Nhận thấy việc thực hiện đề tài này tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn sẽ giúp cho đơn vị thấy rõ thực trạng, nguyên nhân của hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm tăng số thu, hạn chế thất thu c
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Hà N ội – 2017
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
LÊ LAN PHƯƠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PH ẠM THỊ KIM NGỌC
Hà N ội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được tôi trích dẫn đầy
đủ
HỌC VIÊN
Lê Lan Phương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 3
1.1.Những vấn đề chung về thuế 3
1.1.1.Khái niệm về thuế 3
1.1.2.Bản chất của thuế 3
1.1.3.Chức năng của thuế 4
1.1.4.Vai trò của thuế 6
1.1.5.Thuế Tài nguyên và phí Bảo vệ môi trường 7
1.1.5.1 Các loại thuế tại Việt nam hiện nay 7
1.1.5.2.Các loại thuế áp dụng đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản 9
1.2.Những vấn đề chung về doanh nghiệp khai thác khoáng sản 13
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp 13
1.2.2 Đặc điểm của DN khai thác khoáng sản 14
1.3 Quản lý thu thuế và quản lý thu thuế tài nguyên, phí môi trường 15
1.3.1 Khái niệm 15
1.3.2 Nội dung Quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT 16
1.4 Quy trình quản lý thu thuế đối với DN khai thác Khoáng sản 21
1.4.1 Lập kế hoạch Quản lý các thủ tục hành chính về thuế 21
1.4.2.Thực hiện các thủ tục hành chính về thuế 22
1.4.3 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế 23
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế đối với DN khai thác khoáng sản 24
1.6 Các nhân tố ảnh hướng đến quản lý thu thuế đối với thuế Tài nguyên, phí BVMT 26
1.6.1.Các yếu tố bên trong 26
1.6.2.Các yếu tố bên ngoài 27
1.7 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT 30
Tóm tắt chương 1 31
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC 32
QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BVMT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TẠI CHI CỤC THUẾ NGHĨA ĐÀN 32 2.1 Đặc điểm Chi cục Thuế huyện Nghĩa Đàn 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ 32
2.1.3.Cơ cấu tổ chức 33
2.1.4.Kết quả thu ngân sách những năm gần đây 35
2.2 Phân tích công tác quản lý thu thuế Tài nguyên, phí BVMT của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn 39
Trang 52.2.1.Phân tích theo các kết quả đạt được 39
2.2.1.1.Chỉ tiêu về số thu thuế tài nguyên và phí BVMT giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 39
2.2.1.2.Chỉ tiêu về số nợ thuế tài nguyên và phí BVMT giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 43
2.2.2.Phân tích theo quy trình quản lý thu thuế 53
2.2.2.1 Quản lý các thủ tục hành chính về thuế 53
2.2.2.2.Thực hiện các thủ tục hành chính về thuế 54
2.2.2.3 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế 54
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT trên địa bàn 56
2.3.1.Yếu tố bên ngoài 56
2.3.2 Các Yếu tố bên trong 58
2.3.3 Khảo sát ý kiến của NNT về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL thu thuế TN, phí BVMT 60
2.4.Đánh giá chung 61
2.4.1.Những kết quả đạt được 61
2.4.2.Mặt hạn chế và nguyên nhân 62
Tóm tắt chương 2 66
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BMVT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TẠI CHI CỤC THUẾ NGHĨA ĐÀN 67
3.1 Định hướng quản lý của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn trong thời gian tới 67
3.2 Một số giải pháp cụ thể 71
3.2.1 Giải pháp 1: Củng cố số lượng công chức làm chuyên môn, nghiệp vụ; chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 71
3.2.2 Giải pháp 2: Thực hiện chặt chẽ các thủ tục hành chính về thuế 73
3.2.3 Giải pháp 3: Đẩy mạnh tuyên truyền - hỗ trợ NNT, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thuế của người dân 74
3.2.4 Giải pháp 4: Sự phối hợp giữa Chi cục Thuế với chính quyền địa phương: UBND huyện, UBND xã trong việc rà soát các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn 75
3.3 76
Một số khuyến cáo 76
3.3.1.Với Tổng cục Thuế 76
3.3.2.Với HĐND-UBND tỉnh Nghệ An, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An 76
3.3.3.Với UBND huyện Nghĩa Đàn; UBND các xã trên địa bàn 77
Tóm tắt chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6HĐTVT Hội đồng tư vấn thuế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế 24
Bảng 2.1: Kết quả thu ngân sách giai đoạn 2013 – 2016 35
Bảng 2.2: Số thu ngân sách một số sắc thuế giai đoạn 2013 – 2016 37
Bảng 2.3: Kết quả thu ngân sách thuế tài nguyên và phí BVMT từ 2013 -2016 40
Bảng 2.4: Tỷ trọng số thu thuế tài nguyên và phí BVMT so với số thu NSNN của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn từ 2013 -2016 42
Bảng 2.5: Số thuế còn nợ giai đoạn từ 2013 -2016 44
Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ thuế (nợ có khả năng thu) giai đoạn từ năm 2013 -2016 46
Bảng 2.7: Số nợ đọng đã thu hồi giai đoạn từ năm 2013 -2016 48
Bảng 2.8: Số thuế truy thu và xử phạt giai đoạn từ năm 2013 – 2016 50
Bảng 2.9: Số truy thu so với số thu thuế tài nguyên và phí BVMT giai đoạn từ năm 2013 – 2016 51
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT giai đoạn từ năm 2013 – 2016 53
Bảng 2.11: Kết quả điều tra các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế tài nguyên và phí BVMT 60
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn 34
Hình 2.2 So sánh Số thu thực hiện với dự toán pháp lệnh giai đoạn 2013 -2016 36
Hình 2.3: So sánh dự toán với số thực hiện thuế tài nguyên và phí BVMT từ năm 2013 -2016 41
Hình 2.4: So sánh tỷ trọng số thu thuế Tài nguyên và Phí BVMT với số thu NSNN của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn giai đoạn từ năm 2013 – 2016 43
Hình 2.5: Số thuế còn nợ giai đoạn từ năm 2013 – 2016 45
Hình 2.6: Tỷ lệ nợ thuế so với số thu NSNN giai đoạn từ năm 2013 – 2016 47
Hình 2.7: Số nợ đọng đã thu hồi giai đoạn từ năm 2013 -2016 49
Hình 2.8: Tỷ trọng số thuế truy thu và xử phạt thuế tài nguyên và phí BVMT trong số thu thuế tài nguyên và phí BVMT giai đoạn từ năm 2013 - 2016 52
Hình 2.9: Công chức CCT Nghĩa Đàn phân chia theo trình độ chuyên môn 59
Hình 2.10: Biểu đồ xương cá thể hiện các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế TN và phí BVMT 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia do vậy cần phải khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài nguyên của đất nước Đảng và Nhà nước đã có nhiều công cụ để bảo vệ, quản lý khai thác, sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn lực tài nguyên trong đó có chính sách thuế Thuế tài nguyên và phí Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước quản lý việc khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
Thuế tài nguyên và phí BVMT đã đạt được những kết quả nhất định và đã góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với việc hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới đã tạo hàng lang cho việc bung ra hàng loạt các loại hình doanh nghiệp (DN) Đi kèm với đó là việc các doanh nghiệp nước ngoài tham gia hoạt động khai thác tài nguyên Rất nhiều các doanh nghiệp được cấp phép khai thác tài nguyên, song việc thực thi pháp luật, nhất là luật thuế tài nguyên và phí BVMT của các DN khai thác có nhiều yếu kém Nhiều DN do chưa hiểu hết chính sách, nhưng cũng có những DN trốn tránh nghĩa vụ để mưu lợi cho riêng DN mình gây thất thu cho NSNN
Là một huyện trung du, miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, Nghĩa Đàn có khá nhiều núi đá vôi, mỏ đá, mỏ cát do đó đây cũng là nơi tập trung không
ít doanh nghiệp khai thác khoáng sản thành lập và hoạt động trong nhiều năm qua
Từ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn đến các DN có trụ sở ở TP Vinh, TX Thái Hòa tham gia khai thác tài nguyên và thực hiện nghĩa vụ thuế với NSNN Số thu từ thuế tài nguyên, phí BVMT của huyện hàng năm đều tăng trưởng cao so với năm trước Tuy nhiên số thu đó chưa tưng xứng với tiềm năng sẵn có của huyện
Cho đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về công tác quản lý thu thuế nói chung, công tác quản lý thu thuế Giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp ở các địa phương như Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ v v Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào về công tác quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn
Nhận thấy việc thực hiện đề tài này tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn sẽ giúp cho đơn vị thấy rõ thực trạng, nguyên nhân của hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm
tăng số thu, hạn chế thất thu cho NSNN nên tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên
cứu luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế nói chung và về quy trình quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản;
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn Chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí Bảo vệ môi trường
Trang 10- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu phân tích thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên và Phí BVMT đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn thuộc tỉnh Nghệ An
Thời gian nghiên cứu: Từ năm nào 2013 đến năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, bản luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp định tính: Dựa vào số liệu có sẵn đưa ra nhận xét, phân tích;
- Phương pháp định lượng: tổ chức điều tra, phân tích số liệu, khảo sát, thu thập số liệu kết hợp với tổng hợp và thống kê và so sánh
Luận văn kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số tác giả có công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản đã được công bố
5 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1.Những vấn đề chung về thuế
1.1.1.Khái niệm về thuế
Thuế ra đời là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Mỗi Nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng
và nhiệm vụ cụ thể không giống nhau, nhưng nhiệm vụ về quốc phòng - an ninh, tu sửa đê điều, phòng chống dịch bệnh … thì luôn giống nhau Để có nguồn tài chính thực hiện nhiệm vụ trên, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình, trước hết là quyền lực chính trị, để quy định các khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội nhằm đảm bảo điều kiện vật chất duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Một trong những khoản đóng góp bắt buộc đó được gọi là thuế [2, trang 53]
Thuế có thể thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng ngày công lao động Với
sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế hàng hóa - tiền tê; hệ thống thuế của các quốc gia đã không ngừng phát triển và thuế thu bằng tiền trở thành hình thức thu phổ biến
Như vậy có thể khẳng định Nhà nước và thuế khóa là hai phạm trù gắn bó hữu
cơ với nhau Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Đồng thời, sự phát triển hệ thống thuế của các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
và sự phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ
Xét về nội dung vật chất, thuế nhà nước là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào quỹ NSNN, mà thực chất là một bộ phận của cải từ khu vực tư được chuyển vào khu vực công nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và các chi phí công cộng đem lại lợi ích chung cho cộng đồng
Xét về bản chất kinh tế xã hội, thuế nhà nước thuộc phạm trù phân phối của cải xã hội chứa đựng các quan hệ kinh tế xã hội giữa Nhà nước và các chủ thể trong
xã hội Các quan hệ kinh tế này nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt là các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho Nhà nước theo đúng quy định do chính Nhà nước ban hành mà không gắn với bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả số thuế đã nộp theo luật định hoặc cung cấp trực tiếp hàng hóa và dịch vụ cho người nộp thuế từ phía Nhà nước
Như vậy, có thể hiểu thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng
1.1.2.Bản chất của thuế
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối và được thể hiện ra là các đặc điểm của thuế Nghiên cứu các đặc điểm của thuế cho phép chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của thuế và phân biệt thuế với các khoản thu khác của NSNN
- Thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc
Sự ra đời của thuế gắn liền với sự ra đời của Nhà nước Để đảm bảo nhu cầu
Trang 12chi tiêu công cộng như đầu tư cung cấp trang thiết bị vũ khí, quốc phòng, phòng dịch bệnh, tu sửa đê điều tất yếu Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước
Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thể nhân và pháp nhân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hóa trong hiến pháp của mọi quốc gia Nhà nước ấn định, ban hành các luật thuế và tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ thực hiện theo đúng luật định Thể chế hóa thu nộp thuế bằng các văn bản pháp luật một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác nhằm tránh tùy tiện trong việc thu thuế
và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
- Thuế là khoản thu của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp thể hiện: Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp Các thể nhân, pháp nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa dịch vụ nào đó hoặc hoàn trả số thuế họ đã nộp đúng theo luật định Mức
độ chuyển giao thu nhập của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước thông qua thuế được xác định dựa trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển đất nước và nhu cầu tài chính chung của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể
Đặc điểm này giúp ta phân biệt thuế với các khoản thu phí, lệ phí của NSNN Phí và lệ phí cũng là các khoản thu mang tính bắt buộc của NSNN, nhưng tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ những dịch vụ công cộng nhất định do Nhà nước cung cấp
Tuy vậy, thuế là một khoản động viên của Nhà nước mang tính chất hoàn trả gián tiếp Sự hoàn trả này được thể hiện thông qua việc khai thác hưởng thụ lợi ích
từ hàng hóa công cộng do Nhà nước đầu tư cung cấp của các thể nhân và pháp nhân trong xã hội
- Thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội
Nhà nước định ra các loại thuế thực chất là Nhà nước tham gia vào phân phối thu nhập của các thể nhân, pháp nhân nhằm tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân vào trong tay Nhà nước và điều tiết thu nhập giữa các thể nhân, pháp nhân
Nhà nước và thuế khóa là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau, chính sách thuế của một quốc gia luôn gắn liền với bản chất chính trị của Nhà nước và lợi ích của mọi thể nhân, pháp nhân.Vì vậy, chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội rộng lớn
Nguồn thu thuế là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội và thuế có tác động đến lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội, tác động đến mọi hoạt động kinh tế -
xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thất nghiệp, công bằng xã hội
1.1.3.Chức năng của thuế
Thuế có hai chức năng gồm: huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và là công cụ để Nhà nước điều tiết kinh
tế Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau [3, trang 7]
- Một là: Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước
Trang 13Hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất Tỷ trọng các khoản thu từ thuế chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách
Ở nước ta, nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế cũng thường chiếm trên 90% tổng các khoản thu của Ngân sách nhà nước
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế
Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước với một nền kinh tế nhiều thành phần, đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng cao đòi hỏi thuế phải bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập trong xã hội, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN, đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán Nhà nước thông qua thuế tiến hành phân phối một bộ phận đáng kể tổng sản phẩm quốc nội Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách các nước có nền kinh tế thị trường
Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho
sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế Hay nói cách khác, quá trình huy động tập trung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết kinh tế của thuế Chức năng huy động nguồn lực và chức năng điều tiết kinh tế
có mối quan hệ hữu cơ với nhau
Có thể nói, quá trình huy động tập trung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết kinh tế của thuế Chức năng huy động nguồn lực
và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau
- Hai là, thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ sở nảy sinh từ chức năng huy động tập trung nguồn lực, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước được thực hiện Việc tăng cường chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến mức độ chi tiêu công ngày càng lớn và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường nguồn lực tài chính Nhà nước, nguồn lực được hình thành chủ yếu từ thuế
Việc tăng cường chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến mức độ chi tiêu công ngày càng lớn và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường nguồn lực tài chính Nhà nước, nguồn lực được hình thành chủ yếu từ thuế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế Thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội và được thể hiện trên hai mặt đó là khuyến khích, thúc đẩy những hoạt động kinh doanh cần thiết có hiệu quả cao; đồng thời thu hẹp những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng, hạn chế sản xuất theo hướng tiết kiệm chống lãng phí, thúc đẩy mở rộng thị trường cạnh tranh lành mạnh Trên cơ sở đó, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi ích của xã hội Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện Trong điều kiện chuyển sang
Trang 14kinh tế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế
vì lợi ích của xã hội
Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng huy động nguồn lực tài chính nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế và được coi là chức năng cơ sở, qua đó quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển Ý nghĩa của chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện khách quan để Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội Điều đó tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng của thuế Sự thống nhất đó cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nước tăng lên Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức
sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế Đó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được tính toán
kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh
tế khác nhau
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào "nghệ thuật sử dụng" công cụ thuế của mỗi quốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết
1.1.4.Vai trò của thuế
Với những đặc điểm đã phân tích ở trên, thuế có vai trò là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào NSNN đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế [2, trang 56]
Nhà nước có nhiều cách để có nguồn tài chính phục vụ chức năng, nhiệm vụ của mình như: phát hành tiền, vay trong nước hoặc vay ngoài nước, bán tài sản quốc gia và đánh thuế để huy động nguồn lực nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy và trang trải các chi phí thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Phát hành tiền để chi tiêu là biện pháp đơn giản nhất, song việc phát hành tiền thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ gây hậu quả tiêu cực đối với các quá trình kinh tế xã hội Vay nợ trong nước hay ngoài nước cũng phải tìm nguồn để trả nợ, bao gồm nợ gốc và tiền lãi Nếu vay ngoài nước không những lệ thuộc về kinh tế mà còn bị lệ thuộc về mặt chính trị ở mức độ nhất định Tài sản quốc gia cũng chỉ có giới hạn nhất định, nên việc bán tài sản quốc gia không thể coi là biện pháp chủ yếu để huy động nguồn lực
Trang 15cho Nhà nước Nguồn thu của thuế chính là kết quả của các hoạt động kinh tế xã hội Nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng bền vững thu NSNN Do vậy, ở hầu
hết các quốc gia, thuế là công cụ giữ vai trò chủ yếu trong việc huy động nguồn lực
để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với việc mở rộng chức năng của Nhà nước,
thuế đã thực sự trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều chỉnh vĩ
mô nền kinh tế quốc dân Tùy thuộc vào thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời
kỳ, Nhà nước có thể chủ động điều chỉnh chính sách thuế nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân như điều chỉnh chu kỳ kinh tế, cơ cấu kinh tế theo ngành và theo vùng lãnh thổ, giá cả, tiết kiệm, đầu tư, việc làm, xuất nhập khẩu, phân phối lại thu nhập, tổng cung, tổng cầu…
Sự phát triển của một nền kinh tế luôn mang tính chu kỳ Giai đoạn suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể giảm thuế để tăng cầu, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm khôi phục sự tăng trưởng của nền kinh tế Ngược lại, giai đoạn nền kinh tế phát triển quá nóng có nguy cơ dẫn đến mất cân đối và mất ổn định; Nhà nước có thể tăng thuế để thu hẹp đầu tư nhằm đảm bảo các quan hệ cân đối và giữ vững nhịp độ tăng trưởng bền vững của nền kinh tế
Bằng việc ban hành các sắc thuế cụ thể với những quy định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, thuế suất, các trường hợp ưu đãi và miễn giảm thuế; Nhà nước
có thể thực hiện được mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ, điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng hoặc tiết kiệm, điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập trong
xã hội
Tuy vậy, thuế có tác động thuận nghịch đồng thời đến các mục tiêu kinh tế -
xã hội vĩ mô, nên khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước cần phải xem xét thận trọng tác động tổng hợp của việc điều chỉnh chính sách thuế đến các mục tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô
1.1.5.Thuế Tài nguyên và phí bảo vệ môi trường
1.1.5.1 Các loại thuế tại Việt nam hiện nay
Quá trình tái sản xuất đã tạo ra sự vận động không ngừng của dòng luân chuyển thu nhập trong nền kinh tế thị trường Chính dòng luân chuyển thu nhập trong nền kinh tế đòi hỏi phải thiết lập các sắc thuế khác nhau với cơ sở đánh thuế khác nhau nhằm bao quát đầy đủ mọi nguồn thu và có sự điều tiết phù hợp với từng nguồn thu phát sinh và vận động trong nền kinh tế Vì vậy, tùy theo sự vận động của dòng luân chuyển thu nhập trong nền kinh tế mà ở các quốc gia có nhiều sắc thuế khác nhau, chúng có quan hệ mật thiết với nhau và hợp thành một hệ thống chính sách thuế
Tùy vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách thuế trong từng giai đoạn cụ thể mà số lượng các sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế của các quốc gia không giống nhau Để phân tích tác động của thuế tới các quá trình kinh tế xã hội nhằm xây dựng, điều chỉnh hệ thống chính sách thuế một cách phù hợp và phục vụ cho công tác quản lý thuế, người ta có thể lựa chọn nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại các sắc thuế
Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại thuế áp dụng cho các doanh nghiệp với các đặc thù khác nhau
Trang 16i) Dựa theo khả năng chuyển giao gánh nặng thuế thì thuế được chia thành thuế gián và thuế trực thu
Thuế gián thu là loại thuế mà người nộp thuế không phải là người chịu thuế Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng.Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một Ví dụ: thuế GTGT trên hóa đơn điện mà các hộ gia đình trả hàng tháng, thuế tiêu thụ đặc biệt của mặt hàng bia rượu, thuốc lá mà người tiêu dùng trả khi sử dụng hàng hóa
Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân Thuế trực thu là loại thuế mà người, hoạt
nhuận của doanh nghiệp, thuế TNCN đánh trên phần thu nhập trên ngưỡng chịu thuế của cá nhân
ii) Dựa vào đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế chỉ rõ thuế đánh vào cái gì Căn cứ vào đối tượng chịu thuế, hệ thống chính sách thuế của quốc gia thường bao gồm: thuế thu nhập, thuế hàng hóa hay thuế tiêu dùng và thuế tài sản
Thuế thu nhập bao gồm: thuế lương, thuế TNCN, thuế TNDN, thuế thu nhập công ty
Thuế hàng hóa hay thuế tiêu dùng bao gồm: thuế doanh thu, thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế nhập khẩu
Thuế tài sản bao gồm: thuế nhà, thuế đất, thuế ô tô [2, tr 59-60)
iii) Ở Việt Nam hệ thống chính sách thuế hiện hành bao gồm các loại thuế:
- Thuế Giá trị gia tăng (GTGT);
- Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB);
- Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN);
- Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN);
- Thuế Xuất khẩu - nhập khẩu (XK-NK);
- Thuế Tài nguyên;
- Thuế Bảo vệ môi trường;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
- Thuế sử dụng đất Phi nông nghiệp;
- Chính sách phí - lệ phí (như phí Bảo vệ môi trường, Lệ phí môn bài ), lệ phí trước bạ ô tô, xe máy, nhà đất;
- Một số khoản thu liên quan đến đất đai
Những sắc thuế, lệ phí chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp gồm: Lệ phí Môn bài (thay thế cho Thuế môn bài, căn cứ theo Thông tư số 302/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 hướng dẫn Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm
2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài), thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN
Một số doanh nghiệp đặc thù có thể có thêm các loại thuế sau: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu nhập khẩu, thuế Bảo vệ môi trường, thuế nhà thầu, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (đối với các doanh nghiệp thuê đất cho hoạt động sản xuất kinh doanh)
Trang 171.1.5.2.Các loại thuế áp dụng đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản
Với doanh nghiệp khai thác khoáng sản ngoài việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước bao gồm lệ phí môn bài từ năm 2017 (từ năm 2016 trở về trước
là thuế Môn bài), thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN thì các đơn vị này còn phải thực hiện nghĩa vụ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khối lượng tài nguyên khoáng sản mà đơn vị đã khai thác
- Thuế tài nguyên:
* Khái niệm
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu quốc gia do Nhà nước thống nhất quản
lý Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến thì thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường
Thuế tài nguyên không chỉ tạo lập nguồn thu cho ngân sách mà còn là công
cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường
Thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do nhà nước quản lý Thuế tài nguyên đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên, xét đến cùng người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên
Chính sách thuế tài nguyên hiện hành được thực hiện theo quy định tại Thông
tư số 152/2015/TT-BTC ngày ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên Theo đó, thì:
* Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên
Xác định thuế tài nguyên phải nộp trong kỳ
X
Giá tính thuế đơn vị tài nguyên
x
Thuế suất thuế tài nguyên
Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên phải nộp trên một đơn vị tài nguyên khai thác thì số thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:
Thuế tài nguyên phải
nộp trong kỳ
= Sản lượng tài
nguyên tính thuế X
Mức thuế tài nguyên ấn định trên một đơn vị tài nguyên khai
Trang 18Trong đó, các đại lượng trong công thức tính trên được quy định cụ thể như sau:
Sản lƣợng tài nguyên tính thuế:
- Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế
- Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại
- Đối với tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn
vị sản phẩm
- Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận
- Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam
- Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm
có giá trị dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế
(Điều 5, Thông tư số 152/2015/TT-BTC)
Giá tính thuế đƣợc quy định:
- Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức,
cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
- Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau:
a) Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; b) Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
- Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
Trang 19a) Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân;
b) Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định;
c) Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là giá xuất khẩu;
d) Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận Điểm giao nhận là điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện
Chính phủ quy định chi tiết Điều này
(Điều 6, Luật Thuế tài nguyên 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009)
Và Thuế suất thuế tài nguyên:
„.Thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).”
(Điều 7, Thông tư số 152/2015/TT-BTC)
Thuế tài nguyên được thực hiện kê khai theo phương thức người nộp thuế tự khai, tự nộp Việc Khai thuế, nộp thuế thực hiện theo quy định tại điều 9, Thông tư 152/2015/TT-BTC)
“Hàng tháng, NNT thực hiện khai thuế đối với toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng (không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến).”
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế được quy định tại Khoản 9, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
“a) Chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng”
Và thời hạn nộp thuế được quy định tại Khoản 11, Điều 1, Luật quản lý thuế
số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
“1 Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.”
Như vậy, Thuế tài nguyên là loại thuế kê khai theo tháng Hạn nộp tờ khai và nộp thuế là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế
- Phí BVMT:
* Khái niệm
Phí bảo vệ môi trường là khoản thu từ ngân sách nhà nước dành cho hoạt động BVMT, tính trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm hoặc khắc phục tác động tiêu cực do chất ô nhiễm gây ra với môi trường
Mục đích của phí bảo vệ môi trường nhằm ngăn ngừa xả thải ra môi trường các chất ô nhiễm có thể xử lý được Vì vậy, phí môi trường cần đạt được: Thứ nhất
Trang 20là làm thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm; Thứ hai là tăng nguồn thu nhập để chi trả cho những hoạt động cải thiện môi trường
x
Mức phí phải nộp của từng loại khoáng sản tương ứng (đồng/tấn hoặc đồng
Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Cục thuế địa phương để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ quy đổi từ số lượng quặng khoáng sản kim loại thành phẩm ra số lượng quặng khoáng sản kim loại nguyên khai làm căn
cứ tính phí bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản kim loại cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
Điều 1 Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2011 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo
vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;
Mức phí phải nộp của từng loại khoáng sản của mỗi địa phương căn cứ vào Quy định của UBND tỉnh
Tại Nghệ An, căn cứ quyết định số 32/2012/QĐ-UBND ngày 21 tháng 5 năm
2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc quy định đối tượng, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Thêm đó, căn cứ Quyết định số 30/QĐ-UBND.TN ngày 05 tháng 01 năm
2013 của UBND tỉnh Nghệ An về tỷ lệ quy đổi khoáng sản thành phẩm ra khoáng sản nguyên khai để tính phí BVMT đúng quy định
* Khai phí, nộp phí…
Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là loại khai theo tháng và quyết toán năm Khai quyết toán phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản bao gồm khai quyết toán năm và khai quyết toán đến thời điểm chấm dứt hoạt động khai thác khoáng sản, chấm dứt hoạt động thu mua gom khoáng sản, chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt hợp đồng chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp
Hồ sơ khai phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo tháng là
tờ khai theo mẫu 01/BVMT ban hành kèm theo Ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính) Hồ sơ khai quyết toán phí
Trang 21bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo tháng là tờ khai mẫu 02/BVMT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của
Bộ Tài chính)
Cũng như thuế Tài nguyên, Phí bảo vệ môi trường là loại phí kê khai theo tháng Hạn nộp tờ khai và nộp thuế là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ
1.2.Những vấn đề chung về doanh nghiệp khai thác khoáng sản
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được
đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
(Quy định tại Khoản 7, Điều 4, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13)
Cũng tại Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 đã quy định rõ quyền hạn của
DN như sau:
“1 Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm
2 Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh
3 Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn
4 Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng
5 Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
6 Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh
7 Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh
8 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp
9 Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật
10 Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
11 Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
12 Quyền khác theo quy định của luật có liên quan.”
(Điều 7, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13)
Và nghĩa vụ của DN được quy định:
“1 Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh
2 Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê
3 Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
4 Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; không được phân biệt đối xử và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động trong doanh nghiệp; không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật
Trang 225 Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố
6 Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
7 Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó
8 Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử- văn hóa
Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm
2014 thì hiện nay Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp là: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty TNHH (Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), Doanh nghiệp nhà nước, Công ty Cổ phần, nhóm Công ty (Tập đoàn kinh tế, tổng công ty, Công ty mẹ, công ty con)
1.2.2 Đặc điểm của DN khai thác khoáng sản
Cũng giống như các loại hình DN khác, DN khai thác khoáng sản phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành khác Quyền và nghĩa vụ của các DN này thực hiện theo quy định tại Điều 7, Điêu 8
Căn cứ khoản 1, Điều 7, Luật DN thì các DN được quyền kinh doanh các ngành nghề mà luật không cấm Vì vậy, khai thác khoáng sản là một ngành mà khá nhiều DN thực hiện đăng ký kinh doanh
Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có thể chọn loại hình tổ chức theo các loại hình doanh nghiệp theo Luật DN đã nêu trên
Đặc điểm quan trọng nhất phân biệt doanh nghiệp khai thác khoáng sản với các doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp sản xuất, xây dựng là việc các doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải có mỏ khoáng sản Muốn có mỏ, doanh nghiệp phải được phê duyệt cấp quyền khai thác khoáng sản tại Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, UBND huyện Với các
Trang 23cấp phê ban hành Quyết định cấp mỏ khác nhau thì tỷ lệ điều tiết nguồn thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cũng khác nhau
Sau khi có Quyết định cấp mỏ của các cơ quan nhà nước quản lý trên, doanh nghiệp tiến hành nộp đăng ký thuế, nhận Thông báo về việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tại Chi cục Thuế nơi DN có mỏ hoạt động
“Khi nhận được văn bản phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, chậm nhất là 10 (mười) ngày làm việc, Cục Thuế địa phương nơi có khu vực khoáng sản được cấp phép khai thác ra thông báo nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo Mẫu số 04 tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này, gửi tổ chức, cá nhân được cấp quyền khai thác khoáng sản.”
(Căn cứ Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013Quy định
về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản)
DN khai thác khoáng sản thường có sự đầu tư lớn về tài sản cố định
Thứ nhất, tài sản cố định là máy móc để khai thác khoáng sản Ví dụ: máy múc, máy đào, máy khoan, máy nổ, dây chuyền sản xuất Những máy móc này trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm
Thứ hai, tài sản cố định là phương tiện vận tải Đây là tài sản không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng chúng vận chuyển sản lượng tài nguyên khai thác được từ nơi sản xuất về kho của DN, từ kho đi tiêu thụ như bán, xuất khẩu
Muốn có sự đầu tư lớn về tài sản cố định đòi hỏi những DN này phải có thực lực tài chính Ngoài ra số lượng kỹ sư, chuyên gia thực hiện nghiên cứu, thăm dò cách khai thác tiết kiệm sức người, sức của, đạt kết quả cao và công nhân, người lao động của các doanh nghiệp trực tiếp khai thác tài nguyên là tương đối lớn
Những DN khai thác đá, để thực hiện việc khai thác thì họ còn phải đầu tư mua những nguyên vật liệu phục vụ cho việc nổ đá như: chất nổ, kíp nổ, dây cháy chậm Khối lượng từng loại được quy định cụ thể trong quyết định cấp phép khai thác khoáng sản của Sở Tài nguyên và môi trường
Có thể thấy các DN khai thác khoáng sản có sự đầu tư lớn về công nghệ, về con người và chịu sự kiểm duyệt gắt gao của nhiều cơ quan ban ngành Bởi đây là một ngành có khá nhiều rủi ro Trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xảy ra rất nhiều vụ án đau lòng về sập hầm trong quá trình khai thác mỏ Ví dụ: mỏ đá Lèn Cờ
1.3 Quản lý thu thuế và quản lý thu thuế tài nguyên, phí môi trường
1.3.1 Khái niệm
Quản lý thu thuế là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật Quản lý thu thuế được quy định bằng pháp luật, có mục tiêu và đảm bảo cho chính sách thuế được thực thi trong thực tiễn
Nhà nước là chủ thể quản lý thu thuế mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp Đối tượng quản lý thu thuế là NNT Quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên là hoạt động quản lý của nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật thuế đối với DN, nhằm huy động nguồn thu vào NSNN theo quy định của pháp luật
Quản lý thu thuế TN, Phí BVMT là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên, phí BVMT vào NSNN theo quy định của pháp luật
Trang 241.3.2 Nội dung Quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT
Nội dung quản lý thuế là những hoạt động mà cơ quan thuế các cấp phải thực hiện trong quá trình quản lý thu thuế Nhằm bảo tính pháp lý về quản lý thuế, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông qua Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007; được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 Đến ngày 26/11/2014, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, hiệu lực thi hành từ 01/01/2015 Luật quản lý thuế tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, đơn giản, theo đó người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế vào NSNN; cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo chức năng dựa trên hệ thống thông tin về người nộp thuế
Quản lý thu thuế là một trong những nội dung cơ bản của quản lý thuế, gồm các nội dung cơ bản sau:
a Quản lý các thủ tục hành chính về thuế
Quản lý các thủ tục hành chính thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế đăng ký thuế, kê khai thuế và thực hiện nộp theo đúng qui định Các thủ tục hành chính thuế gồm: Đăng ký thuế, kê khai thuế, ấn định thuế, nộp thuế, giải quyết hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế và xóa nợ thuế, xử phạt
về thuế
(1) Đăng ký thuế: Là việc NNT thực hiện khai báo nghĩa vụ phải nộp thuế
của mình với cơ quan thuế Cơ quan thuế sẽ quản lý đăng ký thuế thông qua việc quản lý mã số thuế của NNT Quản lý đăng ký thuế, bao gồm việc tiếp nhận và xử
lý hồ sơ đăng ký thuế của NNT mới (NNT đã được cấp mã số thuế (MST) và truyền dữ liệu qua hệ thống quản lý thuế về cho cơ quan thuế), cấp mã số thuế; tiếp nhận hồ sơ và xử lý thông tin về thay đổi địa điểm kinh doanh, loại hình, vốn, ngành nghề kinh doanh và xử lý vi phạm về đăng ký thuế
(2) Kê khai thuế, ấn định thuế:
- Kê khai thuế: Được thực hiện trên cơ sở các cơ chế quản lý thu thuế và
phương thức kê khai thuế Đây là cơ chế quản lý thuế trong đó NNT tự xác định nghĩa vụ thuế theo quy định tại các luật thuế, tự kê khai thuế và tự nộp đầy đủ, đúng hạn số thuế phát sinh vào NSNN Cơ quan thuế chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ hướng dẫn NNT nhằm tạo điều kiện cho NNT hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế có hiệu quả hơn đối với các trường hợp có khả năng rủi ro cao về thực hiện nghĩa vụ thuế (khả năng gian lận thuế lớn) Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế thường gắn với mô hình tổ chức theo chức năng
Theo quyết định 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ cơ chế chuyên quản được chuyển đổi sang cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp thuế trên phạm vi toàn quốc từ năm 2007 đến nay NNT từ chỗ là đối tượng quản lý của cơ quan thuế đã trở thành khách hàng (đối tượng phục vụ) của cơ quan thuế Các DN tự kê khai, tự nộp thuế theo hạn nộp tờ khai và hạn nộp thuế phát sinh trên
tờ khai căn cứ quy định tại Khoản 9 và khoản 11, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
Quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT lúc này chỉ còn thực hiện thông qua khai báo của người nộp thuế về sản lượng, giá bán, thuế suất (đối với thuế tài nguyên) và mức phí BVMT cho một đơn vị tài nguyên khai thác do UBND tỉnh quy
Trang 25định có được kê khai đúng Trên cơ sở số liệu do NNT khai, cơ quan thuế thực hiện đôn đốc NNT thực hiện nghĩa vụ thuế (nộp thuế) vào NSNN đúng thời gian quy định
- Ấn định thuế: Nếu người nộp thuế là các DN khai thác khoáng sản, kể từ
ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu khai thác khoáng sản thực tế; không xuất trình sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp trong thời hạn quy định; mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường; có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế
Cơ quan Thuế căn cứ vào cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế; so sánh số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành nghề, quy mô; tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực để ấn định thuế
(3) Thu, nộp thuế: Thu, nộp thuế là khâu quan trọng trong công tác QLT và
được quy định tại các Luật thuế, Luật QLT
Việc nộp thuế được thực hiện từ ngày 20 của tháng sau tháng phát sinh nghĩa
vụ thuế Trường hợp NNT tự khai, tự nộp thuế thì thời hạn nộp thuế là thời hạn cuối cùng nộp tờ khai thuế hàng tháng (ngày 20 tháng sau) Thông qua công tác thu, nộp thuế đánh giá mức độ hoàn thành công tác QLT của cơ quan thuế; đồng thời đánh giá ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT
+ Đối với cơ quan thuế: Việc thu đủ tiền thuế trong thời hạn quy định, nộp tiền
thuế kịp thời vào NSNN, nhập chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của NNT, theo dõi thanh toán thuế, thanh toán nợ đánh giá hiệu quả quản lý thuế của cơ quan thuế đó
+ Đối với NNT: Việc nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn thể hiện ý thức chấp
hành nghĩa vụ thuế của NNT với NSNN NNT thể hiện tính tuân thủ pháp luật thuế
và công tác QLT giảm thiểu được rủi ro Ngoài ra, NNT không bị tính tiền chậm nộp (vì nếu nộp quá hạn quy định thì NNT bị tính tiền chậm nộp theo quy định)
(4) Giải quyết miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, xử phạt thuế:
Đó là các hoạt động tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thủ tục và giải quyết hồ sơ theo quy định; theo dõi số thuế được miễn, giảm, hoàn thuế, xóa nợ Miễn thuế, giảm thuế được thực hiện căn cứ các chủ trương, chính sách thuế của nhà nước trong từng thời
kỳ nhất định Xử phạt thuế đối với các trường hợp DN chậm đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định; khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế; chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế
được hoàn…
Trường hợp xóa nợ tiền thuế, tiền phạt đối với DN trong trường hợp: Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tiền, tài sản để nộp tiền thuế.
b Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế
(1) Quản lý thông tin về người nộp thuế:
- Quản lý NNT: Là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cơ quan thuế trong
Trang 26việc quản lý thu thuế Quản lý NNT thể hiện việc quản lý số lượng doanh nghiệp,
hộ KD đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, được cấp mã số thuế Đó là quá trình cơ quan thuế thực hiện các bước công việc từ khâu quản lý đăng ký thuế, nhập và xử
lý dữ liệu khai ban đầu của NNT, thông tin về NNT phục vụ cho công tác quản lý thu thuế theo quy định của Luật thuế, trên cơ sở đó cung cấp các thông tin về NNT cho các bộ phận chức năng khai thác và quản lý kê khai nộp thuế
Cơ quan thuế muốn thu đúng, thu đủ tiền thuế trước hết phải nắm bắt được các thông tin liên quan đến việc hoạt động sản xuất kinh doanh như ngành nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh, loại khoáng sản khai thác… làm căn cứ xác định doanh thu tính thuế và số thuế phải nộp Quản lý NNT không đầy đủ về số lượng, cập nhập không chính xác các thông tin khai ban đầu và khai bổ sung của NNT sẽ làm giảm tính pháp lý trong QLT và thất thu thuế
Quản lý NNT mang ý nghĩa quản lý nguồn thu, chống thất thu và tạo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT Quản lý NNT là khâu đầu tiên
và quan trọng trong quá trình quản lý thu thuế
- Quản lý sản lượng khai thác trong kỳ tính thuế: đây là nhiệm vụ khó khăn song chỉ có sản lượng là yếu tố mà DN có thể sai phạm, bởi lẽ thuế suất thuế tài nguyên, giá tình thuế tài nguyên, mức phí BVMT đã có quy định từ Trung ương (Quốc hội, Bộ Tài chính) và UBND tỉnh, HĐND tỉnh
(2) Kiểm tra thuế:
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm đo lường, phát hiện những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động của NNT nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định của Luật thuế
Kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế hiện đại, đặc biệt trong điều kiện thực hiện cơ chế NNT tự tính thuế, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ thuế, thì kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan QLT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống
Kiểm tra thuế cần được tiến hành thường xuyên, linh hoạt và theo kế hoạch dưới hai hình thức sau:
+ Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan QLT: Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan
quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế
hàng hoá trong trường hợp cần thiết đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Điều
77, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006)
+ Kiểm tra thuế tại trụ sở NNT: Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của
cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
Trang 27Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật
về thuế
Khả năng bị phát hiện trốn thuế, bị cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ thuế và mức xử phạt đối với các vi phạm về thuế là những yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ thuế của NNT
c Quản lý quy trình thu thuế
(1) Lập dự toán thu thuế
Lập dự toán thu thuế là hoạt động cơ bản nhất của cơ quan thuế Dự toán thu thuế nhằm xác định mục tiêu thu thuế bằng những con số cụ thể ở từng nguồn thu, từng lĩnh vực Dự toán thu thuế là động lực cho việc huy động các nguồn lực của cơ quan thuế để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, là một trong những cơ sở để đánh giá kết quả QLT
Lập dự toán thu thuế bao gồm các công việc sau: Tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán năm trước; Phân tích biến động kinh tế xã hội, sự thay đổi các chính sách thuế, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các đối tượng nộp thuế trên địa bàn; Phân tích khả năng nguồn lực có thể huy động cho hoạt động thu thuế; Phân tích hành vi tuân thủ thuế của các đối tượng nộp thuế; Xác định khả năng thu thực tế; Từ đó xác định mục tiêu thu thuế và hình thành các phương án thu thuế
Trên cơ sở dự toán thu hàng năm, Chi cục trưởng sẽ chia dự toán theo các quý và cho từng bộ phận quản lý nguồn thu để cân đối giữa các bộ phận
Việc lập dự toán thu được lập và duyệt hàng năm nhưng trong quá trình thực hiện nếu có thay đổi nguồn thu (ví dụ phát hiện những nguồn thu đột xuất) thì
có thể giải trình và bù đắp những nguồn thu không thể thực hiện được
(2) Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế
Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế là các hoạt động của cơ quan thuế nhằm triển khai, phổ biến chính sách thuế, thông tin, hướng dẫn để các DN hiểu biết đầy đủ các quy định về chính sách thuế và các thủ tục hành chính thuế; tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của DN nhằm nâng cao nhận thức, đạo đức kinh doanh, khuyến khích DN chấp hành tốt chính sách thuế, giảm sai sót do thiếu hiểu biết từ đó giảm chi phí hành chính thuế, chi phí thanh tra, cưỡng chế thuế
- Hoạt động tuyên truyền gồm các nội dung:
+ Phát triển các chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế qua các phương tiện thông tin đại chúng Các hình thức cổ động trực quan nâng cao nhận thức về nghĩa vụ thuế, cải cách thủ tục hành chính thuế, phong cách phục vụ, cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và các DN Cụ thể: với các chính sách thuế mới, cơ quan thuế lọc những điểm mới liên quan đến các DN trên địa bàn và gửi qua email cho NNT biết để thực hiện + Tôn vinh, khen thưởng các DN chấp hành tốt nghĩa vụ thuế qua đó nâng cao
ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế, tạo tác động lan toả với các DN khác
Có thể khen thưởng tại cơ quan thuế hoặc UBND huyện, Cục Thuế tỉnh, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính…
+ Thu thập thông tin từ DN về nhu cầu hỗ trợ về thuế, vướng mắc trong thực hiện chính sách thuế tạo điều kiện cải thiện ý thức chấp hành
Trang 28- Hoạt động hỗ trợ gồm các nội dung:
+ Cung cấp đầy đủ các thông tin về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế
và các quy trình tuân thủ thuế
+ Hướng dẫn, tư vấn cho các DN thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, thực hiện đúng các qui định về sổ sách kế toán, các báo cáo thuế, các thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế
+ Giải đáp các thắc mắc của các DN trong quá trình thực hiện các chính sách thuế
Tuyên truyền hỗ trợ về thuế là hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình QLT Khâu này làm tốt, hiệu quả sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc và chi phí QLT Cơ quan thuế kết hợp nhiều hình thức tuyên truyền hỗ trợ về thuế như trao đổi trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế, giải đáp vướng mắc qua điện thoại, trả lời bằng văn bản, tuyên truyền hỗ trợ gián tiếp qua các ấn phẩm, qua
hệ thống mạng thông tin thuế, tổ chức các Hội nghị tuyên dương khen thưởng, Hội nghị đối thoại với người nộp thuế
(3) Tổ chức bộ máy thu thuế
Đây là khâu quan trọng trong quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp và phân bổ đội ngũ cán bộ công chức một cách hợp lý, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản
lý thuế
Cùng với tổ chức bộ máy khoa học, phương pháp làm việc tiến tiến, cần phát triển nguồn nhân lực thu thuế và quản lý thu thuế có trình độ chuyên môn, nắm vững các quy định của pháp luật về thuế, có phẩm chất đạo đức tốt, kết hợp với các trang thiết bị phương tiện làm việc hiện đại sẽ cho kết quả QLT có hiệu quả cao
(4) Quản lý nợ thuế
Tiền thuế nợ là: các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết
thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN (Khoản 1, mục III, Phần I, quy trình quản lý nợ thuế Ban hành kèm theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế)
Nội dung của công tác quản lý nợ thuế bao gồm:
- Theo dõi, phân loại tiền nợ thuế của NNT theo từng loại thuế, mức nợ, tuổi nợ Phân theo nhóm nợ:
(1) Nợ khó thu: là các khoản tiền nợ thuế của NNT gặp khó khăn, không
có khả năng thực hiện nghĩa vụ với NSNN
(2) Nợ chờ xử lý: là các khoản nợ thuế của người nộp thuế phải nộp NSNN nhưng đã có văn bản gửi đến cơ quan thuế đề nghị xử lý miễn, giảm, xoá
nợ, gia hạn nộp thuế, xử lý bù trừ các khoản nộp NSNN
(3) Nợ có khả năng thu: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước và không thuộc các trường hợp nợ thuộc hai nhóm nợ khó thu, nợ chờ xử lý nêu trên
- Kết hợp phân tích nợ với phân tích thông tin về SXKD, tình hình tài chính của NNT để xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức thu nợ, áp dụng các biện pháp
Trang 29nợ thuế trên 90 ngày, cơ quan thuế đã phát hành thông báo nợ thuế, lập các thủ tục
về quản lý nợ thuế nhưng nợ thuế trên 90 chưa được nộp vào NSNN, cơ quan thuế ban hành Quyết định cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật QLT làm cơ sở tổ chức cưỡng chế nợ thuế
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (Khoản 26, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012) bao gồm:
+ Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản;
+ Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;
+ Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
+ Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng;
+ Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật;
+ Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;
+ Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
1.4 Quy trình quản lý thu thuế đối với DN khai thác Khoáng sản
1.4.1 Lập kế hoạch Quản lý các thủ tục hành chính về thuế
- Đăng ký thuế,
Căn cứ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và dữ liệu do Sở Kế hoạch và đầu tư (Cơ quan Nhà nước), Chi cục Thuế rà soát những doanh nghiệp nào có ngành nghề là khai thác khoáng sản thì thông báo hoặc nhắc nhở doanh nghiệp đến đăng ký thuế ngay khi có Quyết định cấp giấy chứng nhận khai thác khoáng sản Phối hợp với Phòng chức năng của huyện Nghĩa Đàn rà soát trên địa bàn huyện những địa phương nào có mỏ khai thác và những doanh nghiệp nào đang xin cấp phép để cán bộ đội thuế Liên xã đi thu thuế hộ kinh doanh phối hợp cùng với chính quyền xã, thị trấn đó kiểm tra thực tế vị trí mỏ
- Kê khai thuế,
Bộ phận tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế hướng dẫn các loại tờ khai cần phải nộp khi DN thực hiện khai thác khoáng sản như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tờ khai quyết toán khi kết thúc năm tài chính
Cán bộ lập bộ doanh nghiệp phối hợp với cán bộ đội kiểm tra đôn đốc người
nộp thuế thực hiện nộp tờ khai đúng hạn quy định của Luật quản lý thuế: “Chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng” Đồng thời, hướng dẫn các đơn vị phải thực
hiện kê khai qua mạng để từ đó các tờ khai của doanh nghiệp được tự động đẩy vào các phần mềm quản lý thuế
- Thu, nộp thuế
Trang 30Theo nguyên tắc tự khai tự nộp, người nộp thuế tự khai báo số thuế các loại và
tự giác nộp thuế phát sinh vào ngân sách nhà nước
Thời hạn nộp thuế được quy định tại Khoản 11, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
“Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.”
Do vậy, ngay khi phát sinh số thuế phải nộp trên tờ khai thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, DN có trách nhiệm nộp ngay số thuế đó với hạn nộp thuế là hạn nộp tờ khai
1.4.2.Thực hiện các thủ tục hành chính về thuế
- Đăng ký thuế:
Trên cơ sở quyết định cấp quyền khai thác khoáng sản mà doanh nghiệp khai báo với cơ quan thuế hoặc do công văn phân cấp quản lý tiền cấp quyền khai thác khoáng sản mà Cục Thuế Nghệ An gửi tới Chi cục Thuế quản lý trực tiếp DN, cán
bộ phụ trách thực hiện ban hành thông báo về việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, gửi cho doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước với thời hạn ghi trên thông báo
Với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, các loại khoáng sản chủ yếu bao gồm cát và đá Đối với các loại khoáng sản này, ngoài tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, doanh nghiệp được cán bộ lập bộ doanh nghiệp hướng dẫn nộp tờ khai thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
- Kê khai thuế
Doanh nghiệp tự kê khai số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước trên cơ sở
số lượng tài nguyên đã khai thác và các văn bản hướng dẫn tính thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
Cán bộ tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và cán bộ lập bộ doanh nghiệp hướng dẫn DN nộp:
Tờ khai thuế tài nguyên, mẫu tờ khai 01/TAIN, kỳ kê khai: theo tháng
Tờ khai Phí BVMT, mẫu tờ khai 01/BVMT, kỳ kê khai: theo tháng
Tờ khai Quyết toán thuế tài nguyên, mẫu tờ khai 02/TAIN, kỳ kê khai theo năm
Tờ khai Quyết toán phí bảo vệ môi trường, mẫu tờ khai 02/BVMT, kỳ kê khai theo năm
Hạn nộp tờ khai với kỳ kê khai theo tháng là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo
Hạn nộp tờ khai quyết toán năm là: “Chậm nhất là ngày thứ chín mươi, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán thuế năm.” (Quy định tại tiết 2, khoản 9, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13
được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012
Sau khi hết hạn nộp tờ khai, nếu DN chưa nộp thì DN đó bị tính là chậm nộp
tờ khai và bị xử lý theo quy định tại Điều 9, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế
và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Thu nộp thuế
Theo cơ chế “tự khai, tự nộp” người nộp thuế lập tờ khai và đồng thời nộp số thuế phát sinh vào ngân sách nhà nước Hạn nộp thuế đối với thuế tài nguyên và phí
Trang 31bảo vệ môi trường là hạn nộp tờ khai của các loại đó Căn cứ quy định tại khoản 11, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012: “Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế”
Như vậy, NNT tự giác nộp tờ khai và tự giác nộp số thuế phát sinh được xác định trên tờ khai thuế để nộp vào NSNN theo đúng mục lục Ngân sách nhà nước quy định.
Sau ngày hết hạn nộp tờ khai, nếu DN chưa nộp thuế sẽ bị tính tiền chậm nộp đối với số thuế còn nợ theo quy định với mức tính tiền chậm nộp 0,05%/ngày (Khoản 25, Điều 1, Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2012) và 0,03%/ngày (khoản 3, Điều 3, Luật số 106/2016/QH13 được thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016)
Trường hợp NNT nộp sai tiểu mục theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước thì NNT vẫn được xác định là chưa nộp thuế Nếu NNT phát hiện kịp thời thì NNT lập tờ trình gửi Cơ quan thuế để được điều chỉnh tiểu mục cho đúng khoản nợ
đã nộp Nếu NNT không phát hiện thì sẽ được công chức báo và thực hiện như trên Nếu không được điều chỉnh kịp thời thì NNT tiếp tục được xác định là tồn tại khoản
nợ chưa thanh toán đối với phần nộp sai tiểu mục đó
1.4.3 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế
- Quản lý thông tin về người nộp thuế:
Ngay khi người nộp thuế trình báo Quyết định cấp quyền khai thác khoáng sản, cán bộ quản lý cấp tiền khai thác khoáng sản của các doanh nghiệp trên địa bàn kiểm tra mã số thuế, thông tin về người nộp thuế như: giám đốc, kế toán, địa điểm hoạt động, khai thác khoáng sản gì, mỏ khoáng sản ở vị trí nào, mỏ đó thuộc địa bàn của xã nào
Cơ quan thuế phối hợp với chính quyền địa phương xã, thị trấn nơi NNT có
mỏ khoáng sản, kiểm tra tình hình khai thác, hoạt động của DN như: trụ sở, số lượng công nhân thuê để khai thác, máy móc, xe vận tải hoạt động như thế nào
- Kiểm tra việc kê khai thuế
Cán bộ thuế lập bộ doanh nghiệp gửi “Thư nhắc nộp hồ sơ khai thuế” đối với các doanh nghiệp mới phát sinh các nghĩa vụ thuế mới trước thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là 05 ngày
Trước ngày hết hạn 05 ngày, hàng ngày (vào sáng sớm và đầu giờ chiều, cuối giờ chiều) cán bộ lập bộ DN rà soát danh sách DN đã nộp tờ khai thông qua hệ thống kê khai qua mạng Lọc danh sách DN chưa nộp tờ khai, phối hợp với đội Kiểm tra và quản lý nợ đôn đốc nhưng DN chưa nộp tờ khai khẩn trương đẩy tờ khai trước khi hết hạn nộp
Nếu sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế 05 ngày, người nộp thuế vẫn chưa nộp tờ khai, cán bộ lập bộ doanh nghiệp gửi “Thông báo yêu cầu nộp hồ sơ khai thuế” Tiếp sau 05 ngày sau người nộp thuế vẫn chưa nộp thì tiếp tục gửi “Thông báo yêu cầu nộp hồ sơ khai thuế lần 2” Nếu sau đó người nộp thuế vẫn không kê khai thì cán bộ lập bộ lập phiếu đề nghị giải quyết (Mẫu số 07/QTr-KK ban hành kèm theo quy trình 879/QĐ-TCT Về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế) về việc xác minh địa điểm trụ sở của NNT (gửi để đội kiểm
Trang 32tra đi xác minh địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó tại xã, thị trấn đã đăng ký căn cứ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và dữ liệu do Sở kế hoạch và đầu tư truyền về qua phần mềm quản lý thuế)
Những tờ khai đã nộp qua mạng, cán bộ thuế chuyên quản doanh nghiệp khai thác khoáng sản thực hiện kiểm tra tại bàn các tờ khai về tính hợp lý, hợp lệ, đúng đắn của tờ khai Cụ thể: kiểm tra về giá tính thuế cao hơn, bằng hay thấp hơn giá tối thiểu theo quy định của UBND tỉnh, thuế suất có đúng với mức thuế suất theo quy định của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội (hiệu lực đến ngày 30/6/2016) và mới đây nhất là Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10 tháng 12 năm 2015 quy định hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2016; với phí bảo vệ môi trường là kiểm tra mức phí tính trên một đơn vị sản lượng khai thác có đúng với quy định của UBND tỉnh, quy đổi đơn
vị đúng quy định của UBND tỉnh
Nếu tờ khai nào được coi là chưa đúng, cán bộ thuế sẽ gọi điện thoại trao đổi trực tiếp với giám đốc, kế toán để DN gửi lại tờ khai đúng
- Quản lý quy trình thu thuế
Theo nguyên tắc “tự khai, tự nộp” nên sau khi kê khai thuế, NNT tự giác nộp tiền thuế phát sinh trên tờ khai vào NSNN
Cán bộ chuyên quản kiểm tra các chỉ tiêu trên tờ khai đồng thời tra cứu chứng
từ nộp tiền của người nộp thuế qua hệ thống nộp thuế điện tử hoặc tiền mặt Nếu NNT đã thực hiện ngay khi nộp tờ khai thì cơ quan thuế không phải nhắc nhở Ngược lại, nếu kiểm tra chưa thấy người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế với số thuế phát sinh đã kê khai thì cơ quan thuế thực hiện đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế (bằng điện thoại trao đổi với giám đốc, kế toán; gửi tin nhắn v v )
Nếu người nộp thuế vẫn không thực hiện thì sau ba mươi ngày (30) kể từ ngày hết hạn nộp thuế, cơ quan thuế sẽ ban hành thông báo tính tiền chậm nộp đối với số thuế phát sinh nói trên
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế đối với DN khai thác khoáng sản
Trong phạm vi đề tài này, tác giả dùng 02 nhóm chỉ tiêu: tuyệt đối và tương đối nhằm so sánh các số liệu
Bảng 1.1: Bảng các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế
STT Chỉ tiêu
So sánh tuyệt đối (+/-)
So sánh tương đối (%)
3 Số nợ có khả năng thu năm nay so với năm trước X x
4 Số thuế gian lận qua kiểm tra năm nay so với
6 Tỷ lệ nợ đọng năm nay so với năm trước X
(Ghi chú: x nghĩa là có số liệu)
Trang 33- Về chỉ tiêu tuyệt đối:
+ Mức độ tăng/giảm số thu thực tế so với dự toán phấn đấu = Số thu thực tế –
+ Mức độ tăng/giảm nợ thuế năm nay so với năm trước = Số nợ có khả năng
thu năm nay – số nợ có khả năng thu năm trước
Ý nghĩa: So với năm trước thì số nợ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
có khả năng thu tăng hay giảm bao nhiêu triệu đồng
+ Mức độ tăng/giảm tỷ lệ nợ có khả năng thu năm nay so với năm trước = Tỷ
lệ nợ có khả năng thu năm nay – tỷ lệ nợ có khả năng thu năm trước
Ý nghĩa: So với năm trước thì tỷ lệ nợ thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường
có khả năng thu tăng lên hay giảm đi
Chỉ tiêu này phán ánh đầy đủ cả số nợ có khả năng thu và số thu NSNN nên đây là chỉ tiêu có tính chính xác cao và có độ tin cậy lớn
+ Mức độ tăng/giảm số thuế gian lận = Số thuế gian lận qua kiểm tra năm nay – số thuế gian lận qua kiểm tra năm trước
Ý nghĩa: So với năm trước công tác kiểm tra đã phát hiện số thuế gian lận thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường tăng hay giảm bao nhiêu triệu đồng
+ Mức độ thu hồi số thuế nợ đọng = Số thuế nợ đọng năm nay – số thuế nợ đọng năm trước
Ý nghĩa: So với năm trước thì năm nay số thuế nợ đọng tăng/giảm bao nhiêu triệu đồng
+ Mức độ tăng/giảm tỷ lệ nợ đọng năm nay so với năm trước = Tỷ lệ nợ đọng năm nay – tỷ lệ nợ có khả năng thu năm trước
- Chỉ tiêu tương đối:
+ Số thu NSNN so với dự toán phấn đấu:
Mức độ tăng/giảm = Số thu thực hiện - dự toán phấn đấu
X 100
Dự toán phấn đấu
Ý nghĩa: So với dự toán phấn đấu thì năm nay số thu thực hiện tăng/giảm bao nhiêu phần trăm
Trang 34+ Số thu NSNN so với dự toán pháp lệnh:
Mức độ tăng/giảm = Số thu thực hiện - dự toán pháp lệnh
X 100
Dự toán pháp lệnh
Ý nghĩa: So với dự toán phấn đấu thì năm nay số thu thực hiện tăng/giảm bao nhiêu phần trăm
+ Số thu NSNN năm nay so với năm trước:
Mức độ tăng/giảm = Số thu thực hiện - dự toán pháp lệnh
X 100
Số thu năm trước
Ý nghĩa: năm nay số thu thực hiện tăng/giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước
+ Tỷ lệ nợ có khả năng thu:
Mức độ tăng/giảm = Tỷ lệ nợ thuế năm nay - năm trước
X 100
Tỷ lệ nợ thuế năm trước
Ý nghĩa: năm nay tỷ lệ nợ thuế có khả năng thu tăng/giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước
+ Tỷ lệ thuế gian lận
Mức độ tăng/giảm = Số thuế gian lận năm nay - năm trước X 100
Số thuế gian lận năm trước
+ Tỷ lệ thu hồi số thuế nợ đọng
Mức độ
tăng/giảm =
Số nợ đọng thu hồi năm nay - năm trước
x 100
Số nợ đọng thu hồi năm trước
Ý nghĩa: năm nay số thuế nợ đọng thu hồi được tăng/giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước
1.6 Các nhân tố ảnh hướng đến quản lý thu thuế đối với thuế tài nguyên, phí BVMT
1.6.1.Các yếu tố bên trong
- Chủ trương quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT của lãnh đạo CQT; Thuế Tài nguyên, phí BVMT là một trong những sắc thuế quan trọng của các Chi cục Thuế có khoáng sản Để số thu về các loại thuế này trở thành số thu lớn đòi hỏi các chủ trương quản lý thu thuế của lãnh đạo CQT phải quyết liệt, sâu sát và đồng bộ
Thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường là sắc thuế gắn với khoáng sản của từng địa phương Trong khi khoáng sản là loại tài nguyên không thể tái tạo và có số lượng cố định Đồng nghĩa với việc hôm nay doanh nghiệp khai thác thì đời sau chúng ta sẽ không còn trữ lượng khoáng sản đó nữa Trách nhiệm của DN khai thác
là phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước Do vậy, CQT cần có chủ trương quyết liệt để yêu cầu DN khai thác khoáng sản kê khai sản lượng đúng số đã khai thác, kê khai đúng giá đã bán và thực hiện nộp thuế đúng quy định
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thông tin;
Trang 35Thông tin là yếu tố quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực Hệ thống hạ tầng kỹ thuật như: máy móc (máy tính), bàn ghế, internet… đầy đủ giúp cán bộ công chức
có đủ điều kiện để thực thi công vụ của mình
Mặt khác các thông tin chính thống về NNT đầy đủ là điều kiện để cán bộ thuế kiểm tra trụ sở, nắm bắt các hoạt động của NNT được tốt hơn
Nếu thông tin không đầy đủ, cán bộ thuế rất dễ có cái nhìn phiến diện và không đầy đủ để rồi đưa ra các nhận định không đúng về NNT Ví dụ: DN có quyết định cấp quyền khai thác khoáng sản nhưng không chịu kê khai số lượng khoáng sản khai thác, số thuế phát sinh tương ứng và nộp vào NSNN Cán bộ thuế ngay lập tức kết luận: ý thức chấp hành thuế của DN quá kém Tuy vậy, sau khi xuống kiểm tra địa bàn thì phát hiện nguyên nhân NNT không kê khai là do họ không khai thác được vì người dân bao vây không cho DN vào địa điểm khai thác do lo sợ ô nhiễm môi trường…Vì không khai thác được nên đó là lý do tại sao đơn vị không kê khai thuế phát sinh để nộp vào NSNN
- Con người: cán bộ công nhân viên chức về số lượng và chất lượg
Để quản lý thu thuế, cơ quan thuế phải có đầy đủ số lượng cán bộ có trình
độ chuyên môn cao, có kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp Sự bố trí nhân lực giữa các bộ phận của cơ quan thuế một cách hợp lý, đúng trình độ năng lực sở trường công tác sẽ khuyến khích sự tác nghiệp chi phí thấp nhưng kết quả thu được từ quản lý thu thuế cao hơn mục tiêu đề ra Bên cạnh đó, phương tiện hoạt động như: nguồn tài chính hiện có, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống trang thiết
bị truyền thông và cả uy tín, vị thế của cơ quan thuế Thiếu các nguồn lực cần thiết dẫn đến hoạt động quản lý thu thuế kém hiệu quả
Ngoài các yếu tố trên, cơ quan thuế cần kiểm soát nội bộ thông qua các hoạt động về chống tham nhũng, hối lộ Phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ thuế
và tăng cường sự kiểm tra, giám sát của NNT và cộng đồng xã hội đối với cán bộ thuế
Quản lý thuế đạt hiệu quả đòi hỏi cơ quan thuế phải nghiên cứu và dự báo
các yếu tố kinh tế - xã hội: nghiên cứu và dự báo là hoạt động thu thập, phân tích
và xử lý thông tin về NNT, về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của cộng đồng NNT để xác định hành vi tuân thủ về thuế một cách chính xác Mặt
khác, nghiên cứu và dự báo cần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế định kỳ để có các giải pháp thu hợp lý
1.6.2.Các yếu tố bên ngoài
- Các văn bản pháp luật về thuế tài nguyên, phí BVMT
+ Hệ thống chính sách thuế là yếu tố quyết định hiệu quả quản lý thuế, tác động trực tiếp đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế, các quy trình, biện pháp quản
lý Một hệ thống chính sách thuế hợp lý, đơn giản, rõ ràng tạo điều kiện cho cơ quan thuế triển khai công tác quản lý thuế thuận lợi, người nộp thuế cũng dễ dàng hiểu rõ và chấp hành đúng
Về cơ bản thì Luật quản lý thuế và các Luật quy định cho từng sắc thuế ở nước ta hiện nay khá đầy đủ, quy định bao quát các nguồn thu Tuy nhiên, nội dung quy định còn nhiều bất hợp lý, chồng chéo với các luật khác Ví dụ: Luật đất đai
2013, Luật nhà ở 2005, Luật đầu tư… Một số nội dung chưa sát với tình hình thực
tế nên một số Luật và văn bản hướng dẫn như Nghị định, thông tư thường xuyên phải bổ sung, sửa đổi dẫn đến khó thực hiện Việc hệ thống chính sách thuế chưa
Trang 36hoàn chỉnh, chồng chéo và thường xuyên thay đổi sẽ làm cho nhận thức của NNT bị hạn chế Một khi ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của DN thấp, dẫn đến công tác hành thu gặp nhiều khó khăn ở một số trường hợp: khai thác khoáng sản không khai báo với cơ quan thuế (khai thác chui), khai thác khi chưa có giấy phép hoặc giấy phép hết thời hạn được cấp; khai thác không đúng quy định về cách thức khai thác, chấp hành không đầy đủ chế độ kê khai thuế, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không lập hóa đơn hoặc lập hóa đơn nhưng phản ánh không đủ doanh thu thực tế thu tiền, nộp thuế không kịp thời vào NSNN, có biểu hiện chống đối cơ quan thuế trong việc
xử lý vi phạm pháp luật về thuế…Cơ quan thuế phải trả chi phí hành thu cao hơn mức trung bình
+ Các văn bản của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An về đơn giá tính thuế Tài nguyên, phí BVMT
UBND tỉnh quy định giá tính thuế tài nguyên, Mức phí bảo vệ môi trường trên một đơn vị tài nguyên khai thác Tùy theo tình hình thực tế mà mức giá này sẽ được điều chỉnh UBND tỉnh nếu dự báo và nắm bắt tốt nhu cầu thị trường thì mức giá sẽ phù hợp với tình hình thực tế Nếu đưa ra mức giá quá thấp thì thất thu nguồn thu NSNN Nếu giá quá cao so với tình hình thực tế sẽ gây ra sự bất cập và phản đối
từ phía NNT
Các Quyết định về giá tài nguyên, phí BVMT của UBND tỉnh được ban hành dựa trên tham mưu của Sở Tài nguyên và môi trường Yêu cầu của những quyết định này là kịp thời và sát với tình hình thực tế
- Quy trình quản lý thu thuế hiện hành
Cơ chế quản lý thuế là cách thức theo đó quá trình quản lý thuế được thực hiện Hai điểm đáng chú ý nhất ghi dấu sự đổi mới trong QLT gần đây là triển khai
cơ chế "tự khai, tự nộp" và cơ chế "một cửa" trong giải quyết các thủ tục hành chính thuế Cơ chế "tự khai, tự nộp" đề cao trách nhiệm NNT trong việc khai và nộp thuế
Cơ chế này phù hợp và đi vào hiệu quả đối với những nơi trình độ dân cư tương đối,
ý thức và hiểu biết của NNT về pháp luật thuế tốt, nếu không sẽ mất thời gian dài để NNT đi vào nề nếp thực hiện đúng thời gian quy định về hạn nộp tờ khai và nộp thuế
Cơ chế "một cửa" tiếp nhận và trả kết quả giải quyết các yêu cầu, thủ tục
hành chính tại một địa điểm tập trung duy nhất, hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu, tạo
ra một môi trường quản lý nề nếp, văn minh, công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho NNT
- Sự phối hợp giữa các Chi cục Thuế với chính quyền địa phương: UBND
huyện, UBND xã trong việc rà soát các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn Công tác quản lý thuế là công tác kinh tế - chính trị - xã hội tổng hợp liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội tại địa bàn Do vậy, chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế tổ chức quản lý thuế Sự phối hợp tác nghiệp giữa
cơ quan thuế với UBND các xã, thị trấn, các phòng thuộc UBND huyện, ảnh hưởng đến quá trình quản lý thu, nộp thuế đối với DN khai thác khoáng sản Giải quyết hài hòa mối quan hệ, sự phối hợp mang tính bền vững, thường xuyên hai chiều sẽ đem lại những kết quả trong công tác hành thu Tuy nhiên, sự phối hợp tác nghiệp đòi hỏi cả cơ quan thuế, UBND các cấp phải có đủ nguồn lực, phương tiện hoạt động, tính cộng đồng trách nhiệm, thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:
Trang 37+ Đối với UBND cấp huyện: Phải lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ CCT địa
phương thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế trên địa bàn; chỉ đạo UBND cấp xã phối hợp với CCT quản lý ĐTNT, kiểm tra, rà soát các đơn vị có mỏ và khai thác khoáng sản trên địa bàn các xã, thị trấn Khai thác các nguồn thu vãng lai, tổ chức cưỡng chế nợ thuế và tuyên truyền chính sách thuế một cách thường xuyên, liên tục trên các phương tiện loa đài khối, xóm để NNT biết và thực hiện
+ Đối với UBND cấp xã: Chỉ đạo các ban ngành thuộc cấp xã thực hiện phối
hợp với CCT tổ chức kiểm tra, rà soát ĐTNT khai thác khoáng sản trên địa bàn Quản lý và xác nhận tính chính xác về thông tin NNT Đồng thời phối hợp tổ chức cưỡng chế nợ thuế có hiệu quả
+ Đối với hội đồng tư vấn thuế (HĐTVT):
Hiện tại thì thành phần, quy định thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc hoạt động, chế độ làm việc, kinh phí hoạt động của HĐTVT thực hiện theo Thông tư số 208/2015/TT-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2015 Theo đó, Chi cục trưởng Chi cục Thuế căn cứ thành phần và danh sách tham gia Hội đồng tư vấn thuế để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thành lập Hội đồng tư vấn thuế theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 4, Thông tư 208/2015/TT-BTC
Với thành phần của HĐTVT bao gồm: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, đội trưởng hoặc phó đội trưởng đội thuế liên xã, cán bộ tài chính xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã, Trưởng Công an xã, Đại diện hộ kinh doanh Như vậy, thành phần trọng yếu của HĐTVT xã, thị trấn là những cán bộ then chốt của UBND xã, thị trấn do đó việc nắm bắt tình hình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn càng trở nên chặt chẽ hơn
HĐTVT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ góp phần quản lý NNT trên địa bàn tốt, rà soát chính xác các đơn vị kinh doanh, khai thác khoáng sản trên địa bàn và đôn đốc các DN đăng ký thuế NNT sẽ có ý thức hơn do được HĐTVT thường xuyên nhắc nhở trong công tác kê khai, nộp thuế, tránh tình trạng chây ì tiền thuế và nợ NSNN kéo dài
- Ý thức chấp hành pháp luật về thuế của NNT
Nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính đối với NNT, cơ chế “Tự khai, tự nộp”
đã phần nào thực hiện được mục tiêu đó Mặt khác cơ chế này đã đề cao vai trò của NNT trong quá trình khai và nộp thuế, đó là NNT tự giác thực hiện các quy định về pháp luật thuế Một khi NNT có ý thức chấp hành pháp luật tốt cộng với có sự hiểu biết về pháp luật thuế thì NNT sẽ tuân thủ các quy định về thủ tục thuế tốt (thời gian nộp tờ khai, thời gian nộp thuế, sản lượng tài nguyên khai thác, giá bán…)
Nếu hiểu biết, nhận thức của NNT về thuế chưa cao thì ý thức chấp hành về thuế của NNT sẽ thấp, NNT sẽ có thể nộp chậm tờ khai, nộp thuế chậm hoặc không chịu nộp tờ khai thuế Nếu DN không nộp hoặc nộp chậm tờ khai thì DN sẽ bị phạt
và DN sẽ bị tính tiền chậm nộp nếu DN nộp chậm tiền thuế so với quy định của Luật quản lý thuế
Do vậy cơ quan thuế cần tuyên truyền mạnh mẽ để NNT ngày càng am hiểu hơn về các quy định của pháp luật thuế nhằm hướng đến mục tiêu để mỗi NNT đều
am hiểu các chính sách thuế của nhà nước
Trang 381.7 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT
Kinh nghiệm của các huyện khác trong tỉnh Nghệ An có cùng địa bàn và điều kiện kinh tế xã hội với huyện Nghĩa Đàn như Chi cục Thuế Tân Kỳ
Nằm ở trung du miền núi, huyện Tân Kỳ có nhiều điểm tương đồng với Nghĩa Đàn Với số thu thuế qua các năm gần đây gần giống nhau, mặt khác số lượng DN khai thác khoáng sản và nộp tờ khai đều đặn hàng tháng gần giống nhau (Nghĩa Đàn
là 17 DN, Tân Kỳ là 18 DN), loại khoáng sản các DN khai thác cũng tương tự nhau nên việc trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của Chi cục Thuế Tân Kỳ luôn cần được duy trì và phát huy
Tại Chi cục Thuế Tân Kỳ, để quản lý thu thuế tài nguyên và phí BVMT ngoài những quy định chung của toàn ngành (như là đôn đốc kê khai; quản lý thuế thông qua Luật quản lý thuế, thuế tài nguyên được kiểm soát qua giá tài nguyên, thuế suất, sản lượng khai thác; mức phí BVMT trên một đơn vị sản lượng) thì Chi cục Thuế Tân Kỳ còn tham mưu với UBND huyện thành lập các đoàn liên ngành Đoàn Liên ngành do Chủ tịch UBND huyện Tân Kỳ ký quyết định thành lập Mục đích là kiểm tra và chống thất thu trong mảng khai thác khoáng sản Cụ thể, đoàn liên ngành là
sự kết hợp của các đơn vị: Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Tòa án nhân dân huyện, Chi cục Thuế huyện Tân Kỳ
Đoàn có nhiệm vụ rà soát, kiểm soát các mỏ và các DN đang khai thác khoáng sản trên địa bàn về vị trí mỏ, loại tài nguyên khai thác, tình hình thực hiện đăng ký thuế, kê khai thuế và thực hiện nghĩa vụ với NSNN, đồng thời kiểm tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn trong quá trình khai thác (chất nổ, kíp nổ ) Với sự hỗ trợ của Đoàn liên ngành do UBND huyện thành lập thì sức mạnh và tầm ảnh hưởng của nó lớn do đó hiệu quả mang lại là lớn hơn rất nhiều so với việc
để ý thức của NNT tự lên đăng ký thuế ngay khi có Quyết định cấp quyền khai thác khoáng sản hoặc để các cán bộ thuế của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn “đơn thương độc mã” đi kiểm tra, rà soát
Do vậy, hầu hết các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn luôn tuân thủ khá tốt việc kiểm soát, kê khai và thu nộp thuế đúng quy định của Luật quản lý thuế Số thu thuế tài nguyên, phí BVMT của Chi cục Thuế Tân Kỳ khá lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu của đơn vị
Có thể thấy, với Chi cục Thuế Nghĩa Đàn cũng có thể áp dụng việc thành lập Đoàn liên ngành vì trước đó Đoàn liên ngành ở Nghĩa Đàn đã được thành lập trong việc chống thất thu hộ kinh doanh vận tải và đạt được những thành công lớn Việc thay đổi hoặc bổ sung thêm mảng công tác chống thất thu trong khai thác khoáng sản đối với Đoàn liên ngành tại Chi cục Thuế Nghĩa Đàn hoàn toàn có thể làm được theo kinh nghiệm của Chi cục Thuế Tân Kỳ
Trang 39Tóm tắt chương 1
Chương 1 nêu lên các những vấn đề chung về thuế (Khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò của thuế)
Đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản ngoài các loại thuế phải nộp như
DN hoạt động ở các ngành nghề sản xuất, thương mại khác thì còn phải kê khai và nộp các loại thuế là: thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường
Thuế tài nguyên, phí BVMT được trình bày về: Khái niệm, Căn cứ tính thuế tài nguyên, kê khai và những quy định về kê khai, thu nộp
Quản lý thu thuế: Khái niệm và vai trò của quản lý thu thuế; Quy trình quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn; Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế đối với DN khai thác khoáng sản; Các nhân tố ảnh hướng đến quản lý thu thuế đối với thuế Tài nguyên, phí BVMT Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên, phí BVMT của Chi cục Thuế huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An – địa bàn trung du, miền núi có nhiều điểm tương đồng với Nghĩa Đàn bằng việc thành lập đoàn liên ngành do Chủ tịch UBND huyện ra quyết định với sự tham gia của Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Chi cục Thuế Nghĩa Đàn sẽ tạo ra sự lan tỏa và tạo được hiệu ứng tích cực hơn so với việc Chi cục Thuế Nghĩa Đàn đơn lẻ và phụ thuộc quá nhiều vào ý thức của NNT
Trang 40CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BVMT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TẠI
CHI CỤC THUẾ NGHĨA ĐÀN
2.1 Đặc điểm Chi cục Thuế huyện Nghĩa Đàn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Nghĩa Đàn là một trong 20 đơn vị hành chính của tỉnh Nghệ An, nằm trong vùng sinh thái phía Bắc tỉnh, cách thành phố Vinh 95 km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp huyện Tân Kỳ, phía Đông giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp
Chi cục Thuế Nghĩa Đàn được thành lập theo Quyết định số TCCB ngày 21 tháng 8 năm 1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Chi cục Thuế Nhà nước Kể từ lúc thành lập Chi cục Thuế Nghĩa Đàn đã đạt được những kết quả hết sức to lớn góp phần đưa tỉnh nhà luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm
315-TC/QĐ-vụ thu NSNN
Sau 17 năm hoạt động, đến ngày 15/11/2007, Chính phủ ban hành Nghị định
số 164/2007/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Nghĩa Đàn để thành lập thị xã Thái Hoà Huyện Nghĩa Đàn bao gồm thị trấn Nghĩa Đàn (được thành lập mới trên cơ sở địa chính của các xã Nghĩa Bình, Nghĩa Trung, Nghĩa Hội) và 24 xã Hiện nay, kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo hướng hợp lý: tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ - công nghiệp - thủ công nghiệp; giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp và hướng tới phát triển nền nông nghiệp ứng dụng khoa học thâm canh cao Đây là một vùng kinh tế mở, với cơ sở hạ tầng giao thông ngày một phát triển, lực lượng lao động nhanh chóng thích ứng với điều kiện lao động mới thể hiện ở tỷ lệ lao động có đào tạo tay nghề và lao động trí thức tăng lên, cùng với một thị trường tiêu thụ mở rộng và tiềm lực sẵn có của địa phương đã thu hút các nhà đầu tư, người lao động trong và ngoài nước đến đầu tư cơ sở hạ tầng, làm việc, sản xuất kinh doanh và một phần không nhỏ các chi nhánh, các đơn vị vãng lai có hoạt động giao dịch ở huyện Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế cũng như trình độ dân trí không đồng đều giữa các xã trong huyện; cơ sở sản xuất của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể phân bổ rộng lớn, phức tạp đã đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong công tác quản lý, điều hành thu
Việc bàn giao lại cơ sở cũ cho TX Thái Hòa, đồng nghĩa Chi cục Thuế TX Thái Hòa tiếp quản trụ sở của Chi cục Thuế Nghĩa Đàn ban đầu; còn Chi cục Thuế Nghĩa Đàn sau khi chia tách sẽ được chuyển sang trụ sở hoạt động mới với cơ sở hạ tầng được xây dựng đầy đủ và trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác quản lý, điều hành thu đáp ứng định hướng phát triển đến năm 2020
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ
Căn cứ quy định tại Điều 1, Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29 tháng 3 năm
2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế thì chức năng của Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nói chung và Chi cục Thuế Nghĩa Đàn nói riêng là: “tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác