Ngoài các công trình đã nêu trên, còn có nhiều công trình, bài viết khác nghiên cứu về vấn đề này đăng trên các Tạp chí Triết học, Khoa học xã hội, Nghiên cứu lý luận, Nghiên cứu văn hó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHÙNG THU THỦY
BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHÙNG THU THỦY
BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đặng Thị Lan
Trang 3Lời cảm ơn
Luận văn hoàn thành là kết quả của ba năm nghiên cứu và học tập tại Khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Trong quá trình hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô giáo, các anh chị khóa trước và các bạn trong lớp Vì vậy, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Khoa Triết học cùng toàn thể các học viên trong tập thể lớp Cao học Triết K19 Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Đặng Thị Lan – người định hướng khoa học, hướng dẫn tận tình, luôn động viên, giúp đỡ hết mực, đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội ngày 24 tháng 8 năm 2014
Phùng Thu Thủy
Trang 4Bảng chữ viết tắt
Nxb: Nhà xuất bản
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
UNDP (United Nations Development Programme): Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
ASEAN (Association of Southeast Asian Nations): Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
APEC (Asia-Pacific Economic Cooperation): Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEM (The Asia-Europe Meeting): Diễn đàn hợp tác Á–Âu
XHC: Xã hội chủ nghĩa
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization): Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
WB (World Bank): Ngân hàng Thế giới
GATT (General Agreement on Tariffs and Trade): Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
SEV: Hội đồng Tương trợ Kinh tế
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp mới của luận văn: 9
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn: 10
8 Kết cấu của luận văn: 10
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 11
1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam 11
1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa 11
1.1.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam 21
1.2 Toàn cầu hóa và tác động của nó đến bản sắc văn hóa Việt Nam 29
1.2.1 Khái niệm toàn cầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa 29
1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc văn hóa Việt Nam 36
Tiểu kết chương 1 45
CHƯƠNG 2 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP 46
2.1 Sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra 46
2.1.1 Sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa 46
2.1.2 Những vấn đề đặt ra hiện nay trong sự biến đổi bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa 70
2.2 Một số nguyên tắc và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay 75
2.2.1 Nguyên tắc nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay 75
2.2.2 Một số giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay 81
Tiểu kết chương 2 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi theo xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên quy mô lớn Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và mạng thông tin toàn cầu, “ngôi nhà” thế giới dường như trở nên nhỏ bé hơn Đặc biệt, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra như một cơn bão lốc cuốn hút hầu hết tất cả các cá nhân, quốc gia, dân tộc, châu lục và toàn thể nhân loại vào vòng xoáy vận mệnh của nó trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã chỉ ra:
“Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển” [19, Tr 78]
Thực tế, toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác như văn hoá, chính trị, xã hội và đang đặt ra nhiều vấn đề hệ trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc Toàn cầu hóa vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển, đồng thời cũng là những thách thức lớn đối với vấn đề bản sắc văn hoá của mỗi quốc gia Hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa
đã đem lại cho chúng ta cơ hội phát triển kinh tế, giao lưu, làm giàu thêm nền văn hóa dân tộc Song bên cạnh đó, vấn đề xói mòn, hủy hoại các giá trị truyền thống, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc – đánh mất sức mạnh nội sinh to lớn, cũng là những bài toán khó được đặt ra trong tình hình mới hiện nay
Dòng chảy toàn cầu hoá cùng với những nghịch lý của nó mở ra những
xu hướng vận động khác nhau cho các quốc gia, dân tộc thông qua sự giao lưu, nhất là sự giao lưu văn hóa Bất luận tham gia chủ động hay buộc phải
Trang 7cuốn theo một cách bị động vào quá trình toàn cầu hoá thì văn hóa dân tộc đều phải tiếp xúc, giao thoa với các nền văn hóa khác trên thế giới Theo đó, các nền văn hoá đang xích lại gần nhau hơn, tạo ra ảo biến hai mặt: dung hòa, thâm nhập, tiếp biến văn hóa và những sự xung đột, sự đồng hoá, hay sự “hoà tan” văn hoá, sự “nhạt nhòa” bản sắc văn hóa dân tộc Cũng do chính quá trình đó, nhiều lúc ta bắt gặp những đặc điểm của nước này trong nước khác, song, có thể nhận ra từng quốc gia bởi chính nét đặc sắc trong văn hoá dân tộc của họ Bản sắc văn hóa là sức mạnh nội sinh của mỗi dân tộc mà chính mỗi dân tộc, mỗi quốc gia cần nhận thức đúng về nó nhằm mang lại định hướng hoạt động đúng đắn góp phần phát huy nguồn sức mạnh này, đưa quốc gia, dân tộc đi lên một vị trí mới, phát triển hơn về mọi mặt
Toàn cầu hóa làm biến đổi bản sắc văn hóa, khiến bản sắc văn biến động theo chiều hướng tích cực và tiêu cực Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều nhận thấy và áp dụng những giải pháp nhằm tận dụng cơ hội, phát huy những ảnh hưởng tích cực do toàn cầu hóa mang lại, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó Việt Nam chúng ta cũng không thể nằm ngoài quy luật phát triển chung đó của nhân loại Trong những năm qua, toàn cầu hóa ảnh hưởng sâu rộng tới chúng ta, mang lại những sự thay đổi tất yếu trên nhiều lĩnh vực Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đặc biệt là sự đổi mới trong chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước, quá trình hội nhập, giao lưu đã được đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn hoá Chúng ta đã tiếp thu những tinh hoa, nét tích cực của văn hoá các dân tộc trên thế giới để làm phong phú thêm cho nền văn hóa của mình Tuy nhiên cũng chính những yếu
tố “ngoại lai” đó đã phần nào làm mờ nhạt đi bản sắc văn hoá dân tộc Sự thay đổi những chuẩn mực, hành vi đạo đức, lối sống thực dụng, những tệ nạn
xã hội…và sự “quay lưng” với truyền thống, với quá khứ là một trong số những biểu hiện của thực trạng phai nhạt bản sắc văn hóa và xuống cấp về mặt đạo đức xã hội
Trang 8Phải khẳng định rằng, từ xưa đến nay bản sắc văn hóa dân tộc làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió, thác ghềnh để không ngừng phát triển, lớn mạnh và khẳng định được vị thế trên trường quốc tế Đó là điểm tựa vững chắc để chúng ta đến với thế giới Đúng như lời khẳng định: “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự của nó” [14, Tr 16] Văn hóa chính là vốn quý của chúng ta Vì thế, để bảo vệ cái quý báu ấy cũng như để không đánh mất chính mình thì việc nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc trở thành một yêu cầu cấp bách Đây không chỉ là điều kiện để phát triển lành mạnh con người và xã hội mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững
và tiến bộ của đất nước
Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm xây dựng chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó, “văn hóa được coi là nền tảng của tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội” [18, Tr 51] Trước tình hình đó, vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa nói chung và việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa nói riêng là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và để góp thêm cơ sở cho việc chủ động đón nhận những thời cơ, khắc phục những thách thức đối với bản sắc văn hóa do toàn cầu hóa đem lại, chúng tôi quyết định chọn vấn đề
“Bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sỹ Triết học của mình
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Vấn đề toàn cầu hoá, bản sắc dân tộc và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề đã được nhiều tập thể, nhiều nhà khoa học trong nước
và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu ở những mức độ khác nhau Có thể phân chia thành 3 nhóm công trình cơ bản sau đây:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc
- “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”, Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996 Tác giả đề cập cộng đồng người Việt Nam trong quá trình lịch sử của mình đã tạo xây những giá trị văn hóa tư tưởng nuôi dưỡng tâm linh, tình cảm cho mỗi con người Đó là những giá trị truyền thống được coi là hạt nhân căn bản của văn hóa dân tộc, là chất keo kết dính mỗi thành viên cộng đồng trong khối đại đoàn kết
- “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, 2001 Tác giả vẽ nên bức tranh tổng quát về văn hóa Việt Nam,
đề cập một số lĩnh vực văn hóa như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và các vùng văn hóa Việt Nam
- “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học 2002 Tác gải làm rõ bề dày văn hóa của con người Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam trong giao lưu văn hóa, nề tảng của giao lưu quốc tế Đồng thời đặt ra vấn đề bảo vệ và phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay
- “Bản sắc văn hóa dân tộc”, Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa thông tin, 2003 Tác giả đề cập bản sắc và động lực phát triển của văn hóa, văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, tư duy triết học trong văn hóa truyền thống
- “Phát triển văn hóa giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp tinh hoa của văn hóa nhân loại”, Phạm Minh Hạc, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội,
1996 Tác phẩm khái quát căn bản về văn hóa và phát triển, khẳng định vai trò của văn hóa
Trang 10Ngoài các công trình đã nêu trên, còn có nhiều công trình, bài viết khác
nghiên cứu về vấn đề này đăng trên các Tạp chí Triết học, Khoa học xã hội,
Nghiên cứu lý luận, Nghiên cứu văn hóa dân gian… Nhưng do cách tiếp cận
ở các góc độ khác nhau mà ít có các công trình đi sâu nghiên cứu một cách có
hệ thống về việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá ở nước ta hiện nay Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần vào việc xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa VIII, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X và XI của Đảng
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về những tác động của toàn cầu hóa đến bản sắc dân tộc
- “Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - vấn đề và giải pháp” của tác giả Chu Tuấn Cáp (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002 Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn quá trình phát triển của toàn cầu hoá cùng những tác động của nó, các tác giả trình bày quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, nêu lên thành công bước đầu, những hạn chế và bài học kinh nghiệm của nước ta
- “Toàn cầu hoá – cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển” của tác giả Đường Vinh Sường, Nxb Thế giới, 2004, là công trình nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phân tích, tổng hợp quá trình phát triển, những đặc trưng cơ bản của toàn cầu hoá kinh tế, những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát triển, đồng thời có sự liên hệ với Việt Nam trong quá trình đổi mới
- “Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của Nhà nước dưới tác động của toàn cầu hoá” của tác giả Phạm Thái Việt (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008) Trên cơ sở phân tích những tác động của toàn cầu hóa đến Nhà nước, tác giả đã trình bày sự điều chỉnh các thể chế bên trong của Nhà nước, xây
Trang 11dựng thể chế bên trong của Nhà nước, xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường, các thể chế hỗ trợ xã hội dân sự, các thể chế hợp tác quốc tế
- “Toàn cầu hoá: những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hoá” của tác giả Phạm Thái Việt (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006) cũng đã đề cập đến những biến đổi trong đời sống chính trị quốc tế, những biến đổi trong đời sống văn hoá trong xu thế toàn cầu hóa
- “Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2001 Các bài tham luận đều tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hoá và những thách thức cũng như cơ hội của toàn cầu hoá đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam đồng thời bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đó trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
Các công trình trên chủ yếu xem xét toàn cầu hoá dưới góc độ kinh tế, một vài công trình đã bước đầu nhìn nhận toàn cầu hóa với tư cách là một chỉnh thể bao gồm các mặt: kinh tế, văn hoá, xã hội luôn tác động qua lại lẫn nhau, trong đó kinh tế giữ vai trò nền tảng
2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về những biến đổi và giải pháp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa
- “Bước đầu tìm hiểu sự biến đổi giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Hoàng Thị Ngát, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2006, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Khóa luận đề cập đến một số vấn đề lý luận về giá trị truyền thống Việt Nam, về toàn cầu hóa Bước đầu khảo sát sự biến đổi một số giá trị truyền thống Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa Sau cùng là đưa ra những giải pháp về kinh tế - xã hội, giáo dục, pháp luật nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong giai đoạn hiện nay
Trang 12- “Những cơ hội và thách thức đối với các giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Võ Hoàng Anh, Luận văn thạc sỹ triết học, năm 2007, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Luận văn khắc họa rõ toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó đến các giá trị truyền thống, cũng như giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa với những nội dung khá đặc sắc, sâu rộng, thiết thực
- “Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Mai Thị Qúy, Tạp chí triết học (số 6)
- “Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta”, Nguyễn Văn Lý, năm
1999, Tạp trí triết học (số 24)
- “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thái Nguyên hiện nay”, Lê Thị Kim Hưng, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Luận văn khái quát một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trên sơ sở đó, luận văn tiếp tục trình bày thực trạng
và một số kiến nghị giải pháp về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thái Nguyên hiện nay
Các công trình nghiên cứu trên đều đã đi vào khai thác song chưa cụ thể và hệ thống những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, toàn cầu hóa, về
sự biến đổi cũng như những giải pháp nhất định trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Kế thừa những thành tựu nghiên cứu tích cực của những người đi trước kết hợp với những tìm tòi, nghiên cứu của bản thân, trong luận văn này, tác giả cố gắng phân tích làm rõ hơn vấn đề sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và nêu ra một số giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận chung về toàn cầu hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam, luận văn làm rõ sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thứ nhất, đề tài có phạm vi rộng, xung quan vấn đề “Bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” đã có nhiều công trình nghiên cứu theo các hướng khác nhau như: cơ hội và thách thức của bản sắc văn hóa Việt Nam; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; vai trò của văn hóa trong hội nhập và phát triển…Luận văn tập trung phân tích và làm rõ sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa để từ đó nêu ra những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 14- Thứ hai, văn hóa và bản sắc văn hóa là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung phong phú Tùy theo các góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu mà mỗi người lại xác định các yếu tố làm nên bản sắc văn hóa khác nhau Luận văn đã lựa chọn và chỉ tập trung nghiên cứu một số giá trị văn hóa cơ
bản làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần
nhân ái, ý thức cố kết cộng đồng, truyền thống hiếu học, kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc
- Thứ ba, phạm vi thời gian: luận văn khảo cứu, xem xét sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, giới hạn từ khi đổi mới (từ năm 1986) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng, đồng thời dựa trên những nguyên lý cơ bản của của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để phân tích, luận chứng sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn còn dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến toàn cầu hóa, văn hoá, chính sách văn hóa, vấn đề giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và Chủ nghĩa duy vật lịch sử như: phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch, đối chiếu, so sánh…
6 Đóng góp mới của luận văn:
Luận văn phân tích và luận giải, làm rõ hơn sự biến đổi của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay dưới góc độ triết học
Trang 15Luận văn đi từ sự phân tích thực trạng biến đổi, những vấn đề đặt ra đến nêu những nguyên tắc và giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá trong quá trình toàn cầu hoá ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, góp phần khẳng định vị thế của văn hóa cũng như mối quan hệ biện chứng giữa toàn cầu hóa và vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa học, Dân tộc học…và những ai quan tâm đến vấn đề bản sắc vắn hóa Việt Nam, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa…
8 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 4 tiết
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Lịch sử phát triển của văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Khi con người xuất hiện thì lịch sử văn hóa cũng bắt đầu So với lịch
sử hình thành và phát triển của văn hóa, thuật ngữ văn hóa xuất hiện muộn hơn Đến thời cận đại từ “Văn hóa” mới trở thành một thuật ngữ khoa học Văn hóa là khái niệm được dùng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật ngữ này không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà còn trong các nghành khoa học khác nhau Việc xác định nội hàm khái niệm này còn nhiều ý kiến, vì trên thế giới hiện nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau
về văn hóa Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người
Lược khảo một số quan niệm tiêu biểu về văn hóa trong lịch sử, chúng ta bắt gặp những quan niệm trước Mác, quan niệm mac-xit, những quan niệm của các nhà khoa học cận và hiện đại, quan niệm của tổ chức UNESCO, quan niệm của Hồ Chí Minh…với những nội hàm đúng đắn, có giá trị nhất định
Những quan niệm trước C.Mác về văn hóa cũng khá đa dạng Phương Đông với điển hình là Trung Quốc, từ cổ đại đến cận đại, đều cho rằng văn hóa là chế độ, văn trị, giáo hóa, lễ nhạc, điển chương Điển hình như Lưu
Trang 17Hướng cũng từng đề cập: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực Phàm dùng đến võ đối phó với kẻ không phục tùng, giáo hóa bằng văn mà không chịu thay đổi thì sau mới trừng phạt Văn hóa ở đây
là giáo hóa đối lập với vũ lực”
Ở phương Tây, thời cổ đại, coi văn hóa với tư cách là một từ, đã xuất hiện từ trước Công nguyên trong ngôn ngữ Latinh (từ nghĩa khai khẩn, vỡ hoang đất đai… mở rộng sang cày cấy, gieo trồng, chăm sóc…và thêm “vun trồng tinh thần”)
Thời kỳ Phục hưng thế kỷ XV – XVI, văn hóa có thêm nghĩa chỉ năng lực sáng tạo của con người, đề cao con người Cùng với sự phát triển của
xã hội và khoa học, khái niệm văn hóa mở rộng ra các lĩnh vực khác nhau như: xây dựng thể chế, cải tạo xã hội, thành đối tượng nghiên cứu của một
số ngành khoa học xã hội nhân văn như: Nhân loại học, Dân tộc học, xã hội học…
Các nhà khai sáng Pháp cũng quan tâm đến văn hóa và có những quan niệm mới, khác về văn hóa (Vonte dùng khái niệm văn minh để miêu tả các thời kỳ phát triển của khoa học, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, nhà nước., Rútxô quan niệm văn hóa là hiện tượng xã hội…)
Sang thế kỷ XIX, từ nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau các nhà khoa học hướng tới xác định văn hóa như đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học độc lập Năm 1871, E.B.Tylor công bố công trình văn hóa nguyên thủy, coi văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng với những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội
Những quan niệm sau C.Mác, của các nhà khoa học về văn hóa đề cập đến rất nhiều định nghĩa văn hóa Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữ học người Pháp Jacques Derida: Văn hóa chính là cái tên chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó… Năm
Trang 181982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển đã nêu ra định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm được đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng”[77, Tr.23] Trong định nghĩa này, văn hóa được quan niệm là toàn bộ các giá trị tinh thần nhưng nhấn mạnh đến đặc điểm có khả năng đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng người Điều đó có nghĩa là trong quan hệ xã hội, trong phát triển phải tôn trọng bảo tồn và phát huy những đặc điểm có tính riêng biệt đó
Về căn bản, có thể liệt kê dưới đây ba định nghĩa nổi bật nhất, đó là định nghĩa của chủ nghĩa Mác- Lênin, của UNESCO và của Hồ Chí Minh
Trong thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa (1988 – 1997), Phederico Mayo – Tổng giám đốc UNESCO lúc đó đưa ra quan niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này tiếp cận văn hóa dưới góc độ hoạt động và văn hóa là hệ thống giá trị chuẩn mực đồng thời nhấn mạnh đặc tính dân tộc của văn hóa UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho
sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên
Trang 19Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng của lịch sử là hoạt động lao động của con người và quá trình con người sáng tạo ra lịch sử cũng là quá trình con người sáng tạo văn hoá, văn hóa bắt nguồn từ lao động Những quan niệm về văn hóa được trình bày trong nhiều tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”(1844), “Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị”(1859),
“Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và Nhà nước”(1884)… C.Mác viết: “Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi
sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”[8, Tr
39 - 40] Theo C.Mác, khởi điểm của hành vi trong lịch sử là văn hóa Văn hóa là hành vi quan trọng trong quá trình sản xuất vật chất, là cái để con người phân biệt với con vật “Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất
cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp”[9, Tr 137]
Bàn đến văn hoá và sự phát triển của văn hoá, chủ nghĩa Mác còn thừa nhận, với tư cách là một hệ giá trị, văn hoá bị chi phối bởi những điều kiện lịch
sử, bởi năng lực thực hiện “ lực lượng bản chất người” Mỗi bước tiến của lịch
sử là một bước tiến tương ứng của văn hoá Như vậy có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hoá trong hoạt động của con người Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hoá là cái nôi thứ hai Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là
Trang 20một thực thể sinh vật thì văn hoá là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người Con người
là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính, sự sáng tạo và thái độ của con người trước hiện thực Quan niệm của Mác, Ănghen về văn hóa đã được Lênin kế thừa và phát triển Ông đề ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới: tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hoá; xác định sự nghiệp văn hoá là một bộ phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản xác định tính kế thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong văn hóa Ở đây, Lênin
đã hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, là những giá trị chung nhất, tồn tại và phát triển qua nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa vĩnh hằng, văn hóa luôn gắn liền với sự phát triển và toàn diện con người, hoàn thiện xã hội
Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa đã được chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, văn hóa không chỉ bao gồm kết quả của sự sáng tạo mà còn là phương thức sử dụng những thành quả đó: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[61, Tr 431] Quan điểm đó của Người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hoá, chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất, những giá trị tinh thần và phương thức sinh hoạt của con người Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của văn hoá đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt
Trang 21động của đời sống xã hội Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu
tố xã hội trong con người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người
Trên cơ sở các quan niệm trên, dưới góc độ Triết học, có thể hiểu văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị vật chất, tinh thần của người dân một nước, một dân tộc đạt được trong quá trình dựng nước và giữ nước Văn hóa đặc trưng cho dân tộc, nó bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất
cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Và ngày nay,
trong bối cảnh mới, Đảng và Nhà nước luôn quán triệt vận dụng cách hiểu đúng đắn về văn hóa với ý nghĩa “văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội, nó cũng có quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hoá, phản ánh mối quan hệ giữa dân tộc và văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành” Do đó, khái niệm văn hóa bao hàm trong nó tính chất nhân văn Văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong cải tạo xã hội, hòa nhập với tự nhiên, xây dựng cuộc sống hợp lý của con người Đồng thời văn hóa có một cơ chế vận hành được quy định từ sự tồn tại của con người trong các vùng địa văn hóa với các hoạt động sáng tạo lâu đời của họ để duy trì, phát triển và tạo nên truyền thống
Ở đây chúng ta cần tránh nhầm lẫn giữa các khái niệm: văn hiến, văn minh, văn hóa Văn hiến: “văn” trong văn hiến là (cái đẹp) về tư liệu, điển chương, chế độ… “hiền” là người hiền tài, là người thông thạo điển chương, chế độ… Theo GS Đào Duy Anh: “văn hiến là sách vở” và “nhân vật tốt trong một đời” Văn hiến: là truyền thống tinh thần lâu đời và tốt đẹp, là giá trị tinh thần do những người có đức, có tài chuyển tải, là một xã hội đạt tới một trình độ nhất định về mặt tinh thần Văn hiến thể hiện tính dân tộc và tính lịch sử Văn minh : “văn” là vẻ đẹp, “minh” là sáng, văn minh có nghĩa chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp độ, văn học, nghệ thuật Văn minh được xem là một khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người, mặt
Trang 22kỹ thuật của hoạt động người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung Trong khi đó, cái được coi là cốt lõi của văn hóa, là phẩm chất nhân đạo trong sự phát triển, theo V.M.Roodin thì “văn hóa…là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập quán, tâm thế, phản ứng trong ứng xử), không phụ thuộc vào việc đó là người man rợ hay người văn minh” Bởi vậy, văn minh thường mang tính khách quan, phổ biến hơn, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại (mang màu sắc phân chia, phản ánh sự biến động trong hoạt động người), còn văn hóa là nói đến tính chủ thể, tính độc đáo (mang màu sắc trung tính và phản ánh cái ổn định, yên tĩnh tương đối trong hoạt động người) Văn minh là cơ sở của văn hóa, ở chừng mực, văn hóa là bản chất của văn minh Văn hóa hoàn toàn không phải
là thành tố thụ động của nền văn minh… Chúng tự phê phán lẫn nhau trong thống nhất
1.1.1.2 Khái niệm bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa theo nghĩa ban đầu “bản của một sự vật” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của sự vật; còn “sắc của một sự vật” là
cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật đó Theo Từ điển Tiếng Việ,t bản sắc là
“màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [80, Tr 31]
Khái niệm bản sắc: bản sắc của một sự vật là những đặc điểm riêng biệt chỉ có ở sự vật ấy Theo cách hiểu mỗi sự vật có nhiều thuộc tính (tính chất, đặc điểm, dấu hiệu, nét…) trong đó có những thuộc tính chung và những thuộc tính riêng, những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Nói đến bản sắc của mỗi sự vật trước hết là nói đến thuộc tính riêng của sự vật ấy, song thuộc tính riêng ấy gắn bó chặt chẽ với thuộc tính chung Những tính cơ bản của một sự vật chính là bản sắc của sự vật ấy, nhằm phân biệt giống và khác nhau giữa sự vật ấy với sự vật khác
“Bản sắc” là một từ Hán -Việt, “bản” nguyên nghĩa là cái gốc, “sắc” nguyên nghĩa là màu sắc, sắc đẹp, “bản sắc” là màu gốc, sắc thái gốc, “bản
Trang 23sắc văn hoá” là sắc thái gốc của một nền văn hóa Tương đồng với cách dùng identité (thẻ căn cước) của tiếng Pháp và nhiều ngôn ngữ châu Âu trong cấu trúc identité culturelle - thẻ căn cước văn hoá để chỉ cái riêng độc đáo của mỗi nền văn hoá, dấu ấn được ghi lại từ cội nguồn văn hoá dân tộc Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh bản sắc của nó Bản sắc chính là văn hóa ở phương diện đa dạng sắc thái biểu đạt của cộng đồng khác nhau của cùng một bản thể người thống nhất về mặt tộc loại, thường về mặt tinh thần Bản sắc của một cộng đồng chính là sự khẳng định tính chủ thể của cá nhân hay cộng đồng đó Như vậy, bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một công đồng văn hóa khác là bản sắc Theo tác giả Phạm Thái Việt, khái niệm bản sắc có hai quan hệ cơ bản: thứ nhất, nó là dấu hiệu để phân biệt các cộng động với nhau (quan hệ bên ngoài) và thứ hai, nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng văn hóa phải có (quan hệ bên trong)
Nội hàm khái niệm bản sắc bao hàm một số biểu hiện cơ bản sau:
- Bản sắc luôn gắn với quá trình hình thành, vận động và phát triển của đối tượng
- Bản sắc được thể hiện thông qua sự đồng nhất, lặp lại ở hàng loạt đối tượng, sự vật, hiện tượng cùng hệ thống
- Bản sắc bao chứa trong nó những nét riêng biệt làm nên cái đặc trưng của bản thân hệ thống
- Bản sắc là một thuộc tính, dấu hiệu có xu hướng đồng nhất hóa, do vậy mà muốn tìm hiểu, tiếp cận bản sắc thì phải khái quát hóa
- Bản sắc được hiểu thiên về nét đặc trưng tốt, tích cực của đối tượng
Bản sắc văn hóa cả một cộng đồng sẽ thay đổi khi phương thức cả cộng đồng đó thay đổi căn bản Bản sắc văn hóa không phải là khép kín theo kiểu
Trang 24bảo tồn nguyên dạng cái ban đầu Sẽ có những cái được xem là bản sắc ở giai đoạn trước nhưng đến giai đoạn sau đã không còn vị trí trong chỉnh thể văn hóa, và ngược lại Bản sắc văn hóa chính là diện mạo văn hóa mang tính ổn định nhất định, đồng thời chính là căn tính của cộng đồng
Khi nói tới bản sắc văn hóa, đồng nghĩa với nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác, đó là cái cốt lõi của văn hóa dân tộc Bản sắc văn hóa có hai mặt giá trị: giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện bên ngoài có mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy tích cực sự phát triển của nhau Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa có nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, phương thức hoạt động kinh tế… của chính dân tộc đó Vì vậy cần hiểu bản sắc văn hóa là một khái niệm mở Bản sắc văn hóa là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện cái hồn dân tộc, biểu hiện rõ nét truyền thống Bản sắc văn hóa là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó [23, Tr 37] Bản sắc văn hoá không phải là cái ngưng đọng, bất biến
mà luôn phát triển một cách biện chứng theo xu hướng tích lũy, thu nạp những điều tốt đẹp, tiến bộ, sa thải cái xấu, cái lạc hậu không phù hợp với thời đại Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hoá Việt Nam đã vượt qua thế
bị động để tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình
- Phân biệt giữa khái niệm “bản sắc văn hóa” và “giá trị văn hóa
Trang 25lịch sử Hoặc cũng có thể nói, giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị nội sinh, thể hiện sự cao đẹp và vững bền tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc,
có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc đó trong suốt chiều dài lịch sử và được giữ gìn, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, có thể nói, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được chắt lọc, cô đúc nên từ tất cả di sản truyền thống trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc Toàn bộ giá trị truyền thống dân tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản sắc dân tộc Chính vì vậy, không thể đồng nhất cũng không thể tách rời giá trị văn hóa truyền thống với văn hóa dân tộc mà giá trị văn hóa truyền thống là một bộ
phận của văn hóa, hơn thế là bộ phận cốt lõi nhất làm nên sức mạnh nội sinh
của một nền văn hóa Trong khi bản sắc là cái trừu tượng, bền vững thì các
hình thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể Những nét đặc trưng của một nền văn hóa được biểu lộ thông qua các giá trị văn hóa truyền thống, đó là hệ thống những giá trị được đánh giá bởi cộng đồng Để những giá trị văn hóa truyền thống trở thành bản sắc thì bên cạnh tính đặc thù, nó còn phải có giá trị Tuy rằng không phải mọi giá trị đều là bản sắc, mà giá trị văn hóa truyền thống là một trong những yếu tố cấu thành bản sắc văn hóa, nhưng nhiều khi chúng cũng mang nghĩa tương đương nhau bởi cùng có điểm chung xác định Hiểu là bản sắc khi coi nó như là căn cước, đặc thù của mỗi cộng đồng, dùng
để phân biệt cộng đồng, dân tộc này với cộng đồng, dân tộc khác Hiểu là giá trị khi muốn nhấn mạnh tới tính ích dụng của văn hóa trước nhu cầu của xã hội Như vậy, giá trị văn hóa truyền thống là cái mang trong nó bản sắc, còn bản sắc làm nên cốt lõi, đặc thù của giá trị văn hóa truyền thống Bởi vậy, muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa không thể không tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống Hiện nay, nhất là trong thời kỳ xung đột văn hóa trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, ở mức độ nào đó, trong đời sống hiện thực và trong lý luận, người ta càng cần có nhận thức tránh lẫn lộn giữa cái truyền thống và cái bản sắc, cũng như giữa cái hiện đại và cái ngoại lai
Trang 261.1.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.2.1 Cơ sở hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam
Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam
Chúng ta biết rằng, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội của một dân tộc do đời sống vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của dân tộc đó quyết định Mặt khác, mỗi dân tộc đều có điều kiện tự nhiên, lịch sử,
xã hội riêng tạo nên nền văn hóa mang bản sắc riêng của từng dân tộc Cơ sở hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam là dựa trên một số điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, địa tự nhiên
Việt Nam nằm trong khu vực địa lý được thiên nhiên và khí hậu ưu đãi đặc biệt Đó là sự rộng lớn của đồng bằng, sự màu mỡ của phù sa, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm… tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trồng lúa nước từ những nền văn hóa sớm, cùng với sự đa dạng sinh thái Tuy nhiên, thiên nhiên nơi đây cũng ẩn chứa nhiều đe dọa sự tồn tại và thử thách sức sống của con người Việt Nam, như bão, thủy triều, khí hậu thất thường… Với điều kiện đó, con người buộc phải thích ứng, thông qua hàng loạt hành động cụ thể: đắp đập, làm mương, làm thủy lợi, lấn biển, đắp đê, phòng chống bão lụt… Tất yếu cần sự chung sức, chung lòng của các thành viên trong cộng đồng, từ đó nảy sinh những đức tính tốt, trở thành bản sắc riêng như tinh thần cố kết Song, ở khía cạnh tiêu cực, lối tư duy coi trọng kinh nghiệm, mê tín dị đoan cũng hình thành
Thứ hai, địa chính trị - kinh tế
Vị trí địa chính trị - kinh tế hết sức thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế -
xã hội và đặc biệt là giao lưu văn hóa Ngay từ những ngày đầu, dân tộc ta đã biết tiếp thu, chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung làm giàu thêm vốn
Trang 27văn hóa tự thân Với vị trí địa kinh tế được nhìn nhận như một trong những cái nôi đầu tiên của lịch sử văn minh loài người với tên gọi “văn minh lúa nước” Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước là đặc thù riêng của dân tộc Việt, là nền tảng của phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Trải qua các thời kỳ nguyên thủy, phong kiến, cho tới sự ra đời của nhà nước hiện đại, độc lập – đánh dấu bằng cuộc cách mạng tháng Tám 1945, với sự thay đổi chế độ
sở hữu tương ứng thì các phong tục, tập quán, lối tư duy, ý thức của người Việt – nội dung của bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành Bên cạnh những đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, cách thức tổ chức xã hội theo kiểu cộng đồng làng xã cũng được các học giả nhìn nhận như là một nhân tố cơ bản góp phần hình thành nên những giá trị đặc thù mang bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Điển hình như tính cộng đồng, tính tự trị được khẳng định rõ trong các quan hệ nội bộ của làng xã Cùng với mô hình tổ chức xã hội theo kiểu cộng đồng làng xã, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cũng là một trong những yếu tố góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam Đó là tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng Chúng được hun đúc từ chính lịch sử đau thương nhưng cũng rất đỗi hào hùng của dân tộc qua các thời đại Mối quan hệ biện chứng tồn tại giữa sự hình thành những bản sắc văn hóa cùng sự tác động trở lại của chúng, làm nên một cốt cách, linh hồn, bản sắc văn hóa Việt, con người Việt Đó hẳn là những giá trị quý giá mà chúng ta không thể đánh mất! Xét đến cùng, yếu tố chính để quyết định nội dung và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam chính là cuộc sinh tồn lịch sử của dân tộc Việt Nam
Thứ ba, địa văn hóa
Văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của tinh hoa nhân loại với nền văn
hóa tự thân nội tại của dân tộc Trên nền văn hóa bản địa có đặc sắc, có cá tính của mình, dân tộc Việt Nam biết đón nhận, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, bao gồm cả văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Với
Trang 28văn hóa phương Đông, chúng ta tiếp nhận 3 luồng tư tưởng chủ yếu từ Ấn
Độ, Trung Quốc: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo Nho giáo từng bước du nhập, khắc sâu tư tưởng “trung quân”, tinh thần “ái quốc”, “vị quốc”, đề cao chữ “nhân”, lòng thương người… Phật giáo khuyến khích con người ta sống nhân đức, bình đẳng, bao dung, nhấn mạnh tư tưởng “nhập thế” Đạo giáo mang lại cho con người ta tinh thần đoàn kết, hữu ái, lạc quan trong cuộc sống thông qua tín ngưỡng dân gian, sinh hoạt lễ hội và đời sống tâm linh Điều đó góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng Với văn hóa phương Tây, trong điều kiện mới, trước sự khủng hoảng của tư tưởng, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác – Lênin du nhập, nhanh chóng chiếm được vị trí nhất định trong lòng dân tộc Việt Nam Tất cả những cơ sở về địa văn hóa trên đây đều có tác động nhất định, dẫn tới sự hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như góp phần bổ sung, đa dạng hóa cho bản sắc văn hóa Việt Nam Sự đa dạng của môi trường sinh thái, của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, chính trị… là những điều kiện tạo nên sự đa dạng và đặc sắc của văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hóa làm nên đặc trưng của dân tộc, đảm bảo tính kế tục trong lịch sử phát triển, tạo bản lĩnh trong sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, định hướng điều tiết sự phát triển
1.1.2.2 Nội dung bản sắc văn hóa Việt Nam
Để nhìn ra nội dung cơ bản của bản sắc văn hoá dân tộc là một điều khó Bởi nó là một khái niệm có tính động, theo tác giả Lê Đạt thì “Văn hóa
là một tập hợp và cần chấp nhận một thực tế là trong tổng thể đó có những yếu tố mâu thuẫn” Việt Nam lại là một quốc gia đa dân tộc, hơn nữa, bản thân nền văn hóa của dân tộc trung tâm (người Kinh) cũng có nhiều phiên bản khác nhau Thế nên, tìm kiếm bản sắc văn hóa dân tộc không thể không tính đến mối quan hệ giữa bản sắc và những nền văn hóa có tính địa phương, vùng miền đó Trong quá trình tìm kiếm và xác định bản sắc văn hóa dân tộc cũng phải khẳng định nó là một thực tế không mang tính giá trị phiến diện Trong
Trang 29nó có cả yếu tố tích cực lẫn yếu tố tiêu cực và tích cực cũng như tiêu cực một phần cũng là sự biểu hiện của bản sắc trong từng điều kiện cụ thể Tích cực và tiêu cực cũng chỉ là những yếu tố có tính tương đối Có thể trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, các yếu tố tiểu nông và Khổng giáo có giá trị tích cực trong việc ổn định xã hội Nhưng hiện nay, trong xã hội đang chuyển đổi, hiện đại hóa và toàn cầu hóa, những yếu tố đó có thể trở thành tiêu cực, kìm hãm sự phát triển
Có ý kiến cho rằng, nội dung cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam gồm: Văn hóa sản xuất (ứng xử với môi trường tự nhiên, tinh thần cộng đồng, cần cù chịu khó, linh họat và sáng tạo), Văn hóa tổ chức xã hội (tinh thần yêu nước, tinh thần cộng đồng, đoàn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lối sống giản dị, vị tha, cư xử nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, hiếu học, trọng học vấn), Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội (ý chí bất khuất và tinh thần tự tôn và tự cường dân tộc cao, mềm dẽo hiếu hòa trong đối ngọai, tinh
tế trong ứng xử, dễ thích nghi và hội nhập), Văn hóa nhận thức (tư duy biện chứng theo triết lý âm dương, chú trọng mối quan hệ hơn bản thân các yếu tố, năng động linh họat và luôn hướng tới sự hài hòa, quân bình âm dương)
Nhưng nếu dựa trên duy vật luận: "Từ thực tiễn khách quan đến tư duy trừu tượng…từ tư duy trừu tượng vào thực tiễn khách quan Đó là con đường nhận thức chân lý, chân lý khách quan”, chúng ta có thể nhìn thấy được bản sắc văn hoá dân tộc Việt gồm: thứ nhất là, bản sắc đặc thù văn hoá dân tộc Việt hình thành do quá trình lịch sử; thứ hai là, bản sắc văn văn hoá dân tộc Việt do ảnh hưởng của sự giao thoa văn hoá thông qua lịch sử dân tộc Việt Ở phần thứ nhất, nét đặc thù đầu tiên của bản sắc văn hoá dân tộc Việt là tư duy giữ nước và mở cõi, thứ hai là thờ cúng tổ tiên, thứ ba là văn hoá ẩm thực Ở phần còn lại, những bản sắc văn hoá dân tộc khác do sự giao lưu văn hoá mà thành: tư tưởng triết lý có màu sắc Nho - Phật - Đạo…Trước đây, việc xác định bản sắc văn hóa dân tộc thường tập trung trong việc khẳng định một số
Trang 30nét thuộc về tính cách dân tộc mà trong những điều kiện lịch sử nhất định được thể hiện rõ nét: tình yêu nước, tinh thần dũng cảm chống ngoại xâm, tình yêu lao động
Bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự giao lưu và tiếp thu những tinh hoa
cả các nền văn hóa khác Kế thừa có chọn lọc những quan điểm trên, và trong phạm vi giới hạn luận văn cũng như năng lực, kiến thức của bản thân, luận văn chỉ xin đề cập một số nội dung cơ bản thuộc bản sắc văn hóa dân tộc, bao
gồm: Chủ nghĩa yêu nước; tinh thần nhân ái, tôn trọng tình nghĩa, tâm lý
trọng đạo đức; ý thức đoàn kết cộng đồng; truyền thống hiếu học; kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc:
Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam,
có chiều sâu trong tâm linh, trong tâm tưởng của dân tộc Tình cảm, ý chí ấy hết sức mãnh liệt, được kết tinh lại trở thành những làn sóng ngầm và được biểu hiện rõ nhất trong những thời kỳ dân tộc gặp nguy nan Dân tộc nào cũng
có tinh thần yêu nước nhưng mức độ sâu đậm là khác nhau do hoàn cảnh lịch
sử tạo ra Cái độc đáo chủ yếu trong hoàn cảnh lịch sử dân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục nhiều năm, nhiều thời đại với nhiều đế quốc hùng mạnh hơn ta gấp nhiều lần Chính vì vậy, tinh thần yêu nước như một “tôn giáo” chính thống của dân tộc Yêu nước là giá trị chủ đạo trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, “là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và
nhân sinh của người Việt Nam” - Trần Văn Giàu Lịch sử là một minh chứng
hùng hồn nhất cho những khẳng định trên Từ những thế kỷ đấu tranh chống ngoại bang xâm lược phương Bắc và những giai đoạn chống sự đô hộ, cai trị của chúng đến những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống
Trang 31Pháp, chống Mỹ, yêu nước đã thực sự trở thành một thứ vũ khí tinh thần Trong bối cảnh mới hiện nay, biểu hiện yêu nước ở tinh thần vượt nghèo, ở lòng tự hào dân tộc, tin tưởng Đảng lãnh đạo, tinh thần đoàn kết, đấu tranh chống lại những thói hư, tật xấu, cái bảo thủ, trì trệ trong tư duy, trong suy nghĩ và cách làm
Thứ hai, tinh thần nhân ái, tôn trọng tình nghĩa, trọng đạo đức
Nhân ái là tình cảm đạo đức không phải của riêng một dân tộc nào Tuy vậy, không phải mọi dân tộc đều có lòng nhân ái giống nhau Bởi lẽ, tình cảm
đó nảy sinh trên những cơ sở, điều kiện, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch
sử khác nhau
Lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam có nguồn gốc sâu xa từ trong xã hội công xã nông thôn thời kỳ nguyên thuỷ Chúng ta đều biết, dân tộc Việt Nam có lịch sử nhiều ngàn năm, có nhà nước Văn Lang tồn tại lâu dài hàng nghìn năm Trong thời gian dài như vậy, dân tộc Văn Lang đã hình thành nền văn hoá mang bản sắc riêng của mình; Trong đó, lòng nhân ái là một tình cảm đạo đức lớn, có nét đẹp riêng, như là một giá trị văn hoá rất cơ bản trong hệ giá trị của người Việt Nam
Nhân ái được hiểu theo nghĩa chung nhất là lòng yêu thương con người, sự khoan dung, độ lượng, chống lại cái ác, hướng tới cái thiện vì quyền
tự do và hạnh phúc cao cả của con người Nó được hình thành bởi các điều kiện lịch sử - xã hội và những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống và việc kế thừa những yếu tố tích cực trong các học thuyết Nho, Phật, Lão Tình yêu thương máu mủ ruột thịt trong gia đình được mở rộng ra xóm làng rồi cả nước, vị tha với cả kẻ thù…trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc Hiện nay, giá trị bản sắc này đang bị đe dọa, có biểu hiện suy giảm trong lối sống của không ít cá nhân Dễ thấy nhất có lẽ là lối sống ngoại lai ích kỷ, hẹp hòi, phi nhân tính đang có chiều hướng lấn át lối sống giàu nghĩa tình truyền thống
Trang 32Thứ ba, ý thức đoàn kết cộng đồng (cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc)
Đây là một giá trị tinh thần to lớn, một bản sắc quý báu của dân tộc ta
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý
chí, không mâu thuẫn, không đối nhau nhằm đạt tới mục đích chung nhất Ý thức đoàn kết cộng đồng là sự đồng thuận vì một mục tiêu chung của mọi người Từ thực tế lịch sử, trải qua các thế hệ nối tiếp, ý thức xây dựng và củng
cố mối đoàn kết gắn bó họ hàng, làng nước được tăng cường Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người Việt Nam đã biết hợp quần, hợp sức, tạo thành một
sự cố kết chính trị bền vững, giúp ích lớn trong chính cuộc sống-sự ra đời của
bộ lạc Văn Lang và nhà nước Âu Lạc Trong suốt chiều dài lịch sử sau đó, nét bản sắc văn hóa dân tộc này luôn giữ vững vị trí của một nội dung quan trọng,
có sự ảnh hưởng sâu sắc tới không chỉ văn hóa dân tộc, mà còn tới cả sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn, phát triển của Việt Nam
Thứ tư, truyền thống hiếu học
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và sớm đã hình thành
nét bản sắc văn hóa hiếu học Truyền thống hiếu học tập hợp những quan niệm, thái độ, tập quán, thói quen lâu đời về sự quan tâm, coi trọng việc học tập
Sự nỗ lực học tập cũng như các biểu hiện về mục tiêu học tập tạo động lực cho sự quan tâm và nỗ lực này của một cộng đồng, đã hình thành trong lịch sử, trở nên tương đối ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được thể hiện trong tâm lý, lối sống của cộng đồng Nội dung bản sắc này hình thành do điều kiện
tự nhiên-kinh tế-xã hội của Việt Nam và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc (đặc biệt là đạo Nho) Biểu hiện rõ nét thông qua việc quan tâm chăm lo, phát huy giá trị tích cực của bản sắc này trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, từ thành thị tới nông thôn, các tấm gương hiếu học được nêu
cao tuyên dương, hình thành các làng hiếu học… Hiếu học và tinh thần “tôn
sư trọng đạo” đã trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc ta Nó góp phần định
hướng giá trị trong quá trình phát triển xã hội Toàn cầu hóa gắn liền với kinh
Trang 33tế tri thức là một cuộc cạnh tranh gay gắt nên nó đặt ra yêu cầu cao về trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn, từ đó buộc người lao động phải tích cực học
tập, nâng cao hiểu biết và coi trọng học tập như một nhu cầu bức thiết
Thứ năm, kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc
Văn hóa dân gian Việt Nam bao gồm nhiều thể loại (ca dao, dân ca, truyện cười…) phản ánh sinh động cuộc sống lao động, đấu tranh cũng như tình cảm tâm hồn, lối sống của người dân Khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, một mặt, chúng ta không thể quy tất cả về văn hóa dân gian song cũng không thể phủ nhận vai trò hết sức to lớn của nó đối với việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc
Nếu cho rằng văn hóa dân gian chứa đựng và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, thì trong thực tiễn việc bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước nhất phải từ việc bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa dân gian Hiện nay, rất nhiều giá trị văn hóa được công nhận là di sản văn hóa thế giới - những nét bản sắc văn hóa tiêu biểu, đại diện cho nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, mang dấu ấn rất riêng của Việt Nam
Như vậy, trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam được cụ thể hóa bằng năm nội dung đã nêu trên Đây đều là những nội dung cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam, trong thời đại mới, nó chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa Yêu cầu tất yếu là chúng ta cần phải giữ gìn, phát huy chúng một cách triệt
để, tạo sức mạnh khiến bản sắc văn hóa Việt Nam tỏa sáng những giá trị bền vững trên phạm vi toàn cầu, góp phần không nhỏ tới sự phát triển chung của quốc gia, dân tộc
Tóm lại, nói về bản sắc văn hóa Việt Nam là nói đến cái độc đáo, điển hình trong cái bản sắc chung của nhân loại Những nét độc đáo đó không làm cho Việt Nam tách biệt với thế giới mà trong xu thế toàn cầu hóa nói chung, một số nội dung của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trình bày ở trên đứng
Trang 34trước những thời cơ và thách thức nhất định Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần vào
sự thắng lợi của sự nghiệp phát triển toàn diện đất nước đất nước trong bối cảnh mới
1.2 Toàn cầu hóa và tác động của nó đến bản sắc văn hóa Việt Nam
1.2.1 Khái niệm toàn cầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa
1.2.1.1 Khái niệm toàn cầu hóa
Trong thời đại chúng ta, khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, mở đầu thiên niên kỷ mới, một thiên niên kỷ chứa đựng nhiều thời cơ cũng như thách thức to lớn, thì toàn cầu hóa nói chung là một xu hướng tất yếu đòi hỏi các quốc gia, dân tộc cần quan tâm, cần có những bước chuẩn bị và sự phát triển
an toàn, hiệu quả, ổn định, bền vững Là một lĩnh vực không hoàn toàn mới nhưng lại rất thiết thực và gần gũi, toàn cầu hóa đã và đang đến với tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia, cho dù chúng ta có hay không nhận ra sự tồn tại đó Chính vì vậy, chúng ta cần phải nhận thức, nghiên cứu, phân tích sâu rõ về vấn đề toàn cầu hóa và hệ thống bản chất của nó trên cơ sở hệ thức
tư tưởng của các nhà khoa học, những chuyên gia trong và ngoài nước, nhằm mang lại sự ứng dụng hiệu quả các quan điểm đó vào thực tiễn
Ngay cả trong học thuật cũng còn dùng nhiều khái niệm để cùng chỉ về quá trình toàn cầu hóa Chẳng hạn trong nhiều tài liệu dùng từ thế giới hóa, quốc tế hóa hay hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thậm chí còn có người còn đánh đồng toàn cầu hóa với các vấn đề có tính toàn cầu Điều này là do thực
tế vận động của toàn cầu hoá cùng với những hệ quả của nó đã đưa lại những cách lý giải không giống nhau về xu thế này Trong vài thập niên trở lại đây, toàn cầu hóa đã hiện diện khắp mọi nơi trên toàn thế giới Toàn cầu hóa đã trở thành một trong những thuật ngữ được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến
từ trong các Văn kiện quốc gia, các hiệp ước quốc tế đến các công trình nghiên cứu, các hội thảo trong nước và quốc tế cũng như sách tham khảo,
Trang 35sách giáo khoa Toàn cầu hóa nhanh chóng trở thành mối quan tâm của giới chính khách, trí thức cũng như của đông đảo quần chúng nhân dân
Với tính cách là một xu thế lịch sử, toàn cầu hóa có quá trình hình thành, vận động và phát triển qua các nấc thang mang tính tiền đề là quốc tế hóa, khu vữ hóa Có thể phân kỳ lịch sử toàn cầu hóa thành 3 giai đoạn lớn: Giai đoạn thứ nhất diễn ra từ cuối thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ
I (1914-1918) Đây là giai đoạn hình thành và phát triển mạnh mẽ của xu thế quốc tế hóa (internationalisation) với đặc điểm nổi bật là quá trình quốc tế hóa
tư bản chủ nghĩa về vốn, kỹ thuật, nhân lực, thị trường… dựa trên cơ sở các mối liên hệ theo chiều dọc là chính, tức là mối quan hệ bất bình đẳng giữa các nước tư bản đế quốc với các nước thuộc địa và phụ thuộc Giai đoạn thứ hai diễn ra từ sau Chiến tranh thế giới lần I đến giữa thập niên 70 của thế kỷ XX Đây là giai đoạn xu thế quốc tế hóa tiếp tục phát triển mạnh mẽ và xu thế khu vực hóa hóa (regionalisaion) xuất hiện Thời kỳ này, ra đời các thể chế kinh tế toàn cầu (IMF, WB, GATT,…), các công ty xuyên quốc gia và sự bùng nổ thương mại, đầu tư, tài chính quốc tế và hàng loạt tổ chức liên kết khu vực như: Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV, EC, ASEAN,…) Cả hai quá trình này đều vận động với những thăng trầm phức tạp và đều chứa đựng sắc thái co cụm, biệt lập, đối lập lẫn nhau giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Giai đoạn ba diễn ra từ giữa thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, với những tiền đề vật chất, thể chế,…do quá trình quốc tế hóa, khu vực hóa tạo ra, đồng thời dưới tác động của sự phát triển mới về chất của sự phát triển mới về khoa học, công nghệ, chính trị… đã xuất hiện xu thế toàn cầu hóa (globalisaion) Một nền sản xuất dựa trên sự phân công lao động quốc tế theo chiều ngang, một thị trường thế giới liên hoàn giữa các quốc gia, một luồng lưu chuyển nhanh chóng và khổng lồ về hàng hóa, đầu tư, tài chính… trên phạm vi toàn cầu, một mạng lưới dày đặc các công ty xuyên quốc gia, một đời sống xã hội với nhiều nét chung… là biểu hiện cụ thể của toàn cầu hóa
Trang 36Đó là một thế giới nhất thể hóa trên cơ sở 5 mạng lưới liên kết bao gồm: làng thông tin toàn cầu (global information village), chợ văn hóa toàn cầu (global cultural bazaar), đại siêu thị toàn cầu (global shopping mall), trụ sở lao động toàn cầu (global work place) và mạng lưới tài chính toàn cầu (global financial network)
Như đã biết, thuật ngữ toàn cầu hóa lần đầu tiên xuất hiện trong Từ điển của Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, tức là từ khi làn sóng “toàn cầu hóa mới” được xuất hiện gắn liền với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nó bao trùm hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại Ba nhân tố: công nghệ - kỹ thuật mới, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi một nước đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển của mọi nền kinh tế đều
đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia – dân tộc Do đó, toàn cầu hóa ngày nay được hiểu, về thực chất, trước hết là một hiện tượng kinh tế
Theo từ điển Wikipedia, toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc
độ văn hóa, kinh tế… trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ tác động của thương mại nói chung và
tự do hóa thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng Cũng ở góc độ kinh
tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã định nghĩa toàn cầu hóa như là “sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng của tổng thể các nước trên thế giới,
do việc gia tăng khối lượng và sự đa dạng trao đổi xuyên biên giới các sản
Trang 37phẩm và dịch vụ cũng như do luồng vốn quốc tế đồng thời với việc phổ biến công nghệ ngày càng rộng khắp”[94, Tr 24].
Theo quan niệm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD):
“Toàn cầu hóa là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ tối
ưu các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu…Là một quá trình ly tâm và là một lực lượng kinh tế vĩ mô, toàn cầu hóa rút ngắn khoảng cách kinh tế không những giữa các nước và khu vực mà còn giữa các tác nhân kinh tế với nhau Toàn cầu hóa cũng có khuynh hướng làm mất sự ổn định của các tổ chức độc quyền nhóm đã được thiết lập bằng cách làm thay đổi các “luật chơi” của cuộc đấu tranh giữa các doanh nghiệp để chiếm lợi thế cạnh tranh trên các thị trường quốc gia cũng như thế giới”[94, Tr 23]
Theo các quan niệm trên toàn cầu hóa bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và cho đến nay nội dung chủ yếu của nó vẫn là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa kinh tế là sự hội nhập thị trường, vốn, sức lao động, dịch vụ, công nghệ
và các quy định pháp chế kinh tế giữa các nước trên thế giới trên cơ sở hợp tác và phân công lao động quốc tế sâu rộng Sản phẩm tạo ra từ quá trình này
là một nền kinh tế toàn cầu hóa với một cơ cấu kinh tế và quan hệ kinh tế phi lãnh thổ hóa, tồn tại ở trên bao trùm lên các nền kinh tế quốc gia
Tuy nhiên, theo Anthony Giddens (1938), nhà xã hội học vĩ đại nhất nước Anh cho rằng: Toàn cầu hóa là quá trình phân rã lãnh thổ nhà nước dân tộc để tạo ra một không gian siêu lãnh thổ Nói cách khác, nó đang cơ cấu lại không gian xã hội vốn trước đó vẫn dựa vào địa lý, khiến cho những sự kiện mang tính địa phương có ảnh hưởng đến toàn thế giới, và ngược lại; nó làm nảy sinh những dòng chảy và những mạng lưới hoạt động xuyên lục địa, liên khu vực [79, Tr 24]
Báo cáo về phát triển con người năm 1999 của UNDP cho rằng: “Toàn cầu hóa không mới, nhưng thời đại hiện nay của toàn cầu hóa có tính chất riêng biệt Sự hẹp lại của không gian và sự biến mất của các đường biên giới
Trang 38đang gắn kết cuộc sống của mọi người với nhau một cách sâu sắc, chặt chẽ và trực tiếp hơn bao giờ hết” [94, Tr 32].
Ở Việt Nam, thuật ngữ toàn cầu hoá chỉ được đề cập sau thời kì thực hiện
chính sách đổi mới năm 1986 Về cơ bản, tán thành với ý kiến “Toàn cầu hóa
là quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế giữa các nước, thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế thế giới” và “Toàn cầu hóa, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Toàn cầu hóa là giai đoạn mới, là giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước đây và sẽ tiếp tục diễn ra trong thế kỷ XXI” [12, Tr 37]
Như vậy, quá trình toàn cầu hóa diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là trung tâm, vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác (văn hóa, xã hội, chính trị…) Sự tham gia vào quá trình toàn cầu hóa được gọi là hội nhập theo nhiều cấp độ và nội dung khác nhau như hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế, hội nhập văn hóa…
1.2.1.2 Bản chất của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa ngày càng được khẳng định là một quá trình tất yếu của sự phát triển, là một xu thế lớn của quan hệ quốc tế hiện đại
Trước hết, toàn cầu hóa có bản chất kép Một mặt, nó là một xu thế khách quan như kết quả của sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và yếu tố vật chất khác Mặt khác, nó cũng là một quá trình kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa bị một số thế lực tư bản quốc tế chi phối Sự đan xen giữa cái khách quan và cái chủ quan đã làm cho toàn cầu hóa, về bản chất, trở thành quá trình đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực đối với từng quốc
Trang 39gia, cũng như toàn thể nhân loại Bản chất khách quan của xu thế toàn cầu hóa được quy định bởi 4 yếu tố chủ yếu là: Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất trong thời đại của cách mạng khoa học – công nghệ; sự gia tăng phân công lao động quốc tế; sự phát triển sâu rộng của kinh tế thị trường trên phạm
vi toàn thế giới và sự hiện diện nóng bỏng của những vấn đề toàn cầu Nói cách khác, toàn cầu hóa là một xu thế lịch sử xuất hiện trong những điều kiện của một thời đại cụ thể và được quyết định bởi các nhân tố vật chất khách quan của chính thời đại ấy Bên cạnh bản chất khách quan, toàn cầu hóa còn
có bản chất là hệ quả của các nhân tố chủ quan Với ưu thế về vốn, công nghệ thông tin, thị trường… các tập đoàn tư bản độc quyền, các nước tư bản phát triển, các trung tâm kinh tế, tài chính – tiền tệ và thương mại quốc tế… đã chủ động tác động, chi phối và áp đặt xu thế toàn cầu hóa vào khuôn khổ của quá trình tự do hóa tư bản chủ nghĩa Các nhân tố chủ quan chủ yếu đang tác động một cách phức tạp đến sự vận động của xu thế toàn cầu hóa hiện nay là: hệ thống các công ty xuyên quốc gia; các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại… quốc tế và chiến lược, chính sách của các nước lớn Bản chất kép và sự tác động thuận - nghịch giữa các yếu tố khách quan đan xen với các nhân tố chủ quan nêu trên làm xuất hiện diện mạo đa dạng, phức tạp của xu thế toàn cầu hóa Với tính cách một tiến trình lịch sử khách quan, toàn cầu hóa có nhu cầu
tự thân về dân chủ, công bằng, bình đẳng Nhưng do sự tác động, chi phối, lũng đoạn của các thế lực tư bản chủ nghĩa, toàn cầu hóa bị vận động một cách méo mó, biến dạng thành quá trình phương Tây hóa, tư bản hóa, Mỹ hóa toàn thế giới Trên thực tế, toàn cầu hóa không chỉ là một quá trình kinh tế -
kỹ thuật, mà chủ yếu là một quá trình kinh tế - xã hội chứa đựng những bất công và nghịch lý lớn Bởi vậy, toàn cầu hóa chính là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay gắt vì những mục tiêu vừa cấp bách trước mắt, vừa
cơ bản lâu dài
Trang 40Bản chất của toàn cầu hoá hiện nay còn thể hiện rõ hơn qua cơ chế vận hành và lôgíc phát triển chung của phương thức sản xuất tư bản Khác với các
hệ thống kinh tế, sản xuất nô lệ và phong kiến, để thực hiện việc bóc lột giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã thiết lập thị trường trao đổi hàng hóa và cơ chế cạnh tranh tự do Trong điều kiện ấy, mỗi đơn vị kinh tế, sản xuất buộc phải không ngừng tự phát triển để khỏi lâm vào tình trạng phá sản và bị hủy diệt bởi “bàn tay vô hình” của thị trường Nhằm tăng cường lực lượng sản xuất, giai cấp tư sản thực hiện hai tuyến giải pháp chính Thứ nhất, phát triển theo
“chiều sâu”, tức là nâng cao trình độ, chất lượng và hiệu quả của tư liệu sản xuất bằng cách đẩy mạnh việc sáng tạo và vận dụng các tri thức khoa học mới Thứ hai, phát triển theo “bề rộng”, tức là gia tãng mức độ, khối lượng và quy mô của lao động, của tư liệu sản xuất và sản phẩm bằng cách mở mang thị trường cung ứng nhân công; nguyên, nhiên, vật liệu và tiêu thụ sản phẩm; đồng thời, thiết lập những “trật tự” quốc tế nhất định (với các thiết chế, tổ chức tương ứng) về chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa, kinh tế thương mại, tài chính, tiền tệ,
Như thế, với tính cách là một xu thế lịch sử, toàn cầu hoá được quyết định bởi sự phát triển mạnh mẽ, mang tính bước ngoặt của lực lượng sản xuất trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ Toàn cầu hoá vừa mang bản chất khách quan, vừa chứa đựng tính chất tự do tư bản; vừa tích cực vừa tiêu cực; vừa đem lại thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đối với các quốc gia dân tộc, nhất là các nước kém phát triển và đang phát triển Toàn cầu hoá là một quá trình vừa hợp tác rộng mở, vừa đấu tranh gay gắt, phức tạp giữa các quốc gia, tập đoàn, cộng đồng, cá nhân với nhau Để bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình tham gia toàn cầu hoá, các nước trên thế giới đã và đang triển