sử dụng đất sản suất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính ch
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ TUẤN ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CÓ HIỆU QUẢ
TẠI HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ích Tân
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Tuấn Anh
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Nguyễn Ích Tân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng Tài Nguyên môi trường và phòng Nông Nghiệp huyện Lâm Thao, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 4
1.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Những đóng góp mới,ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 5
2.1.1 Tổng quan về đất nông nghiệp 5
2.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp 9
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13
2.2.1 Các yếu tố tự nhiên và môi trường 13
2.2.2 Các yếu tố kinh tế (thị trường, các yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra ) 14
2.2.3 Các yếu tố xã hội (thể chế, chính sách, người lao động ) 14
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
2.3.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
2.3.2 Những công trình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19
2.3.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 24
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 26
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 26
Trang 53.3.3 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 26
3.3.4 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp chọn điểm 27
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 28
3.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 28
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 Kết quả và thảo luận 31
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 38
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 46
4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lâm Thao năm 2015 48
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lâm Thao năm 2015 48
4.2.2 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 50
4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Lâm Thao 56
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 56
4.3.2 Hiệu quả xã hội 62
4.3.3 Hiệu quả môi trường 66
4.3.4 Đánh giá hiệu quả cả ba mặt kinh tế, xã hội, môi trường của các LUT trên địa bàn huyện Lâm Thao 69
4.3.5 Lựa chọn các loại sử dụng đất thích hợp 70
4.4 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 72
4.4.1 Cơ sở định hướng và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả 72
4.4.2 Đề xuất các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Lâm Thao 74
4.4.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 76
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Tài liệu tham khảo 82
Phụ lục 85
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tài nguyên đất của các khu vực trên thế giới 8
Bảng 2.2 Diện tích các loại đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 24
Bảng 3.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 29
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lâm Thao năm 2015 48
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2015 50
Bảng 4.3 Hiện trạng các LUT huyện Lâm Thao năm 2015 51
Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính tiểu vùng 1 56
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế các LUT của tiểu vùng 1 (tính trên 1 ha) 57
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính tiểu vùng 2 59
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2 (tính trên 1 ha) 60
Bảng 4.8 Mức đầu tư lao động, khả năng tiêu thụ trên thị trường và mức độ chấp nhận của người dân của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 (tính cho 1 ha) 63
Bảng 4.9 Mức đầu tư lao động, khả năng tiêu thụ trên thị trường và mức độ chấp nhận của người dân của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 (tính cho 1 ha) 65
Bảng 4.10 Định hướng các loại sử dụng đất chính huyện Lâm Thao 76
Trang 8
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Lâm Thao năm 2015 48
Hình 4.2 LUT chuyên lúa tại xã Tứ Xã 52
Hình 4.3 Kiểu sử dụng đất chuyên đỗ đen tại xã Tứ Xã 53
Hình 4.4 Kiểu sử dụng đất chuyên lạc tại xã Tiên Kiên 53
Hình 4.5 Kiểu sử dụng đất chuyên ngô tại xã Tiên Kiên 54
Hình 4.6 Kiểu sử dụng đất chuyên sắn tại xã Tiên Kiên 54
Hình 4.7 Kiểu sử dụng đất cây chanh tại xã Tứ Xã 55
Hình 4.8 LUT cây công nghiệp lâu năm tại xã Tiên Kiên 55
Hinh 4.9 Giá trị gia tăng của các LUT tại 2 tiểu vùng 62
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp có hiệu quả tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Chuyên ngành: Quàn lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
Học viên: Vũ Tuấn Anh
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ích Tân
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Lâm Thao
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Thao
2 Các kết quả chung
- Huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 9835,43 ha, trong đó đất nông nghiệp là 6289,34 ha chiếm 63,95%, đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 5398,58 ha chiếm 54,89% với số dân 99679 người, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Trên địa bàn huyện diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chia làm 2 tiểu vùng chính: Tiểu vùng 1 với địa hình đồi núi cao, hiện có 5 loại hình sử dụng đất với 13 kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp với ưu thế là cây công nghiệp (cây Chè),cây ăn quả (cây Bưởi).Tiểu vùng 2 với địa hình tương đối bằng phẳng, hiện có 4 loại hình sử dụng đất và 13 kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp với ưu thế
là LUT trồng cây ăn quả (cây Chanh)
- Kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho thấy:
* Về hiệu quả kinh tế:
+ Tiểu vùng 1: Các LUT có hiệu quả kinh tế cao là LUT cây bưởi LUT có hiệu quả kinh tế thấp là LUT cây sắn
+ Tiểu vùng 2 :Các LUT có hiệu quả kinh tế cao là LUT cây chanh.LUT có hiệu quả kinh tế thấp là LUT cây khoai lang
* Về hiệu quả xã hội:
- Một số loại hình sử dụng đất điển hình cho hiệu quả kinh tế cao thu hút nhiều lao động với giá trị ngày công cao như :loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả,loại hình
sử dụng đát trồng cây lâu năm
Trang 10* Về hiệu quả môi trường
-Việc sử dụng phân bón của nông dân còn nhiều những yếu tố bất hợp lý.Tuy nhiên,
tỷ lệ bón phân hóa học mất cân đối và mức độ chênh lệch không nhiều nên mức độ ảnh hưởng môi trượng đất ít
- Phần lớn các hộ nông dân đã sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông và của cơ quan chuyên ngành
- Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Lâm Thao gồm: Duy trì, phát triển và mở rộng các LUT sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao; Tăng cường áp dụng kỹ thuật trồng trọt tiên tiến trong sản xuất; Hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng và tiêu thụ sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp; Áp dụng định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Lâm Thao
Trang 11Name of Student: Vu Tuan Anh
Scientific supervisor: Dr Nguyen Ich Tan
1 Objectives of the study
- Evaluating the effectiveness the type of land uses for agricultural production in Lam Thao district
- Proposing solutions improve the efficiency of agricultural production land in LamThao district
2 Main results and conclusions
- Lam Thao district, Phu Tho province has natural area 9835,43 hectares, of which agricultural land is 6289,34 hectares, which accounted for 63,95 percent, land for agricultural production is 5398,58 hectares, which accounted for 54,89 percent, with a population of 99679 people, where the natural conditions is favorable for agricultural development
In the districts, land area for agricultural production is divided into two main sub-regions:
Subregion 1: where has high mountainous terrain, now there are five types of land which are used for thirteen types to use for agricultural production prevail which is industrial crops (tea tree),fruit trees (grape fruit)
Subregion 2: which is relatively flat terrain, now there are four types of land which are used for thirteen types to use for agricultural production prevail which is LUT fruit trees (lemond tree)
- Results research on effectiveness of agricultural land use:
Trang 12* In society effects:
- Some forms of land use typical of high economic efficiency attract workers with higher value date of such land use types of fruit trees, the land use type for perennial crops
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lịch sử nhân loại đã chứng minh nền tảng cho sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người đều bắt nguồn từ đất đai Khai thác và sử dụng đất đai được hình thành song song với quá trình tồn tại và phát triển của loài người Đất đai chúng ta có được hôm nay không chỉ là tài nguyên thiên nhiên cho không con người mà cũng là thành quả lao động của nhiều thế hệ trước để lại Đất là tài sản mãi mãi của loài người, là điều kiện để sản xuất sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đất đai luôn gắn chặt với từng quá trình phát triển Không có hoạt động sống nào của con người mà không liên quan đến đất đai Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của loài người, con người sinh sống trên đó và dựa vào đó để tạo ra sản phẩm nuôi sống mình
Nông nghiệp là một ngành sản xuất những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm, là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp, khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp để phát triển các ngành khác Mục đích của việc sử dụng đất đai là làm thế nào bắt nguồn tư liệu có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài, đó chính là việc sử dụng đất theo hướng bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững được định nghĩa như là việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng các thay đổi về công nghệ và thể chế nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người cho thế hệ ngày nay và mai sau (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy, việc đánh giá hiệu quả
Trang 14sử dụng đất sản suất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Đối với ngành nông nghiệp thì đất có vai trò đặc biệt quan trọng, đây là nơi sản xuất ra hầu hêt các sản phẩn nuôi sống loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững
Đối với Việt Nam, ngành nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng Nông nghiệp là hoạt động chính của kinh tế nông thôn, chiếm trên 60% tổng giá trị sản phẩm (GDP) và chiếm 2/3 tổng việc làm ở nông thôn Đó là ngành đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam, là nguồn sống của hàng triệu hộ gia đình Nông nghiệp là ngành sản xuất nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, là ngành xuất khẩu hoặc thay thế nhập khẩu ngày càng quan trọng Nó là ngành có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ nền văn hóa dân tộc
Bên cạnh những thành tựu đó, nền nông nghiệp nước ta vẫn phải đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất và chất lượng nông sản hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, tạo ra giá trị lớn về kinh
tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững là hết sức cần thiết Khai thác tiềm năng đất đai sao cho đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như của sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Cần phải có các công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 15Lâm Thao là huyện đồng bằng của Phú Thọ, cửa ngõ giữa miền núi với đồng bằng, đồng thời là cửa ngõ quan trọng giữa thành phố Việt Trì với các tỉnh phía Bắc có diện tích tự nhiên là 9835,43ha bao gồm14 đơn vị hành chính cấp xã (2 thị trấn và 12 xã) trong đó diện tích đất nông nghiệp là 6289,34 ha ,chiếm 63,95% diện tích tự nhiên.Trong những năm gần đây cùng với quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn huyện Lâm Thao đã tiến hành nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất như: giao quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho các hộ nông dân,áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để thay đổi cơ cấu cây trồng,đưa các giống cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái cho năng suất cao,chất lượng tốt thích nghi với điều kiện đất đai trong vùng
Hiện nay, mặc dù đã qua nhiều năm đổi mới, song nhận thức của nhân dân
về sản xuất hàng hoá trong cơ chế thị trường còn rất hạn chế, trong khi đó những chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là những chính sách cụ thể để phát triển các ngành sản xuất còn đang bất cập, không đồng bộ Chưa sử dụng, phát huy đầy đủ tiềm năng đất đai và hiệu quả từ các loại hình sử dụng đất nên năng suất lao động và hiệu quả kinh tế đạt được chưa thật sự cao Vấn đề sử dụng đất của huyện vẫn chưa thật sự có hiệu quả, các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thật sự hợp lý Trước những yêu cầu về sự phát triển kinh
tế, xã hội thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện càng ngày càng bị thu hẹp Yêu cầu đạt ra cho các cấp chính quyền địa phương, các ban ngành là phải tìm ra hướng đi đúng trong phát triển nền kinh tế nông nghiệp bền vững, giúp người dân lựa chọn được phương thức sản xuất phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện, nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Do đó, việc xác định
và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế bền vững là rất cần thiết cho mục đích sản xuất nông nghiệp
Đề tài luận văn: "Đánh giá hiện trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ" được thực
hiện với mục đích áp dụng những kiến thức được đào tạo Cao học ngành Quản lý đất đai tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nghiên cứu thực tiễn, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất canh tác, bảo vệ môi trường
của địa phương
Trang 16- Là cơ sở đề xuất sử dụng đất tại huyện Lâm Thao
- Các kết quả nghiên cứu có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội huyện Lâm Thao
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Tổng quan về đất nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm về đất
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất Năm 1883, nhà bác học người Nga V.V Docuchaev cho rằng đất được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố: Đá mẹ và mẫu chất, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Sự tác động của các yếu tó trên quyết định và chi phối các quá trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất để hình thành nên các loại đất khác nhau Những quan điểm của V.V Docuchaev được coi là học thuyết về phát sinh đất Sau V.V Docuchaev, các nhà thổ nhưỡng học bổ sung thêm một yếu tố nữa là sự tác động của con người trong sự hình thành đất
Ngoài ra, còn có một số học giả khác như V.R Viliam (1863 - 1939) đã đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng” Đất là vật thể tự nhiên có độ phì nhiêu, có khả năng hình thành năng suất cây trồng Điều đó làm cho đất trở thành tài nguyên quý, tư liệu sản xuất, nơi nuôi sống, tồn tại và tái sinh hàng loạt thế hệ kế tiếp nhau (Vũ Năng Dũng, 1997)
Học giả E.Mitscherlich (1923) cho rằng: "Đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dưỡng" và "Đất là cái khối hỗn hợp gồm các phân tử nhỏ, cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật" C.Mác cho rằng: "Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau" (Vũ Năng Dũng, 1997)
Các nhà Khoa học đất Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại
để lại” (Hội Khoa học Đất, 2000)
Trang 18Trong phạm vi nghiên cứu sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như là một nhân tố sinh thái (FAO, 1976) Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa đá mẹ và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất Độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp cho cây trồng về thức ăn, khoáng và các yếu tố cần thiết khác (như không khí, nhiệt độ ) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường Độ phì nhiêu là một thuộc tính tự nhiên của đất, nó quyết định đặc tính có khả năng tái tạo của đất đai Nhờ nó mà đất
có khả năng tạo ra một khối lượng lương thực, thực phẩm cần thiết để nuôi sống con người
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, thậm trí nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp lại theo xu thế phát triển chung của toàn xã hội, phục vụ cho các mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp, có rất nhiều diện tích đất bị xói mòn, thoái hóa, bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho
xã hội về nông sản phẩm và đảm bảo cho sự phát triển bền vững đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của con người
Trang 19Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế,
xã hội cao nhất Vì vậy sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
2.1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia Trên thế giới, mặc dù nền nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng vai trò to lớn của nó đối với đời sống con người thì không quốc gia nào có thể phủ nhận Hầu hết các nước đều coi sản xuất nông nghiệp là nền tảng của sự phát triển Nhưng ngày nay dân số ngày càng tăng nhanh, sức ép dân số lên đất đai ngày càng lớn, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần do các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực, con người đã phải tăng cường các biện pháp khai hoang đát đai Do đó đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để, các biện pháp giữ gìn
độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất đã bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng, bị xói mòn, rửa trôi, thoái hóa, bị phá vỡ cấu trúc đất
Đất đai trên thế giới phân bố không đồng đều giữa các châu lục Theo
Ghassemi et al (1995), tổng diện tích đất tự nhiên cũng như diện tích đất nông
nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới được thể hiện:
Trang 20Bảng 2.1 Tài nguyên đất của các khu vực trên thế giới
Nguồn: Ghassemi et al (1995)
Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diên tích đất trồng trọt chỉ khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Dẫn theo Phạm Văn Tân (2001), Châu Á mặc dù chiếm 1/2 dân số thế giới nhưng chỉ có khoảng 20% đất nông nghiệp toàn cầu
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, tổng sản lượng lương thực sản xuất
ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân
bố không đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12.000m2, trong đó ở Mỹ 20.000m2, ở Bungari 7.000m2, ở Nhật Bản 650m2 Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha
2.1.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Tính đến ngày 01/01/2015, tổng diện tích đất nông nghiệp của nước ta
là 26791,58 nghìn ha, chiếm 81,0% tổng diện tích tự nhiên cả nước Trong đó
Trang 21đất sản xuất nông nghiệp có 10.231.717 ha, chiếm 30,93% tổng diện tích tự nhiên cả nước
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, 70% dân số sống bằng nông nghiệp và tạo ra 85% việc làm cho cư dân nông thôn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn cho nhu cầu ngày càng tăng của con người về các sản phẩm nông nghiệp đang là vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đât quan tâm Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, do tốc độ công nghiệp hóa cũng như đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động Chất lượng đất thì ngày càng bị suy giảm, thoái hóa là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cân bằng sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng hơn cả so với các vùng khác Những nỗ lực cải tạo đất chỉ mới đạt được trong phạm vi hẹp
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích đất này là diện tích đất chưa
sử dụng Đây là tỉ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỉ lệ đất dùng vào mục đích nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún là một trở ngại to lớn Để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân và cung cấp xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững
2.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp
2.1.2.1 Sử dụng đất bền vững
Ngày nay, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, bởi vậy vấn đề
sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại Những hiện tượng sa mạc hóa, lũ lụt, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng gia tăng là nguyên nhân của việc sử dụng đất kém bền vững, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng bị suy thoái
Ở cấp thực địa đồng ruộng, một hệ thống canh tác là bền vững khi nó không ngừng thỏa mãn các nhu cầu của nông dân mà không làm thoái hóa nền
dự trữ cơ bản của họ Bền vững là một khái niệm động, bền vững ở nơi này
Trang 22nhưng có thể không bền vững ở nơi khác; bền vững ở thời điểm này nhưng có thể không bền vững ở thời điểm khác Mặc dù đo lường trực tiếp tính bền vững là một điều rất khó khăn, nhưng sự đánh giá nó có thể thực hiện được dựa vào những điều kiện và chiều hướng của các quá trình chi phối chức năng của một hệ nhất định ở một địa phương cụ thể Điều này đòi hỏi ngày càng phải cụ thể hóa, định lượng hóa sự bền vững (và không bền vững), để có thể đánh giá được các hệ canh tác cụ thể
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về "Khung đánh giá quản lý đất bền vững" đã đưa ra định nghĩa: Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì và nâng cao sản lượng (năng suất);
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (an toàn);
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ);
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế (có tính khả thi);
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Từ những nguyên tắc chung trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận;
- Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ được môi trường sinh thái đất;
- Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội phát triển (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai Theo FAO, phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau
Trang 23*) Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu vật nuôi, cây trồng cho phù hợp với đặc điểm của từng loại đất, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời bảo vệ môi trường, nâng cao độ phì của đất
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp
lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau như năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, tỷ
lệ che phủ đất
- Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn để đáp ứng nhu cầu của hiện tại và cả tương lai Sự bền vững của đất đai phải gắn liền với các điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được các lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
- Sử dụng đất nông nghiệp theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả” Yêu cầu sử dụng đất bền vững là sử dụng những tài nguyên có khả năng tái tạo không nhanh hơn khả năng tự tạo của chúng; Sử dụng những tài nguyên không tái tạo không nhanh hơn quá trình tìm kiếm tài nguyên thay thế; Không thải những chất độc hại nhanh hơn quá trình hấp thu và đồng hóa của trái đất Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp: về kinh tế, đảm bảo được hiệu quả cao và lâu bền; về xã hội không tạo khoảng cách lớn giữa giàu nghèo, không làm bần cùng hóa nông dân và gây ra những tệ nạn xã hội nghiêm trọng;
về tài nguyên môi trường, không làm cạn kiệt tài nguyên, không làm suy thoái và hủy hoại môi trường; về văn hóa, quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc nền văn hóa dân tộc
Trang 24FAO cho rằng phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật không bị suy thoái, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (FAO, 1976) FAO đã đưa
ra các chỉ tiêu cụ thể trong nông nghiệp bền vững là:
- Thoả mãn nhu cầu lương thực cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai
về số lượng và chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, thu nhập và điều kiện sống, điều kiện làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
- Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân
2.1.2.2 Sử dụng đất hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả (Đỗ Thị Tám, 2001)
Trang 25Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001)
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó
là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vừa mang tính ổn định, vừa đảm bảo sự bền vững
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: Vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Ý nghĩa của hiệu quả sử dụng đất:
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Làm nền tảng nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, bảo đảm
sử dụng đất bền vững
- Thưc hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Các yếu tố tự nhiên và môi trường
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )
Trang 26có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995) Bởi
vì các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào phù hợp
để tạo ra nông sản hàng hóa với giá rẻ Vì vậy, khi xác định vùng sản xuất nông nghiệp cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I (Phạm Văn Sinh, 2009)
Theo N.Borlang người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước đang phát triển cho rằng, yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất (Nguyễn Ngọc Hải, 2013)
2.2.2 Các yếu tố kinh tế (thị trường, các yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra )
Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất
và người tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hóa, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, đồng thời chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm là nhân tố quan trọng Sản xuất hàng hóa không thể tách rời thi trường, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hóa để sản xuất Theo Nguyễn Duy Tính (1995): Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra (Nguyễn Duy Tính, 1995)
2.2.3 Các yếu tố xã hội (thể chế, chính sách, người lao động )
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Hệ thống chính sách: Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ, các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hóa của nông dân Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hóa Trong sản xuất nông
Trang 27nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hóa, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường Hơn nữa các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả, việc sử dụng bừa bãi phân hóa học, thuốc trừ sâu có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra các chính sách như chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động và việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học
kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất Do vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.3.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Sản xuất muốn phát triển phải quan tâm tới cả ba loại hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả
xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc
*) Hiệu quả kinh tế
Theo C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau (Phạm Văn Sinh, 2009)
Trang 28Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện thông qua các chỉ tiêu
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
*) Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Trang 29Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
*)Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này có
ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững cho mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng động quốc tế
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Hội khoa học Đất, 2000)
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích của hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân
ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
Trang 30Trong mọi quá trình sản xuất của xã hội, việc nâng cao hiệu quả là một mục tiêu chung, chủ yếu, xuyên suốt và cũng tùy theo những mô hình xã hội trong các điều kiện cụ thể mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là trên một đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ
ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung sau:
+ Bền vững về mặt kinh tế: Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong vùng thì sẽ được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp cần được thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng Tóm lại, bền vững về mặt kinh tế thỏa mãn các tiêu chí: nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tốt, giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích cao
và giảm rủi ro về sản xuất, về thị trường
+ Bền vững về mặt xã hội: Là đáp ứng được nhu cầu lao động, thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân trong
Trang 31vùng, đảm bảo đời sống xã hội Thỏa mãn được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân Đảm bảo sự hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả + Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì của đất, ngăn chặn được sự thoái hóa đất, giảm thiểu xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái Tăng độ che phủ, bảo vệ nguồn nước, nâng cao đa dạng sinh học của hệ sinh thái tỷ lệ Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Bùi Huy Hiền và Nguyễn Văn Bộ, 2001)
Các tiêu chí và chỉ tiêu phải phản ánh hết được các mặt bền vững (và không bền vững) của một hệ thống sử dụng đất Nếu thỏa mãn hết các chỉ tiêu thì tính bền vững của một hệ sẽ đạt mức tối đa Tuy nhiên trong thực tế sẽ không có một hệ lý tưởng như vậy, mỗi hệ chỉ đạt được một số mặt nào đó ở mức độ nhất định Tùy theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí
và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau và nhận các trọng số khác nhau khi xem xét cho từng trường hợp
2.3.2 Những công trình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn
đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Nhưng tùy thuộc vào điều kiện, trình độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có
Trang 32Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới xác định: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng
đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai
là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Tại Philippin tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng
kỹ thuật canh tác SALT Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc (SALT) là
hệ sinh thái canh tác nhằm sử dụng đất dốc được bền vững đã được Trung tâm đời sống nông thôn Minđanao tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ năm 1970 SALT là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa cây lâu năm và cây hàng năm theo đường đồng mức Cây lâu năm chính là cây ca cao, cà phê, chuối, chanh và các loại cây ăn quả
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canađa là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia là 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Cộng đồng châu Âu là 67,2 tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (68,9%)
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
Trang 332.3.2.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm qua các nhà khoa học nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn đề như: Lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao,
bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Từ năm 1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế vì sự phát triển và các thành viên khác như Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, Viện Nghiên cứu vì sự phát triển trong việc thực hiện dự án cho các hệ thống nông nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, dự án này đặc biệt chú trọng vào công tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trên đất dốc bền vững như biện pháp gieo ủ hạt trực tiếp trên mặt đất, bảo vệ lớp bề mặt đất, ruộng bậc thang có che phủ, biện pháp thâm canh, luân canh,
Các hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu và đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp gồm các loại cây ngắn ngày, cây lưu niên (cây ăn quả, cây lâm nghiệp) và cỏ chăn nuôi nhằm phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Một số giống cỏ như cỏ voi đã được công nhận đưa vào hệ thống nông lâm nghiệp nhằm phát triển ngành chăn nuôi đồng thời tránh được sự khai thác chồng chéo giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp
Đinh Duy Khánh, Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng mô hình bài toán tối ưu đa mục tiêu để xác định phương án tổ chức sản xuất trên đất canh tác cho huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt của huyện Gia Viễn tương đối đa dạng
Đoàn Công Quỳ (2006) đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế
sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Trần Đình Thao (2006) đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ngô
hè thu tại Sơn La Nghiên cứu kết luận trình độ giáo dục của chủ hộ, số lần tham gia tập huấn của chủ hộ về kỹ thuật canh tác ngô, cơ hội tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, các biện pháp chống xói mòn đất và chất lượng ngô giống có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật của hộ nông dân trồng ngô
Trang 34Nguyễn Văn Hoàn (2007) đã sử dụng các chỉ tiêu như tổng giá trị sản phẩm, thu nhập thuần để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai của vùng núi tỉnh Bắc Giang
Trương Văn Tuấn (2007) sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và các phương pháp xác định lượng đất bị xói mòn, rửa trôi để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp canh tác trên đất dốc của các cộng đồng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy trong thực tế các cộng đồng đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ đất dốc nhưng hiệu quả của các biện pháp này như thế nào thì chưa có nghiên cứu nào xác định cụ thể Do đó tác giả tiến hành nghiên cứu đánh giá các biện pháp canh tác trên đất dốc đang được sử dụng, từ đó đề xuất các giải pháp giúp bảo vệ, phục hồi đất dốc nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên đất dốc tại địa bàn Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đã xác định được biện pháp canh tác xen canh cho hiệu quả cao nhất (cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường) Kết quả bố trí thí nghiệm cho thấy LUT điều xen sắn có hiệu quả cao hơn các LUT khác trong hạn chế xói mòn rửa trôi Quá trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá các biện pháp canh tác trên địa bàn, vì vậy cần có những nghiên cứu về các biện pháp canh tác mới có hiệu quả hơn nhằm phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Châu (2008) sử dụng một số chỉ tiêu như diện tích, năng suất cây trồng, hệ số sử dụng ruộng đất để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 – 2007
Phạm Văn Dư (2009) đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Phạm Xuân Hoàn và Ngô Đình Quế (2007) nghiên cứu kinh nghiệm quản
lý đất sau nương rẫy của bà con người Dao tại Yên Bái Nghiên cứu đã đề xuất giải pháp nhằm từng bước thay thế phương thức đốt nương làm rẫy của người Dao bằng cách trồng quế theo hướng có hiệu quả và ổn định
Nghiên cứu của các tác giả Phạm Văn Vân, Nguyễn Thanh Trà (2010) với
đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ (Hà Nội)” Kết quả nghiên cứu cho thấy đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương
Mỹ được chia ra thành 3 vùng chính (vùng bãi, vùng đồi gò, vùng đồng bằng) với
Trang 35thế mạnh riêng của từng vùng Trên cả 3 vùng, loại hình sử dụng đất rau – màu, mía – màu đều mang lại hiệu quả kinh tế cao; về hiệu quả xã hội: loại hình sử dụng đất rau – màu thu hút nhiều công lao động nhất; các loại hình sử dụng đất mía – màu, rau – màu, chuyên cá đều có ảnh hưởng tốt đến môi trường
Nguyễn Quang Tin (2011) đã nghiên cứu và triển khai áp dụng các biện pháp canh tác bền vững trên đất dốc như kỹ thuật che phủ đất tận dụng các tàn dư thực vật, kỹ thuật tạo tiểu bậc thang trên đất dốc, kỹ thuật trồng xen canh cây trồng để giảm thiểu sự rửa trôi …tại tỉnh Yên Bái Thực tế cho thấy, việc ứng dụng các kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc đã mở ra một hướng đi mới trong sản xuất nông lâm nghiệp cho một số huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái Đây là những kỹ thuật đơn giản, dễ làm, chi phí đầu tư ít nhưng lại mang lại hiệu quả cao, giúp ngăn chặn xói mòn, rửa trôi đất đai đến 80%, tăng độ ẩm đất từ 20 – 30% và cải thiện cấu trúc của đất Hơn nữa, các kỹ thuật này còn mang tính bảo
vệ môi trường sinh thái, tăng năng suất cây trồng lên từ 25 – 50%, góp phần nâng cao thu nhập cho bà con nông dân vùng cao tỉnh Yên Bái
Đỗ Thị Tám và Nguyễn Thị Hải (2013) đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Nghiên cứu của các tác giả Tạ Tuyết Thái, Nguyễn Xuân Thành và Nguyễn Đình Bồng (2014) với đề tài “Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau chuyển đổi ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên” Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp của huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đồng thời cũng chỉ ra được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp còn lại sau chuyển đổi và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất Năm 2005 trên phạm vi huyện có 6 loại hình sử dụng đất với 15 kiểu sử dụng đất, đến năm
2012 có 6 loại hình sử dụng đất với 21 kiểu sử dụng đất Diện tích tăng chủ yếu ở
2 loại hình cây lâu năm và trang trại VAC (vườn – ao – chuồng) Hiệu quả kinh
tế cao nhất là LUT nuôi trồng thủy sản, thấp nhất là LUT 2 lúa
Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến, Đỗ Nguyên Hải (2015) với đề tài “Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” Kết quả nghiên cứu đã đề xuất được 4 loại hình sử dụng đất vùng lòng chảo (Chuyên lúa đặc sản, 2 lúa màu, chuyên rau sản xuất theo quy trình an toàn, nuôi cá), 10 loại hình sử dụng đất vùng đất dốc có tiềm
Trang 36năng phát triển du lịch (ruộng bậc thang, trồng hoa, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả, cây hoa, cây dược liệu, cây đặc sản, nông lâm kết hợp, rừng, chăn nuôi gia súc)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết được phần nào những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay Có những mô hình cho năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao trước mắt, song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biệt có nơi còn làm huỷ hoại môi trường, phá huỷ đất Vì vậy cần có các công trình nghiên cứu ở từng điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương để đưa ra các giải pháp thích hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững
2.3.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Tính đến năm 2015, tỉnh Phú Thọ có diện tích 353.342 ha, chiếm 1,07% diện tích tự nhiên cả nước, bình quân đạt 0,27 ha/người, thấp hơn bình quân chung cả nước (0,38 ha/người), trong đó:
Bảng 2.2 Diện tích các loại đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Quá trình phát triển nhanh nền kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa những năm qua đã kéo theo việc thay đổi rất lớn trong bố trí sử dụng các loại đất Diện tích đất nông nghiệp (trong đó có đất sản xuất nông nghiệp) mặc dù phải chuyển một phần để xây dựng phát triển
hệ thống đô thị, các khu dân cư, các khu, cụm công nghiệp tập trung và xây dựng kết cấu hạ tầng , nhưng do từng bước đã có những chính sách hợp lý trong khuyến khích khai hoang cải tạo đất chưa sử dụng, mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp; phủ xanh đất trống đồi núi trọc; bảo vệ và phát triển
Trang 37rừng nên diện tích đất nông nghiệp đã tăng lên nhiều; môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng đáng kể, năng suất các loại cây trồng, vật nuôi và giá trị sản phẩm đều tăng, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ cho nhân dân
Phú Thọ có môi trường sinh thái đa dạng nhưng do quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh trong những năm qua, đã dẫn đến việc khai thác sử dụng đất cho các mục đích dân sinh, kinh tế với cường độ ngày càng cao Điều này đã tác động không nhỏ tới môi trường tự nhiên của tỉnh, làm cho đất đai có xu hướng suy thoái, nguồn nước bị ô nhiễm Trong nông nghiệp việc lạm dụng quá mức thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học làm cho môi trường đất, môi trường nước bị ô nhiễm; việc khai thác các loại tài nguyên (đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng) thiếu sự kiểm soát, quá trình xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, phát triển đô thị, khu, cụm công nghiệp, làng nghề, cũng làm suy giảm môi trường Đã xuất hiện một số điểm nóng về môi trường ở thành phố Việt Trì và khu vực phân bón hóa chất ở Lâm Thao Ở nông thôn nhiều nơi còn thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh, thiếu các khu vực thu gom, chôn lấp, xử lý rác thải Diện tích đất trống đồi núi trọc tuy đã được tích cực phủ xanh nhưng vẫn chưa phủ kín toàn lãnh thổ, cộng thêm với lượng mưa hàng năm lớn, địa hình dốc nên hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất vẫn tiếp tục xảy ra Bên cạnh
đó, công tác quản lý, kiểm tra, hướng dẫn không làm được thường xuyên; việc xử
lý các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật Môi trường chưa kịp thời và kiên quyết nên không có tác dụng răn đe Trong thời gian tới vấn đề đặt ra là phải quản lý và kiểm tra thường xuyên ở các khu vực khai thác khoáng sản, các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp và làng nghề, các khu vực sản xuất nông lâm nghiệp sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Nâng nhanh độ che phủ của rừng và tăng cây xanh ở các đô thị, khu công nghiệp Chống thoái hóa đất, chống ô nhiễm nguồn nước, chống bụi không khí Cần triển khai nghiên cứu và tìm giải pháp hữu hiệu để đảm bảo vấn đề sử dụng đất được hiệu quả, hợp lý và bền vững
Trang 38PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là các loại hình sử dụng đất, các yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội liên quan đến quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn của huyện
2016 – 2020
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
+) Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Xác định vị trí vùng nghiên cứu
- Điều tra đất đai: Nông hoá thổ nhưỡng, địa hình
- Điều kiện khí hậu, thuỷ văn: ảnh hưởng của khí hậu đến cơ cấu mùa vụ, năng suất cây trồng,
+) Điều kiện kinh tế- xã hội: Dân số, lao động, việc làm, trình độ dân trí,
tình hình quản lý và sử dụng đất đai, cơ cấu các ngành nghề Tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình độ canh tác, các loại hình sử dụng đất,
+) Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lâm Thao
- Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.3.3 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Trang 39Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, gồm các hiệu quả sau:
* Hiệu quả kinh tế:
+ Tổng giá trị sản xuất từ các loại hình sử dụng đất
+ Tổng thu nhập của các loại hình sử dụng đất
+ Tổng vốn đầu tư cho các loại hình sử dụng đất
* Hiệu quả xã hội:
Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội gồm có:
+ Mức thu hút lao động: nhu cầu sử dụng lao động, tạo ra việc làm cho người dân của kiểu sử dụng đất
+ Tính chấp nhận của người dân
+ Việc nâng cao hiểu biết cho người dân địa phương
+ Khả năng phù hợp với hướng thị trường, góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương
* Hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường đảm bảo bảo vệ đất và điều kiện sinh thái:
+ Mức sử dụng phân bón và thuốc BVTV
+ Tỷ lệ che phủ của hệ thống cây trồng
+ Xây dựng cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp, bảo vệ môi trường, chống xói mòn rửa trôi, bảo vệ nguồn nước
- Đề xuất định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Các giải pháp để thực hiện đề xuất
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp chọn điểm
Các điểm nghiên cứu điều tra phải đại diện cho các vùng địa hình khác biệt nhau của huyện Trên cơ sở bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện Lâm
Trang 40Thao, để đảm bảo khách quan đề tài chọn 2 xã có địa hình khác biệt nhau trong huyện làm đại diện điều tra
Theo đặc điểm của 2 tiểu vùng địa hình là địa hình cao và địa hình thấp của huyện Lâm Thao được chia thành 2 tiểu vùng như sau:
- Tiểu vùng 1 (các xã có địa hình cao), gồm các xã: Tiên Kiên, Xuân Lũng, Xuân Huy và thị trấn Hùng Sơn (đại diện là xã Tiên Kiên)
- Tiểu vùng 2 (các xã có địa hình thấp) gồm các xã: còn lại (đại diện là xã
Tứ Xã)
Các nông hộ được phỏng vấn: Thông qua các lãnh đạo địa phương, trên cơ
sở các tiêu chí đặt ra phục vụ mục đích để nghiên cứu đề tài; lựa chọn ngẫu nhiên
80 hộ nông dân Các hộ của 2 xã, đều có đất nông nghiệp, có các điều kiện phát triển nông nghiệp khác nhau
Phỏng vấn nông hộ với phiếu chuẩn bị trước theo phương pháp điều tra có người dân cùng tham gia để thu thập các số liệu sơ cấp về hiện trạng và hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Mỗi xã được chọn điều tra 40 hộ Tổng số 80 phiếu Nội dung điều tra nông hộ gồm: Chi phí sản xuất, lao động, năng suất cây trồng, loại cây trồng, mức độ thích hợp thích hợp cây trồng với đất
đai và những ảnh hưởng đến môi trường…
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp:
Thu thập số liệu, tài liệu sẵn có từ các cơ quan nhà nước như: phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống
kê và các phòng ban khác có liên quan Số liệu thu thập bao gồm:
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện;
+ Quy hoạch phát triển sản xuất; Đề án phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản…
+ Niên giám thống kê huyện năm 2015;
+ Số liệu thống kê đất đai năm 2015;
3.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
- Hiệu quả kinh tế:
Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một ha của các loại hình sử dụng đất [LUT], sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là giá trị toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ