1. Trang chủ
  2. » Tất cả

K62CNSHC-13-620576-Đinh Thị Hiên-SH03006-Công nghệ tế bào động vật-Bài thi kết thúc học phần

24 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người Thụ tinh trong ống nghiệm In Vitro Fertilization - IVF là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng b

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC

- -

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

SH03006 - CÔNG NGHỆ TẾ BÀO ĐỘNG VẬT

ĐỀ TÀI:

Họ tên sinh viên : Đinh Thị Hiên

Lớp Khoa

: K62CNSHC : Công nghệ sinh học

HÀ NỘI – 04/03/2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 Giới thiệu công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 1

1.1 Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 1

1.2 Ý nghĩa của công nghệ thụ tinh ống nghiệm ở người 6

1.3 Những trường hợp được y khoa chỉ định sử dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người 7

1.4 Phân biệt thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm ở người 8

2 Yêu cầu chung về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thụ tinh trong ống nghiệm ở người 9

2.1 Điều kiện về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện IVF ở người 9

2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất 9

2.3 Điều kiện về trang thiết bị y tế 10

3 Các kỹ thuật chính thụ tinh trong ống nghiệm ở người 10

3.1 Kỹ thuật IVF cổ điển 10

3.2 Kỹ thuật vi thụ tinh (Microinsemination) 12

3.3 Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm 15

3.3 Hỗ trợ phôi thoát màng 17

3.4 Tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm ở người 17

3.5 Những vấn đề hạn chế thường gặp khi tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm ở người 18

4 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người trên thế giới và tại Việt Nam 18

4.1 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người trên thế giới 18

4.2 Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm ở người tại Đông Nam Á và Việt Nam 20

4.3 Chi phí thực hiện của các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam 21

5 Kết luận 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

1

1 Giới thiệu công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người

1.1 Lịch sử của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người

Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) là một phương pháp

thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể (trong hộp lồng, Petri, ống nghiệm tạo thành phôi) Các điều kiện cho quá trình IVF giống như trong cơ thể người mẹ Sau một thời gian nuôi cấy bên ngoài

(thường 2-5 ngày), phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người mẹ Đây

là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do nào đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên

Các nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm đã có lịch sử hơn một thế kỷ và đạt được những thành tựu to lớn, mang lại hạnh phúc cho hàng triệu gia đình trên khắp thế giới

Lịch sử của Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và chuyển phôi (Embryo

Transfer - ET) bắt đầu từ những năm 1890 khi Walter Heape, giáo sư và bác sĩ tại Đại học Cambridge, Anh, người đã tiến hành nghiên cứu về sinh sản ở một

số loài động vật, đã báo cáo trường hợp cấy phôi thai đầu tiên được biết đến ở thỏ, rất lâu trước khi các ứng dụng vào khả năng sinh sản của con người thậm chí còn được đề xuất Nghiên cứu này mở ra một hướng đi mới trong việc ứng dụng nghiên cứu thụ tinh trong ống nghiệm ở người trong thế kỷ XX tới hiện nay

Năm 1934 Pincus và Enzmann, thuộc Phòng thí nghiệm Sinh lý học tổng hợp tại Đại học Harvard, công bố một báo cáo trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ về việc nâng cao khả năng trứng động vật có vú có thể trải qua

sự phát triển bình thường trong ống nghiệm Mười bốn năm sau, vào năm

1948, Miriam Menken và John Rock lấy hơn 800 tế bào trứng từ những phụ nữ

ở các điều kiện khác nhau, lọc lấy 138 tế bào trứng cho tiếp xúc với tinh trùng trong ống nghiệm Họ đã công bố kinh nghiệm của mình trên Tạp chí Sản khoa

và Phụ khoa Mỹ

Tuy nhiên, phải đến năm 1959, bằng chứng không thể chối cãi của thụ tinh ống nghiệm mới thu được bởi MC Chang (Chang MC, Thụ tinh buồng trứng thỏ trong ống nghiệm Nature, 1959 8: 184 (suul 7) 466), người đầu tiên đạt được thành công trong sinh sản ở động vật có vú (thỏ) bằng cách thụ tinh ống

nghiệm Những quả trứng mới rụng đã được thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách ủ với tinh trùng trong bình Carrel nhỏ trong 4 giờ, mở ra phương thức để

hỗ trợ sinh sản trên người

Trang 4

Năm 1976, Y Menezo đã phát triển môi trường nuôi cấy B2 đầu tiên trên thế giới, được gọi là “môi trường Pháp” Môi trường cụ thể này phản ánh môi trường nang trứng, ống dẫn trứng và tử cung của cừu, thỏ và người Cũng trong năm này, Steptoe và Edwards đã xuất bản một báo cáo về trường hợp mang thai ngoài tử cung sau khi chuyển phôi người ở giai đoạn phôi dâu muộn/phôi nang sớm (Steptoe PC, Edwards RG Việc cấy lại phôi thai người với quá trình mang thai trong ống dẫn trứng sau đó Lancet, 1976; 24: 1: 880-2)

Năm 1978, đứa trẻ đầu tiên (Louise Brown) ra đời ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7, năm 1978 Thành công này là kết quả của sự hợp tác giữa Patrick Steptoe và Robert Edwards

Hình 1.1 Hình ảnh Louise Brown là em bé đầu tiên chào đời bằng phương

pháp thụ tinh trong ống nghiệm (Nguồn: Internet.)

Trang 5

3

Năm 1979, Pez và đồng sự bắt đầu theo dõi sự phát triển của nang trên siêu

âm Họ đã cho thấy một mối quan hệ đáng kể giữa các quan sát bằng siêu âm

và nội soi Việc sử dụng siêu âm được công bố đầu tiên để xác định các nang đang phát triển

Năm 1980 đánh dấu sử ra đời của môi trường nuôi cấy

Năm 1981, nhóm Clamart ở Pháp đã phát triển một xét nghiệm LH có thể phát hiện sự gia tăng LH ban đầu trong huyết tương cho phép dự đoán chính xác thời gian lý tưởng cho việc thu hồi các tế bào trứng

Năm 1983, cột mốc đánh dấu ca cho – nhận trứng đầu tiên Nhóm Monash đạt được thành công trong thụ tinh ống nghiệm ở một phụ nữ không có buồng trứng bằng cách sử dụng trứng của người cho trứng, tạo ra các chu kỳ kinh nguyệt nhân tạo và một công thức kích thích tố đặc biệt trong 10 tuần đầu của thai kỳ Nhóm này cũng báo cáo về sự ra đời em bé đầu tiên từ phôi thai đông lạnh Trong năm đó, Gleicher và nhóm của ông đã báo cáo việc thu trứng qua đường âm đạo lần đầu tiên, sử dụng siêu âm bụng

Năm 1984, Chính phủ Victoria đã thiết lập một cuộc đánh giá nghiên cứu và thực hành IVF, dẫn đến việc công bố Đạo luật Vô sinh (Thủ tục Y tế) năm

1984, đạo luật đầu tiên điều chỉnh IVF và nghiên cứu phôi thai người liên quan

Em bé chuyển phôi mang thai hộ đầu tiên được sinh ra ở California

Cặp sinh tư IVF đầu tiên trên thế giới được sinh ra vào ngày 6 tháng 1 năm

1984, tại Melbourne

Năm 1985, mang thai em bé đầu tiên bằng cách thụ tinh ống nghiệm sử dụng tinh trùng hút từ mào tinh Báo cáo đầu tiên về việc sử dụng siêu âm bụng cho việc cấy phôi

Năm 1986 IVF Monash báo cáo sự mang thai và ra đời của em bé đầu tiên từ các hoạt động phục hồi tinh trùng thực hiện trên một bệnh nhân tắc ống dẫn tinh

Năm 1987, thụ tinh tế bào trứng của con người bằng vi tiêm một tinh trùng duy nhất dưới màng trong suốt

Năm 1989, báo cáo đầu tiên về việc sử dụng kỹ thuật laser trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, áp dụng với giao tử hoặc phôi Gonen và các đồng nghiệp ở

Toronto đi tiên phong trong việc sử dụng siêu âm chất lượng nội mạc tử cung liên quan đến mang thai thụ tinh ống nghiệm

Trang 6

4

Năm 1990, Gonen, Jacobson và Casper đi tiên phong trong việc sử dụng thuốc tránh thai để đồng bộ hóa nang và lập kế hoạch chu kỳ thụ tinh ống nghiệm Năm 1991, trưởng thành trong ống nghiệm (IVM) trong một chu kỳ không kích thích dẫn đến mang thai với bệnh nhân cho – nhận trứng

Năm 1992, báo cáo thai kỳ đầu tiên sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương (ICSI) của nhóm tại Brussel

Năm 1993, báo cáo đầu tiên về việc sử dụng tese (chiết xuất tinh trùng từ tinh hoàn) và ICSI

Năm 1995, ca sinh nở đầu tiên sau khi phát triển phôi nang từ trứng IVM được ICSI, cộng với hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching)

Năm 1996, nhóm Valencia báo cáo về ca mang thai đầu tiên sử dụng tinh trùng của tinh hoàn trữ lạnh sau IVF-ICSI

Năm 1997, em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng đông lạnh sau khi ICSI

Năm 1998, lần đầu tiên thiết lập mang thai sử dụng FSH tái tổ hợp và GnRH đối kháng Báo cáo đầu tiên về ca sinh nở từ trứng GV đông lạnh và trứng cho Năm 2000, em bé đầu tiên sinh ra từ tế bào trứng và tinh trùng đông lạnh

Năm 2001, sự ra đời của một trẻ sơ sinh từ phôi trữ lạnh từ tế bào trứng IVM của bệnh nhân không kích thích trứng, PCOS

Năm 2002, em bé đầu tiên ra đời, áp dụng kỹ thuật sinh thiết phôi nang và phân tích PGD (chẩn đoán di truyền tiền cấy phôi - một kỹ thuật có khả năng phát hiện các bất thường về nhiễm sắc thể và gen)

Năm 2004, báo cáo đầu tiên về bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân ung thư sử dụng IVM và tế bào trứng đông lạnh nhanh

Năm 2007, sự ra đời cặp song sinh đầu tiên từ tế bào trứng đông lạnh của bệnh nhân ung thư

Năm 2008, người mẹ IVF già nhất trên thế giới Rajo Devi Lohan đã 69 tuổi vào thời điểm cô đã sinh ra một bé gái, Naveen, sau khi thụ tinh trong ống nghiệm ở Ấn Độ

Năm 2009, giáo sư Laufer tại Trung tâm Y tế Hadassah ở Jerusalem đã thành công khi giúp một phụ nữ có gen BRCA2 bị lỗi mang thai sau khi phôi thụ tinh trong ống nghiệm được thử nghiệm và cấy ghép

Năm 2010, Robert G Edwards, bác sĩ phát triển phương pháp này, đã được trao Giải Nobel Sinh lý và Y khoa

Trang 7

Năm 1995: Thực hiện thành công trữ lạnh tinh trùng người Thực hiện thành công IUI với tinh trùng lọc rửa

Năm 1997: Ngày 19/8/1997, hơn 30 phụ nữ vô sinh đầu tiên tại Việt Nam đã được chuyển phôi làm thụ tinh trong ống nghiệm

Năm 1998: Ngày 30/4/1998, tại Bệnh viện Từ Dũ, ba đứa trẻ đầu tiên được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm

Hình 1.2: Bé gái đầu tiên chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống

nghiệm năm 1998 (Nguồn ảnh của BV Từ Dũ)

Trang 8

6

Hình 1.3: Hình ảnh Phạm Tường Lan Thy, Mai Quốc Bảo, Lưu Tuyết Trân (từ trái qua) ba bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm kỷ niệm 1

năm ngày sinh 30-4 – 1998 Nguồn: Internet

Năm 1999: Em bé ICSI đầu tiên ra đời

Năm 2000: Em bé TTTON-cho trứng đầu tiên ra đời

Năm 2001: Em bé mang thai hộ đầu tiên ra đời (hiện nay cấm thực hiện)

Trường hợp sinh đầu tiên ra đời sau kỹ thuật giảm thai

Năm 2002: Em bé đầu tiên từ ICSI với tinh trùng hút từ mào tinh

(MESA/PESA)

Năm 2003: Em bé đầu tiên ra đời từ phôi người đông lạnh ra đời

Năm 2004: Em bé đầu tiên từ ICSI với tinh trùng lấy từ tinh hoàn

(TESA/TESE)Em bé đầu tiên từ cả trứng và tinh trùng và người đông lạnh Năm 2018: Có khoảng 40.000 đứa trẻ được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam

1.2 Ý nghĩa của công nghệ thụ tinh ống nghiệm ở người

Sự ra đời của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người đã đánh dấu một bước đột phá đặc biệt trong ngành công nghệ sinh học nói chung và ngành công nghệ y sinh nói riêng Kỹ thuật y khoa phức tạp này được sử dụng để điều trị các trường hợp vô sinh, hiếm muộn hoặc các vấn đề di truyền liên quan đến giới tính Hiện nay, đây là phương pháp y khoa mang lại hiệu quả cao nhất của công nghệ hỗ trợ sinh sản Đây được xem là biện pháp cứu cánh cuối cùng

Trang 9

7

dành cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn sau khi các phương pháp hỗ trợ sinh sản khác như dùng thuốc hay thụ tinh nhân tạo không thành công IVF ra đời mang đến niềm hy vọng làm cha mẹ cho các cặp đôi vô sinh không

rõ nguyên nhân hoặc gặp những vấn đề nghiêm trọng ở cơ quan sinh sản trên toàn thế giới Bên cạnh ý nghĩa khoa học, IVF mang lại tính nhân văn rất lớn khi đem lại hạnh phúc cho hàng triệu gia đình trên khắp thế giới

1.3 Những trường hợp được y khoa chỉ định sử dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm ở người

Không phải trường hợp hiếm muộn nào cũng có thể thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm Phương pháp này chỉ khả thi đối với các cặp vợ chồng có nguyên nhân gây vô sinh không làm mất đi hoàn toàn khả năng thụ tinh của trứng và tinh trùng

Những nguyên nhân đó có thể bao gồm:

• Ống dẫn trứng bị tổn thương hoặc bị tắc nghẽn: Tình trạng tắc ống

dẫn trứng hoặc vòi trứng bị tổn thương có thể khiến trứng khó thụ tinh hoặc phôi thai không thể di chuyển về tử cung và làm tổ ở tử cung

• Rối loạn phóng noãn (rối loạn rụng trứng): Việc rụng trứng xảy ra

không thường xuyên khiến quá trình thụ thai khó có thể diễn ra

• Suy chức năng buồng trứng sớm: Là tình trạng mất chức năng buồng

trứng diễn ra trước tuổi 40 Suy buồng trứng sớm khiến buồng trứng không tạo ra lượng estrogen cần thiết hoặc trứng không rụng thường xuyên

• Lạc nội mạc tử cung: Lạc nội mạc tử cung xảy ra khi nội mạc tử cung

nằm bên ngoài tử cung, gây ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng,

tử cung, ống dẫn trứng và khả năng thụ thai

• U xơ tử cung: Xơ là những khối u lành tính trong thành tử cung và

thường gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30 – 40, khiến việc thụ thai tự nhiên trở nên khó khăn Những phụ nữ bị u xơ tử cung có thể mang thai bằng cách thụ tinh trong ống nghiệm

• Đã thắt ống dẫn trứng: Nếu bạn đã thực hiện thủ thuật triệt sản này,

song lại muốn mang thai và sinh con thì IVF là phương pháp hỗ trợ sinh sản hữu ích

• Lượng tinh trùng thấp hoặc tinh trùng yếu: Nồng độ tinh trùng của

người chồng dưới mức trung bình, tinh trùng chuyển động yếu hoặc có

Trang 10

8

bất thường về kích thước và hình dạng… sẽ khó có thể thụ tinh cho trứng Do đó, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện thụ tinh nhân tạo hoặc IVF

• Vô sinh nam: Tinh trùng ít, yếu, xuất tinh ngược hoặc không xuất tinh

Không tinh trùng trong tinh dịch (lấy tinh trùng bằng phẫu thuật mào tinh, tinh hoàn) Đứt niệu đạo sau do di chứng vỡ xương chậu

• Vô sinh không biết nguyên nhân hoặc bơm tinh trùng vào buồng tử

cung nhiều lần nhưng thất bại

• Rối loạn di truyền liên quan đến giới tính: Nếu vợ hoặc chồng được

chẩn đoán là mắc một rối loạn di truyền có nguy cơ truyền sang con, bác

sĩ có thể chỉ định làm IVF Mục đích của IVF trong trường hợp này là nhằm sàng lọc những phôi thai khỏe mạnh để cấy vào tử cung người vợ

• Bảo vệ khả năng sinh sản cho bệnh nhân ung thư hoặc mắc các bệnh liên quan nghiêm trọng đến sức khỏe: Nếu người phụ nữ sắp tiến hành

xạ trị hay hóa trị để điều trị bệnh ung thư hoặc bị bệnh tim thì bác sĩ có thể đề nghị làm IVF nhằm bảo vệ khả năng sinh sản Trong trường hợp này, trứng sẽ được lấy và trữ đông, hoặc trứng cũng có thể thụ tinh và phôi được làm đông lạnh để sử dụng sau

• Ngoài ra, với những phụ nữ mắc các bệnh nghiêm trọng không thể mang thai hoặc có bất thường ở tử cung khiến khó thụ thai cũng có thể chọn thụ tinh ống nghiệm và nhờ người mang thai hộ Trong trường hợp này, trứng của người phụ nữ được thụ tinh với tinh trùng, phôi thai sẽ được cấy vào tử cung của người mang thai hộ

1.4 Phân biệt thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm ở người

Thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm đều là những phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng trong điều trị vô sinh hiếm muộn, tuy nhiên, vẫn có nhiều người nhầm lẫn giữa hai phương pháp này hoặc cho rằng hai phương

pháp này là một Hai phương pháp này khác nhau về phương pháp thực hiện

Là phương pháp bơm tinh trùng

vào buồng tử cung

Quá trình thụ tinh của trứng và tinh trùng được xảy ra hoàn toàn bên ngoài cơ thể con người, chỉ sau khi đã tạo thành hợp tử (phôi thai) có từ 4 – 8 tế bào mới được đưa vào buồng tử cung của nữ giới

Trang 11

9

Tinh trùng được lọc rửa, lựa chọn

ra những tinh trùng khỏe mạnh

nhất để bơm trực tiếp vào buồng tử

cung của nữ giới

Lựa chọn những tinh trùng khỏe mạnh nhất, hút noãn từ buồng trứng của nữ giới để nuôi trong ống nghiệm với những điều kiện thích hợp nhất để quá trình thụ tinh xảy ra

Quá trình thụ tinh tạo thành phôi

thai diễn ra trong cơ thể nữ giới,

phôi được tạo thành sẽ di chuyển

xuống buồng tử cung để làm tổ

Quá trình thụ tinh xảy ra hoàn toàn trong ống nghiệm – bên ngoài cơ thể con người, sau khi tạo thành phôi mới cấy vào buồng tử cung

Điều kiện để có thể áp dụng

phương pháp này đó là tinh trùng

của nam giới vẫn trong giới hạn có

thể thực hiện, nữ giới có buồng tử

cung, buồng trứng và ít nhất một

vòi trứng hoạt động bình thường

Phương pháp này được áp dụng cho mọi đối tượng vô sinh khi tinh trùng đáp ứng yêu cầu trong giới hạn cho phép, nữ giới có buồng trứng và tử cung hoạt động bình thường Những trường hợp vô sinh do tắc nghẽn vòi trứng vẫn có thể áp dụng

2 Yêu cầu chung về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thụ tinh trong ống nghiệm ở người

2.1 Điều kiện về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện IVF ở người

Cơ sở thực hiện kỹ thuật này phải thuộc một trong các cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh sau đây:

- Cơ sở phụ sản, sản – nhi của Nhà nước từ tuyến tỉnh trở lên;

- Bệnh viện đa khoa tư nhân có khoa sản, khoa sản – nhi;

- Bệnh viện chuyên khoa phụ sản, chuyên khoa sản – nhi tư nhân;

- Bệnh viện chuyên khoa nam học và hiếm muộn

2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất như sau:

- Có phòng hồi sức cấp cứu;

- Có xét nghiệm nội tiết sinh sản;

- Có đơn nguyên riêng cho việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm gồm các phòng: Chọc hút noãn; lấy tinh trùng; lab nuôi cấy; xét nghiệm và lọc rửa tinh trùng đáp ứng các tiêu chuẩn theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế

giới

Trang 12

10

2.3 Điều kiện về trang thiết bị y tế

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có tối thiểu các trang thiết bị y tế sau:

- 01 máy siêu âm có đầu dò âm đạo;

- 01 kính hiển vi đảo ngược;

- 02 kính hiển vi soi nổi;

- 01 bộ tủ thao tác

3 Các kỹ thuật chính thụ tinh trong ống nghiệm ở người

- Hiện nay có hai kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chính là: IVF cổ điển và vi thụ tinh (Microinsemination)

3.1 Kỹ thuật IVF cổ điển

* Giới thiệu:

- IVF là quá trình kết hợp giữa tinh trùng với trứng để tạo hợp tử bên ngoài cơ thể mẹ (trong hộp lồng, Petri, ống nghiệm)

- IVF thành công trên chuột đồng (1963), chuột trắng (1968), người (1969) sau

đó IVF được hoàn chỉnh dần trong thu nhận tinh và nuôi trứng chín

- Với kỹ thuật IVF cổ điển, trứng được trộn lẫn với hàng ngàn tinh trùng trong một đĩa đặc biệt, sau đó đặt trong một tủ cấy mô phỏng các điều kiện tự nhiên

- Quá trình thụ tinh diễn ra trong điều kiện phòng thí nghiệm và sau khi đảm bảo thụ tinh, các phôi thai được đưa vào tử cung của người phụ nữ bằng một ống chuyển phôi đặc biệt qua cổ tử cung

- Trong kỹ thuật này, trứng và tinh trùng gặp nhau, hòa nhập một cách “tự nhiên” để hình thành phôi

* Vật liệu:

Giao tử:

- Trứng dùng cho IVF ở 3 dạng: trứng non, trưởng thành và hậu tưởng thành

Ngày đăng: 15/03/2021, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm