1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách mạng khoa học công nghệ và những tác động của nó đến đời sống chính trị ở việt nam hiện nay

98 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 727,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN PHƯƠNG THÙY CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHƯƠNG THÙY

CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ

VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN

ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học

Mã số: 60.22.80

Người hướng dẫn khoa học: PGS TSKH Lương Đình Hải

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TSKH Lương Đình Hải

Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất kỳ đề tài luận văn, luận án nào đã được công bố ở Việt Nam

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài

Người cam đoan

Nguyễn Phương Thùy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi luôn nhận được sự quan tâm chỉ dẫn ân cần của các thầy cô giáo Các thầy cô không chỉ là tấm gương tận tụy trong công việc mà còn là những tấm gương đạo đức cho chúng tôi noi theo

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TSKH Lương Đình Hải là thầy giáo hướng dẫn khoa học, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thêm các kỹ năng, kiến thức trong quá trình hoàn thành luận văn của mình

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo của Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã thông cảm và giúp đỡ tôi về mặt thời gian để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn của mình một cách tốt nhất

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 10

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ 10

1.1 Cách mạng khoa học - công nghệ 10

1.1.1 Khái niệm cách mạng khoa học - công nghệ 10

1.1.2 Đặc điểm của cách mạng khoa học - công nghệ 14

1.1.3 Những xu hướng biến đổi của cách mạng khoa học - công nghệ 18

1.2 Đời sống chính trị và các yếu tố cấu thành đời sống chính trị 21

1.2.1 Ý thức chính trị 23

1.2.2 Hoạt động chính trị 26

1.2.3 Hệ thống chính trị 27

1.3 Mối quan hệ giữa cách mạng khoa học - công nghệ và đời sống chính trị 30

Chương 2: NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35 2.1 Tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến ý thức chính trị 36

2.1.1 Những tác động tích cực 36

2.1.2 Những tác động tiêu cực 45

2.2 Tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến hoạt động chính trị 52 2.2.1 Những tác động tích cực 52

2.2.2 Những tác động tiêu cực 63

2.3 Tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến hệ thống chính trị 70

2.3.1 Những tác động tích cực 71

2.3.2 Những tác động tiêu cực 77

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp bách của đề tài

Nhân loại hôm nay đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba dựa trên nền tảng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Cuộc cách mạng ấy với những phát kiến vĩ đại cả về khoa học và công nghệ là một trong các cuộc cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử phát triển nhân loại Với vai trò là động lực của

sự phát triển, cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang tác động mạnh mẽ, gây nên những biến động hết sức sâu sắc và phức tạp đến mọi mặt của đời sống xã hội Đời sống chính trị - với tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh vấn đề trung tâm là giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, cứ ngỡ là một lĩnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc, là “lãnh địa bất khả xâm phạm”, là

“pháo đài kiên cố” trước những biến động của xã hội cũng không nằm ngoài

sự tác động đó Cách mạng khoa học - công nghệ không chỉ làm biến đổi đời sống chính trị của một quốc gia mà còn vẽ nên một bức tranh về cục diện chính trị thế giới với những mảng màu sáng tối khác nhau - một cục diện mới hình thành không chỉ trên những dấu mốc quan trọng trong đời sống chính trị của các nước lớn mà còn được định hình từ những trào lưu, xu hướng xuất phát từ các nước vốn trước đây không có ảnh hưởng nhiều trong nền chính trị toàn cầu

Mảng sáng trong bức tranh về đời sống chính trị chính là những thay đổi mang tính tích cực Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mà nội dung cơ bản là cách mạng về công nghệ thông tin, tin học, năng lượng mới, vật liệu mới…đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội, làm phong phú hơn đời sống chính trị của mỗi quốc gia và tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tác động sâu sắc đến quan hệ chính trị quốc tế Song song với nó là những biến động trong đời

Trang 7

sống chính trị mới nảy sinh trong nội bộ các nước và những vấn đề có tính

toàn cầu mà mỗi nước khó có thể giải quyết được nếu tự tách mình ra khỏi

cộng đồng thế giới Những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính

trị, vì thế, đã trở thành một trong những vấn đề thời sự của triết học hiện đại

Nó thu hút được không chỉ các nhà triết học, mà cả những nhà kinh tế học,

chính trị học và chính trị gia, các nhà xã hội học, tương lai học…bởi lẽ nó là

vấn đề nổi trội, đồng thời là mối quan tâm chung của cộng đồng thế giới Các

cuộc thảo luận và hội thảo nghiên cứu về chủ đề này đã xuất hiện ngay từ giai

đoạn đầu trong quá trình phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ và

ngày càng trở nên sôi nổi, dường như không có hồi kết Việc phân tích

nguyên nhân, thực trạng của những tác động này và giải pháp nhằm hạn chế

những tác động tiêu cực, phát huy những tác động tích cực cho phù hợp với

điều kiện, tình hình mới là một đòi hỏi tất yếu, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có

ý nghĩa thực tiễn cấp bách

Ở Việt Nam, bước vào thế kỷ XXI, những thành tựu của cách mạng khoa

học - công nghệ đã tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế, giúp chúng ta đẩy

nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng

một cơ sở vững chắc cho một nền chính trị ổn định Tuy không phải là cái nôi

của cách mạng khoa học - công nghệ nhưng đời sống chính trị Việt Nam ít

nhiều chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị thế giới và cũng bị biến đổi trước

những đợt sóng khoa học công nghệ Nhận thức được những biến đổi này để

duy trì và ổn định đời sống chính trị không chỉ là một nhiệm vụ nặng nề của

Đảng, Nhà nước và dân tộc ta mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi con

người Việt Nam

Xuất phát từ những lý do cơ bản đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: Cách

mạng khoa học - công nghệ và những tác động của nó đến đời sống chính

trị ở Việt Nam hiện nay làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau Có thể chia những công trình nghiên cứu này thành ba nhóm sau:

- Nhóm 1: Những nghiên cứu tổng hợp về cách mạng khoa học - công nghệ: khái niệm, đặc điểm, xu hướng và tác động của nó trên mọi lĩnh vực

- Nhóm 2: Những nghiên cứu về tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến lĩnh vực kinh tế - lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng khoa học - công nghệ

- Nhóm 3: Những nghiên cứu về tác động của khoa học và công nghệ đến chính trị và đời sống chính trị trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Nghiên cứu tổng hợp về cách mạng khoa học - công nghệ cùng những

tác động của nó đến sự phát triển của xã hội và con người đã được tiến hành cách đây khoảng vài thập niên Có thể kể tên đến những nghiên cứu tiêu biểu sau:

Năm 1962, Thomas Kuhn cho ra đời cuốn Cấu trúc các cuộc cách mạng

khoa học Trong cuốn sách này, tác giả muốn chứng minh rằng các lý thuyết

khoa học trong lịch sử không hề bị loại bỏ khi chúng tỏ ra sai, mà chỉ đến khi nào chúng được thay thế Theo Kuhn, nhìn chung có thể chia khoa học ra làm

ba thời kỳ: thời kỳ tiền khoa học, thời kỳ của “khoa học chuẩn định” và thời

kỳ “khủng hoảng” (khi những bất thường trong khoa học được tích tụ ngày càng nhiều) Vào thời điểm này, một “mẫu hình mới” sẽ được ra đời và được chấp nhận Đó chính là “cách mạng khoa học” Cách mạng khoa học chính là điểm đứt đoạn trong sự phát triển không liên tục của khoa học Dựa vào cách lập luận của Kuhn, chúng ta phần nào lý giải được sự ra đời của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại

Trang 9

Trong các thập kỷ 70, 80 và 90, Alvin Toffler và Heidi Toffler, những nhà tương lai học, xã hội học, đã đưa ra dự đoán về tương lai của xã hội

siêu công nghiệp sắp đến qua các tác phẩm nổi tiếng: Cú sốc tương lai, Đợt

sóng thứ ba, Thăng trầm quyền lực, Tạo dựng một nền văn minh mới - chính trị của làn sóng thứ ba, Chiến tranh và chống chiến tranh… Các tác

phẩm này đã tái hiện và phân tích những tác động của cách mạng khoa học

- công nghệ - một cuộc cách mạng còn sâu rộng hơn cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVII, XVIII, vì nó không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn liên quan đến mọi khía cạnh khác của xã hội Sự thay đổi của xã hội sắp đến không chỉ ở sự khác biệt so với hiện tại, mà còn là tốc độ của thay đổi, nó xảy ra với một nhịp độ đến chóng mặt, tác động không chỉ đối với từng cá nhân, mà còn đối với tập thể, quốc gia, tạo ra cái gọi là “Cú sốc tương lai” - một từ do tác giả đưa ra, đã bắt đầu biến thành ngôn ngữ thông dụng trong báo chí, sách và cả từ điển

Năm 1999, Thomas L.Friedman cho ra tác phẩm Chiếc Lexus và cây

Ôliu - Toàn cầu hóa là gì? và sau đó là: Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI Thomas L.Friedman đã viết với sự tỉnh táo của một nhà báo

về vấn đề mà bất cứ quốc gia nào cũng đang phải đối mặt khi thế giới đang dần trở nên “phẳng” Toàn cầu hóa biến thành một trò chơi mà những ai không tham gia sẽ bị dẫm nát dưới chân "bầy thú điện tử", những người tham gia buộc phải tuân thủ luật chơi khắc nghiệt lấy cạnh tranh làm trung tâm Rào cản chính trị, địa lý, tài chính, thông tin được tháo gỡ, thay vào đó là những định chế quốc tế và những tiến bộ thần tốc về công nghệ thông tin và viễn thông, để đạt đến sự hoàn hảo của một hệ thống quốc tế lý tưởng Nền kinh tế toàn cầu luôn luôn vận động theo vòng xoáy “mới, mới nhất và mới hơn”, sẽ không có chỗ cho ai “Chân muốn đặt lên chiếc Lexus nhưng tay vẫn khư khư ôm cây Ôliu bản ngã” Hai tác phẩm đã đề cập đến những biến đổi

Trang 10

chính trị trong quá trình toàn cầu hóa dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ với hệ thống những quan điểm, có lập luận khoa học cùng rất nhiều số liệu dẫn chứng cụ thể

Ngoài ra, có thể kể đến một số cuốn như: Công nghệ vì sự phát triển con

người của UNDP (2001), Thế giới năm 2025 của Nicole Gnesotto (2008), Tư duy lại khoa học của Helga Nowotny, Peter Scott, Michael Gibbons (2009)…

Điểm chung của những cuốn sách này là đã đề cập đến cách mạng khoa học - công nghệ trong mối quan hệ tương giao khăng khít với xã hội Xa hơn nữa, các chuyên gia đã dự báo những diễn biến chính về dân số, kinh tế và chính trị của thế giới trong tương lai, những nguy cơ về sinh thái và y tế mà chúng

ta sẽ phải đối mặt Đây là những vấn đề của thời đại, đòi hỏi mỗi quốc gia phải nhìn nhận và đề ra những chiến lược phát triển phù hợp

Tình hình nghiên cứu trên đây của thế giới cho thấy rõ ràng là cách mạng khoa học - công nghệ và những tác động của nó đến xã hội hiện đại đã

và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc độ Đồng thời, sự tác động của nó đã làm nảy sinh những vấn đề mà ở đó cần có sự lý giải của triết học

Ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về cách mạng khoa học - công nghệ cùng những biến đổi của con người, đời sống kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội… của nhân loại dưới tác động của cuộc cách mạng này

Tiêu biểu là: Cuốn sách Cách mạng khoa học kỹ thuật trong sự nghiệp xây

dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội (1982); Khoa học

và công nghệ với các giá trị văn hóa của Hoàng Đình Phu (1998); Khoa học

và công nghệ thế giới - Kinh nghiệm và định hướng chiến lược của Bộ Khoa

học, Công nghệ và Môi trường Việt Nam (2000), đã nêu rõ những nguyên nhân thành công, thất bại của các nước trong quá trình phát triển trong những thập niên gần đây, cũng như những quyết tâm và nỗ lực của mỗi nước trong việc đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ vào thập niên đầu của thế kỷ

Trang 11

mới; Hiện đại hóa xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2001), Ảnh

hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ XXI - Kỷ yếu

hội thảo quốc tế (2003) của Lương Việt Hải; Những vấn đề toàn cầu trong hai

thập niên đầu thế kỷ XXI do Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên) (2006)… đều

bàn đến cách mạng khoa học - công nghệ với những thành tựu đáng kể của nó

đã đóng vai trò tích cực đối với sự tiến bộ của loài người Tuy nhiên, những hậu quả của nó để lại cho xã hội cũng không ít Cần làm gì để giải quyết những hậu quả đó là câu hỏi nhức nhối đặt ra và cần được giải quyết, cần được khắc phục

Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm với Khoa học, Công nghệ với sự nhận

thức, biến đổi thế giới và con người - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (2003),

cùng các bài viết đăng trên tạp chí Triết học: Cách mạng thông tin - công

nghệ và nền văn minh (1999), Về hậu quả tiêu cực và những thách thức của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại (2000), Về vai trò nền tảng, động lực của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển xã hội ở nước ta (2002)… đã đề cập một cách khoa học

và cụ thể đến mặt trái của một số ngành mũi nhọn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại

Về những công trình nghiên cứu liên quan đến chính trị và đời sống

chính trị, có thể kể đến cuốn: Tập bài giảng Chính trị học và Lịch sử các học thuyết chính trị (1994), Chính trị học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

(2010) của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Văn hóa

chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị (2010) của Phạm Hồng Tung, Phân tích triết học những vấn đề cơ bản về chính trị và khoa học chính trị

(2006) của Nguyễn Hữu Khiển… Nội dung chủ yếu của những cuốn sách này phân tích về những khái niệm cơ bản của chính trị học, lịch sử tư tưởng chính

Trang 12

trị, hệ thống chính trị ở các nước trên thế giới… qua đó cung cấp những tri thức cơ bản về khoa học chính trị Bên cạnh đó, các vấn đề về thể chế và hệ thống chính trị, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn

đề giai cấp, dân tộc, cơ cấu xã hội… của Việt Nam cũng được tập trung nghiên cứu

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trong nước đã tập trung bàn đến những vấn đề lý luận cơ bản về cách mạng khoa học - công nghệ cùng một số khía cạnh tác động của nó đến con người và xã hội, cung cấp cho người đọc cách nhìn khái quát và tổng hợp về tác động của cách mạng khoa học - công nghệ Tuy nhiên, những tác động này chủ yếu được thể hiện trong lĩnh vực kinh tế - nơi chịu tác động trực tiếp của cách mạng khoa học - công nghệ, hoặc chủ yếu thể hiện ở khía cạnh đạo đức - nhân văn Những nghiên cứu, khảo sát về tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị, cụ thể là đến ý thức, hoạt động, hệ thống chính trị là không nhiều, chỉ đề cập một cách sơ lược, gián tiếp; mặc dù trong thực tế, những tác động này là rất phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt Vì thế, đây là một hướng nghiên cứu mới mẻ cần được nghiên cứu nhiều hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Phân tích những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay theo hai hướng: những tác động tích cực và những tác động tiêu cực

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận chung về cách mạng khoa học -

công nghệ và đời sống chính trị

Thứ hai: Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của cách mạng khoa học - công nghệ đến ý thức chính trị, hoạt động chính trị, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của khoa học công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lôgic - lịch sử, đối chiếu - so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, diễn dịch và quy nạp…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị ở Việt Nam cả về phương diện lý luận và thực tiễn

5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Vì cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực, trong

đó, cách mạng về công nghệ thông tin và truyền thông có tác động lớn nhất đến đời sống chính trị, nên luận văn dành phần nhiều phân tích những tác động của lĩnh vực này Bên cạnh đó, đời sống chính trị cũng là một đề tài rộng nên luận văn chỉ xét tới một số yếu tố cấu thành nên đời sống chính trị,

đó là: ý thức chính trị, hoạt động chính trị và hệ thống chính trị Sự biến đổi của đời sống chính trị cũng diễn ra dưới tác động của rất nhiều nhân tố, trong

đó, cách mạng khoa học - công nghệ chỉ là một nhân tố Vì thế, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay ở ba nội dung nói trên

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cách mạng khoa học - công nghệ và đời sống chính trị

Trang 14

- Chỉ ra được những tác động tích cực và tiêu cực của cách mạng khoa học - công nghệ đối với đời sống chính trị ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu đề tài luận văn này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu Triết học ở các trường Đại học, Cao đẳng, trường Chính trị, phổ thông và những ai quan tâm tới đề tài này

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương nội dung với 6 tiết

Trang 15

NỘI DUNG

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ

1.1 Cách mạng khoa học - công nghệ

1.1.1 Khái niệm cách mạng khoa học - công nghệ

Về mặt thuật ngữ, để hiểu được nội hàm khái niệm cách mạng khoa học - công nghệ, cần nắm chắc nội dung các khái niệm sau: khoa học, công nghệ, cách mạng, cách mạng khoa học, cách mạng công nghệ, cách mạng khoa học

- công nghệ

* Khái niệm khoa học được đề cập đến ở ba khía cạnh sau:

- Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tự nhiên - xã hội - tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề

- Khoa học là một hình thái ý thức - xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nội dung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triết học và bức tranh chung về thế giới

- Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức Nó ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

Từ ba khía cạnh trên, chúng ta có thể định nghĩa: Khoa học được hiểu là

hệ thống tri thức của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy với bản chất và quy luật vận động của chúng được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết định hướng hoạt động của con người [Xem 47]

Ngày nay, khoa học luôn đóng vai trò dẫn đường và quyết định các quá trình sản xuất Khoa học trở thành cơ sở lý luận cho sản xuất và cho sự phát

Trang 16

triển xã hội, bắt đầu từ việc cải biến, sáng tạo ra các công cụ lao động, máy móc, nguyên vật liệu, năng lượng mới… cho đến việc quản lý các quá trình sản xuất và sự phát triển xã hội nói chung

* Khái niệm công nghệ được định nghĩa là hệ thống các phương tiện

dùng để thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội và con người Hay nói cách khác, công nghệ là sự ứng dụng, vật chất hóa các tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống [Xem 47] Công nghệ theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ bao gồm nhiều khâu như: điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử… đến các vấn đề: thông tin, tư vấn, đào tạo, tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng Công nghệ cũng chính

là bản thân những thao tác: khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra… đó đều là mỗi phần của quá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuối cùng nhất định

Công nghệ gồm bốn thành phần THIO: thành phần kỹ thuật T (Technoware), thành phần con người H (Humanware), thành phần thông tin I (Inforware) và thành phần tổ chức quản lý O (Orgaware) Bốn thành này có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch

vụ nào

* Khái niệm cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ,

đổi mới với sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất Trong các sách báo mácxít, khái niệm này được hiểu với hai nghĩa cơ bản: Thứ nhất, cách mạng là hiện tượng xã hội, là một sự cải tạo làm cho cái

cũ bị phá vỡ về căn bản Thứ hai, cách mạng là giai đoạn trong quá trình phát triển của xã hội có tính quy luật Cách mạng có thể diễn ra trên quy mô toàn

xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học…) hoặc trên một mặt nào đó của

xã hội

Trang 17

* Khái niệm cách mạng khoa học được định nghĩa là sự phá vỡ hoàn

toàn những quan điểm lỗi thời bằng việc xây dựng lý thuyết khoa học mới sâu sắc hơn, khái quát hơn và mới về nguyên tắc đem lại những thay đổi tận gốc

hệ thống tri thức hiện tại Đó là sự thay đổi về chất được biểu hiện ở quy mô, trình độ, nhịp độ phát triển của khoa học, trước hết là những biến đổi cách

mạng trong phương pháp tư duy khoa học Trong tác phẩm Cấu trúc các cuộc

cách mạng khoa học, Thomas Kuhn khi bàn về bản chất và tính tất yếu của

cách mạng khoa học đã đặt ra câu hỏi: “Cách mạng khoa học là gì và nó có chức năng gì trong sự phát triển của khoa học?” Và chính ông đã khẳng định:

“cách mạng khoa học ở đây phải được hiểu là một quá trình phát triển không mang tính tích lũy, trong đó một mẫu hình cũ được thay thế toàn bộ hay một phần bằng một mẫu hình mới không có gì tương thích với mẫu hình

nhận thức ngày càng rõ rệt hơn là thể chế đang tồn tại không còn thích hợp để đáp ứng các vấn đề đặt ra bởi một môi trường mà một phần là do chính thể chế đó tạo ra, cách mạng khoa học đã nảy sinh từ sự nhận thức rằng khuôn mẫu đang tồn tại không còn hoạt động một cách thích hợp trong việc thám sát một khía cạnh của tự nhiên mà bản thân khuôn mẫu trước đó đã dẫn đến

* Khái niệm cách mạng công nghệ hiểu theo nghĩa thông thường là

sự thay thế phương tiện kỹ thuật cũ bằng phương tiện kỹ thuật mới dựa

trọng yếu có tính chất nhảy vọt của hệ thống kỹ thuật của nhân loại, được biểu hiện bằng những thay đổi về chất của hệ thống các phương pháp, phương tiện được con người sáng tạo, sử dụng trong việc chinh phục thế giới khách quan

* Khái niệm cách mạng khoa học - công nghệ là khái niệm của thời hiện

đại nói lên mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Giữa khoa học và công

Trang 18

nghệ xuất hiện liên kết hoàn toàn mới mà trước đó chưa từng xuất hiện Sự thay đổi mối liên kết này thể hiện ở những điểm sau: Một là, những thành tựu khoa học làm tiền đề trực tiếp cho những thay đổi kỹ thuật và công nghệ Hai

là, có sự thay đổi bước ngoặt về phương tiện lao động khoa học: kỹ thuật, tổ chức nghiên cứu, thông tin Ba là, khoa học hiện đại trở thành một cơ thể phức tạp, phát triển không ngừng

Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX) và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), nhân loại đang tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba - trong đó có cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại vào cuối thế kỷ XX cho tới đầu thế kỷ XXI [9; tr.20-21] Đó là một cuộc cách mạng mà chỉ trong chưa đầy một thế kỷ đã thúc đẩy xã hội loài người tiến bộ hơn 10.000 năm trước cộng lại Người ta ước tính rằng trong thế kỷ XX toàn

bộ lượng thông tin, tri thức tăng thêm khoảng 1.000 lần so với đầu thế kỷ và vượt trội hơn tất cả các tri thức mà loài người tích lũy được trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỷ XIX trở về trước Lịch sử thế giới đã ghi nhận: trong 230 năm của thời đại công nghiệp (1740 - 1970), sản xuất của thế giới năm 1970 tăng 1.000 lần so với năm 1740 Chỉ trong 20 năm (1970 - 1990), sản xuất của thế giới năm 1990 đã tăng gấp 2 lần so với năm 1970, tức là ngang với khối lượng của cải vật chất ra trong 230 năm của thời đại công nghiệp [Xem 62; tr.528] Cuộc cách mạng này gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn 1 - cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật (từ thập niên 40 đến giữa thập niên 70 của thế kỷ XX; giai đoạn 2 - cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại (từ nửa sau thập niên 70 của thế kỷ XX cho tới đầu thế kỷ XXI) [9; tr.13] Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều nhất trí gọi cuộc cách mạng kể từ sau Thế

chiến II đến nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Trong đó, cách

mạng khoa học - công nghệ là quá trình biến đổi những yếu tố chủ yếu trong

Trang 19

lực lượng sản xuất của xã hội được thực hiện nhờ vào vai trò dẫn đường của khoa học trong chu trình khép kín: khoa học - công nghệ - sản xuất - con người - môi trường [9; tr.19] Thực chất quan niệm này muốn nhất mạnh đến

đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại - giai đoạn 2 của

cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

1.1.2 Đặc điểm của cách mạng khoa học - công nghệ

Trước hết, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ có đặc điểm nổi bật là khoa học và công nghệ gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nhân loại Cơ cấu của công nghệ đã có sự thay đổi sâu sắc Nó không chỉ được hiểu đơn thuần là kỹ thuật (các phương tiện vật chất kỹ thuật)

mà trong thành phần cấu trúc của nó phải bao gồm bốn yếu tố cơ bản: phần cứng của công nghệ (kỹ thuật), và ba yếu tố của phần mềm là: con người, thông tin và tổ chức quản lý Với việc khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và việc khai thác, sử dụng triệt để ba yếu tố phần mềm của công nghệ đã làm cho cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thực

sự trở thành cuộc cách mạng về trí tuệ với vai trò quyết định của tri thức (kinh

tế tri thức, vốn tri thức, năng lượng tri thức hay trí năng, vật liệu tri thức, v.v ) Sự khai thác nguồn trí năng còn tiềm tàng bằng công nghệ thông tin là đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Bản chất của cuộc cách mạng lần này là “sự biến đổi nhảy vọt và triệt để về chất trong hệ thống các lực lượng sản xuất, ở ảnh hưởng mạnh mẽ của nhiều mặt của nó đối với tiến trình lịch sử”[Xem 22; tr.64]

Ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, những lý thuyết khoa học quan trọng nhất được đề xuất làm cơ sở cho nhiều sáng chế

kỹ thuật nảy sinh và gắn bó với nhau tạo thành những tiến bộ khoa học - kỹ thuật thúc đẩy mạnh mẽ hoặc mở ra các ngành công nghiệp mới Nếu trước đây trong sản xuất, khoa học chỉ là sự tổng kết kỹ thuật, còn kỹ thuật lại rút ra

Trang 20

từ kinh nghiệm, thì nay khoa học đã vượt trước kinh nghiệm và kỹ thuật đóng vai trò là nhân tố then chốt của sự phát triển kinh tế ở mỗi nước Các ngành khoa học - kỹ thuật được ưu tiên đầu tư phát triển ở thời kỳ này là công nghệ

cơ khí, chế tạo động cơ, hóa chất, năng lượng, điện tử [Xem 22; tr.65]

Giai đoạn gần đây, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ gắn liền với sự

ra đời và phát triển mạnh mẽ của một nền văn minh mới trong lịch sử loài người mà người ta thường gọi là nền văn minh thông tin - hậu công nghiệp Theo nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler, làn sóng văn minh thứ ba này bắt đầu hình thành ở nước Mỹ vào cuối những năm 50, trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế nước này vào những năm 70 và mở rộng thành xu thế toàn cầu từ những năm 80 trở lại đây

Mũi đột phá của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ này là sự nhanh chóng và không ngừng tạo ra, hình thành, phát triển những công nghệ mới, đẩy mạnh quá trình tự động hóa Các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, công nghệ hạt nhân… ngày càng được khẳng định là những lĩnh vực mũi nhọn Các nước tư bản, đặc biệt là các nước tư bản phát triển, đã không ngừng nâng cao trình độ công nghệ - bởi lẽ công nghệ kỹ thuật cao sẽ làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế

Cụ thể, công nghệ mới sẽ làm tăng nhanh phương tiện sản xuất hiện đại, những tri thức và hiểu biết có giá trị; năng lực và mức độ thành thạo kỹ thuật, phương pháp tổ chức và quản lý sản xuất có hiệu quả… Nâng cao trình độ công nghệ trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ được coi là nhân tố chi phối khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của bất kỳ nước tư bản nào

Tiêu chí chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần này là sự phát triển và áp dụng rộng rãi kỹ thuật nguyên tử và điện tử, khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mở đầu thời đại tự động hóa toàn

bộ Phần lớn các nhà nghiên cứu đồng tình gọi cuộc cách mạng lần này là

Trang 21

cuộc cách mạng khoa học - công nghệ (thay vì tên quen gọi là cách mạng khoa học - kỹ thuật) Bởi lẽ, ở giai đoạn này, những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không chỉ dừng ở mặt công cụ sản xuất ra của cải vật chất như ở các giai đoạn trước Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần này phát triển sâu rộng chưa từng có, trực tiếp tác động đến mọi ngành kinh tế quốc dân, mọi lĩnh vực xã hội của các nước tư bản phát triển, và hiện nay vẫn đang tiếp tục tác động mạnh mẽ, với ảnh hưởng ngày càng to lớn, sâu sắc

Xét trên phương diện trình độ của lực lượng sản xuất, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa nhân loại tiến vào ngưỡng cửa của một thời đại mới - thời đại tri thức Trong thời đại tri thức, tri thức con người đóng vai trò quyết định cho sự phát triển xã hội Trong giai đoạn này, con người sử dụng tri thức của mình để chế tạo ra các loại máy móc, thiết bị có thể thay thế một phần chức năng điều khiển, tư duy của mình trong một số lĩnh vực với kết quả cao hơn nhiều so với bộ não của con người Kết quả là, nền kinh tế công nghiệp sẽ chuyển thành nền kinh tế thông tin (hay kinh kế tri thức, kinh tế tin học, kinh

tế mạng…)

Về đặc thù của cách mạng khoa học - công nghệ so với các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (hay cách mạng công nghiệp) trước đó: Nếu các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đây chỉ thay thế một phần chức năng hoạt động cơ bắp của người lao động bằng máy móc cơ khí, hoặc tự động hóa một phần, hay tự động hóa cục bộ, thì cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay là sự thay thế gần như toàn bộ chức năng thể lực (cơ bắp) của người lao động bằng các thiết bị máy móc tự động hóa hoàn toàn trong quá trình sản xuất nhất định Và theo đó, từ vị trí lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên cũng như vào quá trình sản xuất, trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ, con người đã vươn lên khai thác, làm chủ thiên nhiên, làm chủ sản xuất với tầm ảnh hưởng ngày càng rộng lớn

Trang 22

Ở cuộc cách mạng khoa học - công nghệ này, giữa khoa học và nền sản xuất xã hội đã tạo thành mối quan hệ biện chứng, trong đó khoa học đã thực

sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn gốc của tái sản xuất xã hội Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Việt Nam đã khẳng định trong giai đoạn này “đã diễn ra quá trình khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp, không chỉ thể hiện ở vai trò của khoa học ngày càng tăng, mà còn là điều kiện cần thiết để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển mới” [9; tr.13] Hơn nữa, trình độ sản xuất đã đạt tới mức cao (được khoa học và công nghệ mới nhất để tạo điều kiện cho khoa học phát triển Nhờ đó, thời gian từ nghiên cứu đến sản xuất được rút ngắn đáng kể, khoa học trở thành lực lượng dẫn đường cho sản xuất Thông qua sự phát triển của kỹ thuật thông tin, vi điện tử, nền sản xuất không những tạo ra những linh kiện trí tuệ mới cho nhiều thế hệ máy tính, mà còn làm cho thiết bị sản xuất, sản phẩm của tất cả các ngành được

“trí tuệ hóa”

Bên cạnh đó, nếu các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trước đây góp phần tiết kiệm lao động sống, thì cuộc cách mạng khoa học - công nghệ còn tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện vật chất của sản xuất để tạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Bởi với kỹ thuật cao, không những có thể đảm bảo tính năng kỹ thuật tốt nhất, mà còn đảm bảo chất lượng công nghệ tối ưu, từ đó cải tạo toàn bộ phương pháp công nghệ sản xuất Công nghệ mới hiện đại có các đặc điểm như: ít công đoạn, ít phế thải hoặc không phế thải,

hệ thống sản xuất linh hoạt, chính xác và độ tin cậy cao, tác nghiệp từ gia công máy móc cỡ lớn chuyển sang dùng công nghệ mới chế tạo kết cấu vật chất cỡ nhỏ… Sự phát triển khoa học kỹ thuật cao và tư tưởng thiết kế công nghệ mới luôn xuất hiện, đã làm công nghệ mới liên tục ra đời, sức sản xuất

xã hội phát triển lên một giai đoạn mới hoàn toàn khác về chất

Trang 23

Như vậy, cách mạng khoa học - công nghệ là nội dung căn bản, là hình thức đặc trưng nổi trội hiện nay của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Đó là sự hòa nhập, kết hợp thành một quá trình duy nhất các quá trình cách mạng trong khoa học, trong kỹ thuật và trong công nghệ Trong đó, quá trình cách mạng về khoa học đi trước một bước, giữ vai trò quyết định và do đó củng cố vai trò dẫn đường và quyết định hơn trước đây đối với sản xuất nói chung Khoa học trở thành cơ sở lý luận cho sản xuất và phát triển xã hội, cho quản lý ở cả cấp độ quốc gia và toàn cầu

Để phân tích được những tác động trong thời điểm hiện tại, với đối tượng

là đời sống chính trị, cần thấy được những xu hướng biến đổi hiện nay và

trong tương lai của cách mạng khoa học - công nghệ

1.1.3 Những xu hướng biến đổi của cách mạng khoa học - công nghệ

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay đang tạo ra những siêu

lộ cao tốc thông tin, đưa nhân loại quá độ từ thời đại công nghiệp lên thời đại trí tuệ và kỷ nguyên thông tin với đặc trưng bởi nền kinh tế dựa trên tri thức Trong thế kỷ XXI, có rất nhiều xu thế phát triển khoa học và công nghệ, tuy nhiên, ba xu thế chủ yếu đang diễn ra hết sức mạnh mẽ là công nghệ nanô (Nano

- Technology), công nghệ sinh học và công nghệ thông tin và truyền thông:

- Công nghệ nanô: Khoa học nanô là lĩnh vực chuyên nghiên cứu các

nguyên tử, phân tử và các đối tượng mà kích thước của chúng chỉ khoảng 1- 100nm (1nm có nghĩa là một phần tỷ) Trong thế kỷ XXI, việc tiếp tục đột phá vào cấp dưới mức nguyên tử trong các lĩnh vực khoa học cơ bản đã mở cho toàn nhân loại triển vọng xuất hiện thêm một nền kinh tế mới nữa - đó là nền kinh tế nanô Công nghệ nanô sẽ tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới,

có tiềm năng làm thay đổi toàn bộ các ngành công nghiệp, tạo ra các ngành mới hoặc làm biến mất các ngành hiện có Theo dự báo của các nhà khoa học, đến khoảng từ năm 2020 - 2030, các ứng dụng của công nghệ nanô có thể tạo

Trang 24

ra các robot nanô làm việc trong phòng thí nghiệm, có thể thử nghiệm, đánh giá và trắc nghiệm để đưa vào ứng dụng; ngành y học nanô có thể thay thế các loại hình y học trước đây như phẫu thuật, dược truyền thống, thiết kế dược phẩm hợp lý… Công nghệ nanô sẽ tác động quan trọng tới một số ngành công nghiệp như điện tử, dược phẩm, năng lượng và vận tải, nghiêm trọng hơn nữa

là không những đem lại sự thay đổi trong cán cân quyền lực toàn cầu về kinh

tế và quân sự, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chính trị

- Công nghệ sinh học: Về thực chất, công nghệ sinh học bao hàm việc cải

biến vật liệu di truyền gốc trong các vật thể sống, cụ thể là ADN nhằm mang lại những đặc tính và những khả năng mới ở thực vật, động vật và vi sinh vật

để có thể tạo ra những ứng dụng cho con người Trong khoảng ba thập niên gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ sinh học đã thực sự là chất xúc tác cho các nỗ lực chủ yếu về khoa học và kinh tế Làn sóng xã hội mới này được các nhà khoa học đặt tên là xã hội sinh học để phân biệt với xã hội nông nghiệp, xã hội công nghiệp và xã hội thông tin như trước đây Tính tới nay, công nghệ sinh học đã trải qua ba “làn sóng” phát triển Làn sóng công nghệ sinh học thứ nhất xuất hiện ở Mỹ vào thập niên 70 của thế kỷ XX

và tập trung chủ yếu vào ứng dụng trong y tế Làn sóng thứ hai bắt đầu vào giữa thập niên 90 của thế kỷ XX khởi đầu bằng những chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp Và thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI này là khởi đầu của làn sóng thứ ba bằng việc tập trung vào các ứng dụng và các ngành khoa học

có liên quan tới y tế và phúc lợi với cốt lõi là các công nghệ sinh học công nghiệp và môi trường

- Công nghệ thông tin và truyền thông: Ra đời trong thập niên 60 và

được sử dụng trong đời sống xã hội vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, kỹ thuật số hóa đã khởi đầu một cuộc cách mạng mới trong công nghệ thông tin Trong giai đoạn ban đầu của mạng Internet, phần lớn các thông báo đều chỉ là

Trang 25

các văn bản đơn giản Nhờ tốc độ băng thông tăng lên, số người truy cập Internet cũng tăng lên mạnh mẽ, từ 171 triệu người năm 1998 lên 1 tỷ người trong năm 2005

Nếu nói kỹ thuật điện tử là cơ sở của kỹ thuật thông tin, thì kỹ thuật thông tin là bộ phận mấu chốt của công nghệ tin học ngày nay Thông tin trở thành hệ thống thần kinh của xã hội hiện đại Không có sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ không thể có sự truyền bá và sử dụng hàng vạn hàng triệu thông tin trong xã hội hiện đại, cũng sẽ không thể có xã hội tin học Cuộc cách mạng về thông tin đã và đang là đòn bẩy cho nhiều ngành công nghiệp mới phát triển

Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, những đột phá công nghệ quan trọng trong công nghệ thông tin đã khởi đầu thêm hai kỷ nguyên mới Đó là dịch chuyển từ Kỷ nguyên định hướng vào máy vi tính (1981-1994) sang Kỷ nguyên định hướng vào mạng (1994-2005) Kỷ nguyên thứ hai là dịch chuyển

từ Kỷ nguyên định hướng vào mạng (1994-2005) sang Kỷ nguyên định hướng vào nội dung (2005-2015) Trên cơ sở cuộc cách mạng số hóa, việc thống nhất các tiêu chuẩn truyền thông giữa Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ khi mở ra những khả năng kết hợp rộng rãi vô tuyến truyền hình số, điện thoại di động thế hệ 3G và 4G với máy tính, Internet cũng như các hệ thống thông tin di động đã, đang và sẽ tạo ra sự đột biến có tính bùng nổ trên toàn cầu [9; tr.48] Các nhà khoa học cũng phải thừa nhận, khó có thể hình dung hết được những lĩnh vực sẽ áp dụng của công nghệ mạng hay tác động của Internet trong tương lai Dự báo trong khoảng từ năm 2010 đến 2020, công nghệ thông tin

và truyền thông có thể tạo ra những máy tính xử lý các vấn đề về đạo đức; robot vượt người về mặt tinh thần và thể chất; quần thể người máy ngoài trái đất… Có thể nói, những thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin là niềm

tự hào của khoa học và công nghệ hiện đại Nó mở ra những khả năng to lớn,

Trang 26

tạo điều kiện cho con người nhận thức thế giới xung quanh, tạo cơ hội cho sự hiểu biết, hợp tác và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới Việc nắm bắt được những xu hướng mới của cách mạng khoa học - công nghệ chính là nền tảng cho những phân tích, đánh giá về tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới trong tiến trình phát triển và hội nhập của mình

1.2 Đời sống chính trị và các yếu tố cấu thành đời sống chính trị

Về khái niệm chính trị: Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã coi

chính trị là công việc của nhà nước, công việc của quốc gia với các chủ thể chính trị tiêu biểu cho nhà nước và cho quốc gia, tức là những công việc, những con người của các thể chế chính trị đảm đương sứ mệnh trọng đại của

cả cộng đồng, sứ mệnh của quốc gia, dân tộc Hoạt động chính trị được các nhà tư tưởng coi là lĩnh vực đặc biệt quan trọng với nhiều tính chất và đặc điểm nổi trội

Theo cách định nghĩa của nhiều trường phái khoa học chính trị ở phương Tây, chính trị là “tất cả các hoạt động của con người nhằm xác lập những chế định bắt buộc chung đối với nhóm hoặc giữa các nhóm người” [Xem 72; tr.58] Theo quan điểm này, chính trị thường được nghiên cứu trên ba lĩnh vực chính là: tư tưởng chính trị, hệ thống chính trị và quan hệ quốc tế Ở mỗi lĩnh vực, chính trị lại được xem xét ở ba khía cạnh, tương ứng với ba bộ phận hợp thành là: nội dung của các chế định bắt buộc (chính sách), quá trình hình thành nên và áp dụng các chế định bắt buộc (quá trình chính trị) và các cấu trúc thực hiện quá trình chính trị (hệ thống chính trị)

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế Đây không phải

là cách quan niệm biệt phái riêng của chủ nghĩa Mác mà nói chung mọi tư

Trang 27

duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tới, tìm ra và khẳng định đó là điểm thực chất của chính trị Từ đó có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước” [41; tr.8]

Chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nhà nước Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì còn hàng loạt vấn đề chung khác cần giải quyết như các vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, các phương án giải quyết các vấn đề chung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớp nắm quyền Vì vậy, bên cạnh nhà nước, trong xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị khác Chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị

Khái niệm đời sống chính trị về mặt lý luận khác biệt so với khái niệm

chính trị ở chỗ: Đời sống chính trị là cái đang diễn ra trong một cơ thể chính

trị Vì thế, nó có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và được biểu hiện thông qua hoạt động của các chủ thể chính trị Đời sống chính trị là nhân tố động, luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng nhằm duy trì sự tồn tại của một cơ thể chính trị Nếu cơ thể chính trị đó là nền chính trị của một quốc gia thì đời sống chính trị được biểu hiện thông qua hệ tư tưởng chính trị, hoạt động đối nội - đối ngoại, cách thức tổ chức hệ thống chính trị (bao gồm chính đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị…), nếu cơ thể chính trị đó là các cá nhân, tổ chức thì đời sống chính trị được biểu hiện thông qua ý thức chính trị của cá nhân, hoạt động của cá nhân tham gia vào công việc chính trị chung, vai trò của cá nhân trong các tổ chức chính trị Như vậy, đời sống chính trị là tổng thể những hiện tượng phát sinh do sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể

Trang 28

chính trị và cộng đồng đối với lĩnh vực chính trị trong những không gian và thời gian nhất định, là tổng thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chính trị của con người

Đời sống chính trị là một khái niệm mang tính chất khái quát, có thể hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, đời sống chính trị là hoạt động của con người trong lĩnh vực chính trị Theo nghĩa rộng, đời sống chính trị không chỉ là tổng thể những hoạt động của con người trong lĩnh vực chính trị mà còn bao gồm

cả ý thức chính trị và hệ thống chính trị Bởi vì: bất kỳ hoạt động nào của con người cũng gắn liền với ý thức Ý thức chính trị chính là nền tảng, định hướng cho những hoạt động chính trị của con người Và muốn duy trì được hoạt động chính trị của mình trong sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể chính trị

và cộng đồng, buộc phải có một hệ thống bao gồm các tổ chức, thiết chế được hiến pháp và pháp luật quy định Vì vậy, ý thức chính trị, hoạt động chính trị

và hệ thống chính trị là một chỉnh thể, hợp thành đời sống chính trị

1.2.1 Ý thức chính trị

Ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội chỉ xuất hiện và tồn tại

trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước Đó là toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội trong lĩnh vực chính trị

Theo trình độ phản ánh, ý thức chính trị được chia thành: Ý thức thông

thường - là toàn bộ những tri thức, những quan niệm của con người trong một

cộng đồng chính trị nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt

động chính trị hàng ngày, chưa được hệ thống, khái quát thành lý luận Ý thức

lý luận: là những tư tưởng, quan điểm chính trị đã được hệ thống hóa, khái

quát hóa thành các học thuyết chính trị, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật Ý thức lý luận có khả năng phản ánh một cách khái

Trang 29

quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự kiện, hiện tượng chính trị Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng

Theo phương thức phản ánh, có thể phân ý thức chính trị thành: Tâm lý

chính trị - là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí của cá

nhân hoặc những cộng đồng người nhất định, phản ánh trực tiếp và tự phát đời sống chính trị của họ Ở trạng thái tâm lý, những cảm xúc và tâm trạng về chính trị của quần chúng thường thiếu bền vững và không ổn định Song, những trạng thái tâm lý như vậy lại có vai trò to lớn và trực tiếp đối với hành

vi chính trị của đông đảo quần chúng; thông qua hệ tư tưởng chính trị tác

động vào đời sống chính trị của xã hội Hệ tư tưởng chính trị - là toàn bộ các

hệ thống quan niệm, quan điểm về chính trị, là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với đời sống chính trị Hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợi ích của giai cấp ấy Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước, công

cụ của giai cấp thống trị Hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị Thông qua các tổ chức chính trị

mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích giai cấp của mình

Trong xã hội có giai cấp thì ý thức chính trị cũng có tính giai cấp, nó phản ánh hoạt động chính trị và lợi ích chính trị khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp Mỗi giai cấp đều có đời sống chính trị đặc thù của nó, nhưng hệ

tư tưởng chính trị bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức chính trị của các giai cấp khác trong xã hội Điểm quan trọng nhất, thước đo của ý thức chính trị chính là ý thức dân tộc, lòng yêu nước, lòng trung thành với lý tưởng chính trị, tính trung thực và

Trang 30

khiêm nhường, kiên quyết, khéo léo, mưu lược, lòng nhân ái và vị tha, hướng

về nhân dân và phục vụ nhân dân một cách có hiệu quả… Đó là bản chất sâu

xa của ý thức chính trị

Bên cạnh đó, có thể nhận dạng ý thức chính trị thông qua:

- Nhu cầu, thói quen và hành vi tự giác, tích cực tham gia của cá nhân vào những hoạt động chính trị của xã hội theo những chuẩn mực nhất định vì lợi ích của giai cấp, cộng đồng;

- Trình độ trí tuệ và lý luận chính trị, quan điểm và lập trường giai cấp của mỗi người và của tổ chức chính trị khi đấu tranh bảo vệ hoặc phê phán những hiện tượng, những sự kiện trong đời sống chính trị Biểu hiện của hình thức này là sự tranh luận, đối thoại Nó bộc lộ rõ năng lực trí tuệ, trình độ tư duy, quan điểm giai cấp và lập trường chính trị, khí chất, dấu ấn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong, nhân cách… của mỗi người, từ mỗi công dân bình thường cho đến các chính khách, các nhà lãnh đạo, quản lý nắm trong tay mọi quyền lực xã hội Thông qua các quan hệ giao tiếp, ứng xử của chủ thể chính trị, có thể thấy: mức độ tự biết mình, mức độ biết lắng nghe, chọn lọc và xử lý thông tin, trình độ thích ứng và đáp ứng để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể chính trị khác về một vấn đề chính trị mà xã hội quan tâm

- Một bộ phận quan trọng của ý thức chính trị, thể hiện rõ bản chất tiến

bộ (hay lạc hậu) của chính trị là ý thức về sự đổi mới và định hướng về sự đổi mới đó

Ý thức chính trị thể hiện trong nền tảng pháp lý của xã hội, trên đó hình thành một hệ thống pháp luật như một khung các quy tắc của thể chế để điều chỉnh hoạt động chính trị của mỗi cá nhân hay tổ chức

Ý thức chính trị còn biểu hiện ở các chuẩn mực đạo đức trong quan hệ xã hội của các cá nhân trong đời sống xã hội và thái độ chính trị của các chính khách trong quan hệ quốc tế, bởi trong thời kỳ bùng nổ của cách mạng khoa

Trang 31

học - công nghệ, tính đa dạng, phức tạp trong quan hệ quốc tế khiến cho cách ứng xử của các nhà nước, các chính khách luôn được đem ra đánh giá và phân tích từ nhãn quan của ý thức chính trị

1.2.2 Hoạt động chính trị

Trong triết học, hoạt động là một phương thức đặc thù của con người trong quan hệ với thế giới, một quá trình trong đó con người tái sản xuất và cải tạo một cách sáng tạo giới tự nhiên Do đó, bản thân con người trở thành chủ thể hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người nắm được trở thành khách thể của hoạt động của mình

Hoạt động chính trị phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể

trong đời sống chính trị Đó là cơ chế hoạt động của các tổ chức chính trị, quan hệ giữa các tổ chức chính trị, hành vi chính trị của cá nhân và của cộng đồng Lênin đã chỉ rõ: “Đối với bất kỳ hoạt động chính trị nào cũng cần phải

có sự chuẩn bị khoa học hết sức nghiêm túc” [76; tr.422-423]

Trong hoạt động chính trị, khách thể chính là lĩnh vực chính trị, chủ thể hoạt động là con người chính trị Đó là con người xã hội, con người giai cấp,

có vị thế khác nhau trong hệ thống tổ chức quyền lực xã hội, hoạt động của họ gắn liền với mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp, một dân tộc, một lực lượng xã hội nhất định Con người chính trị được xét dưới ba cấp độ: Người đứng đầu, đội ngũ hoạt động chính trị và quần chúng nhân dân Như vậy, hoạt động chính trị của chủ thể chính trị bao gồm:

- Hoạt động lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, khống chế (theo một mục tiêu nhất định), ra các quyết sách (quyết nghị, chủ trương, mệnh lệnh), thông qua các hệ thống thông tin, tư vấn tham mưu, quyết đoán, chấp hành giám sát, phản hồi, đánh giá và khen thưởng

- Hoạt động của đội ngũ chính trị - là kíp người cùng với người đứng đầu thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của chính đảng, của giai cấp,

Trang 32

dân tộc trong những thời kỳ nhất định, là những người có ý thức về sứ mệnh chính trị, có tri thức, kinh nghiệm chính trị và nghệ thuật hoạt động chính trị (gọi là các nhà chính trị hoặc chính khách)

- Hoạt động của quần chúng nhân dân - tập đoàn đông đảo những người liên hợp với nhau theo cùng một luật pháp và cùng một cộng đồng lợi ích nào

đó Họ là chủ thể của mọi quyền lực xã hội nhưng lại là lực lượng bị cai trị trong quan hệ với chính quyền nhà nước [Xem 41; tr.328-331]

Ba nhân tố của chủ thể chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì thế hoạt động chính trị của các chủ thể cũng có sự gắn bó khăng khít, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau Cụ thể, hoạt động chính trị bao gồm: hoạt động lãnh đạo, quản lý của các tổ chức và người lãnh đạo, quản lý trong các quá trình chính trị, xây dựng đường lối chính sách và truyền thông chính sách, thực hiện quyền lực chính trị (trong đó có quyền thống trị); hoạt động của quảng đại quần chúng nhân dân trong quá trình tham gia vào công việc xây dựng, đóng góp, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, thực hiện các hành vi chính trị, giám sát, kiểm tra, phê bình các tổ chức và cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, đồng thời sử dụng các phương tiện chính trị để ổn định và phát triển nền chính trị trong nước, thực hiện hòa bình thống nhất, độc lập tự do, hợp tác nhưng vẫn gắn với nhiệm vụ công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.3 Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các

thiết chế mang tính hiến định (Đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị

- xã hội…) và không hiến định (phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ bầu cử, thể chế tôn giáo…); cùng với những quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm đảm bảo quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội [Xem 74]

Trang 33

Hệ thống chính trị được cấu thành từ nhiều bộ phận chức năng khác nhau, rất đa dạng về thành phần, mỗi bộ phận là một tiểu hệ thống của hệ thống chính trị, nhưng tựu trung, các thành phần đa dạng như vậy thuộc về ba

hệ thống cơ bản:

- Hệ thống đảng chính trị: Đảng chính trị là một hiện tượng đặc thù của

xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Đây là yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị, của chế độ chính trị và xã hội công dân - là công cụ tập hợp của một giai cấp; tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu giành, giữ,

sử dụng quyền lực nhà nước và định hướng chính trị cho phát triển xã hội

- Hệ thống nhà nước: Nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền

lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp Theo quan điểm Mác - Lênin, nhà nước có năm đặc trưng cơ bản sau đây: Nhà nước có quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ máy cưỡng chế, quản lí những công việc chung của xã hội; có quyền quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ thành các đơn

vị hành chính; có chủ quyền quốc gia; có quyền xây dựng, sáng tạo pháp luật

và có quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật; có quyền ban hành

nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng nhà nước, đó là cơ quan lập

- Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội

bao gồm các tổ chức mà hoạt động của chúng vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước, các tổ chức chính trị - xã hội (thường gọi là các đoàn thể quần chúng, các nhóm lợi ích) có đặc điểm riêng về tổ chức và phương thức hoạt động

Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách

Trang 34

mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Vì vậy,

hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau:

- Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công

nhân, nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

- Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước

hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột

- Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở

nước ta Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc

Hệ thống chính trị Việt Nam cũng có những nguyên tắc và cơ chế vận hành riêng Dựa trên những nguyên tắc này mà ý thức chính trị, hành động chính trị được định hướng và tạo thành những bộ phận hữu cơ của đời sống chính trị

Tóm lại, ba yếu tố hợp thành đời sống chính trị là: ý thức chính trị, hoạt động chính trị, hệ thống chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố này là điều kiện tồn tại và hoạt động của yếu tố kia và để tác động lên một yếu tố nào đó thì cũng tức là phải đồng thời tác động lên cả ba yếu tố đó: Ý thức chính trị là nền tảng của hoạt động chính trị và hệ thống chính trị; tuy nhiên, để ý thức chính trị hóa thân thành các hoạt động chính trị, cần phải

Trang 35

thông qua hệ thống chính trị là các thiết chế, công cụ hàng đầu để duy trì và

ổn định đời sống chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc

Chính trị với bản chất là hoạt động của con người nên không có mục đích

tự thân Hệ thống chính trị không hoạt động vì sự tồn tại của chính nó, chính sách pháp luật, các thiết chế chính trị tồn tại cũng không phải chỉ để phục vụ bản thân nó Chính trị vì là hoạt động có mục đích của con người nên đều do con người tiến hành Con người chính trị luôn luôn là trung tâm điểm của chính trị dù đó là người cai trị hay kẻ bị trị, dù họ thuộc tầng lớp lãnh đạo hay quần chúng, như câu nói của C.Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [12; tr.11] Như vậy, xã hội nói chung bao gồm tất cả các cá nhân, nhóm, cộng đồng người và các quan hệ xã hội là những nhân tố làm nên môi trường chính trị, nơi mà đời sống chính trị được tồn tại và duy trì

1.3 Mối quan hệ giữa cách mạng khoa học - công nghệ và đời sống chính trị

Chính trị là một trong những hiện tượng mà việc xem xét nó không chỉ dừng lại như một hình thái của ý thức xã hội như các học thuyết triết học Như đã phân tích ở trên, chính trị không những chỉ xuất hiện như một hệ thống nhận thức phức tạp chứa đựng cả những lý luận và học thuyết, cả tâm

lý và niềm tin, cả thể chế và hoạt động thực tiễn; chính trị xuất hiện trong đời sống của loài người là sự kết tinh những đặc tính trên của hoạt động xã hội của con người

Có rất nhiều cách tiếp cận vấn đề chính trị, nhưng tựu trung lại, có hai

hướng cơ bản khi nghiên cứu về chính trị: Hướng thứ nhất, tiếp cận trực tiếp

lĩnh vực chính trị thông qua những vấn đề cơ bản của chính trị như: quyền lực chính trị, hệ thống chính trị, thể chế chính trị, con người chính trị, các quyết sách và văn hóa chính trị… Đây là những vấn đề trọng tâm, những yếu tố

không thể thiếu trong nền chính trị của bất cứ một quốc gia nào Hướng thứ

Trang 36

hai, tiếp cận lĩnh vực chính trị thông qua những mối quan hệ xoay quanh vấn

đề chính trị Cụ thể là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chính trị và các hình thái ý thức xã hội như: tôn giáo, đạo đức, triết học… Luận văn tiếp cận lĩnh vực chính trị theo hướng thứ hai - thông qua những mối quan hệ xoay quanh vấn đề chính trị, đó là mối quan hệ giữa đời sống chính trị và cách mạng khoa học - công nghệ

Bàn về bản chất và tính tất yếu của cách mạng khoa học, Thomas Kuhn

trong cuốn Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học đã tìm ra sự tương đồng

khiến chúng ta có thể cùng sử dụng thuật ngữ “cách mạng” cho hai lĩnh vực khoa học và chính trị: “Giữa chính trị và khoa học có một sự khác biệt rất lớn

và rất cơ bản Vậy giữa chúng có nét tương đồng nào khiến ta có thể cùng sử

dụng thuật ngữ cách mạng cho cả hai lĩnh vực? Nét tương đồng ấy thể hiện

rất rõ ở một khía cạnh Các cuộc cách mạng chính trị bắt đầu từ sự cảm nhận ngày càng tăng, tuy chỉ giới hạn trong một bộ phận nào đó của chính giới, rằng các thiết chế hiện hành đã không còn đáp ứng thích đáng những vấn đề được đặt ra bởi một môi trường mà chúng đã góp phần tạo nên Giống như vậy, các cuộc cách mạng khoa học bắt đầu bằng một cảm nhận ngày càng tăng rằng mẫu hình hiện hành không còn vận hành một cách thỏa đáng trong việc tìm hiểu một khía cạnh của tự nhiên mà trước đó chính mẫu hình này đã soi đường chỉ lối cho việc nghiên cứu khía cạnh ấy Cảm nhận này thường cũng chỉ giới hạn trong một bộ phận của cộng đồng khoa học Trong chính trị cũng như trong khoa học, cảm giác bất ổn nói trên luôn luôn là điều kiện tiên quyết của cách mạng

Dưới góc độ phát sinh thì sự tương đồng giữa chính trị và khoa học hiển nhiên không còn gì phải bàn cãi Nhưng sự tương đồng này còn có một khía cạnh thứ hai sâu sắc hơn và chi phối tầm quan trọng của khía cạnh đầu Các cuộc cách mạng chính trị nổ ra nhằm thay đổi các thiết chế chính trị theo

Trang 37

nhưng phương thức mà bản thân các thiết chế đó không cho phép Thành công của chúng vì thế đòi hỏi ít nhiều phải từ bỏ một loạt các thiết chế để tiếp nhận những thiết chế khác, và trong thời kỳ quá độ, xã hội dường như không chịu sự chi phối của một thiết chế nào”[61; tr.191]

Điều này cho thấy, cũng giống như chính trị, cách mạng khoa học - công nghệ có khả năng tạo ra những “bước ngoặt lịch sử” làm thay đổi các kết cấu kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa cách mạng khoa học - công nghệ và đời sống chính trị là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại và chuyển hóa giữa một bên là yếu tố, động lực phát triển của sản xuất, nền tảng của kinh tế, với một bên là “sự biểu hiện tập trung của kinh tế.” Chính vì vậy, cách mạng khoa học - công nghệ không chỉ tác động trực tiếp đến đời sống chính trị mà còn tác động gián tiếp đến đời sống chính trị thông qua kinh tế, trong đó, khoa học công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển, làm thay đổi và hoàn thiện dần cơ

sở hạ tầng của xã hội theo hướng hiện đại hóa

Vì thế, khi nghiên cứu những tác động của cách mạng khoa học - công

nghệ đến đời sống chính trị, có thể phân tích theo hai hướng sau: Hướng thứ

nhất: Phân tích tác động qua lại của cách mạng khoa học - công nghệ và đời

sống chính trị theo hai mặt: tích cực và tiêu cực, bao gồm cả ảnh hưởng của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị và ảnh hưởng của tình hình chính trị, các chính sách chính trị tới sự phát triển của khoa học và công

nghệ Hướng thứ hai: Phân tích những tác động trực tiếp và gián tiếp của cách

mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị Tác động gián tiếp được hiểu là tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến sự phát triển của lĩnh vực kinh tế, trên nền tảng khoa học và công nghệ, kinh tế tạo ra một tác động lớn đến đời sống chính trị

Nghiên cứu về đời sống chính trị với tư cách một khách thể chịu tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, chúng tôi tập trung nghiên cứu

Trang 38

những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị theo hai mặt: tích cực và tiêu cực, chứ không nghiên cứu những tác động theo chiều ngược lại của chính trị đến cách mạng khoa học - công nghệ Cụ thể, đó

là tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến ý thức chính trị, hoạt động chính trị và hệ thống chính trị

Bên cạnh đó, một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngày nay là nó diễn ra trên cơ sở những thành tựu của khoa học hiện đại, trên cơ sở kết hợp rất chặt chẽ khoa học và kĩ thuật, khoa học và sản xuất vật chất Song song với việc đi sâu vào từng khoa học riêng lẻ là sự xuất hiện của những lý thuyết ngày càng bao trùm hơn, của càng nhiều khoa học cụ thể khác nhau, cho phép sử dụng các thành tựu của khoa học này phục vụ khoa học kia, dù các ngành khoa học có khi rất xa nhau Cho nên ngày nay, đời sống chính trị không chỉ chịu ảnh hưởng của những ngành khoa học riêng biệt

mà còn chịu ảnh hưởng của cả các ngành khoa học xã hội mà đối tượng nghiên cứu thuộc về các lĩnh vực xã hội, nhân văn - bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về các phương diện con người của thế giới: nhân chủng học, văn hóa học, giáo dục học, sử học, ngôn ngữ học, khoa học chính trị, quản lý

xã hội, xã hội học, tâm lý học, mỹ học, triết học… Nếu như các ngành khoa học tự nhiên - bao gồm từ các ngành khoa học cơ bản như: toán học, vật lý học, sinh học, hóa học, khí tượng thủy văn, môi trường… cho đến những ngành khoa học mũi nhọn như: công nghệ thông tin, công sinh học, công nghệ vật liệu mới… đã xây dựng các luận cứ, giải pháp làm cơ sở xây dựng những công trình ứng dụng cũng như sử dụng những lợi thế tự nhiên đem lại, góp phần cải tạo và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, thì các ngành khoa học xã hội lại đóng vai trò xây dựng nền tảng tri thức về xã hội, con người và

hệ giá trị tinh thần của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đến đời sống chính trị vì thế có sự khác biệt

Trang 39

giữa tác động của khoa học xã hội và tác động của khoa học tự nhiên và công nghệ, trong đó, khoa học xã hội chủ yếu tác động đến ý thức chính trị của con người Sự phân biệt này là hoàn toàn cần thiết, đúng với định nghĩa chung về cách mạng khoa học - công nghệ, phù hợp với xu hướng phát triển khoa học công nghệ của các nước trên thế giới nói chung và Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi, bổ sung năm 2005) cùng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 của Việt Nam nói riêng

Cách mạng, khoa học, công nghệ… ngày nay là những khái niệm khá phổ biến Chúng không chỉ được bàn đến trong các lĩnh vực chuyên ngành như thông tin học, điều khiển học, báo chí Những tác động to lớn của cách mạng khoa học - công nghệ đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống chính trị buộc các nghiên cứu xã hội phải nhìn nhận, đánh giá về nó dưới chiều cạnh của các khoa học xã hội và triết học Dưới lăng kính triết học, những vấn đề lý luận chung về cách mạng khoa học - công nghệ chính là chiếc chìa khóa quan trọng cho việc lý giải những biến đổi hết sức to lớn của đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay Đây cũng chính là vấn đề chúng tôi

sẽ bàn đến trong chương tiếp theo

Trang 40

Chương 2: NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC -

CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ năm 1975 cho đến nay, Việt Nam là đất nước có một đời sống chính trị trong nước và quốc tế tương đối ổn định Hệ thống chính trị của Việt Nam thực hiện cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị, với tôn chỉ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam Các yếu tố làm nên đời sống chính trị Việt Nam là: ý thức chính trị, hoạt động chính trị, hệ thống chính trị có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau thật khó tách rời và cùng thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Những đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là: 1/Tính nhất nguyên chính trị, tức thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền không có chính đảng đối lập Tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị được thể hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

2/Tính thống nhất: Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất

3/Hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân

4/Hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc

Với những đặc điểm trên, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để tiếp tục phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị bằng việc tiếp thu những thành quả của

Ngày đăng: 15/03/2021, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w