Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người Thụ tinh trong ống nghiệm In Vitro Fertilization - IVF là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng b
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
- -
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
SH03006 - CÔNG NGHỆ TẾ BÀO ĐỘNG VẬT
ĐỀ TÀI:
Họ tên sinh viên : Đinh Thị Hiên
Lớp Khoa
: K62CNSHC : Công nghệ sinh học
HÀ NỘI – 04/03/2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Giới thiệu công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 1
1.1 Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 1
1.2 Ý nghĩa của công nghệ thụ tinh ống nghiệm ở người 6
1.3 Những trường hợp được y khoa chỉ định sử dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 7
1.4 Phân biệt thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm ở người 8
2 Yêu cầu chung về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thụ tinh trong ống nghiệm ở người 9
2.1 Điều kiện về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện IVF ở người 9
2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất 9
2.3 Điều kiện về trang thiết bị y tế 10
3 Các kỹ thuật chính thụ tinh trong ống nghiệm ở người 10
3.1 Kỹ thuật IVF cổ điển 10
3.2 Kỹ thuật vi thụ tinh (Microinsemination) 12
3.3 Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm 15
3.3 Hỗ trợ phôi thoát màng 17
3.4 Tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm ở người 17
3.5 Những vấn đề hạn chế thường gặp khi tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm ở người 18
4 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người trên thế giới và tại Việt Nam 18
4.1 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người trên thế giới 18
4.2 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người tại Đông Nam Á và Việt Nam 20
4.3 Chi phí thực hiện của các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam 21
5 Kết luận 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 31
1 Giới thiệu công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người
1.1 Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người
Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) là một phương pháp
thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể (trong hộp lồng, Petri, ống nghiệm tạo thành phôi) Các điều kiện cho quá trình IVF giống như trong cơ thể người mẹ Sau một thời gian nuôi cấy bên ngoài
(thường 2-5 ngày), phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người mẹ Đây
là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do nào đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên
Các nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm đã có lịch sử hơn một thế kỷ và đạt được những thành tựu to lớn, mang lại hạnh phúc cho hàng triệu gia đình trên khắp thế giới
Lịch sử của Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và chuyển phôi (Embryo
Transfer - ET) bắt đầu từ những năm 1890 khi Walter Heape, giáo sư và bác sĩ tại Đại học Cambridge, Anh, người đã tiến hành nghiên cứu về sinh sản ở một
số loài động vật, đã báo cáo trường hợp cấy phôi thai đầu tiên được biết đến ở thỏ, rất lâu trước khi các ứng dụng vào khả năng sinh sản của con người thậm chí còn được đề xuất Nghiên cứu này mở ra một hướng đi mới trong việc ứng dụng nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm ở người trong thế kỷ XX tới hiện nay
Năm 1934 Pincus và Enzmann, thuộc Phòng thí nghiệm Sinh lý học tổng hợp tại Đại học Harvard, công bố một báo cáo trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ về việc nâng cao khả năng trứng động vật có vú có thể trải qua
sự phát triển bình thường trong ống nghiệm Mười bốn năm sau, vào năm
1948, Miriam Menken và John Rock lấy hơn 800 tế bào trứng từ những phụ nữ
ở các điều kiện khác nhau, lọc lấy 138 tế bào trứng cho tiếp xúc với tinh trùng trong ống nghiệm Họ đã công bố kinh nghiệm của mình trên Tạp chí Sản khoa
và Phụ khoa Mỹ
Tuy nhiên, phải đến năm 1959, bằng chứng không thể chối cãi của thụ tinh ống nghiệm mới thu được bởi MC Chang (Chang MC, Thụ tinh buồng trứng thỏ trong ống nghiệm Nature, 1959 8: 184 (suul 7) 466), người đầu tiên đạt được thành công trong sinh sản ở động vật có vú (thỏ) bằng cách thụ tinh ống
nghiệm Những quả trứng mới rụng đã được thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách ủ với tinh trùng trong bình Carrel nhỏ trong 4 giờ, mở ra phương thức để
hỗ trợ sinh sản trên người
Trang 4Năm 1976, Y Menezo đã phát triển môi trường nuôi cấy B2 đầu tiên trên thế giới, được gọi là “môi trường Pháp” Môi trường cụ thể này phản ánh môi trường nang trứng, ống dẫn trứng và tử cung của cừu, thỏ và người Cũng trong năm này, Steptoe và Edwards đã xuất bản một báo cáo về trường hợp mang thai ngoài tử cung sau khi chuyển phôi người ở giai đoạn phôi dâu muộn/phôi nang sớm (Steptoe PC, Edwards RG Việc cấy lại phôi thai người với quá trình mang thai trong ống dẫn trứng sau đó Lancet, 1976; 24: 1: 880-2)
Năm 1978, đứa trẻ đầu tiên (Louise Brown) ra đời ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7, năm 1978 Thành công này là kết quả của sự hợp tác giữa Patrick Steptoe và Robert Edwards
Hình 1.1 Hình ảnh Louise Brown là em bé đầu tiên chào đời bằng phương
pháp thụ tinh trong ống nghiệm (Nguồn: Internet.)
Trang 53
Năm 1979, Pez và đồng sự bắt đầu theo dõi sự phát triển của nang trên siêu
âm Họ đã cho thấy một mối quan hệ đáng kể giữa các quan sát bằng siêu âm
và nội soi Việc sử dụng siêu âm được công bố đầu tiên để xác định các nang đang phát triển
Năm 1980 đánh dấu sử ra đời của môi trường nuôi cấy
Năm 1981, nhóm Clamart ở Pháp đã phát triển một xét nghiệm LH có thể phát hiện sự gia tăng LH ban đầu trong huyết tương cho phép dự đoán chính xác thời gian lý tưởng cho việc thu hồi các tế bào trứng
Năm 1983, cột mốc đánh dấu ca cho – nhận trứng đầu tiên Nhóm Monash đạt được thành công trong thụ tinh ống nghiệm ở một phụ nữ không có buồng trứng bằng cách sử dụng trứng của người cho trứng, tạo ra các chu kỳ kinh nguyệt nhân tạo và một công thức kích thích tố đặc biệt trong 10 tuần đầu của thai kỳ Nhóm này cũng báo cáo về sự ra đời em bé đầu tiên từ phôi thai đông lạnh Trong năm đó, Gleicher và nhóm của ông đã báo cáo việc thu trứng qua đường âm đạo lần đầu tiên, sử dụng siêu âm bụng
Năm 1984, Chính phủ Victoria đã thiết lập một cuộc đánh giá nghiên cứu và thực hành IVF, dẫn đến việc công bố Đạo luật Vô sinh (Thủ tục Y tế) năm
1984, đạo luật đầu tiên điều chỉnh IVF và nghiên cứu phôi thai người liên quan
Em bé chuyển phôi mang thai hộ đầu tiên được sinh ra ở California
Cặp sinh tư IVF đầu tiên trên thế giới được sinh ra vào ngày 6 tháng 1 năm
1984, tại Melbourne
Năm 1985, mang thai em bé đầu tiên bằng cách thụ tinh ống nghiệm sử dụng tinh trùng hút từ mào tinh Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng siêu âm bụng cho việc cấy phôi
Năm 1986 IVF Monash báo cáo sự mang thai và ra đời của em bé đầu tiên từ các hoạt động phục hồi tinh trùng thực hiện trên một bệnh nhân tắc ống dẫn tinh
Năm 1987, thụ tinh tế bào trứng của con người bằng vi tiêm một tinh trùng duy nhất dưới màng trong suốt
Năm 1989, báo cáo đầu tiên về việc sử dụng kỹ thuật laser trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, áp dụng với giao tử hoặc phôi Gonen và các đồng nghiệp ở
Toronto đi tiên phong trong việc sử dụng siêu âm chất lượng nội mạc tử cung liên quan đến mang thai thụ tinh ống nghiệm
Trang 64
Năm 1990, Gonen, Jacobson và Casper đi tiên phong trong việc sử dụng thuốc tránh thai để đồng bộ hóa nang và lập kế hoạch chu kỳ thụ tinh ống nghiệm Năm 1991, trưởng thành trong ống nghiệm (IVM) trong một chu kỳ không kích thích dẫn đến mang thai với bệnh nhân cho – nhận trứng
Năm 1992, báo cáo thai kỳ đầu tiên sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương (ICSI) của nhóm tại Brussel
Năm 1993, báo cáo đầu tiên về việc sử dụng tese (chiết xuất tinh trùng từ tinh hoàn) và ICSI
Năm 1995, ca sinh nở đầu tiên sau khi phát triển phôi nang từ trứng IVM được ICSI, cộng với hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching)
Năm 1996, nhóm Valencia báo cáo về ca mang thai đầu tiên sử dụng tinh trùng của tinh hoàn trữ lạnh sau IVF-ICSI
Năm 1997, em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng đông lạnh sau khi ICSI
Năm 1998, lần đầu tiên thiết lập mang thai sử dụng FSH tái tổ hợp và GnRH đối kháng Báo cáo đầu tiên về ca sinh nở từ trứng GV đông lạnh và trứng cho Năm 2000, em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng và tinh trùng đông lạnh
Năm 2001, sự ra đời của một trẻ sơ sinh từ phôi trữ lạnh từ tế bào trứng IVM của bệnh nhân không kích thích trứng, PCOS
Năm 2002, em bé đầu tiên ra đời, áp dụng kỹ thuật sinh thiết phôi nang và phân tích PGD (chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi - một kỹ thuật có khả năng phát hiện các bất thường về nhiễm sắc thể và gen)
Năm 2004, báo cáo đầu tiên về bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân ung thư sử dụng IVM và tế bào trứng đông lạnh nhanh
Năm 2007, sự ra đời cặp song sinh đầu tiên từ tế bào trứng đông lạnh của bệnh nhân ung thư
Năm 2008, người mẹ IVF già nhất trên thế giới Rajo Devi Lohan đã 69 tuổi vào thời điểm cô đã sinh ra một bé gái, Naveen, sau khi thụ tinh trong ống nghiệm ở Ấn Độ
Năm 2009, giáo sư Laufer tại Trung tâm Y tế Hadassah ở Jerusalem đã thành công khi giúp một phụ nữ có gen BRCA2 bị lỗi mang thai sau khi phôi thụ tinh trong ống nghiệm được thử nghiệm và cấy ghép
Năm 2010, Robert G Edwards, bác sĩ phát triển phương pháp này, đã được trao Giải Nobel Sinh lý và Y khoa
Trang 7Năm 1995: Thực hiện thành công trữ lạnh tinh trùng người Thực hiện thành công IUI với tinh trùng lọc rửa
Năm 1997: Ngày 19/8/1997, hơn 30 phụ nữ vô sinh đầu tiên tại Việt Nam đã được chuyển phôi làm thụ tinh trong ống nghiệm
Năm 1998: Ngày 30/4/1998, tại Bệnh viện Từ Dũ, ba đứa trẻ đầu tiên được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm
Hình 1.2: Bé gái đầu tiên chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống
nghiệm năm 1998 (Nguồn ảnh của BV Từ Dũ)
Trang 86
Hình 1.3: Hình ảnh Phạm Tường Lan Thy, Mai Quốc Bảo, Lưu Tuyết Trân (từ trái qua) ba bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm kỷ niệm 1
năm ngày sinh 30-4 – 1998 Nguồn: Internet
Năm 1999: Em bé ICSI đầu tiên ra đời
Năm 2000: Em bé TTTON-cho trứng đầu tiên ra đời
Năm 2001: Em bé mang thai hộ đầu tiên ra đời (hiện nay cấm thực hiện)
Trường hợp sinh đầu tiên ra đời sau kỹ thuật giảm thai
Năm 2002: Em bé đầu tiên từ ICSI với tinh trùng hút từ mào tinh
(MESA/PESA)
Năm 2003: Em bé đầu tiên ra đời từ phôi người đông lạnh ra đời
Năm 2004: Em bé đầu tiên từ ICSI với tinh trùng lấy từ tinh hoàn
(TESA/TESE)Em bé đầu tiên từ cả trứng và tinh trùng và người đông lạnh Năm 2018: Có khoảng 40.000 đứa trẻ được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam
1.2 Ý nghĩa của công nghệ thụ tinh ống nghiệm ở người
Sự ra đời của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người đã đánh dấu một bước đột phá đặc biệt trong ngành công nghệ sinh học nói chung và ngành công nghệ y sinh nói riêng Kỹ thuật y khoa phức tạp này được sử dụng để điều trị các trường hợp vô sinh, hiếm muộn hoặc các vấn đề di truyền liên quan đến giới tính Hiện nay, đây là phương pháp y khoa mang lại hiệu quả cao nhất của công nghệ hỗ trợ sinh sản Đây được xem là biện pháp cứu cánh cuối cùng
Trang 97
dành cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn sau khi các phương pháp hỗ trợ sinh sản khác như dùng thuốc hay thụ tinh nhân tạo không thành công IVF ra đời mang đến niềm hy vọng làm cha mẹ cho các cặp đôi vô sinh không
rõ nguyên nhân hoặc gặp những vấn đề nghiêm trọng ở cơ quan sinh sản trên toàn thế giới Bên cạnh ý nghĩa khoa học, IVF mang lại tính nhân văn rất lớn khi đem lại hạnh phúc cho hàng triệu gia đình trên khắp thế giới
1.3 Những trường hợp được y khoa chỉ định sử dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người
Không phải trường hợp hiếm muộn nào cũng có thể thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm Phương pháp này chỉ khả thi đối với các cặp vợ chồng có nguyên nhân gây vô sinh không làm mất đi hoàn toàn khả năng thụ tinh của trứng và tinh trùng
Những nguyên nhân đó có thể bao gồm:
• Ống dẫn trứng bị tổn thương hoặc bị tắc nghẽn: Tình trạng tắc ống
dẫn trứng hoặc vòi trứng bị tổn thương có thể khiến trứng khó thụ tinh hoặc phôi thai không thể di chuyển về tử cung và làm tổ ở tử cung
• Rối loạn phóng noãn (rối loạn rụng trứng): Việc rụng trứng xảy ra
không thường xuyên khiến quá trình thụ thai khó có thể diễn ra
• Suy chức năng buồng trứng sớm: Là tình trạng mất chức năng buồng
trứng diễn ra trước tuổi 40 Suy buồng trứng sớm khiến buồng trứng không tạo ra lượng estrogen cần thiết hoặc trứng không rụng thường xuyên
• Lạc nội mạc tử cung: Lạc nội mạc tử cung xảy ra khi nội mạc tử cung
nằm bên ngoài tử cung, gây ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng,
tử cung, ống dẫn trứng và khả năng thụ thai
• U xơ tử cung: Xơ là những khối u lành tính trong thành tử cung và
thường gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30 – 40, khiến việc thụ thai tự nhiên trở nên khó khăn Những phụ nữ bị u xơ tử cung có thể mang thai bằng cách thụ tinh trong ống nghiệm
• Đã thắt ống dẫn trứng: Nếu bạn đã thực hiện thủ thuật triệt sản này,
song lại muốn mang thai và sinh con thì IVF là phương pháp hỗ trợ sinh sản hữu ích
• Lượng tinh trùng thấp hoặc tinh trùng yếu: Nồng độ tinh trùng của
người chồng dưới mức trung bình, tinh trùng chuyển động yếu hoặc có
Trang 108
bất thường về kích thước và hình dạng… sẽ khó có thể thụ tinh cho trứng Do đó, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện thụ tinh nhân tạo hoặc IVF
• Vô sinh nam: Tinh trùng ít, yếu, xuất tinh ngược hoặc không xuất tinh
Không tinh trùng trong tinh dịch (lấy tinh trùng bằng phẫu thuật mào tinh, tinh hoàn) Đứt niệu đạo sau do di chứng vỡ xương chậu
• Vô sinh không biết nguyên nhân hoặc bơm tinh trùng vào buồng tử
cung nhiều lần nhưng thất bại
• Rối loạn di truyền liên quan đến giới tính: Nếu vợ hoặc chồng được
chẩn đoán là mắc một rối loạn di truyền có nguy cơ truyền sang con, bác
sĩ có thể chỉ định làm IVF Mục đích của IVF trong trường hợp này là nhằm sàng lọc những phôi thai khỏe mạnh để cấy vào tử cung người vợ
• Bảo vệ khả năng sinh sản cho bệnh nhân ung thư hoặc mắc các bệnh liên quan nghiêm trọng đến sức khỏe: Nếu người phụ nữ sắp tiến hành
xạ trị hay hóa trị để điều trị bệnh ung thư hoặc bị bệnh tim thì bác sĩ có thể đề nghị làm IVF nhằm bảo vệ khả năng sinh sản Trong trường hợp này, trứng sẽ được lấy và trữ đông, hoặc trứng cũng có thể thụ tinh và phôi được làm đông lạnh để sử dụng sau
• Ngoài ra, với những phụ nữ mắc các bệnh nghiêm trọng không thể mang thai hoặc có bất thường ở tử cung khiến khó thụ thai cũng có thể chọn thụ tinh ống nghiệm và nhờ người mang thai hộ Trong trường hợp này, trứng của người phụ nữ được thụ tinh với tinh trùng, phôi thai sẽ được cấy vào tử cung của người mang thai hộ
1.4 Phân biệt thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm ở người
Thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm đều là những phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng trong điều trị vô sinh hiếm muộn, tuy nhiên, vẫn có nhiều người nhầm lẫn giữa hai phương pháp này hoặc cho rằng hai phương
pháp này là một Hai phương pháp này khác nhau về phương pháp thực hiện
Là phương pháp bơm tinh trùng
vào buồng tử cung
Quá trình thụ tinh của trứng và tinh trùng được xảy ra hoàn toàn bên ngoài cơ thể con người, chỉ sau khi đã tạo thành hợp tử (phôi thai) có từ 4 – 8 tế bào mới được đưa vào buồng tử cung của nữ giới
Trang 119
Tinh trùng được lọc rửa, lựa chọn
ra những tinh trùng khỏe mạnh
nhất để bơm trực tiếp vào buồng tử
cung của nữ giới
Lựa chọn những tinh trùng khỏe mạnh nhất, hút noãn từ buồng trứng của nữ giới để nuôi trong ống nghiệm với những điều kiện thích hợp nhất để quá trình thụ tinh xảy ra
Quá trình thụ tinh tạo thành phôi
thai diễn ra trong cơ thể nữ giới,
phôi được tạo thành sẽ di chuyển
xuống buồng tử cung để làm tổ
Quá trình thụ tinh xảy ra hoàn toàn trong ống nghiệm – bên ngoài cơ thể con người, sau khi tạo thành phôi mới cấy vào buồng tử cung
Điều kiện để có thể áp dụng
phương pháp này đó là tinh trùng
của nam giới vẫn trong giới hạn có
thể thực hiện, nữ giới có buồng tử
cung, buồng trứng và ít nhất một
vòi trứng hoạt động bình thường
Phương pháp này được áp dụng cho mọi đối tượng vô sinh khi tinh trùng đáp ứng yêu cầu trong giới hạn cho phép, nữ giới có buồng trứng và tử cung hoạt động bình thường Những trường hợp vô sinh do tắc nghẽn vòi trứng vẫn có thể áp dụng
2 Yêu cầu chung về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thụ tinh trong ống nghiệm ở người
2.1 Điều kiện về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện IVF ở người
Cơ sở thực hiện kỹ thuật này phải thuộc một trong các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh sau đây:
- Cơ sở phụ sản, sản – nhi của Nhà nước từ tuyến tỉnh trở lên;
- Bệnh viện đa khoa tư nhân có khoa sản, khoa sản – nhi;
- Bệnh viện chuyên khoa phụ sản, chuyên khoa sản – nhi tư nhân;
- Bệnh viện chuyên khoa nam học và hiếm muộn
2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất như sau:
- Có phòng hồi sức cấp cứu;
- Có xét nghiệm nội tiết sinh sản;
- Có đơn nguyên riêng cho việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm gồm các phòng: Chọc hút noãn; lấy tinh trùng; lab nuôi cấy; xét nghiệm và lọc rửa tinh trùng đáp ứng các tiêu chuẩn theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế
giới
Trang 1210
2.3 Điều kiện về trang thiết bị y tế
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có tối thiểu các trang thiết bị y tế sau:
- 01 máy siêu âm có đầu dò âm đạo;
- 01 kính hiển vi đảo ngược;
- 02 kính hiển vi soi nổi;
- 01 bộ tủ thao tác
3 Các kỹ thuật chính thụ tinh trong ống nghiệm ở người
- Hiện nay có hai kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chính là: IVF cổ điển và vi thụ tinh (Microinsemination)
3.1 Kỹ thuật IVF cổ điển
* Giới thiệu:
- IVF là quá trình kết hợp giữa tinh trùng với trứng để tạo hợp tử bên ngoài cơ thể mẹ (trong hộp lồng, Petri, ống nghiệm)
- IVF thành công trên chuột đồng (1963), chuột trắng (1968), người (1969) sau
đó IVF được hoàn chỉnh dần trong thu nhận tinh và nuôi trứng chín
- Với kỹ thuật IVF cổ điển, trứng được trộn lẫn với hàng ngàn tinh trùng trong một đĩa đặc biệt, sau đó đặt trong một tủ cấy mô phỏng các điều kiện tự nhiên
- Quá trình thụ tinh diễn ra trong điều kiện phòng thí nghiệm và sau khi đảm bảo thụ tinh, các phôi thai được đưa vào tử cung của người phụ nữ bằng một ống chuyển phôi đặc biệt qua cổ tử cung
- Trong kỹ thuật này, trứng và tinh trùng gặp nhau, hòa nhập một cách “tự nhiên” để hình thành phôi
* Vật liệu:
Giao tử:
- Trứng dùng cho IVF ở 3 dạng: trứng non, trưởng thành và hậu tưởng thành