo thông qua tham gia các chương trình của địa phương Đến cuối năm 2017, hộ nghèo xã Tiền An còn 45 hộ (tương đương 1,77% tổng số hộ dân) và hộ cận nghèo còn 200 (tương đương 14,17% tổng số hộ dân)
- Để thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020, UBND xã đã báo cáo tham mưu đề xuất Đảng
uỷ đề ra kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020 trên địa bàn xã với mục tiêu phấn đấu là đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm xuống còn 25 hộ, tỷ lệ 0,98%, đảm bảo mục tiêu kế hoạch giảm nghèo của thị xã
- Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm, trong chỉ đạo phát triển kinh tế- xã hội, UBND xã luôn coi trọng các giải pháp nhằm tăng thu nhập của các hộ nghèo, hộ cận nghèo cụ thể:
Trang 36+ Chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở, chế độ bảo hiểm y tế
+ Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm mới cho lao động, công tác xã hội hoá nguồn kinh phí hỗ trợ người nghèo v.v…việc vận dụng linh hoạt chỉ đạo triển khai quyết liệt, có hiệu quả các chính sách của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh và thị xã nêu nhằm tăng thu nhập cho nhân dân trên địa bàn nói chung và đối với hộ nghèo nói riêng, đã góp phần tích cực trong thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo của xã trong thời gian qua
- Một số kết quả thực hiện mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể khác của Chương trình, như: Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tham gia BHYT đến nay đạt 100%; hơn 90% hộ nghèo được sử dụng nước hợp vệ sinh; 100% con em
hộ nghèo đến trường và hưởng các chính về miễm giảm học phí, BHYT; 100% trẻ em khuyết tật, trẻ em con hộ nghèo đều được thăm hỏi tặng quà thông qua các dịp lễ, tết, ngày quốc tế thiếu nhi; 100% hộ nghèo được phổ biến các Chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác giảm nghèo; 100% hộ nghèo được tiếp cận các dịch vụ y tế, khám chăm sóc sức khoẻ sinh sản, tiêm chủng mở rộng…
2.2 Thực trạng phụ nữ nghèo trên địa bàn xã Tiền An
TiềnAn tuy là một xã đang trên đà phát triển về kinh tế, nhưng vẫn còn khá nhiều hộ nghèo và cận nghèo Theo kết quả rà soát cuối năm 2017, hộ nghèo xã Tiền An còn 45 hộ (tương đương 1,77% tổng số hộ dân) và hộ cận nghèo còn 200 (tương đương 14,17% tổng số hộ dân) Phụ nữ nghèo trên địa bàn xã thường hạn chế trong việc tiếp cận các tri thức, thông tin và chịu tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh nên cuộc sống rất khó khăn
Trang 37(Báo cáo rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tại xã Tiền An cuối năm 2017)
Nhiều phụ nữ phải sống trong tình cảnh thiếu thốn vật chất và tinh thần
và phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống, theo số liệu thống kê của xã thì năm 2017 toàn xã có 24 hộ nghèo có thành viên là phụ nữ
Trang 38Công việc thiếu ổn định dẫn đến sự khó khăn về đời sống vật chất đã khiến cho đời sống tinh thần của phụ nữ nghèo ở xã Tiền An không được
Trang 3931
đảm bảo, theo kết quả của các cuộc phỏng vấn cho thấy hầu hết phụ nữ nghèo tại xã có nhu cầu vươn lên thoát nghèo, được hướng dẫn làm kinh tế
và được vay vốn để sản xuất
*Nhóm nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng nghèo
Nguyên nhân thứ nhất dẫn đến tình trạng phụ nữ nghèo đó là do trình
độ học vấn thấp, phụ nữ nghèo tại xã chủ yếu là học đến trung học cơ sở, theo khảo sát 24 phụ nữ thì có 16 phụ nữ trả lời họ chỉ học đến THCS, 8 phụ
nữ học hết tiểu học Có thể thấy rằng đây là tình trạng chủ yếu của phụ nữ nghèo tại các xã, vì hoàn cảnh khó khăn nên họ không có có hội để nâng cao kiến thức của mình Trình độ dân trí không đồng đều nên họ không chỉ thiếu kiến thức làm kinh tế mà phụ nữ nghèo tại xã còn thiếu thông tin về các dịch
vụ dành cho người nghèo cũng như cách chăm sóc bản thân và cũng là một khó khăn trong việc tuyên truyền các chính sách chủ trương của Đảng và nhà nước về giảm nghèo và kiến thức làm kinh tế Chị Vũ Thị H PCT Hội phụ
nữ xã Tiền An cho biết:“Để nâng cao kiến thức làm kinh tế cho chị em phụ
nữ trong xã đặc biệt là những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, hội phụ nữ xã
và các đầu tư đã tổ chức nhiều lớp học dạy cách làm kinh tế như cách trồng rau an toàn, chăn nuôi bò, hay hỗ trợ vay vốn trong phát triển kinh tế.Tuy nhiên vì trình độ học vấn không đồng đều nên việc truyền đạt rất khó khăn, nhiều chị em học xong nhưng cũng không biết làm”
Thứ hai là do tâm lý tự ti mặc cảm của phụ nữ nghèo tại xã, đây là đặc điểm tâm lý đặc trưng của phụ nữ nghèo Những phụ nữ nghèo họ sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn vật chất, nhiều người còn phải chịu định kiến của xã hội chính vì thế mà họ ngại giao tiếp với những người xung quanh
Theo kết quả của 24 cuộc phỏng vấn thì có tới 13 phụ nữ nghèo trả lời
họ ít tham gia (có tham gia nhưng không đầy đủ) các hoạt động xã hội hay các hoạt động của hội phụ nữ, có tới 11 người trả lời họ ngại tiếp xúc với người khác Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều phụ nữ nghèo không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội và kiến thức khoa học,
Trang 4032
không những thế sự tự ti mặc cảm cùng với những định kiến xã hội khiến nhiều phụ nữ nghèo không dám vươn lên để cải thiện cuộc sống của
mình.“Nhiều chị em nghèo ở xã sống khép kín và dường như không tham gia
các hoạt động của hội, để cải thiện tình hình này thì hội đã tổ chức đến nhà vận động chị em tham gia nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn” (Chị Vũ Thị
H PCT Hội phụ nữ xã Tiền An cho biết)
Thứ ba là do bệnh tật, ốm đau Do sống trong hoàn cảnh nghèo khổ nên nhiều chị em phụ nữ nghèo tại xã không có điều kiện để chăm sóc bản thân, chất lượng bữa ăn không được đảm bảo nên sức khỏe của phụ nữ nghèo rất yếu trong khi họ phải lao động vất vả Theo điều tra thì có tới 18 phụ nữ nghèo tại xã trả lời họ chủ yếu ăn rau và một số loại thực phẩm tự làm được, những bữa ăn có đầy đủ thịt và cá rất ít Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân khiến sức khỏe của phụ nữ nghèo giảm và đó cũng là nguyên nhân sinh ra nhiều căn bệnh, hoàn cảnh khó khăn cùng với bệnh tật đã làm cho cuộc sống phụ nữ nghèo càng vất vả hơn, họ phải chi trả tiền thuốc và nhiều phụ nữ không thể lao động để lo cho cuộc sống gia đình mình
Và nguyên nhân nữa lànhiều phụ nữ ở xã họ bằng lòng với cuộc sống của mình, chấp nhân sự nghèo khổ, họ xem đó là số phận Đa số phụ nữ nghèo tại xã Tiền An cho rằng cuộc sống nghèo khổ là do số phận, chính vì thề họ chấp nhận hoàn cảnh thực tại và không muốn vươn lên, Chị M tâm sự
“Từ nhỏ cuộc sống của em đã nghèo, lấy chồng cũng không khá hơn là bao nhiêu, chắc là do số phận nó thế”
*Nhóm nguyên nhân khách quan dẫn đến nghèo
Thứ nhất, thiếu vốn kinh doanh, sản xuất hoặc khi có vốn nhưng không biết cách sử dụng như thế nào cho có hiệu quả Hầu hết phụ nữ nghèo tại xã thiếu vốn sản xuất, mặc dù ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện huy động cho vay vốn với lãi suất thấp nhưng khoản tiền ít và thời gian trả gấp nên nguồn vốn không phát huy hiệu quả của nó Mặt khác khi sử dụng