1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh quyền lực trung mỹ ở biển đông dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực

97 244 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một học viên cao học khoa Quốc tế học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn được trang bị những kiến thức hữu ích về nghiên cứu quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế, các vấn đề to

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN NGỌC THANH

CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ

Ở BIỂN ĐÔNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN NGỌC THANH

CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ

Ở BIỂN ĐÔNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG KHẮC NAM

Trang 3

Hà Nội - 2016

DANH MỤC VIẾT TẮT

(Diễn đàn Khu vực Đông Nam Á) ASEAN Association of Southeast Asian Nations

(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)

(Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông) CNHT Chủ nghĩa Hiện thực

DOC Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea

(Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông) EEZ Exclusive Economic Zone

(Vùng đặc quyền kinh tế) QHQT Quan hệ Quốc tế

UNCLOS United Nations Convention on Law of the Sea

(Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển)

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VỀ CẠNH TRANH QUYỀN LỰC VÀ KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG 14

1.1 Một số quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh

quyền lực 14

1.1.1 Cơ sở của chủ nghĩa hiện thực 14

1.1.2 Các luận điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh quyền lực 17

1.2 Khái quát về biển Đông 19

1.2.1 Giới thiệu chung về biển Đông 19

1.2.2 Vai trò của biển Đông 22

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN VÀ QUÁ TRÌNH CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG 27

2.1 Nguyên nhân cạnh tranh quyền lực giữa Trung - Mỹ ở

biển Đông 27

2.2.1 Về mặt an ninh- chính trị 27

2.2.2 Về mặt kinh tế 29

2.2 Quá trình cạnh tranh quyền lực Trung – Mỹ ở biển Đông 33

2.2.1 Những động thái của Trung Quốc ở biển Đông 33

Trang 5

2.2.2 Những động thái của Mỹ ở biển Đông 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ 69

3.1 Tác động của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông 69

3.1.1 Tác động tới tình hình quốc tế 69

3.1.2 Tác động tới tình hình khu vực 73

3.1.3 Tác động tới Việt Nam 75

3.2 Khuyến nghị cho Việt Nam về đối sách giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển 76

3.2.2 Tự lực, tự làm mình mạnh lên 79

3.2.3 “Cân bằng động” giữa Trung Quốc và Mỹ 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển Đông là một trong những vùng biển lớn trên thế giới với vị trí địa chính trị quan trọng nằm trên tuyến đường hàng hải nhộn nhịp thứ hai thế giới, nối liền châu Âu, châu Phi, Trung Cận Đông với Trung Á và Thái Bình Dương cộng với nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với hệ sinh thái đa dạng Biển Đông có tầm quan trọng với nhiều quốc gia, khu vực và có ý nghĩa đặc biệt trong chiến lược quốc gia của không chỉ các quốc gia nằm bao quanh cùng biển chiến lược này mà còn có tầm ảnh hưởng tới tình hình

an ninh chính trị khu vực châu Á- Thái Bình Dương rộng lớn và thậm chí là

có tầm ảnh hưởng toàn cầu bởi sự can dự của hai cường quốc lớn nhất thế giới hiện nay là Trung Quốc và Mỹ trong các vấn đề liên quan Trong sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhu cầu mở rộng ảnh hưởng khu vực và quốc tế ngày càng tăng cao, Trung Quốc coi Biển Đông trong khuôn khổ “lợi ích cốt lõi”

và “sống còn” đối với chiến lược mở rộng ảnh hưởng và trở thành “cường quốc toàn cầu” của mình Về phía Mỹ, mặc dù không phải là một quốc gia tiếp giáp Biển Đông và cũng không phải là một quốc gia trực tiếp liên quan trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông song Mỹ tuyên bố có những lợi ích

ở Biển Đông cần được bảo vệ Vậy là cả Trung Quốc và Mỹ đều đưa biển Đông là lợi ích cơ bản trong chiến lược quốc gia; do vậy, Trung Quốc và Mỹ thường xuyên có những cạnh tranh quyền lực, những đụng độ trên trường quốc tế trong những tuyên bố và hành động của mình trên biển Đông

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông hiện nay vẫn là một

ẩn số phức tạp, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình thế giới, khu vực và cả Việt Nam; do đó, ẩn số này cần được nghiên cứu sâu và ở nhiều góc độ khác nhau Từng động thái, cạnh tranh của hai siêu cường với tầm ảnh hưởng toàn

Trang 7

cầu thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, dưới nhiều góc nhìn, cơ sở lý luận khác nhau Là một học viên cao học khoa Quốc tế học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn được trang bị những kiến thức hữu ích về nghiên cứu quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế, các vấn đề toàn cầu… tác giả mong muốn lý giải nguyên nhân và những tác động của cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông dựa trên lý luận về Chủ nghĩa Hiện thực- một trong những lý thuyết quan hệ quốc tế nền tảng

Ý nghĩa khoa học: Việc sử dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc gia, quyền lực và xung đột trong phân tích sự cạnh tranh quyền lực Trung Mỹ ở biển Đông cho thấy rằng các quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực vẫn tỏ ra phù hợp trong việc lý giải cạnh tranh, xung đột trong quan hệ quốc tế Ngoài ra, qua việc phân tích nguyên nhân cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ và những tác động, luận văn cũng muốn làm rõ hơn việc áp dụng phương pháp phân tích hệ thống và cấu trúc trong nghiên cứu quan hệ quốc

tế

Ý nghĩa thực tiễn: Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực biển Đông và là một trong những bên có liên quan trực tiếp tới những tranh chấp trên biển Đông vì vậy việc nghiên cứu đánh giá nguyên nhân và phân tích tác động của cạnh tranh quyền lực giữa hai cường quốc là Trung Quốc và

Mỹ ở khu vực biển Đông sẽ giúp Việt Nam có thêm nhận thức đa chiều về tình hình khu vực Đồng thời những khuyến nghị về ứng phó của Việt Nam với những tranh chấp trên biển Đông đối với các bên liên quan dựa trên góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực đóng góp chiều nhận thức đa dạng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trước tình hình khu vực và thế giới, nhất là trong vấn đề biển Đông

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chủ nghĩa hiện thực là một trong những lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống được áp dụng để lý giải nhiều vấn đề cạnh tranh và xung đột trên thế giới, trong đó bao gồm cả việc lý giải cho hành động của các bên có lợi ích liên quan trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông nói chung Một số bài nghiên cứu về xung đột biển Đông, cạnh tranh lợi ích giữa các bên, nhất là trong một số mốc thời gian nhạy cảm đã được công bố trên các công trình nghiên cứu khoa học và website uy tín nghiên cứu về các quan hệ quốc tế:

Loạt bài đăng trên website nghiencuuquocte.net như “Các lý thuyết về chính trị thế giới”, “Chủ nghĩa Hiện thực và lý thuyết chính sách đối ngoại”,

“Cấu trúc vô chính phủ và cân bằng quyền lực” đã khái quát những kiến thức nền tảng về lý thuyết Chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế với những luận điểm cơ bản về quốc gia, quyền lực và xung đột

Bài nghiên cứu khoa học “Biển Đông dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực” của tác giả Nguyễn Văn Trung, khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã phân tích các tầng xung đột ở biển Đông và luận giải các xung đột này dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực Tác phẩm cũng đưa ra những dự đoán thông qua các kịch bản cho tương lai biển Đông và một số gợi ý cho Việt Nam trên con đường tìm kiếm lợi ích quốc gia dân tộc

Mỗi động thái của Trung Quốc và Mỹ trong mối quan hệ cạnh tranh Trung- Mỹ ở Biển Đông có tác động to lớn đến tình hình an ninh chính trị khu vực châu Á- Thái Bình Dương và định hướng giải quyết tranh chấp chủ quyền của các bên ở Biển Đông nên đã có nhiều bài tham luận, các ý kiến được trình bày trong các hội thảo, các văn kiện của các hội nghị chuyên đề, các quan

Trang 9

điểm, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả giàu kinh nghiệm

cả ở trong và ngoài nước

Các bài tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông: Hợp tác vì

an ninh và phát triển ở khu vực (International Workshop "The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development") – Hội thảo quốc

tế đầu tiên về biển Đông tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam ngày 26-27/11 2009 Hội thảo đã đưa ra nhiều ý kiến đóng góp quan trọng về nhiều khía cạnh xung quanh vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông như những diễn biến gần đây

ở Biển Đông, những mục tiêu nhằm đối phó với những xung đột, một số hoạt động cụ thể của các bên liên quan tới Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc và ASEAN

Cuốn sách “Biển Đông: Địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của các bên liên quan” do tác giả Đặng Đình Quý- Nguyễn Minh Ngọc đồng chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới với những phân tích về vị thế điạ chính trị chiến lược của Biển Đông, lợi ích và chính sách của các bên liên quan trên biển Đông và những đánh giá về biển Đông trong mỗi quan hệ Trung Quốc- ASEAN- Mỹ

Bài viết Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay của tác giả Đỗ Thanh Hải - Nguyễn Thùy Linh đăng trên

tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (84), năm 2011, tr.75-106 đã trình bày khái quát những hành động của Trung Quốc từ năm 2007 cho đến giữa năm 2010, những sự thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông, phản ứng của các bên trong tranh chấp và cục diện an ninh mới ở Biển Đông

Bài viết Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở Biển Đông của PGS.TS

Phạm Quang Minh và Hà Văn Long đăng trên tạp chí Đối ngoại Quốc phòng,

số 16, quý IV năm 2011 nhấn mạnh tới vai trò của lợi ích hàng hải trong

Trang 10

chính sách can dự của Mỹ vào Biển Đông, đồng thời phân tích những động thái của Mỹ liên quan đến vấn đề tranh chấp Biển Đông

Luận văn Thạc sĩ Quá trình can dự của Mỹ vào vấn đề Biển Đông của

tác giả Trần Lê Minh, khoa Quốc tế học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã làm rõ sự can dự của Mỹ vào vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông Tác giả tập trung vào lợi ích, quá trình tham gia và tác động của sự can dự của Mỹ với các bên tranh chấp và khu vực tại Biển Đông từ đó rút ra kết luận về sự can dự của Mỹ trong vấn đề Biển Đông và đưa ra một số khuyến nghị về cách thức ứng xử của Việt Nam trước

sự can dự này

Bài viết Cạnh tranh Trung - Mỹ tại Biển Đông: Tác động chiến lược đối với an ninh khu vực của tiến sĩ Fu Kuo Liu trong cuốn sách Biển Đông - Hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác của tác giả Đặng Đình

Quý chủ biên, do nhà xuất bản Thế giới xuất bản vào năm 2011đã phân tích chính sách của Mỹ và quan hệ Trung-Mỹ tại khu vực châu Á, theo đó, cạnh tranh Trung-Mỹ tại Biển Đông trong tương lai sẽ có tác động tới cả Đông Á nói chung và trong chiến lược định hình cấu trúc khu vực của Mỹ nói riêng

Bài viết Recent Developments in the South China Sea: Implications for Peace, Stability and Cooperation in the Region (Những động thái gần đây

ở Biển Đông: Hệ lụy cho Hòa Bình, Ổn định và Hợp tác khu vực) của tác giả Carlyle Thayer đề cập tới những diễn biến trong năm 2009 ở Biển Đông và hệ lụy với lợi ích của Mỹ ở Biển Đông Theo tác giả, trong giai đoạn năm 2009,

Mỹ có nhiều thay đổi mạnh mẽ trong thái độ và hành động tại Biển Đông nhằm phản ứng lại sự bành trướng quân sự của Trung Quốc ở đây, đe dọa tới các lợi ích quốc gia của Mỹ Sự nổi lên của Trung Quốc đòi hỏi Mỹ phải can

dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông

Trang 11

Nhìn chung, các tác phẩm đều tập trung giới thiệu về lịch sử hình thành và phân tích hệ thống các luận điểm của Chủ nghĩa Hiện thực; phân tích

về lợi ích của Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông cũng như những tuyên bố và hành động của hai bên trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông Tuy nhiên các nghiên cứu thường chỉ đi sâu phân tích quan điểm của riêng Mỹ hoặc Trung Quốc hoặc so sánh, đối chiếu một cách đơn thuần để thấy được những điểm tương đồng cũng như khác biệt trong quan điểm của hai nước lớn

có lợi ích liên quan trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông Trên cơ sở các nghiên cứu đi trước, luận văn kế thừa những luận điểm lý luận về Chủ nghĩa hiện thực và cũng lấy đó làm cơ sở nền tảng phân tích nguyên nhân cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông cùng với những động thái kèm theo làm minh chứng, từ đó đánh giá tác động của cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông đến tình hình thế giới, khu vực Đông Nam Á và riêng cho Việt Nam Đồng thời luận văn dành một phần đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam trong cách hành xử liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc và một số bên liên quan

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là vận dụng chủ nghĩa hiện thực để lý giải nguyên nhân và quá trình cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông- vùng biển có vị thế địa chính trị quan trọng Từ đó đưa ra một số đánh giá về những ảnh hưởng của sự cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông tới tình hình quốc tế, khu vực và Việt Nam Từ đó đưa ra một số hàm ý

về đối sách cho Việt Nam trong giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên

biển Để đạt được mục tiêu tổng thể trên, luận văn xác định sẽ hướng tới những mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất, cung cấp nội dung và những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực, nhất là những quan điểm có liên quan đến việc phân tích sự cạnh

Trang 12

tranh quyền lực của các nước Từ đó, dùng góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực

để lý giải nguyên nhân của sự cạnh tranh quyền lực của Trung - Mỹ ở biển

Đông

Thứ hai, đưa ra dẫn chứng về quá trình cạnh tranh giữa hai bên qua từng tuyên bố và hành động nhằm chứng minh cho những nguyên nhân cạnh tranh

được lý giải trước đó dựa trên góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực

Thứ ba, đánh giá tác động của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ tới tình hình quốc tế, khu vực và Việt Nam để có cái nhìn đúng đắn về tầm ảnh hưởng của sự cạnh tranh giữa hai siêu cường là Trung Quốc và Mỹ trong vấn đề căng thẳng mà mọi quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam vô cùng quan tâm

Thứ tư, từ những nhìn nhận, đánh giá tình hình thực tế, luận văn đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển dựa trên những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc gia và lợi ích quốc gia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra trên nhiều lĩnh vực và trong khoảng thời gian khá dài, đây cũng là một chủ đề phức tạp, nhạy cảm, mang tính thời sự và được khai thác dưới nhiều góc nhìn Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn Thạc sỹ Quan hệ quốc tế, tác giả tập trung nghiên cứu về nguyên nhân và quá trình cạnh tranh quyền lực Trung-

Mỹ ở biển Đông dựa trên những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc gia và quyền lực

Phạm vi nghiên cứu: Những cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ đã xuất hiện từ khá lâu, tuy nhiên luận văn trong phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ khoảng năm 2007 khi Trung Quốc dần trỗi dậy và có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực, gây những nguy cơ tiềm ẩn khiến Mỹ chuyển

Trang 13

hướng quan tâm trở lại khu vực châu Á, mà nhất là biển Đông cho đến trước khi diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11/2016

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, tác giả

đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó nổi bật nhất là các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu và nghiên cứu lịch sử trong viện dẫn quá trình cạnh tranh Trung- Mỹ, phương pháp phân tích

hệ thống và cấu trúc, phương pháp phân tích chính sách và lợi ích trong phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực để lý giải nguyên nhân cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ và áp dụng để đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam Tất cả những phương pháp trên đều nhằm mục đích giúp việc nghiên cứu

đề tài một cách khoa học hơn, có hệ thống và mang tính toàn diện hơn

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về cạnh tranh quyền lực và khái quát về biển Đông

Nêu lên cơ sở của Chủ nghĩa Hiện thực và phân tích các luận điểm của CNHT về quốc gia và quyền lực nhằm lý giải nguyên nhân các quốc gia luôn luôn cạnh tranh quyền lực với nhau Ngoài ra trong chương này còn giới thiệu chung về Biển Đông và làm rõ vai trò chiến lược của biển Đông đối với Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia ASEAN- nơi có phần lãnh thổ giáp biển

Chương 2: Nguyên nhân và quá trình cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ

ở biển Đông

Trang 14

Phân tích các nguyên nhân về mặt an ninh- chính trị và kinh tế khiến Trung Quốc và Mỹ luôn cạnh tranh giành quyền lực ở vùng biển Đông từ góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực Đồng thời đưa ra những dẫn chứng cụ thể về quá trình cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông qua các tuyên bố và hành động của mỗi bên và sự đáp trả cửa bên còn lại

Chương 3: Tác động của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển

Đông và khuyến nghị cho Việt Nam đối với vấn đề tranh chấp lãnh thổ

Đánh giá sự ảnh hưởng của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông tới tình hình thế giới, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam Bên cạnh đó,

sử dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực để đưa ra một vài khuyến nghị cho Việt Nam trong việc đối phó với vấn đề tranh chấp lãnh thổ

Trang 15

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VỀ CẠNH TRANH QUYỀN LỰC VÀ KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG 1.1 Một số quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh quyền lực

1.1.1 Cơ sở của chủ nghĩa hiện thực

Lịch sử quan hệ quốc tế thế kỉ XX phải kể đến sự gia tăng phức tạp, đa chiều trong mối quan hệ giữa các quốc gia, đòi hỏi sự linh hoạt trong việc hoạch định chính sách cũng như chiến lược đối ngoại phù hợp với những biến chuyển của tình hình thế giới; do đó, đã xuất hiện hàng loạt các lý thuyết khác nhau về quan hệ quốc tế ở các nước Phương Tây và Mỹ nhằm lý giải động thái giữa các quốc gia Một trong những lý thuyết đó là Chủ nghĩa hiện thực

về quan hệ quốc tế (Realism for International Relations)

Chủ nghĩa hiện thực được khẳng định như một trường phái lý luận về QHQT kể từ sau chiến tranh thế giới II và chiếm ưu thế trong giới học giả và chính khách phương Tây, trước hết là ở Mỹ Nhà triết học và thần học R Niebuhr được coi là cha tinh thần trực tiếp của Chủ nghĩa hiện thực Ông cho rằng, xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia chính là biểu hiện bản chất bất biến, cái ác cố hữu trong cá nhân con người Chính luận điểm này là cơ sở cho luận thuyết Hiện thực (Realism) về QHQT Theo đó, trong QHQT, xuất phát từ bản chất của mình, các nhà nước, quốc gia luôn cạnh tranh với nhau

để giành quyền lực và đảm bảo an ninh cho mình Và do vậy, thế giới là một

sự hỗn loạn, không có trật tự, xung đột, chiến tranh là lẽ đương nhiên Trong cuốn sách "Chính trị giữa các quốc gia - cuộc đấu tranh vì quyền lực và hòa bình" của Morgenthau lần đầu tiên ông đưa ra lý thuyết hiện đại, toàn diện về Chủ nghĩa Hiện thực, trong đó chủ yếu phân tích cuộc đấu tranh giữa các quốc gia quyền lực và hòa bình Hầu hết các luận điểm của Chủ nghĩa Hiện

Trang 16

thực sau này đều phát triển từ học thuyết của Morgenthau, do đó ông được coi

là người sang lập ra học thuyết quan hệ quốc tế này [18]

Cơ sở nhận thức là chủ nghĩa duy vật, dựa trên thực chứng đã được chứng minh bằng các sự kiện trong lịch sử Cơ sở thực tiễn: dựa vào thực tế đã xảy

ra nên rất thuyết phục Các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực dựa trên các quan điểm như sau:

Quốc gia và lợi ích quốc gia: Quốc gia là chủ thể quan hệ quốc tế cơ bản,

là một phần tạo nên cộng đồng quốc tế, hiện nay trong khoa học pháp lý quốc

tế chưa có một định nghĩa thống nhất được chấp nhận chung về thuật ngữ

"quốc gia" Tuy nhiên, tại điều 1 Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tế các nước châu Mỹ ngày 27/12/1933 có đưa ra một vài yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia, đó là: Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia Lãnh thổ quốc gia được xác định là một phần của trái đất và được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định chủ quyền quốc gia đối với dân cư của mình Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến

sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia Thứ hai, có cộng đồng dân cư

ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật của nhà nước

đó Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc tịch của quốc gia đó Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nước với cộng đồng dân

cư của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch Thứ ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối,

Trang 17

khống chế bởi quốc gia khác Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế: "khả năng" này có được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình [37] Quốc gia là nhất thể, bao trùm con người, các tổ chức quốc tế hay công ty xuyên quốc gia đều

bị quốc gia chi phối Quốc gia có lý trí, luôn cân nhắc lợi ích quốc gia trong mọi động thái trên trường quốc tế [30] Lợi ích quốc gia là nền tảng cho chiến lược quốc gia, nó có thể là điểm bắt đầu cũng là điểm kết thúc của chiến lược quốc gia Đánh giá lợi ích quốc gia và cơ sở để quyết định chiến lược quốc gia, qua đó xác định định hướng chiến lược quốc gia và phương hướng thực hiện [56]

Môi trường quốc tế vô chính phủ: Các nhà hiện thực chủ nghĩa coi hệ thống quốc tế nằm trong tình trạng vô chính phủ (không có quyền lực bên trên quốc gia), trong đó, hành động của các quốc gia, vốn được xem là chủ thể chính của QHQT, được dẫn dắt chủ yếu bởi sự cân nhắc về quyền lực và lợi ích quốc gia [50] Môi trường quốc tế vô chính phủ là cơ sở dẫn đến xung đột trong quan hệ quốc tế Môi trường vô chính phủ là bất biến, tức là xung đột là mãi mãi Không có thể chế nào trên quốc gia và không có gì sai khiến được, chỉ có chủ quyền quốc gia là tối cao Bảo vệ chủ quyền quốc gia, có nghĩa là đang bảo vệ môi trường vô chính phủ, tức là chấp nhận xung đột Chủ nghĩa hiện thực cho rằng bản chất "vô chính phủ" của hệ thống quốc tế đã đặt an ninh quốc gia lên hàng đầu trong thứ bậc ưu tiên về lợi ích quốc gia và đòi hỏi mỗi quốc gia phải có khả năng quân sự đủ mạnh để ngăn chặn sự tấn công của những kẻ thù tiềm tàng Vì vậy, đối với an ninh quốc gia, nhân tố kinh tế ít quan trọng hơn quân sự hay sức mạnh quân sự là phương tiện quan trọng nhất

để giành quyền lực dân tộc và nâng cao uy tín quốc gia Theo đó, mọi hợp tác quốc tế đều phát sinh và dựa trên việc các bên có chung lợi ích hoặc đều đạt được mục đích riêng, vì vậy, hợp tác quốc tế chỉ mang tính tương đối, tạm

Trang 18

thời Các liên minh có thể làm tăng thêm khả năng của mỗi quốc gia để tự phòng thủ nhưng không được quá tin tưởng và trung thành đối với các liên minh đó và không được giao phó nhiệm vụ bảo vệ mình cho các tổ chức quốc

tế hoặc luật pháp quốc tế Trong bối cảnh tất cả các quốc gia đều mong muốn tối đa hóa về quyền lực thì sự ổn định quốc tế là kết quả của việc duy trì một

sự cân bằng quyền lực thông qua các hệ thống liên minh lỏng lẻo [18]

Hệ thống quốc tế: Đây là bổ sung quan trọng nhất của Chủ nghĩa hiện thực mới" (Neo - Realism) hay còn gọi là “Chủ nghĩa hiện thực cấu trúc” vào cuối những năm 70 Theo quan điểm của CNHT cổ điển, quan hệ quốc tế là mối quan hệ giữa hai nước, bao gồm mong muốn, ý chí, lợi ích của chính hai nước đó Tới CNHT mới, quan hệ quốc tế không chỉ được quan niệm là mối quan hệ giữa hai nước, bao gồm mong muốn, ý chí, lợi ích của chính hai nước

đó mà còn đặt trong mối quan hệ của hai nước trong hệ thống quốc tế mà hai nước cùng tham gia Hệ thống quốc tế là một chỉnh thể gồm các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay đổi của một phần tử này sẽ dẫn đến sự thay đổi của phần tử khác, như vậy nguyên tắc hình thành hệ thống quốc tế là dựa trên sự tương tác chặt chẽ

1.1.2 Các luận điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh quyền lực

Quan điểm của các cơ sở trên trở thành nền tảng cho hệ thống các luận điểm của lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực, trong đó bao gồm một số luận điểm cơ bản về quốc gia, quyền lực và xung đột Trong phạm vi bài nghiên cứu, để lý giải sự cạnh trang quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông, tác giả sử dụng một số luận điểm liên quan đến cạnh tranh quyền lực như sau:

Quyền lực theo nghĩa hẹp là khả năng ép người khác làm việc gì, còn theo nghĩa rộng trong quan hệ quốc tế, quyền lực là khả năng của quốc gia nhằm đạt được điều mình muốn Quyền lực chi phối nhiều hiện tượng trong quan hệ quốc tế Quan hệ quốc tế là cuộc đấu tranh vì quyền lực

Trang 19

Mục đích của việc cạnh tranh quyền lực là tồn vong và phát triển và tranh giành lợi ích Quốc gia là chủ thể cơ bản và duy lý, bản chất con người ích kỷ

và tư lợi: Lợi ích quốc gia, trong đó các quốc gia quan tâm đến lợi ích tương đối hơn là lợi ích tuyệt đối, tức là quốc gia này đạt được bao nhiêu lợi ích so với quốc gia khác quan trọng hơn thực tế là mọi người đều đạt lợi ích [50] Mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt Theo nguyên tắc “zero sum game”, cán cân của mọi cuộc chơi luôn bằng không, tức là việc quốc gia này tăng cường lợi ích tức là đã làm giảm lợi ích của quốc gia khác do đó các quốc gia luôn cạnh tranh nhằm tranh giành quyền lực lẫn nhau, khi một quốc gia này tăng cường quyền lực dẫn đến quốc gia khác nỗ lực tăng cường quyền lực cao hơn để cân bằng lại cán cân quyền lực Quá trình cạnh tranh này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang) nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài Phương thức cạnh tranh quyền lực của mọi quốc gia là thông qua xung đột

Quốc gia phải tự lực bởi về bản chất, mọi quốc gia đều ích kỷ và tư lợi Trong quan hệ quốc tế, quốc gia A giúp quốc gia B chỉ vì quyền lợi nhất định, không ai cho không ai điều gì, nhất là khi mà bên giúp không thu lại được lợi ích gì hoặc không thu lại nhiều lợi ích Mọi hành động của quốc gia đều xuất phát từ lợi ích quốc gia đó, chính vì vậy một quốc gia không nên trông mong vào người khác, quốc gia khác.Ngoài ra, trong môi trường quốc tế vô chính phủ, tức là không có một cơ chế thể chế nào cao hơn quốc gia cũng có nghĩa

là không có điều gì đảm bảo những cam kết về hợp tác hay liên minh giữa

Trang 20

quốc gia này với quốc gia kia Hợp tác chỉ là tương đối còn xung đột là tuyệt đối bởi lợi ích quốc gia vốn không thể hòa hợp

1.2 Khái quát về biển Đông

1.2.1 Giới thiệu chung về biển Đông

Trên phương diện vị trí địa lý, "Biển Đông" là không gian biển ở Đông Nam châu Á, được bao quanh bởi các nước Philippines ở phía Đông; Việt Nam, một phần Campuchia và Thái Lan ở phía Tây; Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia ở phía Nam và Trung Quốc ở phía Bắc Biển Đông được các nhà địa lý phương Tây gọi theo truyền thống là biển "Nam Trung Hoa" (South China Sea) hay người Trung Quốc gọi là "Nam Hải", còn người Việt Nam gọi là "Biển Đông" Như vậy, thực chất thuật ngữ "Biển Nam Trung Hoa", "Nam Hải" hay "Biển Đông" là chỉ những cách gọi khác nhau, đều ám chỉ tới một không gian biển đồng nhất Trong luận văn của mình, với tư cách

là một công dân Việt Nam, đứng từ góc nhìn của Việt Nam, tác giả sử dụng thuật ngữ "Biển Đông" để gọi tên vùng biển là cửa ngõ của Việt Nam ra Thái Bình Dương, đồng thời cũng là hàm ý lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn trong định vị vị trí của vùng biển chiến lược này

Biển Đông là biển nửa kín ven lục địa, thuộc Thái Bình Dương với vị trí địa lý từ vĩ độ 3° lên đến vĩ độ 26° Bắc và từ kinh độ 100° đến kinh độ 121° Đông [23], có diện tích 3,447 triệu km2, chiều dài khoảng 1900 hải lý, chiều rộng khoảng 600 hải lý tính từ Singapore và eo biển Malacca ở phía Nam cho tới eo biển Đài Loan (giữa Đài Loan và Trung Quốc) ở phía Đông Bắc Biển nằm trong vùng Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific), nằm trên tuyến đường hàng hải Đông-Tây[11] Vùng biển này có độ sâu trung bình là 1.212m, chỗ sâu nhất lên tới 5.567m Tổng lượng nước là 3.623.000 km3 Biển Đông có hơn 200 đảo lớn nhỏ, các bãi đá ngầm và các dải san hô nằm tập trung thành từng nhóm và hai quần đảo lớn là Hoàng Sa (Paracel Islands)

Trang 21

và Trường Sa (Spartly Islands) Quần đảo Hoàng Sa có hơn 30 hòn đảo đá san

hô có diện tích từ 0,5 km2 đến 1,5 km2, nằm trên vùng biển rộng 15.000 km2 Quần đảo Trường Sa có 15 đảo nhỏ và trên 130 bãi đá nổi và chìm, bãi san hô rải rác trên một diện tích gần 410.000 km2 ở giữa Biển Đông, cách cảng Cam Ranh của Việt Nam khoảng 248 hải lý [11] Đánh giá tổng thể, Biển Đông có tầm quan trọng trên mọi phương diện kinh tế- chính trị, quân sự, giao thông hàng hải và nguồn tài nguyên của cả khu vực và trên thế giới Do đó, Biển Đông với vị thế đầy tiềm năng phát triển song cũng không tránh khỏi những tiềm ẩn nguy cơ bất ổn liên quan đến tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh các lợi ích biển Có thể nói, Biển Đông là vùng nhạy cảm trong các mối quan hệ quốc tế vì có nhiều vấn đề liên quan đến an ninh - chính trị, kinh tế, hàng hải của nhiều quốc gia án ngữ xung quanh

Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Australia, New Zealand; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và biển Caribe; tuyến Đông Á đi Australia và New Zealand, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc

Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc

tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Đây là tuyến đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung Cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Đông [35]

Mặt khác, Biển Đông chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt

Trang 22

là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản), phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản) Theo tài liệu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cho thấy Biển Đông được coi là một trong những nơi có nguồn tài nguyên hải sản thương mại dồi dào và quan trọng nhất trên thế giới [16]; cụ thể, Biển Đông là vùng biển với đa dạng sinh học với khoảng 11000 loài sinh vật cư trú, trong

đó có 6000 loài động vật đáy biển, 2400 loài cá, trong đó có 130 loài cá kinh

tế, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du,

225 loài tôm biển [11] Biển Đông có tổng khối lượng hải sản hàng năm là trên 8 triệu tấn, chiếm khoảng 10% tổng lượng hải sản đánh bắt của thế giới [16] Trong khu vực có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8 % tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới [5] Tài nguyên thủy sản ở Biển Đông có vai trò quan quan trọng đối với địa phương, quốc gia và quốc tế bởi vì nguồn tài nguyên này cung cấp thực phẩm

và đóng góp lớn vào thu nhập quốc dân Các nhà khoa học ước tính, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước có biên giới biển với Biển Đông

Không chỉ dồi dào tiềm năng hải sản, Biển Đông còn được coi như là kho

“vàng đen” của thế giới- một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Theo Cục Tình báo năng lượng Bộ Năng lượng Mỹ (EIA) tính toán, trữ lượng dầu thô ở khu vực Biển Đông khoảng 11 tỷ thùng và khoảng 190 nghìn

tỷ m3 khí tự nhiên Tuy nhiên, một phân tích vào năm 2010 của Cơ quan Khảo sát Địa chấn Mỹ đưa ra ước tính có khoảng 0,8-5,4 tỷ thùng dầu và khoảng 7,6-55,1 nghìn tỉ feet khối khí tự nhiên nằm trong lượng tài nguyên chưa được phát hiện [48] Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng, trữ lượng

Trang 23

dầu khí tại Biển Đông có thể đạt tới 3,5 tỷ tấn (tương đương với hơn 25 tỷ thùng dầu thô) Nghiên cứu của Quân đội Trung Quốc (PLA) cho rằng Biển Đông sở hữu trữ lượng dầu mỏ phong phú tương đương với vùng Trung Đông Ngoài ra Biển Đông còn là một vùng biển nước sâu thuận lợi cho việc tạo thành và tích tụ băng cháy (khí hydrat) Năm 2007 các nhà khoa học và nghiên cứu của Trung Quốc đã tuyên bố tại khu vực biển Hoàng Sa và Trường Sa còn có nguồn nguyên liệu quý giá khác là băng cháy với trữ lượng 19,4 tỷ m3 [34]

1.2.2 Vai trò của biển Đông

Trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, Biển Đông có vị trí quan trọng trong

an ninh quốc phòng Vai trò của việc đảm bảo an ninh - quốc phòng trước hết xuất phát từ nhu cầu của những quốc gia ven biển nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển cũng như yêu cầu hợp tác chung của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm chống cướp biển hoành hành Những yêu cầu cũng nảy sinh với các quốc gia ngoài khu vực Đông Nam Á như Nhật Bản và Mỹ nhằm đảm bảo yêu cầu thông thương và đi lại trên biển

Biển Đông có lợi thế hỗ trợ cho việc triển khai các lực lượng quân sự

Do điều kiện địa lý tự nhiên, Biển Đông có những eo biển sâu và hẹp, cho phép tàu ngầm đi qua các đại dương ít bị phát hiện và có thể rút ngắn đường

đi Đây là địa bàn chiến lược để bảo vệ đường biển, ngăn chặn, giám sát khu vực mặt biển cũng như dưới nước [15] Trong lịch sử đã có rất nhiều những hoạt động quân sự diễn ra trên Biển Đông của các quốc gia trong và ngoài khu vực Đông Nam Á Nhiều căn cứ hải quân và không quân đã được thiết lập tại đây như căn cứ hải quân vịnh Subic của Mỹ, hải cảng quân sự Cam Ranh của Liên Xô trước đây

Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Điểm thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của

Trang 24

Indonesia và Malaysia) Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua (Ba eo biển thuộc chủ quyền của Indonesia là Sunda, Lombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do nào đó Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hóa giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn) Điểm trọng yếu thứ hai là vùng biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua biển Đông Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua biển Đông [59] Nếu khủng hoảng nổ

ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama Khu vực biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai-Wetar) Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz) [5] Nạn cướp biển và khủng bố trên biển Đông ở mức cao, đặc biệt sau vụ tấn công của lực lượng khủng bố vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10-2002 Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất

cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Mỹ và Nhật Bản Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông

Trang 25

Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm rada, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Vì vậy, việc biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực, thậm chí, các nhà chiến lược phương Tây cho rằng, quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa

sẽ khống chế được cả biển Đông [11]

Như vậy, Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ Đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của Biển Đông hết sức to lớn trên phương diện địa chiến lược là điều không phải nghi ngờ, nhất là khi Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang trên đà phát triển mạnh Trong lịch sử, người Trung Quốc từng cho rằng Đông Nam Á trong đó có Biển Đông là khu vực ảnh hưởng truyền thống của họ và cũng là hướng thuận, làm ăn phát đạt Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến yêu sách đòi chủ quyền của Trung Quốc hiện nay ở Biển Đông Đối với Mỹ, Mỹ khẳng định có những lợi ích quốc gia liên quan mật thiết tới Biển Đông bao gồm tự do hàng hải, kinh tế thương mại và an ninh quân sự, vì vậy, Biển Đông cũng là một địa bàn mang tính chất an ninh, quân sự đối với Mỹ Đối với Việt Nam, biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai Bờ biển nước ta vừa là cửa ngõ bang giao kinh tế vừa là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước Vùng biển Việt Nam có trên 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2.773 đảo ven bờ và hơn 200 đảo xa bờ Đường bờ biển trải dài trên 3.260 km, tỷ lệ giữa diện tích lục địa và chiều dài bờ biển đạt 100

km2/1km; có 114 cửa sông, 12 đầm phá, có 50 vũng/vịnh ven bờ [36] Những đặc điểm này tạo cho Việt Nam có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển và kinh tế vùng ven biển, với các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, dầu khí,

Trang 26

thủy sản, giao thông vận tải, công nghiệp tàu thủy Giai đoạn 2010-2012, kinh

tế vùng ven biển đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,0%/năm, riêng năm 2012, GDP toàn vùng ven biển đạt 792 nghìn tỷ đồng (chiếm 17,2% GDP của toàn quốc) Trong đó, các khu công nghiệp ven biển chiếm 40% tổng số khu công nghiệp cả nước với doanh thu hàng năm đạt 7-8 tỷ USD và 15-16 nghìn tỷ đồng, giá trị xuất khẩu 5-6 tỷ USD; du lịch biển đảo nước ta chiếm 70% tổng doanh thu của ngành du lịch cả nước, chiếm 77% về lượt khách quốc tế và chiếm 57% về lượt khách du lịch nội địa của du lịch cả nước [26]

Biển Đông mang ý nghĩa địa chiến lược, địa chính trị và kinh tế to lớn, ảnh hưởng không chỉ đến những nước có biên giới trực tiếp liền kề mà còn liên quan đến nhiều nước ngoài khu vực có lợi ích liên quan

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chủ nghĩa Hiện thực trong quan hệ quốc tế là một trong những lý luận truyền thống, nền tảng với các luận điểm được xây dựng dựa trên cơ sở quan niệm về quốc gia, quyền lực và xung đột, sau này Chủ nghĩa Hiện thực mới

có bổ sung them yếu tố về hệ thống quốc tế trong quan hệ quốc tế Theo quan điểm của Chủ nghĩa hiện thực, chỉ có quốc gia là chủ thể chính trong mọi hoạt động của cộng đồng quốc tế và mọi quốc gia đều theo đuổi quyền lực nhằm mục đích tồn vong và phát triển, tranh giành lợi ích quốc gia Phương thức tranh giành quyền lực không gì khác ngoài xung đột và trong mọi quá trình cạnh tranh xung đột là tuyệt đối, hợp tác là tương đối nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia cao nhất

Lý thuyết về Chủ nghĩa Hiện thực được áp dụng để lý giải các cuộc xung đột, cạnh tranh giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế; do đó, được sử dụng làm cơ sở lý luận đánh giá về cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông những năm đầu thế kỉ XXI Biển Đông với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược là cầu nối giữa các tuyến vận tải trên biển, giàu có về nguyên liệu năng lượng và những tài nguyên biển khác Hơn thế nữa, tầm quan trọng về an ninh quốc phòng của Biển Đông cũng khiến cho các quốc gia không thể không quan tâm tới Biển Đông trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của mình Biển Đông đóng vai trò quan trọng không chỉ với Trung Quốc và Mỹ,

mà còn là một phần không thể thiếu trong mối quan tâm của các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam

Trang 28

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN VÀ QUÁ TRÌNH CẠNH TRANH

QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG 2.1 Nguyên nhân cạnh tranh quyền lực giữa Trung - Mỹ ở biển Đông

2.2.1 Về mặt an ninh- chính trị

Đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của Biển Đông hết sức to lớn trên

phương diện địa chiến lược là điều không phải nghi ngờ, nhất là khi Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một cường quốc khu vực đang trên con đường trở thành cường quốc toàn cầu, hiện đang nỗ lực gia tăng ảnh hưởng tại châu Á và cụ thể là Đông Nam Á thì Biển Đông là “sân sau” quan trọng để bảo vệ đại lục trước các cuộc tấn công từ biển Nếu như trên đất liền, Trung Quốc chỉ có thể tạo được ảnh hưởng chiến lược đối với 3 quốc gia giáp ranh (Lào, Myanmar và Việt Nam), thì trên biển, mà cụ thể là Biển Đông, Trung Quốc có thể tạo ảnh hưởng đối với tất cả các quốc gia Đông Nam Á Trung Quốc cảm thấy bị bao vây khi phía Đông của Trung Quốc đang tồn tại khối đồng minh chiến lược Mỹ-Nhật-Hàn khá vững chắc Hơn nữa, Đài Loan vẫn còn là hòn đảo chia cắt được Mỹ, Nhật bảo trợ về mặt an ninh, quốc phòng Những cản trở này khiến cho Trung Quốc gặp khó khăn lớn thông qua Biển Đông để vươn ra vùng nước sâu của Thái Bình Dương, trở thành cường quốc biển Phía tây nam của Trung Quốc giáp Ấn Độ và Myanma Trong khi

Ấn Độ đang trỗi dậy, cạnh tranh với Trung Quốc ở châu Á và đang cố gắng vươn lên thành cường quốc biển Bên cạnh đó, Mỹ đang tìm cách cải thiện quan hệ với cả Ấn Độ và Myanma nên con đường đi qua phía Tây Nam, mở rộng quyền lực biển ở Ấn Độ Dương khó có thể thực hiện được Còn phía Đông Nam của Trung Quốc, cụ thể là khu vực Biển Đông có thể nói là nơi thuận lợi nhất cho Trung Quốc thực hiện mục tiêu tiến ra đại dương, trở thành cường quốc biển Các nước Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông

Trang 29

đều là những nước nhỏ với tiềm lực hải quân hạn chế Hơn nữa, bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XXI, Mỹ sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố ở Afganistan và Iraq nên lực lượng quân sự bị phân tán, còn Nga cũng đã rút lực lượng quân sự ra khỏi cảng Cam Ranh Chính điều này đã tạo chỗ trống cho Trung Quốc có thể triển khai lực lượng hải quân xuống khu vực Biển Đông đang tranh chấp nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của mình

Đối với Mỹ, cường quốc này không phải là một quốc gia ven biển Đông

và cũng không phải là một trong những quốc gia có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông Tuy nhiên Mỹ khẳng định có những lợi ích quốc gia liên quan mật thiết tới Biển Đông khiến cho Mỹ phải dành mối quan tâm và thiết lập ảnh hưởng của mình tại đây Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông nằm trong lợi ích

đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á/Thái Bình Dương Theo một báo cáo gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: (1) Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; (2) Ổn định khu vực và loại bỏ bất kì cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở

cơ hội hay lợi ích của Mỹ; (3) Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; (4) Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; (5) Thúc đẩy các giá trị toàn cầu như quản lí tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; (6) Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để

ổn định khu vực và lợi ích của Mỹ [51] Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù chính quyền Mỹ có thay đổi Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích trên Có thể thấy những lợi ích của Mỹ ở Biển Đông bao gồm: tự do hàng hải, kinh tế thương mại và an ninh quân sự

Trong chiến lược an ninh quân sự, Biển Đông là một mắt xích quan trọng trong hệ thống quân sự ven biển của Mỹ ở Châu Á, chạy dài từ Vịnh Pec-xích qua Biển Đông đến bán đảo Triều Tiên, là nơi hỗ trợ đắc lực cho

Trang 30

việc duy trì "vành đai sắt" khống chế Trung Quốc ở phía Đông, nhất là trong

việc duy trì hiện trạng của Đài Loan cũng như duy trì quan hệ đồng minh chiến lược của Mỹ ở Đông Á và Nam Thái Bình Dương Hơn nữa, Mỹ cũng muốn có mặt và can dự nhiều hơn ở Biển Đông để theo dõi sự triển khai hải quân Trung Quốc tại vùng biển này khi mà Trung Quốc hiện nay càng trở nên lớn mạnh và hung hăng, có thể đe dọa tới Mỹ [61] Bên cạnh đó, Biển Đông cũng là nơi tồn tại những mối quan tâm an ninh chung giữa Mỹ với các đồng minh Philippines và Nhật Bản Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Philippines nhằm bảo vệ đồng minh thông qua đó Mỹ củng cố lợi ích và khẳng định vị thế của mình ở Biển Đông Các tuyến đường biển Đông Nam Á

có thể liên kết các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản với căn cứ lớn của Mỹ ở đảo Guam, tạo thành phòng tuyến quân sự để bảo vệ các đồng minh của Mỹ ở Đông Á Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên hiện diện tại khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông nhằm đảm bảo an ninh tại khu vực này Như vậy, Biển Đông cũng là một địa bàn mang tính chất an ninh, quân sự đối với Mỹ

2.2.2 Về mặt kinh tế

Đối với Trung Quốc, Biển Đông là trọng điểm của chiến lược xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”, được Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc tái khẳng định Báo cáo chính trị của Đại hội XVIII, ngày 8-11-

2012, viết: “Nâng cao năng lực khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích biển quốc gia, xây dựng cường quốc biển” Hành vi hung hăng và quyết liệt của Trung Quốc trong tranh chấp khu vực biển quan trọng bậc nhất này không phải được nuôi dưỡng từ chủ nghĩa dân tộc hay từ những tuyên bố chủ quyền trong quá khứ, mà thực chất là động lực đơn giản - lợi ích kinh tế của quốc gia đông dân nhất thế giới này [13]

Trang 31

Phát triển tổng hợp kinh tế biển là phát triển đồng thời các ngành: Khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; Du lịch biển – đảo; Khai thác và chế biến khoáng sản biển; Giao thông vận tải biển

Bộ Địa chất và Khoáng sản của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ước tính rằng khu vực quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên lên tới 17,7 tỷ tấn, so với lượng dầu của Kuwait nắm giữ là 13 tỷ tấn và

có khả năng đưa Biển Đông trở thành khu vực có trữ lượng dầu lớn thứ 4 thế giới Tuy nhiên, trước đó Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cũng đã kiểm tra và ước tính rằng gần như không có dầu mỏ, nhưng trữ lượng khí tự nhiên lên tới 9 tỷ mét khối trong khu vực gần quần đảo Trường Sa [13] Trữ lượng tài nguyên lớn này đã khiến các nước trong khu vực tăng cường các tuyên bố chủ quyền

Bên cạnh quan điểm về nguyên nhân tranh chấp trên Biển Đông xuất phát

từ khao khát chiếm hữu các nguồn năng lượng dầu khí dưới đáy biển trong khu vực, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng một phần nguyên nhân khiến các bên gay gắt tranh chấp do tính kinh tế từ nguồn cá ở biển Đông và môi trường biển Với diện tích khoảng 3 triệu km2, Biển Đông cung cấp trữ lượng cá vô cùng dồi dào, đây là nơi sinh sống của ít nhất 3.365 loài cá và theo ước tính năm 2012, khoảng 12% sản lượng đánh bắt cá của thế giới, trị giá 21,8 tỷ USD, tới từ khu vực này [40] Các nguồn tài nguyên sống này có giá trị hơn rất nhiều so với tiền bạc; chúng là nền tảng đảm bảo an ninh lương thực cho hàng trăm triệu ngư dân ven biển Ngư nghiệp cũng là ngành nghề sử dụng ít nhất 3,7 triệu lao động (con số thấp hơn thực tế bởi chưa tính đến các thuyền đánh bắt cá trái phép không khai báo trong khu vực) Đây được cho là một trong các lợi ích quan trọng nhất mà nghề cá ở Biển Đông mang lại cho cộng đồng thế giới - đó là tạo ra công ăn việc làm cho gần 4 triệu người trẻ tuổi, những người có thể sẽ không có nhiều lựa chọn nghề nghiệp khác[40]

Trang 32

Nhìn xa hơn vấn đề Biển Đông, thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương Vấn

đề tự do và an toàn giao thông hàng hải được chú trọng đặc biệt, khi xuất hiện những cường quốc hải dương mới tác động đến trật tự biển quốc tế, cùng với

sự tăng cường nhận thức rằng các tuyến giao thông trên biển không chỉ kết thúc trong một khu vực, mạng lưới giao thông hàng hải là huyết mạch của cả một khu vực thống nhất, mở rộng xa ra ngoài khu vực châu Á - Thái Bình Dương tới các vùng biển thuộc châu Đại Dương, Nam Thái Bình Dương và

Ấn Độ Dương Hợp tác, cạnh tranh, xung đột diễn ra gay gắt Nước nhỏ có biển ra sức bảo vệ đường biên giới biển như là không gian sinh tồn của quốc gia Nước lớn tìm cách mở rộng ranh giới biển thông qua tranh chấp và xung đột để tối đa hóa vùng lãnh hải phục vụ chiến lược cường quốc biển [41]

Tờ Thời báo Hoàn cầu đã đăng một bài của Trịnh Vĩnh Mạn, Viện trưởng

Viện Đông Á, Đại học quốc gia Xingapo Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông như “đường huyết mạch” đối với chiến lược hải dương của Trung Quốc, đồng thời đặt câu hỏi: “Trung Quốc phát triển thành cường quốc hải dương qua con đường nào? Qua Ấn Độ Dương chăng? Rất ít khả năng, vì không có đường nối trực tiếp giữa Trung Quốc với Ấn Độ Dương, mặc dù một số chiến lược gia nói nhiều về việc thiết lập con đường ấy qua Myanma, nhưng có rất nhiều yếu tố không chắc chắn Myanma đang tìm cách tối đa hóa lợi ích quốc gia của họ Họ từng phụ thuộc vào Trung Quốc nhưng hiện tại đang tìm cách xây dựng quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ… Ấn Độ tất nhiên không thể để cho Trung Quốc dùng Ấn Độ Dương làm bàn đạp trở thành cường quốc biển… Nhìn đi nhìn lại, hy vọng của Trung Quốc trở thành cường quốc hải dương đặt cả vào Biển Đông Biển Đông là đường huyết mạch của Trung Quốc Không có Biển Đông, chủ trương địa chính trị hải dương của Trung Quốc hầu như không tồn tại” Chứng tỏ rằng, biển Đông có

Trang 33

vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược tiến trình hướng tới trật tự một cực của Trung Quốc

Nhằm kiểm soát Biển Đông như phần quan trọng nhất để mở rộng không gian biển cho mục tiêu xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”, Bắc Kinh đã tích cực thực hiện phương châm, được giới học thuật Trung Quốc khái quát thành chín chữ: “Bảo cận ngạn, tranh cận hải, xuất viễn dương” (giữ gần bờ, tranh biển gần, ra đại dương) Để đạt được mục đích của mình, Trung Quốc không ngần ngại gây sức ép với các nước láng giềng Thời gian gần đây, Bắc Kinh cho thực hiện hai chủ trương: cấp hộ chiếu in đường lưỡi bò 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông và nhà đương cục Trung Quốc của tỉnh Hải Nam thông qua “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam” quy định công an biên phòng Trung Quốc có thể “lên tàu, kiểm tra, bắt giữ, trục xuất, ra lệnh dừng tàu, đổi hướng và trở về”, có hiệu lực kể từ ngày 1-1-

2013 Đây là một nỗ lực nhằm áp đặt luật chơi của Trung Quốc Khi quá trình

ấy hoàn thành, một “trật tự Biển Đông” sẽ do Trung Quốc chủ đạo [41]

Về phía Mỹ, tự do hàng hải ở khu vực biển Đông nói riêng và khu vực

châu Á- Thái Bình Dương nói chung là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế quan trọng nhất đối với Mỹ Biển Đông là tuyến đường thương mại quan trọng và Mỹ coi tuyến đường này là vùng biển quốc tế cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại Mỹ luôn ủng hộ quan điểm tự do hàng hải trên thế giới, bao gồm cả Biển Đông Mỹ tuyên bố có lợi ích trong lưu thông đường biển tự do trong khu vực và trong việc giải quyết hòa bình những tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vị trí khác Không những thế, tự do hàng hải trên Biển Đông gắn liền với lợi ích quân sự của Mỹ Đây là địa bàn dễ gặp bất ổn an ninh từ nạn cướp biển, hải tặc cho tới việc đụng độ tàu thuyền giữa các quốc gia Vì vậy, Mỹ có nhu cầu triển khai lực lượng quân sự tại nơi này, đặc biệt là sự xuất hiện của hạm đội Thái Bình

Trang 34

Dương của Mỹ, hạm đội 7 Hạm đội 7 của Mỹ hiện đang đóng tại Nhật Bản, Hawai, và Singapore, hoạt động trên một vùng biển rộng lớn từ Thái Bình Dương của Mỹ tới Ấn Độ Dương Đối với Mỹ, sự đe dọa đối với tự do hàng hải qua Biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến kinh tế khu vực Sự tăng trưởng kinh tế và an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự Bên cạnh đó, những đồng minh thân cận của

Mỹ trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng có lợi ích kinh tế dựa rất nhiều vào thương mại thông qua biển Quan ngại sâu sắc về căng thẳng tại Biển Đông, Joseph Nye khi còn là trợ lí Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ

về an ninh quốc tế đã nói rằng nếu xảy ra hành động quân sự tại quần đảo Trường Sa và cản trở tự do trên biển thì Mỹ sẽ chuẩn bị ứng phó và đảm bảo

tự do hàng hải được tiếp tục[60]

2.2 Quá trình cạnh tranh quyền lực Trung – Mỹ ở biển Đông

2.2.1 Những động thái của Trung Quốc ở biển Đông

2.2.1.1 Tuyên bố chủ quyền và chủ trương giải quyết tranh chấp của Trung Quốc

Theo Công ước luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS 1982), các quốc gia ven biển được tuyên bố chủ quyền đối với các vùng biển khác nhau, bao gồm: 1) Vùng lãnh hải (kéo dài 12 hải lý tính từ đường cơ sở); 2) Vùng tiếp giáp lãnh hải (nằm phía ngoài, tiếp liền lãnh hải và rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở); 3) Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) (nằm phía ngoài và tiếp giáp với lãnh hải, kéo dài 200 hải lý tính từ đường cơ sở); 4) thềm lục địa: gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía bên ngoài của lãnh hải trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở Công ước cũng thừa nhận quyền của quốc gia ven biển trong việc kiểm soát và khai thác tài nguyên ở thềm lục địa kéo dài không quá 350 hải lý

Trang 35

Đối với vùng lãnh hải 12 hải lý, theo UNCLOS, quốc gia ven biển có chủ quyền đầy đủ, các nước khác không được quyền tự do bay, chỉ được bay trên lãnh hải nếu được phép của quốc gia ven biển Tàu của các nước có quyền đi qua vùng lãnh hải của quốc gia ven biển nhưng việc qua lại phải bảo đảm

"không gây hại" (được hiểu là việc đi lại không gây tổn hại đến hòa bình, an ninh, trật tự hay các lợi ích chính đáng của các quốc gia ven biển) Đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, quốc gia ven biển được thực thi chủ quyền với việc khảo sát, khai thác, bảo tồn…các tài nguyên tự nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển…Đồng thời, UNCLOS cũng thừa nhận nguyên tắc tự do hàng hải và tự do bay trong vùng đặc quyền kinh tế

Là một thành viên tham gia UNCLOS, song Trung Quốc cho rằng quyền kiểm soát và khai thác tài nguyên của quốc gia ven biển ở vùng đặc quyền kinh tế phải được đặt cao hơn các quyền tự do hàng hải và tự do bay quốc tế,

và các quốc gia ven biển có quyền quy định tất cả các hoạt động quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế [57] Chính phủ Trung Quốc cho rằng các tàu quân sự nước ngoài phải thông báo trước khi vào vùng đặc quyền kinh tế, Trung Quốc phản đối mạnh mẽ và coi tất cả các hoạt động liên quan đến việc thăm dò, thu thập thông tin tình báo, trinh sát trong vùng đặc quyền kinh tế là phạm pháp [1] Hiện nay, Trung Quốc đang đưa ra các lập luận để áp dụng những quy định về giới hạn này cho cả không phận phía trên vùng đặc quyền kinh tế

Trong những năm đầu thế kỉ XXI, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong

đó có nhu cầu phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nên tranh chấp Biển Đông giữa các nước liên quan có phần lắng dịu Năm 2002, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được kí kết giữa Trung Quốc và ASEAN Đây là một nỗ lực nhằm duy trì hiện trạng, duy

Trang 36

trì hòa bình ổn định để hợp tác phát triển ở Biển Đông trong khi chưa có một

bộ luật về ứng xử của các bên trên Biển Đông có tính ràng buộc về mặt pháp

lý Bản Tuyên bố này mở ra hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác và sự hình thành cơ sở chính trị pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định ở Biển Đông nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung Bản Tuyên bố khẳng định "Các bên liên quan tham gia để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình, không dựa trên đe dọa hay sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi thân thiện và đàm phán giữa các quốc gia trực tiếp liên quan, dựa theo những nguyên tắc được cả thế giới công nhận của luật quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982[52] DOC cam kết "tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông" và "tự hạn chế các hoạt động có thể làm phức tạp, hoặc gia tăng tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định" Việc kí kết Tuyên bố này về cơ bản đã xoa dịu căng thẳng giữa các quốc gia liên quan sau tranh chấp ở đảo Vành Khăn trong quần đảo Trường Sa năm 1995, góp phần ổn định tình hình Biển Đông trong suốt 4 năm sau đó

Kể từ giữa năm 2007 đến nay, tranh chấp Biển Đông trở nên căng thẳng

và nóng bỏng hơn Cuối năm 2007, Quốc Vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa trong đó bao gồm cả đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nhằm hợp pháp hóa về mặt hành chính chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo đó

Tháng 5 năm 2009, Trung Quốc đã phản ứng quyết liệt sau khi Việt Nam

và Malaysia đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc yêu sách chung về thềm lục địa ở Biển Đông Nhân cơ hội này, Trung Quốc

đã trình lên Liên hợp quốc Công hàm kèm theo tấm bản đồ "đường chín đoạn", một văn bản chính thức về yêu sách chủ quyền đối với vùng lưỡi bò, chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông và bao trọn hai quần đảo Hoàng Sa

Trang 37

và Trường Sa Trong Công hàm, Trung Quốc không chỉ tuyên bố "có chủ quyền không thể chối cãi đối với các quần đảo ở Biển Đông và các vùng nước phụ cận" [49] mà đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức đệ trình bản đồ đường chín đoạn để củng cố những yêu sách chủ quyền của mình Tuy nhiên Trung Quốc không có bất kì một giải thích cụ thể nào

Trung Quốc đã sử dụng khái niệm "lợi ích cốt lõi" liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập tới Đài Loan và Tây Tạng Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi Biển Đông thuộc phạm vi "lợi ích cốt lõi" trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010 Tuy nhiên sau đó chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông thuộc "lợi ích cốt lõi" Song, khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin, các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức Điều này càng làm tăng mối lo ngại về động cơ của Trung Quốc bởi đó có thể

là một sự ngầm ủng hộ quan niệm như vậy cả giới lãnh đạo và tinh hoa Trung Quốc Khi Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông thì sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ Sự mập mờ này giúp Trung Quốc không phải đối mặt với những áp lực giải thích chính sách của họ và ngầm ý hiểu là sự chấp nhận của quốc tế

Tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tổ chức tại Hà Nội vào tháng 7/2010, trước việc Ngoại trưởng Mỹ Clinton tuyên bố Mỹ có lợi ích thiết thực

ở Biển Đông, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có những lời lẽ mạnh mẽ nhằm phản đối sự can dự của các cường quốc bên ngoài và cho rằng đối thoại song phương là phương thức hiệu quả duy nhất để giải quyết tranh chấp[19] Sau Diễn đàn ARF 17 tại Hà Nội, trong một thông cáo đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26/7/2010, Ngoại trưởng Trung

Trang 38

Quốc Dương Khiết Trì nói: "Nếu Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế hoặc đa phương sẽ chỉ khiến cho vấn đề này trở nên tồi tệ hơn và giải pháp sẽ khó khăn hơn…Thực tiễn quốc tế cho thấy cách tốt nhất để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó là các bên liên quan đàm phán song phương trực tiếp"[45] Theo giới phân tích, thái độ sẵn sàng can dự của Mỹ kèm theo chủ trương quốc tế hóa và đa phương hóa hồ sơ Biển Đông đã đi ngược lại với chủ trương muốn giải quyết vấn đề trên cơ sở đàm phán song phương của Trung Quốc nhằm gây sức ép lên các nước nhỏ và yếu hơn mình, tránh được

sự nhòm ngó của quốc tế Trung Quốc kiên trì quan điểm cứng rắn về giải quyết song phương tranh chấp Biển Đông, phản đối quốc tế hóa và không chấp nhận đàm phán đa phương, thực chất là nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ Trung Quốc phản đối Mỹ "nhúng tay” vào giải quyết tranh chấp Biển Đông, thậm chí đe dọa Mỹ có thể bị “nóng vì lửa” nếu can thiệp vào tranh chấp Biển Đông Tuy nhiên Trung Quốc chủ trương thúc đẩy quan hệ với Mỹ, khẳng định không có ý “thách thức” quân đội Mỹ, nhấn mạnh nguyên tắc

“chú ý lợi ích cốt lõi và những mối quan tâm quan trọng của nhau”, ráo riết vận động Mỹ ủng hộ lập trường của Trung Quốc Phía Trung Quốc cho rằng Trung Quốc và ASEAN đã ký Quy tắc Hướng dẫn thực thi DOC, cho thấy Trung Quốc và các nước ASEAN có đủ khả năng và trí tuệ để giải quyết các tranh chấp; khẳng định không có mối đe dọa nào đối với việc thông thương hàng hải và an ninh trên Biển Đông; kêu gọi Mỹ tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc

Tháng 4 năm 2011, Trung Quốc gửi công hàm lên Ủy ban ranh giới ngoài thềm lục địa Liên Hợp Quốc cáo buộc Philippines về việc xâm lấn và chiếm đóng một số hòn đảo và bãi đá ở "Quần đảo Nam Sa" của Trung Quốc Công hàm của Trung Quốc cũng tuyên bố rằng "theo các điều khoản liên quan của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (1982), Luật về lãnh hải và vùng tiếp

Trang 39

giáp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc (1992) và Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1998), Quần đải Nam Sa của Trung Quốc hoàn toàn được hưởng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa" [53] Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức tuyên bố yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý xung quanh từng đảo thuộc quần đảo Trường Sa

Trước việc ngày 23/4/2012, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông vượt quá sự cho phép của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã lên tiếng đáp trả “Chúng tôi đã biết các thông tin liên quan và bày tỏ sự quan ngại về điều này Theo những gì chúng tôi biết, về vấn đề Biển Đông, các nước thành viên ASEAN không tham gia tranh chấp

và các nước ngoài khu vực này đều không liên quan tới các tranh chấp chủ quyền”[46] Tiếp đó, Trung Quốc tiếp tục khẳng định chủ quyền trên Biển Đông với hàng loạt những động thái gây căng thẳng Ngày 21/6/2012, Trung Quốc công bố Quyết định thành lập “thành phố Tam Sa” đặt căn cứ trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép từ năm 1974 Tiếp đến, ngày 19/7/2012 Quân ủy Trung ương Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập Cơ quan chỉ huy quân sự của “thành phố Tam Sa” Ngày 21/7/2012, Trung Quốc tổ chức bầu 45 đại biểu của “Hội đồng Nhân dân Tam Sa”; ngày 23/7/2012 Phiên họp đầu tiên của “Hội đồng Nhân dân Tam Sa” đã bầu một nhân vật tên Tiêu Kiệt làm “Thị trưởng”; ngày 24/7/2012, Trung Quốc đã tổ chức lễ thành lập “thành phố Tam Sa”

Tháng 11/2012, Trung Quốc đã ban hành mẫu hộ chiếu mới có in bản đồ Trung Quốc và vẽ thêm "đường lưỡi bò", đòi hỏi chủ quyền hầu như toàn bộ Biển Đông, cùng đảo Đài Loan và hai vùng lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ, gây nên sự phản đối của các bên liên quan

Trang 40

Trong năm 2013, tình hình Biển Đông trở nên lắng dịu hơn, Trung Quốc

đã chấp thuận khởi động đàm phán với các nước ASEAN về Bộ Quy tắc ứng

xử ở Biển Đông (COC) Cuộc tham vấn chính thức đầu tiên giữa Trung Quốc

và ASEAN về COC đã được tổ chức tại Tô Châu, Trung Quốc vào tháng 9/2013 Tuy nhiên, tháng 11/2013, việc Trung Quốc đơn phương thành lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở Hoa Đông và ám chỉ rằng sẽ thiết lập (ADIZ) ở Biển Đông vào thời điểm thích hợp đã gây nên sự phản đối mạnh

mẽ của các quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc trên biển Hoa Đông và Biển Đông đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc và các quốc gia ở Đông Nam

Á Hành động này của Trung Quốc cũng gây ảnh hưởng tới lợi ích tự do bay của Mỹ tại các vùng biển quốc tế, đồng thời gây cản trở đối với các hoạt động thăm dò quân sự của Mỹ ở khu vực này Điều này khiến cho Mỹ không thể không lên tiếng phản đối Trung Quốc

2.2.1.2 Những hành xử của Trung Quốc ở biển Đông

Trong hoạt động kinh tế, Trung Quốc tăng cường sức ép buộc các nước

ngoài rút khỏi dự án thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng biển Trung Quốc tuyên bố chủ quyền mặc dù các dự án đó nằm trong vùng nước thuộc phạm vi chủ quyền của Việt Nam

Từ giữa năm 2007 Trung Quốc đã nhiều lần phản đối và gây áp lực đối với dự án xây dựng đường ống khí đốt do tập đoàn dầu khí BP của Anh thực hiện Tháng 6/2007, trước áp lực của Trung Quốc, BP đã phải rút lui khỏi dự

án thăm dò dầu khí với bên Việt Nam bởi Trung Quốc cho rằng dự án đó thực hiện tại vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc Ngày 20/3/2009, Công

ty BP tiếp tục tuyên bố rút khỏi dự án dầu khí ở lô số 05.2 và 05.3 thuộc bồn trũng Côn Sơn ngoài khơi Việt Nam

Cuối năm 2008 Trung Quốc đã nổ súng cảnh cáo và sau đó gây áp lực buộc tập đoàn dầu khí Mỹ Exxon Mobil phải rút lui khỏi dự án liên doanh

Ngày đăng: 15/03/2021, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w