ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRẦN THỊ HỒNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ HỒNG
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH
ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU
(Nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ HỒNG
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH
ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU
(Nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên)
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: Đào tạo thí điểm
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Hằng
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả thành quả nghiên cứu trên là trung thực, là sản phẩm đích thực của bản thân tôi Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Nhà trường và pháp luật
Người cam đoan
Trần Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài được hoàn thành ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc
biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Phạm Xuân Hằng người hướng
dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi nghiên cứu
và hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ và khích lệ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bản luận án này
Tuy đã hết sức cố gắng, song do kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế nên Luận án tiến sỹ này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2018
Trần Thị Hồng
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN Khoa học và công nghệ
Giáo sư Phó giáo sư Tiến sĩ Thạc sĩ
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tính mới của luận án 8
4 Mục tiêu nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Mẫu khảo sát 11
7 Câu hỏi nghiên cứu 11
8 Giả thuyết nghiên cứu 12
9 Các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 13
10 Kết cấu của luận án 18
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 19
1.1 Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án 19
1.2 Các công trình khoa học đã công bố ở trong nước liên quan đến chủ đề luận án 25
Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 35
2.1 Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án 35
2.1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ 35
2.1.2 Tổ chức khoa học và công nghệ 36
2.1.3 Chính sách 38
Trang 72.1.4 Chính sách công 39
2.1.5 Chính sách khoa học và công nghệ 39
2.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức khoa học và công nghệ 40
2.2.1 Định nghĩa tự chủ, tự chịu trách nhiệm 40
2.2.2 Nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức khoa học và công nghệ 41
2.2.3 Năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ 43
2.3 Lý luận về đại học nghiên cứu 44
2.3.1 Định nghĩa đại học nghiên cứu 44
2.3.2 Đặc trưng đại học nghiên cứu 46
2.3.3 Tiêu chí đại học nghiên cứu 49
2.4 Lý luận về sự tác động của chính sách 51
2.4.1 Tác động chính sách 51
2.4.2 Đánh giá tác động chính sách 51
2.4.3 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách 53
2.4.4 Luận giải cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ lựa chọn 56
2.4.5 Khung đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ 59
2.4.6 Vai trò của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu 60
Kết luận chương 2 63
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNGNGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU (Nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên) 64
3.1 Khái quát về mẫu khảo sát 64
3.1.1 Về cơ cấu tổ chức 65
3.1.2 Về đội ngũ cán bộ, giảng viên 67
3.2 Tác động của nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong Đại học Thái Nguyên 69
3.2.1 Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ của Đại học Thái Nguyên 69
Trang 83.2.2 Tổng quan về Nghị định 99/2014/NĐ-CP 75
3.2.3 Quá trình triển khai Nghị định số 99/2014 ở Đại học Thái Nguyên 76
3.2.4 Tình hình thực hiện Nghị định 99/2014 tại Đại học Thái Nguyên 80
3.2.5 Tình hình NCKH của giảng viên Đại học Thái Nguyên sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 84
3.2.6 Kết quả thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ tại Đại học Thái Nguyên sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 87
3.2.7 Đánh giá tác động của Nghị định số 99/2014 đến hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học 93
3.3 Tác động của nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ trong Đại học Thái Nguyên 102
3.3.1 Tình hình thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về KH&CN theo tinh thần của Nghị định 115/2005/NĐ-CP; Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/ND-CP ở Đại học Thái Nguyên 102
3.3.2 Năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ tại Trường ĐHSP, Trường ĐHNL và Trường ĐHCNTT&TT thuộc Đại học Thái Nguyên 108
3.3.3 Đánh giá tác động của nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ ở Đại học Thái Nguyên 114
Kết luận chương 3 119
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LỰA CHỌN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỂ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 120
4.1 Quan điểm cho việc đề xuất giải pháp 120
4.1.1 Đại học nghiên cứu là tất yếu ở Việt Nam 120
4.1.2 Nghiên cứu khoa học là một chức năng cơ bản của đại học nghiên cứu 121
4.1.3 Chính sách khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động khoa hoa học và công nghệ trong trường đại học 124
4.2 Những giải pháp tăng cường chất lượng chính sách khoa học và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học 124
Trang 94.2.1 Những giải pháp cơ bản 124
4.2.2 Giải pháp tăng cường chất lượng của nhóm chính sách tác động đến phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học 129
4.2.3 Giải pháp tăng cường chất lượng nhóm chính sách tác động đến thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về khoa học và công nghệ trong trường đại học 138
4.3 Đề xuất giải pháp tăng cường hàm lượng NCKH cho ĐHTN 146
4.3.1 Kiện toàn các đơn vị nghiên cứu trong ĐHTN 146
4.3.2 Phát triển các NNC mạnh trong ĐHTN 149
4.3.3 Nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ của ĐHTN 151
4.3.4 Tăng cường và đa dạng hóa nguồn kinh phí cho hoạt động KH&CN 152
Kết luận chương 4 153
KẾT LUẬN 155
KHUYẾN NGHỊ 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC 166
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chí và chuẩn của đại học nghiên cứu Malaysia 49
Bảng 2.2 Bảng đánh giá các tác động của chính sách KH&CN 58
Bảng 3.1: Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý tại các trường ĐH thành viên, khoa trực thuộc của ĐHTN tính đến tháng 12/2016 68
Bảng 3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN các cấp của ĐHTN 71
Bảng 3.3 Kinh phí dành cho hoạt động KH&CN của Trường ĐHSP năm 2015 và 2016 theo quy định Nghị định 99/2014 80
Bảng 3.4 Kinh phí dành cho hoạt động KH&CN của Trường ĐHCNTT&TT năm 2015 và 2016 theo quy định Nghị định 99/2014 81
Bảng 3.5 Kinh phí dành cho hoạt động KH&CN của Trường ĐHNL 81
năm 2015 và 2016 theo quy định Nghị định 99/2014 81
Bảng 3.6 Chi hoạt động KH&CN của Trường ĐHSP theo của Nghị định 99/2014 83
Bảng 3.7 Nhận thức của GV về hoạt động NCKH trong trường ĐH 84
Bảng 3.8 Số lượng đề tài KH&CN các cấp của Trường ĐHNL, Trường ĐHSP và Trường ĐHCNTT&TT sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 89
Bảng 3.9 Tỷ trọng công bố bài báo quốc tế tại ba trường ĐH thuộc ĐHTN trước so với sau khi áp dụng Nghị định 99/2014/2014 95
Bảng 3.10 Kinh phí dành cho đề tài NCKH các cấp trước và sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của ba trường thuộc ĐHTN 96
Bảng 3.11 Tỷ trọng nhiệm vụ KH&CN các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường Đại học Nông Lâm 97
Bảng 3.12 Tỷ trọng nhiệm vụ KHC&N các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường Đại học Sư Phạm 97
Bảng 3.13 Tỷ trọng nhiệm vụ KH&CN các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường CNTT&TT 98
Bảng 4.1 Tỷ lệ hoạt động giảng dạy/nghiên cứu/dịch vụ của một số loại hình trường đại học của Hoa Kỳ 122
Bảng 4.2 Số lượng các đơn vị đào tạo ĐH (colleges), sau ĐH và viện nghiên cứu (institutes) ở một số đại học nghiên cứu 123
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi kết quả chính sách 52
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Đại học Thái Nguyên 66
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN các cấp của ĐHTN giai đoạn 2011 -2015 71
Biểu đồ 3.2 Công bố quốc tế và trong nước của ĐHTN giai đoạn 2011 -2015 72
Biểu đồ 3.3 Hoạt động CGCN của ĐHTN giai đoạn 2010 -2015 72
Biểu đồ 3.4 Hợp tác quốc tế về KH&CN của ĐHTN giai đoạn 2011-2015 73
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ các nguồn thu - chi của ĐHTN giai đoạn 2011 - 2015 73
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ giảng viên tham gia, thực hiện đề tài NCKH các cấp ở ĐHTN 84
Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ đề tài NCKH các cấp đang thực hiện của giảng viên ĐHTN 85
Biều đồ 3.8 Tỉ lệ công bố bài báo của GV/ năm 86
Biểu đồ 3.9 Kết quả công bố bài báo trên tạp chí nước ngoài tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 90
Biểu đồ 3.10 Kết quả công bố bài báo trên các tạp chí trong nước tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 90
Biểu đồ 3.11 Kết quả hoạt động CGCN của ba trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 91
Biểu đồ 3.12 Nguồn thu từ hoạt động CGCN tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 92
Biểu đồ 3.13 Kinh phí cho hoạt động KH&CN tại ba trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 93
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập hiện nay, khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong các yếu tố có tác động to lớn đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, là chìa khoá để các nước hội nhập quốc tế thành công Nhận thức được tầm quan trọng của KH&CN, Đảng ta đã dành nhiều điều kiện cho phát triển KH &CN, đã ban hành các định hướng chiến lược, cơ chế và chính sách phát triển KH&CN và gần đây nhất là Nghị quyết số 20/NQ/TW được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XI “Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [6]
Vai trò và vị trí của giáo dục đại học (GDĐH) nói chung và các trường đại học (ĐH) nói riêng ngày càng trở nên quan trọng Các trường ĐH không chỉ có vai trò chủ chốt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao mà thực sự đã và đang trở thành các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và chuyển giao công nghệ (CGCN) hiện đại, góp phần vào sự phát triển bền vững Một trường ĐH hiện đại, chất lượng cao, nhất là đại học nghiên cứu (ĐHNC) phải là nơi giao thoa của ba chức năng: đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH) và phục vụ xã hội, trong đó NCKH là yếu tố có quyết định tới chất lượng của hai chức năng còn lại Việc kết hợp chặt chẽ của ba chức năng này hiện nay cũng là xu hướng cơ bản trong chiến lược phát triển GDĐH của các nước trên thế giới Nghiên cứu của Salmi (2007) đã khẳng
định “Trong hệ thống GDĐH, các trường ĐHNC có vai trò cốt yếu trong đào tạo
chuyên môn, đào tạo các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu là những lực lượng cần thiết cho việc kiến tạo tri thức lẫn hỗ trợ đổi mới và phát triển kinh tế quốc gia”
[81], và không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi ĐHNC là “ngôi đền của khoa học”
Nhận định của Hobbs (1997)“… cực hiếm có những trường ĐH đẳng cấp quốc tế mà
không đồng thời mạnh về nghiên cứu” [75] Trong một nghiên cứu của Phạm Duy
Hiển cũng có chỉ ra rằng thành tích NCKH thường có vị trí áp đảo khi xếp hạng các trường ĐH, vì vậy trong 10 trường ĐH hàng đầu thế giới, các trường ĐH Hoa kỳ thường xuyên chiếm vị trí từ số một đến số năm [30]
ĐHNC có nhiều tiêu chí, nhưng một trong các tiêu chí cơ bản là hàm lượng NCKH lớn và đào tạo chất lượng cao, nhất là đào tạo sau ĐH Vì thế, hướng tới
Trang 13ĐHNC ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay là phải quan tâm đến việc nâng cao hàm lượng NCKH từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường ĐH Việt Nam
đã có những chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển hoạt động KH&CN của trường ĐH Nghị Quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ Việt Nam về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam đã đưa ra mục tiêu cụ thể của GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 trong hoạt động KH&CN phải đạt
“ Nâng cao rõ rệt qui mô và hiệu quả hoạt động KH&CN trong các trường ĐH
Các trường ĐH lớn phải là các trung tâm NCKH mạnh của cả nước, nguồn thu từ hoạt động KH&CN, sản xuất và dịch vụ đạt tối thiểu 25% tổng nguồn thu của các các trường ĐH vào năm 2020” [5], cũng như quan tâm đến việc nâng dần vị thế của
các trường ĐH nước ta trong xếp hạng các trường ĐH của thế giới Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch mạng lưới các trường
ĐH và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 có đặt mục tiêu đến năm 2020 “Việt Nam có 1
trường ĐH được xếp hạng trong số 200 trường ĐH hàng đầu thế giới” [49]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hoạt động KH&CN trong trường
ĐH, trong đó chính sách KH&CN có vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là tăng cường hàm lượng NCKH) Xuất phát từ các lí
do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đế“Tác động của chính sách khoa học và công nghệ
đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Tính mới của luận án
Luận án “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu” có những điểm mới sau:
Một là: Xem xét tác động của chính sách KH&CN lựa chọn đến mảng hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Hai là: Xem xét tác động của chính sách KH&CN lựa chọn đến quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về KH&CN trong trường ĐH
Ba là: Đánh giá tác động hai mặt “dương tính” và “âm tính” của chính sách KH&CN lựa chọn đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Trang 14Bốn là: Đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng chính sách KH&CN lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH) trong trường ĐH để góp phần thúc đẩy hình thành ĐHNC
3 Ý nghĩa của Luận án
3.1 Về mặt lý luận
Luận án góp phần làm phong phú về phương diện lý luận tác động của chính sách nói chung và tác động của chính sách KH&CN nói riêng đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH như: Cách tiếp cận đánh giá chính sách; Phương pháp đánh giá tác động chính sách; Xây dựng khung đánh giá tác động chính sách đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH Ngoài ra, luận án còn góp phần làm phong phú thêm về phương diện lý luận ĐHNC như: Khái niệm, đặc trưng, tiêu chí của ĐHNC
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ được thực trạng tác động của chính sách KH&CN lựa chọn đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH (Qua nghiên cứu trường hợp ĐHTN, cụ thể
là 3 trường ĐH thành viên của ĐHTN)
- Đánh giá được tác động dương tính và âm tính của chính sách KH&CN lựa chọn lên hoạt động KH&CN trong trường ĐH
- Đề xuất được giải pháp tăng cường chất lượng chính sách KH&CN lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH) trong trường ĐH, để góp phần thúc đẩy hình thành ĐHNC
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH
để thúc đẩy hình thành ĐHNC
Trang 155.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về nội dung nghiên cứu
- Về mặt chính sách: Luận án nghiên cứu chính sách KH&CN và trong hệ thống chính sách KH&CN chỉ lựa chọn hai nhóm chính sách và xem xét những khía cạnh tác động của hai nhóm chính sách này đến hoạt động KH&CN trong trường
ĐH, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường chất lượng của chính sách lựa chọn (qua việc hoàn thiện chính sách) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH) trong trường ĐH để thúc đẩy hình thành ĐHNC, hai nhóm chính sách KH&CN lựa chọn gồm:
+ Một là: Nhóm chính sách KH&CN tác động đến phát triển hoạt động KH&CN
trong trường ĐH, được cụ thể hóa trong vật mang chính sách là Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2014 ((Bởi Nghị định 99/2014/NĐ-CP có những thiết chế ngầm định thuộc phạm trù chính sách KH&CN, có tác động mạnh
mẽ đến hoạt động KH&CN của trường ĐH)
+ Hai là: Nhóm chính sách KH&CN tác động đến quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về KH&CN trong trường ĐH, trong đó luận án chỉ nghiên cứu khía cạnh tác động đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Nhân lực cho KH&CN; Tài chính cho KH&CN và hợp tác quốc tế về KH&CN, được cụ thể hóa trong các vật mang chính sách là Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày 20/09/2010; Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 sau được thay thế bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015
Cả hai nhóm chính sách mà luận án lựa chọn nghiên cứu đều có tác động mạnh mẽ đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH Nhóm chính sách thứ nhất có tác động thúc đẩy hoạt động NCKH của giảng viên (nhất là hoạt động công bố bài báo quốc tế); đầu tư cho hoạt động KH&CN của trường ĐH Nhóm chính sách thứ hai có tác động làm cho hoạt động KH&CN trong trường ĐH được thực hiện tốt hơn thông qua trao cho trường ĐH quyền được tự chủ trong việc lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp với chiến lược phát triển của nhà trường; tự chủ về nhân lực cho KH&CN;
tự chủ tài chính cho hoạt động KH&CN và quyền được tự lựa chọn đối tác phù hợp
để hợp tác quốc tế về KH&CN
Trang 16- Về mặt hoạt động: Luận án chỉ nghiên cứu hoạt động KH&CN trong trường ĐH (Qua nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên), từ đó đề xuất giải pháp để tăng cường hàm lượng NCKH góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHTN nhằm tạo tiền đề quan trọng để ĐHTN trở thành ĐH định hướng nghiên cứu đa ngành vào năm 2030
b Phạm vi về không gian nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên (Cụ thể là ba trường
ĐH thành viên của Đại học Thái Nguyên là Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên; Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên và Trường ĐH Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên)
c Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu số liệu: Luận án khảo sát số liệu về hoạt động KH&CN của ĐHTN và ba trường ĐH thành viên của ĐHTN trong giai đoạn 2010 - 2016
6 Mẫu khảo sát
Để làm rõ được hiện trạng tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong các trường ĐH, tác giả đã lựa chọn mẫu khảo sát là Đại học Thái Nguyên, vì những lí do sau:
Thứ nhất: Trong hoạt động đào tạo, các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay đều
bị điều chỉnh bởi chính sách giáo dục, còn về KH&CN thì bị điều chỉnh bởi các chính sách KH&CN
Thứ hai: Trong hệ thống GDĐH, các trường ĐH có sự tương đồng với nhau
về chức năng đào tạo và chức năng NCKH
Thứ ba: Trong hệ thống GDĐH của Việt Nam, Đại học Thái Nguyên là một trong ba ĐH vùng trọng điểm quốc gia, là ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, gồm nhiều các trường ĐH thành viên, các đơn vị trực thuộc, được tổ chức theo hai cấp
Xuất phát từ ba lí do nên trên, tác giả cho rằng việc chọn Đại học Thái Nguyên làm mẫu khảo sát là hoàn toàn có thể và kết quả nghiên cứu mang tính đại diện được
7 Câu hỏi nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo
Chính sách KH&CN của Việt Nam hiện nay có tác động như thế nào đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH?
Trang 177.2 Câu hỏi nghiên cứu cụ thể
Câu hỏi 1: Những chính sách KH&CN cụ thể nào có tác động mạnh mẽ đến
hoạt động KH&CN trong trường ĐH?
Câu hỏi 2: Chính sách KH&CN lựa chọn có tác động như thế nào lên hoạt
động KH&CN trong trường ĐH?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào nên được đề xuất để tăng cường chất lượng
của chính sách KH&CN lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất
là hàm lượng NCKH) trong trường ĐH để thúc đẩy hình thành ĐHNC?
8 Giả thuyết nghiên cứu
8.1 Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo
Chính sách KH&CN đã và đang tạo điều kiện cho hoạt động KH&CN của trường ĐH nhưng cần điều chỉnh để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong tiến trình tiếp cận với tiêu chí của ĐHNC
8.2 Giả thuyết nghiên cứu cụ thể
Giả thuyết 1: Trong hệ thống chính sách KH&CN thì có rất nhiều chính
sách nhưng một số chính sách có tác động mạnh mẽ đến hoạt động KH&CN trong
trường ĐH là:
+ Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2014: Quy định việc
đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN trong các cơ sở GDĐH, chính sách này tác động trực tiếp đến phát triển hoạt động KH&CN của trường ĐH
+ Nghị định 115/2005/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 96/2010/NĐ-CP tác động đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong trường ĐH; Nghị định 43/2006/NĐ-CP sau được thay thế bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP tác động đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có trường ĐH)
Giả thuyết 2: Chính sách KH&CN lựa chọn đã có những tác động dương tính,
âm tính lên hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Giả thuyết 3: Nhà nước cần bổ sung, điều chỉnh một số nội dung của chính
sách KH&CN hiện hành (Cụ thể là một số chính sách lựa chọn), còn trường ĐH cần
có những biện pháp thực hiện hiệu quả các chính sách KH&CN của Nhà nước, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH)
Trang 18trong trường ĐH Hàm lượng NCKH lớn là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo của trường ĐH, đây là những tiêu chí cơ bản của ĐHNC thế giới
9 Các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
9.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận quản lý: Nhận diện các tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH – đây được coi là những tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hình thành ĐHNC ở nước ta hiện nay
- Tiếp cận tâm lý học: Nhận diện tâm lý của GV, nghiên cứu viên, nhà quản lý của trường ĐH dưới sự tác động của hai nhóm chính sách KH&CN Một là nhóm chính sách KH&CN tác động đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH; Hai là nhóm chính sách KH&CN tác động đến thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về KH&CN trong trường ĐH
- Tiếp cận phân tích hệ thống và cấu trúc: Đây là cách tiếp cận xuyên suốt trong nghiên cứu của Luận án, bởi cách tiếp cận này cho phép tìm ra mục tiêu của chính sách KH&CN, sự tương tác giữa các mối liên hệ trong cấu trúc của chính sách KH&CN
- Tiếp cận nội quan và ngoại quan: Dựa trên các nhận xét đánh giá chủ quan
và khách quan để đưa ra nhận định về thực trạng tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH
- Tiếp cận quan sát: Tác giả sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu có tham dự với
tư cách một là GV của một trường ĐH, để phân tích hiện trạng tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH hiện nay
9.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án đã sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp thống kê và phương pháp so sánh
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng cơ
sở lý luận cũng như thực tiễn cho luận án, gồm các phương pháp cụ thể sau:
* Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu: Căn cứ vào câu hỏi nghiên
cứu và xuất phát từ giả thuyết nghiên cứu của luận án, tác giả tiến hành thu thập
Trang 19các tài liệu cần thiết để chứng minh giả thuyết nghiên cứu, được chia làm hai nhóm tài liệu sau:
Nhóm tài liệu sơ cấp, gồm: Các văn bản pháp luật gồm Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2014; Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005; Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006, được thay thế bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015) Các báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường ĐH trước và sau khi áp dụng chính sách KH&CN; Các thông tin có được từ việc trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi, các thông tin thu thập từ phỏng vấn trực tiếp
Nhóm tài liệu thứ cấp, gồm: đề tài NCKH các cấp; luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học đã công bố ở trong nước và nước ngoài; Từ điển, sách tham khảo; sách chuyên khảo
* Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Từ những tài liệu có được bằng
phương pháp thu thập và phân loại tài liệu, tác giả tiến hành phân tích và tổng hợp các loại tài liệu đó Phân tích các văn bản pháp luật gồm Nghị định số 99/2014/NĐ-
CP ngày 25 tháng 10 năm 2014; Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005; Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006, được thay thế bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015) để thấy được cấu trúc của các văn bản đó như: mục tiêu; phương tiện; đối tượng chịu sự tác động của các văn bản pháp luật này Phân tích các báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường
ĐH trước và sau khi áp dụng chính sách KH&CN để đưa ra những nhận định, đánh giá về sự tác động của nhóm chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH như thế nào Phân tích các công trình nghiên cứu (gồm đề tài NCKH các cấp; luận án tiến sĩ, bài báo khoa học) đã công bố ở trong nước và nước ngoài nhằm chỉ ra những điểm còn khuyết thiếu của các công trình nghiên cứu đó và chứng minh hướng nghiên cứu của luận án là mới Phân tích tài liệu là sách chuyên khảo; sách tham khảo, các loại từ điển để làm rõ các thuật ngữ được sử dụng trong luận án và xây dựng khung cơ sở lý luận cho luận án Từ kết quả phân tích các loại tài liệu sơ cấp và thứ cấp, tác giả tiến hành tổng hợp theo nội dung nghiên cứu cụ thể nhằm làm sáng tỏ cả phần lý luận và thực tiễn của Luận án
Trang 209.2.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Phương pháp trưng cầu ý kiến giúp thu thập những số liệu định lượng quan trọng cho luận án, tác giả đã trưng cầu ý kiến như sau
Về đối tượng khảo sát: Mục đích là đi tìm hiểu về thực trạng tác động của
chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong các trường ĐH nên đối tượng khảo sát của luận án là những người làm công tác quản lý; người đang trực tiếp giảng
dạy, làm NCKH; người phụ trách hoạt động KH&CN trong các trường ĐH
Về phương pháp chọn mẫu: Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhưng có chú ý đến học hàm, học vị của đối tượng khảo sát
Về nội dung phiếu trưng cầu ý kiến: Các câu hỏi được xây dựng bao gồm: Nhận thức của giảng viên (GV) về vai trò của hoạt động NCKH trong trường ĐH; Tình hình thực hiện đề tài NCKH các cấp của GV; Tình hình công bố bài báo trong nước cũng như quốc tế của GV trong trường ĐH; Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH; Nguồn kinh phí cho hoạt động KH&CN trong trường ĐH; Phổ biến các chính sách về KH&CN tới GV của trường ĐH; Việc triển khai hoạt động KH&CN
ở các trường ĐH; Các khâu triển khai hoạt động KH&CN trong trường ĐH; Giải pháp
có thể để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Để có một bức tranh cụ thể về thực trạng tác động của chính sách KH&CN lựa chọn đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH, tác giả đã lựa chọn Đại học Thái Nguyên
để khảo sát gồm (Cụ thể là 3/7 trường ĐH thành viên của Đại học Thái Nguyên), gồm:
- Trường Đại học Nông Lâm (ĐHNL), được thành lập năm 1970, là một trung tâm đào tạo và CGCN hàng đầu Việt Nam về nông, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên
và môi trường cho các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam Theo bảng xếp hạng mới nhất của Webometrics, Trường ĐHNLTN được xếp hạng thứ 13 ở Việt Nam và hạng 4103 trên thế giới
- Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) tiền thân là Trường ĐH Việt Bắc được thành lập năm 1966, là cơ sở đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục có chất lượng cao; là trung tâm nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, phục
vụ sự nghiệp GD&ĐT
Trang 21- Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ĐHCNTT&TT), được thành lập năm 2001, Trường có chức năng, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, NCKH và CGCN trong các lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông
Tác giả đã tiến hành điều tra trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi với 210 phiếu, trong đó số lượng phiếu khảo sát được phát đều cho 03 trường, mỗi trường phát 70 phiếu Hình thức tiến hành: Gặp gỡ những người được điều tra, phát bảng hỏi cá nhân, hướng dẫn cách trả lời và thu lại bảng hỏi khi đã trả lời xong Tác giả chỉ thu
về được 185 phiếu hợp lệ (25 phiếu không hợp lệ, vì phiếu không trả lời hoặc trả lời không hết câu hỏi trong phiếu điều tra), kết quả dữ liệu trong toàn luận án, được xử
lý bằng phần mền thống kê phân tích dữ liệu (SPSS) trên tổng số 185 phiếu hợp lệ Đặc điểm của đối tượng khảo sát được thể hiện cụ thể dưới đây
- Giới tính: Cụ thể có 105 đối tượng khảo sát là nữ (chiếm 56,7%); đối tượng
là nam giới có 80 người (chiếm 43,3%) Do chọn ngẫu nhiên các đối tượng khảo sát nên có sự chênh lệch về giới tính
- Về độ tuổi: Độ tuổi của đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 35-45 chiếm đa số, với
136 người (chiếm 73,5%) Độ tuổi dưới 35 là 33 người (chiếm 17,8%) Độ tuổi từ 46 –
55 có 10 người (chiếm 5,4%) Những người có độ tuổi trên 55 chiếm tỉ lệ không lớn 3,3% Điều này, cho thấy sự trẻ hóa đội ngũ GV đang diễn ra trong các trường ĐH
- Về học hàm, học vị: Trong số 185 đối tượng khảo sát, có 12 người có học hàm (chiếm 6,5%), trong đó, PGS chiếm đa số (chiếm 5,4%), số người có học hàm
GS chiếm rất nhỏ (chiếm 1,1%) Còn phần đông đối tượng khảo sát có học vị từ ThS trở lên (chiếm 56,2%); đối tượng khảo sát có học vị TS là 65 người (chiếm 35,1% Đối tượng có trình độ cử nhân là 4 người (chiếm 2,2%)
- Số năm công tác: Đối tượng khảo sát có số năm công tác chiếm đa số là từ 1 đến 9 năm và trên 10 năm Cụ thể: Đối tượng khảo sát có số năm công tác từ 1 đến 9 năm chiếm đến 48,1%, còn từ trên 10 năm công tác (chiếm 47,0%) Đối tượng khảo sát có số năm công tác trên 20 năm (chiếm 4,9%)
- Về công việc của đối tượng khảo sát Luận án tập trung phân tích hoạt động hoạt động KH&CN trong trường ĐH Vì vậy, chủ yếu là những GV ĐH, họ là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động NCKH: có 171 người (chiếm 92,4%); những người làm công tác quản lý, đặc biệt là quản lý NCKH có 14 người (chiếm 7,6%),
Trang 22những ý kiến của các nhóm đối tường này là những đánh giá khách quan về hoạt động NCKH trong trường ĐH
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện để thu thập những thông tin định tính nhằm bổ sung, giải thích cho các thông tin định lượng Đồng thời, phương pháp
này còn giúp cung cấp những thông tin mới mà số liệu định lượng không thu được
Trong khuôn khổ luận án, tác giả đã thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với các đối tượng: 15 giảng viên – người trực tiếp làm công tác giảng dạy và NCKH; 5 nhà quản lý (01 Phó giám đốc của ĐHTN và 02 hiệu trưởng của trường ĐH thành viên; 02 Trưởng khoa) và 5 cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý hoạt động KH&CN (01 Phó Trưởng Ban của ĐHTN; 04 Trưởng/Phó phòng – phụ trách mảng hoạt đông KH&CN ở một số các trường ĐH thành viên ĐHTN Nội dung phỏng vấn: Tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động NCKH của GV; những khó khăn khi triển khai áp dụng chính sách; những rào cản khi thực hiện thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong trường ĐH, trong đó có tự chủ, tự chịu trách nhiệm về KH&CN
Tác giả đã tiến hành trao đổi, xin ý kiến của 3 chuyên gia – những người có
am hiểu sâu về lĩnh vực chính sách Những ý kiến đóng góp của chuyên gia giúp tác giả có những định hướng trong việc đề xuất các giải pháp định hướng tác động chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH để thúc đẩy việc hình thành ĐHNC ở Việt Nam Những thông tin thu được bằng phương pháp phỏng vấn được coi là những luận cứ thực tiễn khách quan để đánh giá tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN, cũng như thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về KH&CN trong trường ĐH
9.2.4 Phương pháp thống kê
Tác giả đã tiến hành thống kê số liệu từ báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN của các trường ĐH được chọn làm mẫu khảo sát nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án Việc tiến hành thống kế con số định lượng của hoạt động KH&CN
là cần thiết, giúp luận án có căn cứ thực tiễn để so sánh, đánh giá về hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Trang 239.2.5 Phương pháp so sánh
Tác giả đã đi so sánh kết quả hoạt động KH&CN trước và sau khi áp dụng chính sách KH&CN để xem xét sự tác động của nhóm chính sách này đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH Các chỉ số để xem xét kết quả hoạt động KH&CN của trường ĐH gồm: Số lượng đề tài, chương trình, dự án đã và đang thực hiện; Số lượng bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế uy tín; Số lượng bài báo khoa học được công bố trên tạp chí trong nước; Số lượng hợp đồng CGCN (từ kết quả nghiên cứu) vào sản xuất Sự thay đổi về kết quả hoạt động KH&CN trước và sau khi áp dụng chính sách, phản ánh sự tác động ít nhiều do việc áp dụng của chính sách tạo ra Đối với nhóm chính sách KH&CN tác động đến thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về KH&CN trong trường ĐH, tác giả đi
so sánh mức độ tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN các cấp, tự chủ về nhân sự KH&CN, tự chủ về tài chính cho KH&CN và tự chủ hợp tác quốc tế về KH&CN được thể hiện như thế nào sau khi áp dụng chính sách
10 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan về các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến chủ đề luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận về sự tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH
Chương 3: Hiện trạng tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động hoạt động KH&CN trong trường ĐH (Nghiên cứu trường hợp Đại học Thái Nguyên)
Chương 4 Đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng của một số chính sách lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH) trong trường ĐH để góp phần hình thành ĐHNC
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án
Qua nghiên cứu tài liệu nước ngoài, tác giả nhận thấy đã có những công trình nghiên cứu được công bố bàn về một số nội dung liên quan đến chủ đề của luận án
Trước hết, phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “National Science Policy and
Universities” [70] Công trình nghiên cứu này đã cho thấy khoa học từ chỗ bị bỏ
quên được biết đến như một công cụ quản lý, ở giai đoạn khoa học bị bỏ quên, các trường ĐH nhận được tài trợ từ Chính phủ cho nghiên cứu như nhà ở, thiết bị và vật liệu nhưng trên thực tế không có một chính sách khoa học nào được tuyên bố, chỉ đến khi mối quan hệ giữa các trường ĐH với nhà nước và các ngành trong xã hội, đặc biệt là công nghiệp và thương mại ngày càng được khẳng định thì sự đổi mới, phát triển về công nghệ mới được nhìn nhận là phụ thuộc trực tiếp hơn và thường gắn liền với thực hành khoa học Một chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các trường ĐH và các doanh nghiệp Chính sách nhấn mạnh đến vai trò của các trường ĐH trong sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, được xem là nguồn đổi mới công nghệ và khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục cũng như nghiên cứu, một loạt mục tiêu lớn trong chính sách được thiết kế để đưa các trường ĐH và doanh nghiệp gần nhau hơn nhằm khuyến khích các ngành công nghiệp chiếm phần lớn trong tài trợ cho nghiên cứu trong các trường ĐH để giảm sự phụ thuộc vào quỹ công Các Chính phủ đã thiết lập hướng rõ ràng hơn cho chính sách GDĐH và khoa học: Yêu cầu các trường ĐH
đệ trình các kế hoạch nghiên cứu và đã cho phép các viện nghiên cứu và trường ĐH được tự do hơn về vấn đề học thuật Điều này được minh chứng bằng việc thay đổi trong Luật về Sở hữu trí tuệ, các trường ĐH được giải phóng, yêu cầu bồi thường quyền sở hữu trí tuệ đối với những kiến thức mới được phát triển trong tài trợ của nhà nước Các chính sách khoa học dựa trên ý tưởng về kiến thức nền kinh tế đang ngày càng lan rộng khắp thế giới, bao gồm cả trong các nền kinh tế đang phát triển của Mỹ Latinh, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các chính sách khoa học này là những yếu tố chính gây nên sự thay đổi
Trang 25trong chức năng của trường ĐH ở các quốc gia trên thế giới Mặc dù, nghiên cứu đã cho thấy vai trò của nhà nước trong việc gắn kết trường ĐH với các doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu của trường ĐH nhưng lại chưa bàn tới sự tác động của các chính sách, nhất là chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của trường ĐH (nhất là hàm lượng NCKH) để từ đó thúc đẩy hình thành ĐHNC
Công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đến nghiên cứu của
trường ĐH đó là nghiên cứu “The Impact of Scientific and Technological Policy
Interventions on University Research: Evidence from the National Nano-Technology Initiative” [74] Nghiên cứu này đã xem xét sáng kiến công nghệ Nano quốc gia
(NNI) như là một sự can thiệp chính sách nhằm mục đích thương mại hóa công nghệ
và một hướng nghiên cứu tập trung để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia Nghiên cứu cũng cho thấy NNI có mang lại những hậu quả không lường trước được trong dòng chảy kiến thức của ngành ĐH và đặc điểm của nghiên cứu ĐH về công nghệ Nano, thông qua phân tích các bằng sáng chế về NNI của Hoa Kỳ được đệ trình từ năm 1996 đến năm 2007, các trường ĐH đã tăng đáng kể lưu lượng tri thức từ ngành công nghiệp, giảm sự phân nhánh nhưng NNI lại thu hẹp phạm vi nghiên cứu, và ít
có khả năng tạo ra công nghệ Nghiên cứu cũng đã cho thấy những phát hiện mới: Ít nhất trong trường hợp của NNI, các chương trình KH&CN của Chính phủ có thể làm tăng hiệu quả nghiên cứu của trường ĐH Đây là nghiên cứu gần với chủ đề luận án, nghiên cứu đã đề cập đến sự tác động can thiệp của chính sách cụ thể (chính sách về NNI) vào nghiên cứu của trường ĐH, một số khái niệm liên quan đến chủ đề luận án cũng được đề cập trong nghiên cứu như: tác động; chính sách; chính sách KH&CN Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung phân tích sự tác động của chính sách về NNI đến bản chất nghiên cứu của trường ĐH, sự can thiệp của nhà nước bằng chính sách này nhằm thương mại hóa các sản phẩm công nghệ của trường ĐH mà chưa chỉ ra
tác động của chính sách này đến việc hình thành ĐHNC Hay nghiên cứu“Research
Universities: The core of the US system of science and technology” [66] Nghiên cứu
này bàn về chính sách hỗ trợ tài chính của Chính phủ cho nghiên cứu của trường ĐH
từ năm 1950 đến giữa những năm 1970, thông qua việc thành lập các chương trình nhằm khuyến khích hợp tác NCKH với trường ĐH và coi đây như là một phương
Trang 26tiện để thiết lập mối quan hệ giữa các trường ĐH và ngành công nghiệp, tuy nhiên lại phải đối mặt với một số thách thức đáng kể để có thể tiếp tục giữ vị trí hàng đầu trong việc tìm kiếm kiến thức Có thể thấy, nghiên cứu mới chỉ tiếp cận dưới góc độ chính sách tài chính mà chưa bàn đến các chính sách khác có liên quan nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu của trường ĐH, tuy nhiên nghiên cứu cũng đã đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án
như KH&CN, chính sách tài chính Nghiên cứu có tên “Policies and Universities in
Knowledge in Developing Countries: Inclusive Development and" Developmental Universities” [67], lại đề cập đến loại chính sách được gọi là "dân chủ hóa các
chính sách tri thức" và chỉ ra cách chính sách này hoạt động trong thực tiễn và khám phá cách mà trường ĐH, một phần quan trọng của bất kỳ hệ thống đổi mới quốc gia nào, có thể đóng một vai trò trong sự nổi lên và củng cố sự dân chủ hóa tri thức Các trường ĐH nắm lấy vai trò đó có thể được coi là các trường ĐH phát triển Nghiên cứu đã đi phân tích tại một trường hợp ở Uruguay minh họa một sự chuyển đổi liên tục hướng tới một trường ĐH phát triển Kết quả đạt của nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của chính sách dân chủ hóa tri thức của trường ĐH trong hệ thống đổi mới quốc gia nhưng nghiên cứu này lại chưa bàn đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN để thúc đẩy hiệu quả hoạt động KH&CN của trường ĐH
Cũng đã có những công trình bàn về vai trò của trường ĐH trong hệ thống
giáo dục quốc gia, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu có tên“Educational
Activity of National Research Universities as a Basis for Integration of Science, Education and Industry in Regional Research and Educational Complexes” [72]
Nghiên cứu này đã bàn đến việc hội nhập các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, KH&CN ở Nga, thông qua nghiên cứu khảo sát trường hợp cụ thể về hoạt động giáo dục tại hai trường ĐH quốc gia - ĐH Tomsk và ĐH Bách khoa Tomsk Nghiên cứu chỉ ra được sự gắn kết trường ĐH và các cơ sở nghiên cứu nhằm thực hiện cải cách
hệ thống giáo dục của liên bang Nga và có đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như khái niệm khoa học; ĐHNC, nhưng lại không đề cập đến chính sách KH&CN nào, cũng như tác động của chính sách KH&CN đến trường ĐH
để thúc đẩy hình thành thành ĐHNC Hay“Research of university science and
Trang 27technology innovation system based on low-carbon economy” [77], nghiên cứu này
bàn về một số vấn đề đổi mới KH&CN của trường ĐH hiệu quả hơn, thông qua việc
đề xuất xây dựng hệ thống đổi mới công nghệ quốc gia Để làm được điều đó, các trường ĐH cần xây dựng đội ngũ sáng tạo và tổ chức học tập trên nền tảng phần cứng sáng tạo cũng như tăng cường nền tảng phần mềm để các trường ĐH là những hệ thống sáng tạo có sự tham gia của các nhà khoa học và quản lý tri thức Nghiên cứu này đã có nhắc tới một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án đó là KH&CN Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét hệ thống đổi mới KH&CN của các trường ĐH mà chưa có sự đánh giá tác động của hệ thống đổi mới KH&CN đến hoạt động nghiên cứu của trường ĐH Ngoài ra, còn phải kể đến các tác giả Muskin J.A., Mody J.L., Jack Coteen (Anh), Wu.K.B (Korea), Paker L, Cristopher John Hull (Hoa Kỳ) Các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên tập trung vào các vấn đề: Chức năng của trường ĐH về KH&CN; đặc điểm công tác KH&CN trong trường ĐH, các hình thức tổ chức hoạt động KH&CN trong trường ĐH, các mối liên kết của trường ĐH với các khu vực công nghiệp qua việc xây dựng các khu khoa học, đặc khu công nghệ, dịch vụ tư vấn CGCN trong trường ĐH, các cơ sở và phương tiện cho NCKH, đánh giá chất lượng nghiên cứu, cơ chế hoạt động tự chủ của trường ĐH trong hoạt động KH&CN
Cũng có những công trình nghiên cứu về ĐHNC, trước hết là nghiên cứu có
tên “Research Assessment of Research-Oriented Universities in Taiwan from 1993 to
2003” [71] Nghiên cứu này xem xét các hiệu suất ấn phẩm học thuật của các trường
ĐH định hướng nghiên cứu và được minh họa bằng việc sử dụng số lượng trích dẫn, các trích dẫn trung bình bài báo Sau đó, đánh giá số lượng ấn phẩm trong các lĩnh vực đó để chỉ ra những giá trị của các ấn phẩm khoa học của từng trường Có thể nói, đây là công trình đã có cách tiếp cận khác về các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu của trường ĐH Ngoài hai chỉ số quen thuộc thường được nhắc đến khi tiến hành đánh giá nghiên cứu là số lượng bài báo và số lượng trích dẫn, còn xem xét trên những chỉ số khác như: tỷ lệ trích dẫn trung bình hoặc tần số trích dẫn Các chỉ số này dùng để kiểm tra tác động kết quả nghiên cứu của các trường ĐH Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá hiệu suất nghiên cứu của các trường ĐH
Trang 28định hướng nghiên cứu trong một giai đoạn dài mà chưa thấy đề cập đến sự tác động
của chính sách KH&CN đến trường ĐH Hay nghiên cứu “Performance evaluation
of research universities in Mainland China, Hong Kong and Taiwan: based on a dimensional approach” [73], nhấn mạnh đến một số tiêu chí để xác định ĐHNC đó
two-là dùng chỉ số sản xuất nghiên cứu và các chỉ số chất lượng nghiên cứu Theo đó, có
59 trường ĐHNC được phân thành ba loại, trong đó chỉ ra mức độ liên quan đến hoạt động nghiên cứu, ĐH Hong Kong, ĐH Quốc gia Đài Loan, ĐH Tsing Hua và ĐH
Bắc Kinh dường như là trường ĐH hàng đầu trong hoạt động nghiên cứu Bài viết “It
is important for yield learning at research universities” [64], bàn đến việc đánh giá
chất lượng của người học và khẳng định thước đo năng suất học tập của người học trong các trường ĐHNC không chỉ có việc được cho ý kiến của mình trong mỗi khóa
học mà cần có thêm những thông số khác nữa Nghiên cứu có tên “Knowledge
management as a strategy for the administration of education in the Research University" [80], đã khẳng định văn hóa doanh nghiệp được coi là tiêu chuẩn mới để
làm rõ các tiêu chí của trường ĐH cổ điển Các nội dung cụ thể của văn hóa doanh nghiệp như là một tiêu chí mới của trường ĐH có liên quan đến các điều kiện của thông tin hay kiến thức xã hội Văn hóa doanh nghiệp của các trường ĐHNC không chỉ cung cấp khả năng cạnh tranh của các chuyên gia, mà còn trong các đặc tính tâm linh và đạo đức Cuối cùng, công trình cho rằng chiến lược mới về quản lý giáo dục ở các trường ĐHNC là quản lý tri thức
Ngoài ra, cũng có một số công trình lại bàn về xu hướng tài trợ kinh phí cho các ĐHNC hay vai trò của ĐHNC trong sự phát triển nền kinh tế quốc gia như chẳng
hạn công trình nghiên cứu “Funding trends of research universities in Malaysia”
[65] Nghiên cứu này đã làm rõ thực trạng các xu hướng tài trợ cho năm trường ĐHNC ở Malaysia trong thời hạn 5 năm, kể từ năm 2006 cho đến năm 2011 Nghiên cứu cũng đã xác định các loại nguồn vốn và phân tích các xu hướng kinh phí của 5 ĐHNC ở Malaysia trong việc tài trợ các hoạt động vận hành và nghiên cứu của họ
Hay “Universities/Research Institutes and Regional Innovation Systems: The Cases
of Beijing and Shenzhen” [69], đã làm rõ vai trò của các trường ĐH và các viện
nghiên cứu trong việc phát triển của nền kinh tế Trung Quốc thông qua việc so sánh
Trang 29sự phát triển của Bắc Kinh và Thâm Quyến cụm công nghệ Đối với trường hợp của Bắc Kinh, các trường ĐH và các viện nghiên cứu đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển các cụm công nghệ cao lớn nhất ở Trung Quốc Ngược lại,
ở Thâm Quyến, các nhà hoạch định chính sách có ý thức thiết lập và thu hút các tổ chức GDĐH Nghiên cứu cũng đề xuất những kinh nghiệm của Trung Quốc để xây dựng một mô hình thú vị cho các quốc gia khác với các trường ĐH và các viện
nghiên cứu mạnh Tác giả Thulstrup E.W với công trình nghiên cứu“Higher
education and research out Bolivia”[82], đã tóm tắt ngắn gọn những nội dung cho
thấy sự phát triển của nền GDĐH ở Bolivia; đề cập đến vấn đề quản lý các trường
ĐH cũng như nguyên nhân vì sao có sự tham gia của các tổ chức GDĐH tư nhân, việc các tổ chức GDĐH tư nhân sẽ thách thức sự độc quyền truyền thống của các tổ chức GDĐH công lập ở Bolivia như thế nào? Công trình cũng đã đề cập đến các nội dung như cải cách quản lý GDĐH; tài trợ nghiên cứu và cơ sở hạ tầng, gồm có thư viện; Năng lực nghiên cứu ở một số lĩnh vực cơ bản như năng lượng và vi trùng học; tăng cường mối quan hệ giữa nghiên cứu và cuộc sống thực tế
* Nhận xét, đánh giá: Qua tham khảo các công trình nghiên cứu được
công bố ở nước ngoài cho thấy đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến chủ đề của luận án đó là: Một số thuật ngữ như chính sách, chính sách KH&CN; ĐHNC; tác động của chính sách KH&CN dưới các cách tiếp cận khác nhau; Hệ thống đổi mới KH&CN của trường ĐH; Hiệu suất nghiên cứu, xu hướng tài trợ trong trường ĐHNC, vai trò của trường ĐHNC trong hệ thống GDĐH và quản lý các trường ĐHNC, nhưng góc độ tiếp cận mới dừng lại ở vai trò chính sách của nhà nước trong trường ĐH hay dưới góc độ quản lý giáo dục ĐH Đã có 01 công trình
nghiên cứu gần với chủ đề của luận án đó là: The Impact of Scientific and
Technological Policy Interventions on University Research: Evidence from the National Nano-Technology Initiative” Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này mới
dừng lại ở việc chỉ ra tác động của chính sách công nghệ Na nô đến bản chất nghiên cứu của trường ĐH, mà chưa đề cập đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH) để góp phần thúc đẩy hình thành ĐHNC
Trang 301.2 Các công trình khoa học đã công bố ở trong nước liên quan đến chủ đề luận án
Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến chủ đề của luận án cũng cho thấy đây là một lĩnh vực còn mới mẻ, bởi các công trình nghiên cứu đã công bố mới chỉ đề cập đến một vấn đề hoặc một khía cạnh nào đó liên quan đến chủ đề của luận
án Có thể chia theo nội dung vấn đề nghiên cứu dưới đây
- Các công trình nghiên cứu về chính sách KH&CN
Trước hết, phải kể đến tác giả Vũ Cao Đàm với một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu như cuốn sách có tên“Nghiên cứu chính sách và chiến lược” [18] Công
trình nghiên cứu này đã chỉ ra vấn đề bức thiết của chính sách khoa học và kĩ thuật; việc vận dụng tinh thần cơ bản của Nghị quyết số 08, nâng cao hiệu quả quản lý khoa học; đổi mới quan điểm về chính sách đối với trí thức khoa học và kĩ thuật; tiếp tục tiến trình cải cách chính sách KH&CN ở nước ta; định hướng cải cách thiết chế tài chính cho KH&CN trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; đổi mới chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN Ngoài ra, tác giả cũng có đề cập đến vấn đề bao giờ khoa học và GDĐH hết phân ly; dịch vụ KH&CN; doanh nghiệp KH&CN Từ việc mô tả một cách chân thực và đúng bản chất về thực trạng hoạt động KH&CN của nước ta, tác giả đã đề xuất hai nội dung cần đổi mới là đổi mới thiết chế tài chính cho KH&CN và chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN, không thể phủ nhận những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn mà công trình này đem lại Tuy nhiên, bàn về tác động của chính sách KH&CN đến trường ĐH nói chung và đến quá trình xây dựng ĐHNC ở Việt Nam nói riêng thì chưa thấy đề cập trong công trình nghiên cứu này
Hay cuốn “Nghịch lý khoa học và giáo dục trong xã hội đương đại Việt Nam”
[14] Công trình này đã bàn về xu hướng cải cách khoa học và giáo dục; đôi điều suy ngẫm về chính sách KH&GD ở Việt Nam hiện nay Thông qua việc làm rõ về thành tựu của cải cách chính sách KH&CN trong những năm qua như: đã ban hành được một chính sách thành văn cho khoa học; sử dụng cán bộ đúng ngành nghề Đồng thời, cuốn sách cũng chỉ ra những tồn tại như: cơ chế “Xin – cho” còn phổ biến trong các
tổ chức KH&GD hiện nay; hay ấn định số lượng nhân lực cho cơ quan KH&GD; lương cho ngành KH&GD; căn bệnh hành chính hóa khoa học, nhưng làm thế nào để
Trang 31giải quyết những tồn tại này của KH&GD hay chính sách KH&CN tác động đến hệ thống giáo dục như thế nào lại chưa thấy đề cập trong cuốn sách này
Nghiên cứu về bản thân chính sách KH&CN, cũng đã có không ít những công
trình đề cập tới, có thể kể đến bài viết "Nghị định 115: Thiếu nhất quán giữa mục
đích và phương tiện" [15], của Vũ Cao Đàm Bài viết này đã chỉ ra những vấn đề còn
bất cập của Nghị định 115 Cụ thể là khoản 2, Điều 7 của Nghị định Tác giả cho rằng hệ thống KH&CN Việt Nam vẫn là mô hình của một nhà nước độc tôn LÀM khoa học, còn cộng đồng khoa học vẫn đóng vai trò của kẻ làm thuê cho nhà nước Cùng với đó, tác giả cũng chỉ ra hàng loạt thiết chế vĩ mô đang cản trở thực hiện quyền tự trị của tổ chức khoa học Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở đó mà chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để giúp Nghị định 115 đi vào cuộc sống Trong một
bài viết khác cũng bàn về Nghị định 115 “Thực hiện NĐ 115: Cần thay đổi quan
điểm của cấp vĩ mô”, Vũ Cao Đàm đã đưa ra những giải pháp cụ thể đó là: Thu hẹp
các chương trình, đề tài, nhiệm vụ nhà nước các cấp Mỗi cấp chỉ giữ một-hai nhiệm
vụ thực sự là của Nhà nước Nhà nước chỉ “phân bổ” kinh phí cho một-hai nhiệm vụ này; Mở rộng các đề tài “cấp” cá nhân, do cá nhân đề xuất và thực hiện Nhà nước đóng vai trò người tài trợ hào hiệp, chứ không “phân bổ” để thực hiện chỉ các đề tài
“cấp” nhà nước; Nhà nước thay đổi quan niệm về đánh giá KH&CN, không “nghiệm thu” các đề tài “cấp” cá nhân này Cuối cùng, phải thực sự có kinh tế thị trường, từ
đó doanh nghiệp sẽ nảy sinh nhu cầu đổi mới công nghệ để tăng năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, hai bài viết nêu trên của Vũ Cao Đàm, mới chỉ dừng lại ở việc tập trung phân tích hạn chế của Nghị định 115 và đề xuất một số hướng hoàn thiện chính sách này nhưng chưa xem xét sự tác động của Nghị định này đến hoạt động KH&CN trong tổ chức KH&CN là trường ĐH để hình thành ĐHNC
Hay bài viết "Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công
lập: Những điều chỉnh cần thiết” [3] của Đinh Việt Bách cũng đã chỉ ra các bất cập
còn tồn tại của Nghị định 115/2005/NĐ-CP như việc xác định tổ chức KH&CN công lập theo phân loại quy định tại Nghị định 115 là rất khó khăn và không khả thi trong thực tiễn Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lai ở chỗ chỉ ra bất cập của Nghị định
115, chưa thấy đề cập đến thực tiễn tác động Nghị định 115 về tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức KH&CN cụ thể nào
Trang 32Bài viết có tên “Vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về tổ chức, cán
bộ đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ” [62], lại tập trung làm rõ một số vướng mắc hiện
nay liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ ở các đơn vị sự nghiệp (đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp tự chủ toàn bộ) khi áp dụng Nghị định 43/2006/NĐ-CP Bài viết cho thấy những vướng mắc về việc áp dụng các quy định của Nghị định 43 trong thực tiễn khiến cho các đơn vị sự nghiệp công lập khi áp dụng còn chưa hiệu quả
* Nhận xét, đánh giá: Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách
KH&CN chủ yếu bàn đến triết lý phát triển KH&GD Việt Nam; xu thế cải cách KH&GD Đồng thời, cũng có bàn đến một số bất cập của bản thân của một số chính sách KH&CN (Cụ thể là Nghị định 115/2005/NĐ-CP hay Nghị định 43/2006/NĐ-CP) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này lại chưa bàn về tác động chính sách KH&CN cụ thể nào đến hoạt động KH&CN trong các trường ĐH
- Các công trình nghiên cứu về tác động của chính sách KH&CN
Trước kết phải kể đến nghiên cứu“Đánh giá tác động của các chính sách xây
dựng nông thôn mới ở Việt Nam” [43], của Hoàng Vũ Quang đã bàn đến một số vấn
đề lý luận liên quan đến chủ đề luận án đó là khái niệm tác động, đánh giá tác động chính sách, chuỗi tác động của chính sách, các tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động của chính sách Phần lý luận này của công trình nghiên cứu đã được tác giả kế thừa trong luận án Tuy nhiên, nghiên cứu này tiếp cận dưới góc độ đánh giá tác động chính sách của nhà nước để xây dựng, phát triển nông thôn ở Việt Nam chứ không bàn đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong các trường
ĐH để thúc đẩy hình thành ĐHNC
Nghiên cứu có “Tác động của cơ chế tuyển chọn đến hoạt động nghiên cứu và
triển khai của các địa phương” [37] của tác giả Đỗ Nam cũng đã tập trung bàn về
các nội dung như: Cơ chế tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ KH&CN; quy trình tổ chức tuyển chọn; tổ chức thực hiện cơ chế tuyển chọn ở địa phương; tác động tích tực của cơ chế tuyển chọn; các khó khăn, hạn chế trong tổ chức thực hiện cơ chế tuyển chọn ở địa phương Bài viết đã dựng lại bức tranh tổng thể về tình hình triển khai thực hiện cơ chế tuyển chọn một cách khách quan, từ việc cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật thành các quy định, quy chế quản
lý cụ thể của các địa phương, đến việc tổ chức tuyển chọn các tổ chức và cá nhân,
Trang 33tại chỗ hoặc ngoài địa bàn làm chủ trì các nhiệm KH&CN địa phương Phân tích được tác động tích cực của cơ chế tuyển chọn đến thể chế và hoạt động nghiên cứu
và triển khai vào xã hội Đồng thời, còn chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong việc triển khai thực hiện cơ chế tuyển chọn đến hoạt động nghiên cứu và triển khai Tuy nhiên, bài viết mới chỉ ra được những tác động tích cực của cơ chế tuyển chọn đến thể chế và hoạt động nghiên cứu và triển khai mà chưa bàn đến việc cơ chế này có tác động tiêu cực như thế nào vào các yếu tố đó Mặt khác, cơ chế tuyển chọn không chỉ có tác động vào thể chế và hoạt động nghiên cứu và triển khai mà còn tác động đến nhiều nội dung khác nữa như: cơ chế tuyển chọn các nhà khoa học; nguyên tắc thành lập, số lượng thành phần, cơ cấu và cách thức làm việc của các hội đồng tư vấn tuyển chọn
Hay nghiên cứu " Tác động của cơ chế tự chủ và hoạt động của tổ chức khoa
học và công nghệ công lập: Nghiên cứu thăm dò”[48] Công trình này đã tập trung
nghiên cứu ba vấn đề cơ bản: Hiện trạng các tổ chức KH&CN công lập dưới sự quản
lý của các cơ quan Bộ, ngành và địa phương; Tình hình thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ trong các tổ chức KH&CN công lập; Đánh giá tác động của cơ chế tự chủ (theo tinh thần Nghị định 115) đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập Cuối cùng, đề xuất một số khuyến nghị để làm cho việc áp dụng Nghị định 115 có hiệu quả hơn trong các tổ chức KH&CN Đây là một công trình nghiên cứu công phu, lựa chọn đối tượng khảo sát rộng, bao phủ đối tượng nghiên cứu Đồng thời, là một nghiên cứu đánh giá tác động của Nghị định 115 đến các tổ chức KH&CN công lập nên kết quả nghiên cứu của công trình là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu tích cho các cơ quan hoạch định chính sách xem xét và có những điều chỉnh phù hợp, góp phần làm cho việc áp dụng Nghị định 115 trong thực tế có hiệu quả Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của Nghị định 115 đến hoạt động của các tổ chức KH&CN mới chỉ dừng lại ở đánh giá chuyển đổi hoạt động mà chưa có những đánh giá tác động ngoại biên dương tích cũng như ngoại biên âm tính của chính sách này đến hoạt động của các tổ chức KH&CN
Nghiên cứu “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá
trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” [31], đã tập trung nghiên cứu tác động của chính sách KH&CN nói
Trang 34chung và hai chính sách cụ thể đó là: Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/NĐ-CP năm 2005 đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện KH&CN Việt Nam Đồng thời, đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện KH&CN Việt Nam So với các
đề tài làm về tác động của chính sách KH&CN, thì đề tài này đã có những giới hạn
về đối tượng khảo sát (đó là chỉ tập trung vào phân tích tác động của hai chính sách: Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/NĐ-CP năm 2005 đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện KH&CN Việt Nam) Nghiên cứu cũng
đã có sự so sánh tác động của hai chính sách ở các thời điểm khác nhau khi tiến hành
áp dụng chính sách này vào Viện KH&CN Việt Nam, so với các công trình nghiên cứu về chính sách KH&CN thì đây là công trình đã giới hạn vào hai nhóm chính sách
cụ thể nên kết quả đạt được có đóng góp nhất định vào hoàn thiện hệ thống chính nói chung và chính sách KH&CN nói riêng Tuy nhiên, hệ thống giải pháp được đề xuất trong đề tài còn mang tính chung chung, chưa tập trung giải quyết vấn đề còn tồn tại
ở Viện KH&CN Việt Nam khi thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm (chẳng hạn: Tạo lập các điều kiện cho các viện nghiên cứu và triển khai thuộc Viện KH&CN Việt Nam thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Tăng cường sự thống nhất giữa quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ,…)
* Nhận xét, đánh giá: Nhóm công trình nghiên cứu về tác động của chính
sách KH&CN mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá các tác động của chính sách KH&CN đến các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu) chứ chưa tiếp cận ở góc độ đánh giá tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường
ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH), để thúc đẩy hình thành ĐHNC Tuy nhiên, những kết quả đạt được về mặt lí luận của các công trình này đã được tác giả luận án kế thừa và vận dụng để làm rõ cho phần
cơ sở lí luận liên quan đến luận án
- Các công trình nghiên cứu về đại học nghiên cứu
Trước hết, phải kể đến tác giả Phạm Thị Ly với một số công trình nghiên cứu
tiêu biểu như bài viết “Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại” [35],
đã tập trung làm rõ những vấn đề như: Ý nghĩa của ĐHNC đối với doanh nghiệp, Chính phủ và với cộng đồng; phân tích mười đặc điểm của trường ĐHNC và cho
Trang 35rằng với mười đặc điểm này sẽ là căn cứ lý luận quan trọng cho những ai quan tâm,
nghiên cứu hay xem xét đến một trường ĐHNC Đặc biệt bài viết “Khái niệm về
trường đại học nghiên cứu và các tiêu chí nhận diện đại học nghiên cứu” [36], đã
tổng quan về ĐHNC qua nghiên cứu trong lịch sử ĐH Châu Âu; ĐHNC ở Hoa Kỳ; Đưa ra các tiêu chí để nhận diện ĐHNC thông qua hai cách tiếp cận: Thứ nhất: Tiếp cận định lượng (qua các nhân tố đầu vào và đầu ra của ĐHNC), gồm: Nhân tố con người (tỉ lệ người có bằng TS trong tổng số các GV, tỉ lệ giữa GV và sinh viên); Nguồn lực kinh phí dành đầu tư vào hoạt động nghiên cứu của nhà trường; Số lượng bằng TS cấp được hằng năm, hay tỉ lệ NCS và sinh viên; Số lượng công bố khoa học quốc tế, giải thưởng, bằng phát minh và sáng chế Tiếp cận định tính (qua quá trình hoạt động của ĐHNC): Cơ chế quản trị; Văn hóa khoa học (là tinh thần theo đuổi chân lý khoa học; thượng tôn chân lý); Tự do học thuật; Tính chất toàn cầu hóa và quốc tế hóa Các tiêu chí này với những đặc điểm khiến nó trở nên khác biệt so với những trường ĐH khác và là những điều kiện cần và đủ cho một trường ĐHNC Đóng góp lớn nhất của các công trình nghiên cứu kể trên của tác giả Phạm Thị
Ly là đã đưa ra những đề xuất về tiêu chí nhận diện trường ĐHNC dựa trên tư liệu thành văn quốc tế và các phổ niệm được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu về ĐHNC, góp phần xây dựng tiêu chuẩn từng tầng để phục vụ cho việc phát triển chính sách Tuy nhiên, việc nhận diện ĐHNC theo tiếp cận định tính còn chung chung, chưa cụ thể Chẳng hạn: Cơ chế quản trị; Văn hóa khoa học (là tinh thần theo đuổi chân lý khoa học; thượng tôn chân lý); Tự do học thuật; Tính chất toàn cầu hóa và quốc tế hóa Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ đơn thuần đi phân tích các đặc điểm của ĐHNC, đề xuất các tiêu chí nhận diện ĐHNC mà chưa bàn đến mối quan
hệ nhân quả của tác động chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN có thể làm tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng khoa học của các công trình nghiên cứu), từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường ĐH, đây là những tiêu chí cơ bản của ĐHNC thế giới
Hay nghiên cứu “Một số đặc điểm của đại học nghiên cứu – kinh nghiệm quốc tế
cần áp dụng cho Việt Nam” [26], của tác giả Nguyễn Chí Hải, Nguyễn Hồng Nga
Nghiên cứu này tập trung làm rõ lịch sử ra đời và khái niệm liên quan đến ĐHNC,
Trang 36phân tích một số đặc điểm của ĐHNC trên thế giới, đồng thời đưa ra những thách thức trong việc hình thành một ĐHNC theo đúng nghĩa tại Việt Nam Đóng góp của công trình này là giúp các ĐH của Việt Nam lường trước được những thách thức trong tiến trình xây dựng ĐHNC, góp phần làm phong phú thêm phương diện lý luận về ĐHNC, tuy nhiên cách tiếp cận vấn đề còn mang tính chất tổng hợp kinh nghiệm thế giới và đề xuất mà chưa có nghiên cứu về giải pháp để xây dựng ĐHNC ở Việt Nam
* Nhận xét, đánh giá: Nhóm công trình nghiên cứu về ĐHNC chủ yếu bàn đến
một số nội dung của ĐHNC như khái niệm, đặc điểm và các tiêu chí nhận diện ĐHNC mà chưa thấy có công trình nào tiếp cận dưới góc độ tác động chính sách đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong trường ĐH (nhất là hàm lượng NCKH) để thúc đẩy hình thành ĐHNC
- Các công trình nghiên cứu về giải pháp xây dựng ĐHNC ở Việt Nam
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “Nghiên cứu cơ chế quản
lý đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao theo hướng đại học nghiên cứu"
[46] Nghiên cứu này tập trung làm rõ vai trò, sự cần thiết và sự phát triển các ĐH đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng ĐHNC; Tình hình hệ thống ĐH và cao đẳng ở Việt Nam; Chức năng, nguyên tắc đào tạo và các tiêu chí ĐH đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng ĐHNC; Một số luận cứ liên quan đến việc lựa chọn các giải pháp trong xây dựng ĐH Quốc gia Hà Nội theo hướng ĐHNC; Đề xuất cơ chế quản lý ĐH đa ngành,
đa lĩnh vực chất lượng cao theo hướng ĐHNC Nghiên cứu này có bàn đến chức năng của một ĐHNC; nguyên tắc đào tạo của ĐHNC; các tiêu chí chung của ĐHNC Tuy nhiên, cứu nghiên không đề cập đến các chính sách KH&CN tác động đến ĐH đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng ĐHNC
Đề tài luận án tiến sĩ có tên “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực”[11], đã đề cập đến việc quản lý hoạt
động NCKH ở ĐH đa ngành, đa lĩnh vực Nghiên cứu đã đưa ra một mô hình và giải pháp triển khai mô hình quản lý hoạt động NCKH ở ĐH đa ngành, đa lĩnh vực Nghiên cứu này đã bàn đến mô hình ĐHNC, vai trò của hoạt động NCKH trong trường ĐH, nhưng không có đề cập các chính sách KH&CN tác động đến việc hình thành ĐHNC
Trang 37Tiếp đến là Trương Quang Học, với bài viết “Hướng tới xây dựng mô hình đại
học nghiên cứu ở Việt nam” [29], đề cập đến xuất xứ của khái niệm ĐHNC; chỉ ra
một số đặc trưng, đặc điểm để xác định một ĐHNC, đồng thời bài viết cũng bàn về việc xây dựng ĐHNC ở Việt Nam hiện nay Hay bài viết “Suy nghĩ về về xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội theo mô hình một đại học nghiên cứu hiện đại” [27] Bài viết trên cơ sở đánh giá thực trạng của Đại học Quốc gia Hà Nội từ đó đưa ra giải pháp thúc đẩy việc xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội theo mô hình ĐHNC hiện đại
Tác giả Đinh Ái Linh trong bài viết “Kinh nghiệm 8 nước xây dựng ĐH đẳng
cấp quốc tế” [33], đã khái quát nội dung, kết quả bước đầu, đặc điểm chính các dự
án đầu tư phát triển GDĐH ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Pháp, Canada…, những vấn đề tồn tại của nền GDĐH các nước sau những dự
án đó Qua đó, cho thấy các nước đều có dự án xây dựng ĐH đẳng cấp thế giới khá
đa dạng, nhưng nội dung chủ yếu vẫn là tập trung đầu tư kinh phí để đẩy nhanh khả năng NCKH của các trường ĐH và các viện nghiên cứu, tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài; xây dựng các trường ĐH trọng điểm để từng bước nâng lên trình độ đẳng cấp thế giới; từ đó, nâng cao tính cạnh tranh GDĐH trên phạm vi toàn cầu
Tác giả Vũ Cao Đàm với bài viết “Cơ sở phương pháp luận định hướng và
những giải pháp xây dựng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội theo hướng đại học nghiên cứu”[17], đã đưa ra 3 phương pháp để
nhận diện “ĐHNC” đó là: Tiếp cận theo chức năng; tiếp cận theo sản phẩm và tiếp cận giáo dục Đưa đề xuất cơ cấu ĐHNC Trên cơ sở phương pháp luận tiếp cận ĐHNC Chuyên đề đi đánh giá thực trạng trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn,
từ đó đề xuất những giải pháp để xây dựng trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội theo hướng ĐHNC
Hay bài viết “Đào tạo đội ngũ giảng viên trong bối cảnh xây dựng đại học
nghiên cứu” [32], của tác giả Phạm Gia Lâm đã đề xuất về một số giải pháp định
hướng xây dựng một ĐHNC, cụ thể các giải pháp là: Tăng cường chất lượng đầu vào; nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy – nghiên cứu; đẩy mạnh khả năng sáng tạo tri thức thông qua tích hợp giữa đào tạo sau ĐH và NCKH; phát triển nguồn
Trang 38tài chính đầu tư trực tiếp cho người học và chi phí cho trang thiết bị giảng đường, cho thư viện, hệ thống máy tính với khả năng kết nối và truy cập internet cao, tạo cơ sở triển khai theo học chế tín chỉ; mở rộng các hình thức hợp tác theo hướng quốc tế hóa chương trình đào tạo, tạo môi trường hỗ trợ và tăng tính liên ngành trong đào tạo và NCKH Một lần nữa tác giả khẳng định việc nâng cao chất lượng nhà giáo là một nhiệm vụ trọng tâm vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt về chất lượng giáo dục, vừa mang tính chiến lược lâu dài trong việc xây dựng ĐHNC
Lê Anh Xuân với bài viết “Thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ đưa
Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành đại học nghiên cứu” [63], đã tập trung phân tích
những thông tin và những nguồn lực hiện tại dành cho hoạt động KH&CN tại Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất những chính sách KH&CN cần thiết để xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành một ĐHNC
* Nhận xét, đánh giá: Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp xây dựng
ĐHNC mới chỉ xoay quanh việc nâng cao chất lượng GV; thúc đẩy hoạt động KH&CN; hướng đi cho việc xây dựng ĐHNC chứ chưa thấy tiếp cận dưới góc độ tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng của chính sách KH&CN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của trường ĐH từ đó góp phần thúc đẩy hình thành ĐHNC
Tóm lại: Từ việc tổng luận các công trình nghiên cứu được công bố ở trong nước cũng như ở nước ngoài cho thấy các công trình nghiên cứu này mới được tiếp cận dưới góc độ quản lý giáo dục hay quản lý chính sách mà chưa thấy có công trình nào tiếp cận dưới góc độ đánh giá tác động chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH để thúc đẩy hình thành ĐHNC Do đó, luận án “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu” là một hướng nghiên cứu mới và có các nhiệm vụ cụ thể sau:
* Về cơ sở lý luận, luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ sự tác động động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH để thúc đẩy hình thành ĐHNC như cách tiếp cận và phương pháp
Trang 39đánh giá tác động chính sách KH&CN; Xây dựng khung đánh giá tác động chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH
* Về cơ sở thực tiễn, luận án có nhiệm vụ:
- Khảo sát thực trạng tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong các trường ĐH (qua nghiên cứu trường hợp ĐHTN) Đề xuất giải pháp định hướng tác động chính sách lựa chọn đến hoạt động KH&CN trong trường
ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là tăng cường hàm lượng NCKH), để thúc đẩy việc hình thành ĐHNC ở Việt Nam
1 Các vấn đề như chính sách KH&CN, hệ thống đổi mới KH&CN trong trường
ĐH hay năng lực nghiên cứu trong các trường ĐHNC; tiêu chí ĐHNC; giải pháp để xây dựng ĐHNC đã thu hút được rất nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm
2 Tuy nhiên, việc tiếp cận các vấn đề nêu trên dưới góc độ tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (nhất là hàm lượng NCKH), để thúc đẩy hình thành ĐHNC thì lại
chưa có công trình nào đề cập đây được coi là “khoảng trống” cần được tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện
3 Do đó, nghiên cứu đề tài “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để đẩy thúc hình thành đại học nghiên cứu”, sẽ góp phần hoàn thiện khoảng trống mà các công trình
đã công bố trong nước cũng như nước ngoài chưa đề cập
Trang 402.1.1 Hoạt động khoa học và công nghệ
Trong thời đại ngày nay, có lẽ không còn ai là không nhận thức được rằng KH&CN có vai trò rất quan trọng về nhiều mặt đối với sự phát triển, KH&CN là cái không thể thiếu được trong đời sống kinh tế - văn hóa của một quốc gia Theo cách hiểu chung nhất, hoạt động KH&CN là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng những kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới Còn theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), hoạt động KH&CN là khái niệm được sử dụng để chỉ những hoạt động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, các nhà công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác NCKH và CGCN, phát triển KH&CN [12, tr73] Tại
Khoản 3 Điều 3 Luật KH&CN năm 2013, có giải thích: Hoạt động khoa học và
công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [39] KH&CN cùng với đào tạo được coi là hai hoạt động trọng tâm của một trường ĐH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài về đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo ra các sản phẩm trí tuệ Hoạt động KH&CN trong trường
ĐH bao gồm những nội dung sau: Thực hiện các đề tài/dự án NCKH các cấp, đầu tư tăng cường năng lực cho NCKH, đầu tư xây dựng cơ bản cho NCKH, hợp tác quốc tế
về NCKH, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ KH&CN, tổ chức các hội nghị, hội thảo, thông tin KH&CN, tổ chức hoạt động NCKH của sinh viên, học viên cao học
và NCS Theo đó cho thấy trường ĐH đã thực hiện đa dạng về các loại hình nghiên cứu như từ NCCB đến NCƯD và NC&TK, cũng như các lĩnh vực nghiên cứu như