Kết luận Quá trình nghiên cứu hiệu quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn cho thấy dồn điền đổi thửa đã thực sự mang lại những ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ NHUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Cao Việt Hà
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của UBND huyện Kim Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Chi cục Thống
kê huyện Kim Sơn đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu cho đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xiii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan chung về dồn điền đổi thửa 4
2.1.1 Vấn đề manh mún đất đai và ảnh hưởng của nó đến phát triển nông nghiệp 4
2.1.2 Khái niệm, nguyên nhân, mục đích và vai trò của dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp 5
2.1.3 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp 9
2.2 Kinh nghiệm về tích tụ và tập trung ruộng đất của một số nước trên thế giới 10
2.2.1 Một số nước ở Châu Âu, Châu Mỹ 10
2.2.2 Nhật Bản 12
2.2.3 Indonesia 13
2.2.4 Đài Loan 13
2.3 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 14
2.3.1 Việc ban hành các cơ chế chính sách để thực hiện chương trình 14
2.3.2 Về tổ chức bộ máy triển khai chương trình 14
2.3.3 Về một số hoạt động 15
2.4 Kết quả dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh Miền Bắc Việt Nam 22
2.4.1 Kết quả dồn điền đổi thửa ở việt nam 22
2.4.2 Kết quả dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh Miền Bắc 23
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 29
3.4.2 Biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện kim sơn giai đoạn thực hiện xây dựng nông thôn mới (2011 - 2015) 29
3.4.3 Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Sơn 29
3.4.4 Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới 29
3.4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Sơn 30
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu thứ cấp 30
3.5.2 Phương pháp chọn điểm 30
3.5.3 Phương pháp phỏng vấn hộ nghiên cứu 30
3.5.4 Phương pháp tính toán hiệu quả sử dụng đất 31
3.5.5 Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá 32
3.5.6 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 39
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 47
4.2 Biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Sơn giai đoạn thực hiện xây dựng nông thôn mới (2011 - 2015) 48
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Kim Sơn 48
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 49
4.2.3 Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 51
4.3 Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Sơn 52
4.3.1 Các văn bản pháp lý về dồn điền đổi thửa 52
4.3.2 Quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa 52
4.3.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn 54
4.4 Đánh giá hiệưu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới 58
4.4.1 Tác động của dồn điền đổi thửa đến xây dựng nông thôn mới 58
Trang 64.4.2 Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới 59
4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Sơn 80
4.5.1 Một số tồn tại trong công tác dồn điền đổi thửa 80
4.5.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86
5.1 Kết luận 86
5.2 Kiến nghị 87
Tài liệu tham khảo 88
Phụ lục 91
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
Trang 8Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
SNN : Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ 11
Bảng 2.2 Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á 12
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa tỉnh Nam Định đến năm 2015 24
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 39
Bảng 4.2 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 41
Bảng 4.3 Quy mô dân số, lao động huyện Kim Sơn giai đoạn 2011 - 2015 44
Bảng 4.4 Hệ thống giao thông huyện Kim Sơn năm 2015 46
Bảng 4.5 Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 51
Bảng 4.6 Kết quả dồn điền đổi thửa của các xã trên địa bàn huyện Kim Sơn 56
Bảng 4.7 Diện tích đất giao thông, thủy lợi trước và sau DĐĐT 61
Bảng 4.8 Hệ thống giao thông nội đồng, kênh mương trong quá trình dồn điền đổi thửa 62
Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về sự thay đổi các khâu trong sản xuất 66
Bảng 4.10 Nguồn thu nhập chính của hộ điều tra trước và sau DĐĐT 68
Bảng 4.11 Chi phí sản xuất của các hộ điều tra trên 1 ha đất lúa trước và sau DĐĐT 69
Bảng 4.12 Giá trị sản xuất lúa trước và sau DĐĐT trên 1 ha 70
Bảng 4.13 Tình hình lao động và việc làm của các hộ điều tra 71
Bảng 4.14 Thực trạng quy mô thửa/hộ trước và sau DĐĐT 73
Bảng 4.15 Tổ chức sản xuất trước và sau DĐĐT của các hộ điều tra 75
Bảng 4.16 So sánh mức độ sử dụng thiết bị nông nghiệp trước và sau DĐĐT 76
Bảng 4.17 Đánh giá của người dân về điều kiện sản xuất và cơ giới hóa trong sản xuất 77
Bảng 4.18 Kết quả xử lý môi trường tại địa bàn xã nghiên cứu 80
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Kim Sơn giai đoạn 2011 - 2015 40
Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 41
Hình 4.3 Cơ cấu lao động huyện Kim Sơn giai đoạn 2011 - 2015 45
Hình 4.4 Cơ cấu sử dụng đất huyện Kim Sơn năm 2015 49
Hình 4.5 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Sơn năm 2015 50
Hình 4.6 Đánh giá của người dân về hệ thống GTNĐ sau DĐĐT 65
Hình 4.7 Đường giao thông nội đồng sau DĐĐT 65
Hình 4.8 Đánh giá của người dân về khả năng tưới, tiêu của hệ thống thủy lợi sau DĐĐT 66
Hình 4.9 Hệ thống thủy lợi sau DĐĐT 66
Hình 4.10 Mô hình cánh đồng mẫu lớn tại xã Thượng Kiệm 74
Hình 4.11 Mô hình trang trại VAC ở xã Thượng Kiệm và xã Yên Lộc 78
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Nhung
Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã ngành: 60.85.01.03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản có liên quan tới công tác dồn điền đổi thửa tại các phòng ban chuyên môn trên địa bàn huyện Kim Sơn
- Phương pháp chọn điểm: Việc nghiên cứu chi tiết ý kiến của người dân đối với dồn điền đổi thửa được tiến hành ở xã Thượng Kiệm và xã Yên Lộc
- Phương pháp phỏng vấn hộ nghiên cứu: Dùng phiếu điều tra đã soạn sẵn các câu hỏi và thông tin cần thu thập để điều tra, phỏng vấn thông tin tại các hộ nông dân ở các địa bàn nghiên cứu Tiến hành điều tra 60 hộ nông dân (60 phiếu điều tra), các hộ được chọn ngẫu nhiên để điều tra
- Phương pháp tính toán hiệu quả sử dụng đất: Tính toán hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
- Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá: Trên cơ sở số liệu thu thập được cũng như số liệu điều tra, tiến hành phân tích để so sánh dựa vào các bộ chỉ tiêu đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp để tính toán hiệu quả và tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Toàn bộ thông tin số liệu được tiến hành
xử lý và dùng chương trình phần mềm Excel để tính toán, tổng hợp và phân tích dựa vào những chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt mục đích nghiên cứu đề ra
Trang 123 Kết quả nghiên cứu
- Kim Sơn là huyện ven biển, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Ninh Bình Địa hình tương đối bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi trong công tác dồn điền đổi thửa Trong giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tích cực Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (tính theo giá so sánh 2010) bình quân 8,78%/năm Năm 2015, trong cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp - thủy sản chiếm 29,35%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 44,61% và ngành thương mại - dịch vụ chiếm 24,10%
- Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện năm 2015 là 13.972,8 ha chiếm 64,77% tổng diện tích tự nhiên; trong đó: diện tích đất trồng lúa là 8.302,2 ha; diện tích đất trồng cây lâu năm 1.190,7 ha; diện tích đất nuôi trồng thủy sản 3.900,1 ha; So với năm
2011 tỷ trọng đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác giảm tương ứng là 3,13% và 1,56%; trong khi tỷ trọng đất nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm tăng tương ứng 4,50% và 1,97%
- Huyện Kim Sơn là huyện đi đầu của tỉnh Ninh Bình trong công tác DĐĐT xây dựng NTM Đến nay, đã có 21/23 xã tiến hành DĐĐT xong với tổng số hộ tham gia là 31.055 hộ, tổng diện tích thực hiện DĐĐT 7.261,73 ha; 2 xã còn lại (xã Kim Mỹ và xã Kim Hải) đang triển khai thực hiện Sau DĐĐT số thửa/hộ giảm từ 2,87 thửa xuống còn 1,43 thửa, diện tích bình quân/thửa tăng 817,83 m2/thửa Tổng diện tích hiến đất là 284,32 ha; tổng khối lượng đào đắp kênh mương là 929.187 m3; tổng số tiền thực hiện công tác DĐĐT là 50.352,00 triệu đồng
- Công tác DĐĐT đã có tác động tích cực cho xây dựng nông thôn mới cũng như
sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Hiệu quả công tác DĐĐT thể hiện qua các nội dung:
+ Quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
+ Hệ thống giao thông và thủy lợi được chỉnh trang, nâng cấp phục vụ tốt hơn cho sản xuất
+ Sau khi DĐĐT thu nhập của nông hộ ngày càng tăng
+ Lao động và việc làm có sự thay đổi rõ rệt, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên được nâng cao
+ Công tác DĐĐT đã có tác động tích cực đến hình thức tổ chức sản xuất: Người dân có điều kiện phát triển sản xuất quy mô lớn, phát triển trang trại, đưa cơ giới hóa vào trong sản xuất,…
+ Môi trường nông thôn được cải thiện
Trang 134 Kết luận
Quá trình nghiên cứu hiệu quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Sơn cho thấy dồn điền đổi thửa đã thực sự mang lại những ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống của hộ nông dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dồn đổi ruộng đất trên địa bàn huyện cũng gặp không ít những khó khăn, còn một số tồn tại Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT huyện Kim Sơn cần chú trọng thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp: Về chính sách, khuyến nông và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, vốn và tuyên truyền
Trang 14THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Nhung
Thesis title: Evaluating the effectiveness of land consolidation in the new rural construction in Kim Son district, Ninh Binh province
Major: Land Management Industry code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Thesis has used the following methods:
- Method of secondary data collection: Collecting the documents related to land consolidation work in the technical sections anh divisions of Kim Son district
- Case Study: The detailed study of the opinions of people on land consolidation was conducted in Thuong Kiem and Yen Loc commune
- Household interviewing research: Using questionnaires were drafted the questions and gather information needed to investigate, interview information in the households in the study area Conducting a survey of 60 households (60 surveys), households were randomly selected for the survey
- Effective calculation method of land use: Calculation of economic efficiency, social efficiency, environmental efficiency
- Methods of analysis, comparison and evaluation: On the basis of data collected,
as well as survey data, conducting analysis to compare the indicators based on the impact assessment of land consolidation to agricultural producers to calculate the effectiveness and impact of land consolidation to agricultural production
- Statistical methods, data processing: The entire information and data processing was conducted and Excel software program was used to calculate, aggregate and analyze based on specific criteria in order to achieve the proposed research objectives
3 Research results
- Kim Son is a coastal district of the northern plains, located in the southeast of the Ninh Binh province Relatively flat terrain create favorable conditions for the work
Trang 15of land consolidation In the period 2011 - 2015, the economic growth of the district rather , restructuring the economy towards positive growth rate of production value (in
2010 constant prices ) increased by an average 8,78%/year In 2015, the economic structure of agriculture and forestry - fisheries accounted 29,30%, industry - construction accounted for 44,61% and commercial sectors - services accounted 24,10%
- Agricultural land of the district is 13,972.8 hectares in 2015 accounted for 64.77%
of the total natural area Of which paddy land area is 8,302.2 hectares; land area of 1,190.7 hectares for perennial crops; land area of 3,900.1 hectares of aquaculture, Compared to 2011 the proportion of paddy land, other annual crops decreased respectively 3.13% and 1.56%; while the share of aquaculture land and perennial crop land increased by 4.50% and respectively 1.97%
- Kim Son district is at the forefront of the work of land consolidation implementation to serve new rural construction in the Ninh Binh province So far, there have been 21 of 23 communes successfully completed the land consolidation project with a total of 31,055 households involved in the protection and implementation of a total area of 7,261.73 ha land consolidation, 2 communes ongoing (Kim My and Kim Hai commune) After the land consolidation completion, the number of parcels per households was reduced from 2.87 to 1.43 parcel plot The average area/plots rose 817.83 m2/plots The total land donation area is 284.32 hectares; total digging volume
of earthwork for canalization is 929.187 cubic meter The total spending on land consolidation is 50,352.00 million
The implementation of land consolidation had a positive impact on the new rural construction and the development of agriculture and rural areas The effectiveness of land consolidation works expressed on the following issues:
+ Planning and implementation of the new rural system
+ Transportation system and irrigation improvement and upgrade to better serve production
+ Increasing the farmer’s income after land consolidation
+ Labor and employment changed significantly, the proportion of workers with regular employment is increased
+ The implementation of land consolidation had a positive impact on organizational of production: the farmers having favourable conditions in production large field, development of farmland, mechanization application in production,
+ Rural Environment Improved
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là yếu tố để thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh xã hội, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
Thời gian qua trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đảng và nhà nước ta luôn có những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển, điển hình là luật Đất đai năm 1993, theo đó đất đai được giao đến tận tay người nông dân Với chính sách mới về quyền sử dụng đất đã làm thay đổi mối quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân thực sự trở thành người chủ mảnh đất của mình, đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá, hướng mạnh ra xuất khẩu Một số hàng hoá nông nghiệp đã vươn lên cạnh tranh mạnh và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều, cá, tôm,…
Vai trò to lớn của việc chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói trên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh
tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo
an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu Nhưng thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng, ruộng tốt cũng như xấu, xa cũng như gần đều được chia đều tính trên nhân khẩu nông nghiệp, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán, manh mún không đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp thời kỳ đổi mới
Để khắc phục tình trạng manh mún phân tán ruộng đất như đã nói trên, thì việc dồn đổi ruộng đất nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh là việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân khai thác sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà
Trang 18nước về đất đai Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương “Dồn điền đổi thửa” để việc quản lý và sử dụng đất có hiệu quả hơn
Ninh Bình đã tiến hành giao đất nông nghiệp cho các hộ nông dân quản lý,
sử dụng canh tác Tuy nhiên, do ruộng đất manh mún, một hộ sử dụng nhiều thửa đất nằm rải rác ở nhiều cánh đồng Đây chính là rào cản cho tổ chức sản xuất tập trung, làm tăng chi phí công lao động, khó áp dụng cơ giới hóa, điều hành thủy lợi và quản lý đất đai Trước thực trạng ruộng đất hiện nay vẫn còn manh mún, phân tán, không đáp ứng yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới; ngày 02/8/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã có Công văn số 230/UBND-VP3
về việc dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp gắn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Huyện Kim Sơn những năm gần đây sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ khá Nhưng thực tế sản xuất nông nghiệp trên địa bàn hiện nay cho thấy ruộng đất còn manh mún, nằm rải rác nhiều xứ đồng khác nhau Ruộng đất bị manh mún cản trở việc chuyển giao áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất
là khâu cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nên chi phí lao động cao dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp Để khắc phục tình trạng này Ủy ban nhân dân huyện Kim Sơn đã ban hành Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 30/9/2013 về việc thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp gắn với thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
Từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả công
tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” với mong muốn làm rõ hơn hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp và thực trạng của việc dồn điền đổi thửa nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Trang 19- Thời gian nghiên cứu: Từ 2015 - 2016
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
* Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp người dân trên địa bàn huyện Kim Sơn hiểu rõ hơn về vai trò của công tác dồn điền đổi thửa với sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
- Việc đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới là một kênh tham khảo cho các nhà lãnh đạo của địa phương đưa ra những giải pháp khả thi để giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện công tác dồn điền đổi thửa trong thời gian tới đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất sau dồn điền đổi thửa
Trang 20PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
2.1.1 Vấn đề manh mún đất đai và ảnh hưởng của nó đến phát triển nông nghiệp
Khái niệm manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: Một là sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp, dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục tình trạng này
Manh mún đất đai xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và
ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: Có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do sức ép dân số, nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả của công tác địa chính,
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc Theo số liệu thống kê năm
2004 cho thấy toàn quốc có khoảng 75 - 100 triệu thửa, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7 - 8 thửa Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai
sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
Trang 212.1.2 Khái niệm, nguyên nhân, mục đích và vai trò của dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm chung về dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa (Group of land) là việc tập hợp dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với chia các mảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ (Đào Thế Anh, 2004)
Hay hiểu theo cách khác thì dồn điền đổi thửa là việc chuyển đổi ruộng đất
từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn giữa các hộ nông dân, tập trung ruộng đất để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ sang phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa có quy mô lớn hơn, dưới sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương xuống địa phương Có hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau (Đào Thế Anh, 2004)
Bản chất của dồn điền đổi thửa là quá trình dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sắp xếp quy hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng, hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, nâng cao hệ số sử dụng đất, đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn (Lã Văn Lý, 2007)
Như vậy, dồn điền đổi thửa là việc dồn các thửa nhỏ thành thửa ruộng lớn
để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các hộ nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp
2.1.2.2 Nguyên nhân của dồn điền đổi thửa
Sau khi thực hiện giao đất nông nghiệp ổn định cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, sản xuất nông nghiệp đã đạt được những kết quả quan trọng, tăng trưởng trong nông nghiệp được giữ vững, xuất hiện nhiều mô hình trang trại, có sự chuyển dịch tích
Trang 22cực trong cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi, Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế: sản xuất nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch, chưa có vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng còn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, năng suất và hiệu quả sản xuất chưa cao do tình trạng đất đai manh mún, nhiều thửa đất có diện tích nhỏ/1 hộ
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh
tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích
và ô thửa Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn (Tổng cục Địa chính, 1998)
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Tổng cục Địa chính, 1997)
- Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015 Trong xây dựng nông thôn mới yêu cầu đầu tiên là phải quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, theo hướng tập trung Do đó, việc quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp dồn đổi nhiều ô thửa nhỏ thành một ô thửa lớn cũng như việc quy hoạch những vùng, điểm để xây dựng các công trình phúc lợi phục vụ dân sinh
và phúc lợi xã hội là một việc làm cấp thiết trong xây dựng nông thôn mới
- Để tạo điều kiện đưa cơ giới hóa và khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp dần thay thế sức lao động nặng nhọc của người dân bằng máy làm đất, máy gieo cấy, máy gặt đập liên hợp, Đồng thời, để tranh thủ nguồn vốn của cấp trên đầu tư cho xây dựng các công trình phúc lợi xã hội và phục vụ trực tiếp trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đòi hỏi phải quy hoạch giao thông nội đồng, thủy lợi tưới tiêu phải đảm bảo thuận tiện Trong đó, phải đặc biệt quan tâm đến việc DĐĐT từ nhiều ô thửa nhỏ thành một ô thửa lớn, góp phần tăng năng suất, giảm chi phí mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 23- Tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang là một chủ trương lớn nhằm hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa thị trường
- Để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh trong tương lai thì cần phải loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ Công tác dồn điền đổi thửa rất quan trọng, tạo bước đệm để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng, khai thác hết tiềm năng đất đai của mỗi địa phương
2.1.2.3 Mục đích và vai trò của dồn điền đổi thửa
a Mục đích
- Khắc phục tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung, để thuận tiện cho việc áp dụng các tiến bộ KHKT Thực hiện cơ giới hóa trong nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả lao động, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp sang sản xuất ngành nghề, tăng thu nhập cho người dân
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, cơ giới hóa vào đồng ruộng, tạo nguồn lực thực hiện xây dựng Nông thôn mới, xây dựng các công trình phúc lợi
Trang 24+ Sau DĐĐT có thể nói hầu hết đồng ruộng đã được quy hoạch đảm bảo việc sử dụng lâu dài và có hiệu quả Đường giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, đất vùng chuyển đổi đều rõ ràng, tập trung, có thể đa dạng về hình thức và mục đích sử dụng (Tổng cục địa chính, 1998)
+ DĐĐT đã phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong đầu tư thâm canh cây trồng, vật nuôi Có điều kiện để bố trí cơ cấu sản xuất, thời
vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, tăng vụ, tăng năng suất lao động Bước đầu hình thành các trang trại nông nghiệp, hiệu quả kinh tế đạt cao hơn DĐĐT đã tác động tích cực tới nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội ở địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở, từ mô hình hợp tác, mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng Từ đó, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản xuất hàng hóa nông sản (Nguyễn Văn Linh, 2008)
+ DĐĐT thành công giúp người nông dân tiết kiệm được thời gian lao động, chi phí sản xuất ở các khâu công tác, giảm hẳn công “chạy đồng” ở các xứ đồng, nhiều thửa, thửa nhỏ nay tập trung đầu tư vào 2, 3, 4 thửa/hộ sẽ có nhiều điều kiện để làm kỹ hơn, dự đoán và các biện pháp kịp thời, hợp lý để giải quyết úng, hạn, sâu bệnh, hộ nông dân có vốn đầu tư mua máy móc nông nghiệp vừa phục vụ cho hộ và các hộ khác góp phần giải phóng sức lao động làm cho hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất cao hơn Việc dồn đổi ruộng đất từ nhiều ô thửa nhỏ, phân tán thành những ô thửa lớn, tập trung đã từng bước làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập quán canh tác trước đây của người nông dân Trước đây
do người dân quen canh tác trên các thửa đất nhỏ nên hay chần chừ, do dự không muốn đầu tư thâm canh Khi đó thửa ruộng lớn cùng với sự phát triển của KHKT
và những chính sách khuyến nông, khuyến ngư phù hợp của các cấp chính quyền
đã làm nếp nghĩ của bà con thay đổi theo chiều hướng tích cực của tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn (Nguyễn Văn Linh, 2008)
+ DĐĐT trong nông nghiệp khắc phục được tình trạng ruộng đất manh mún Vì hiện nay mỗi hộ gia đình, cá nhân có hàng chục thửa ruộng ở nhiều xứ đồng khác nhau, nên khi thực hiện DĐĐT thì bình quân số thửa ruộng trên hộ sẽ giảm, thậm chí một hộ có thể chỉ có một thửa, diện tích trên thửa sẽ tăng Ruộng đất của các hộ được tập trung về một khu vực, một xứ đồng sẽ thuận lợi cho việc đầu tư, thâm canh, tiết kiệm được chi phí, đi lại, vận chuyển sản phẩm khi thu hoạch Mặt khác, khi DĐĐT số thửa giảm, ít bờ ruộng hơn, nên diện tích đất canh tác chắc chắn sẽ tăng hơn so với trước DĐĐT
Trang 25+ DĐĐT thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội
bộ ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, làm tiền đề cho việc hình thành các doanh nghiệp trong nông nghiệp và có điều kiện để hình thành nhiều trang trại, nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân công lại lao động xã hội Bởi vì, hiện nay do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh đồng các hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau, chế độ chăm sóc thu hoạch khác nhau Điều đó gây ảnh hưởng
và hạn chế lẫn nhau, không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không có khối lượng hàng hoá lớn Nếu thực hiện DĐĐT sẽ khắc phục được tình trạng này
+ Đất công ích được rà soát và tập trung hình thành các khu vực cụ thể để thuận lợi cho việc sử dụng và quản lý của địa phương
+ DĐĐT đất nông nghiệp tạo cơ sở cho việc cải thiện công tác quản lý đất đai thông qua quá trình điều tra đất đai cập nhật quỹ đất, trao đổi và giao lại đất có
sự tham gia tích cực của các hộ nông dân của địa phương, những lúc khó khăn, tồn tại liên quan đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, giao đất chưa công bằng trước đây được giải quyết, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết trong xóm
2.1.3 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp
Dồn điền đổi thửa tác động đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Thay đổi bố trí hệ thống canh tác và cơ cấu giống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân thay đổi đáng kể Các nông hộ sau khi DĐĐT đã có điều kiện tích tụ đất sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các
hộ có khả năng tiếp cận những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao hơn, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất
từ đó tạo điều kiện cho các nông dân phá vỡ thế độc canh cây trồng truyền thống có năng suất thấp tiến tới chuyên canh, tăng vụ, đa dạng hóa, chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, tăng dần tỷ lệ cây trồng có giá trị cao, giảm tỷ lệ cây trồng truyền thống, có giá trị thấp
- Công tác DĐĐT ảnh hưởng đến quyết định đầu tư máy móc và cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp Một trong những hạn chế lớn nhất của ruộng đất manh mún là không thể đưa cơ giới hóa vào sản xuất, ruộng đất quá nhỏ hầu như
bờ thửa chiếm chủ yếu không có bờ lớn để máy móc đi vào điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động Khi tiến hành DĐĐT hệ thống bờ thửa
Trang 26được mở rộng, diện tích thửa ruộng gấp nhiều lần cũ Điều này đã kích thích người dân quyết định đầu tư máy móc, cơ giới hóa vào sản xuất, để nâng cao năng suất cũng như là giải phóng được lao động chân tay Quá trình tổ chức sản xuất của hộ nông dân đã tiết kiệm được thời gian, chi phí sản xuất, cơ giới hóa sản xuất trong nhiều khâu sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, mạnh dạn đầu
tư hiện đại cơ sở vật chất sản xuất, áp dụng thành công nhiều tiến bộ KHKT, công nghệ mới góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn (Vũ Thị Bình, 2003)
- Thúc đẩy phân công lại lao động của hộ và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế DĐĐT đã tạo nên hiệu ứng tích cực là sắp xếp phân công lại lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động hoạt động trong các lĩnh vực khác Sau DĐĐT một số hộ sản xuất nông nghiệp đã nhượng, cho mượn hoặc cho thuê lại một phần diện tích sản xuất của gia đình mình cho các hộ khác khi lao động của hộ đã có việc làm ổn định ở nhiều nơi khác DĐĐT làm cho đất trồng lúa giảm, thay vào đó là sự tăng lên của đất nuôi trồng thủy sản, đất trang trại, một phần diện tích cây lúa kém hiệu quả chuyển sang chăn nuôi và trồng cây lâu năm
- Tạo điều kiện quy hoạch kiên cố hóa hệ thống thủy lợi và hoàn thiện hệ thống giao thông DĐĐT khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất làm cho diện tích các mảnh ruộng tăng lên thúc đẩy đầu tư máy móc vào sản xuất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa làm tăng nhu cầu dịch vụ sản xuất, đặc biệt là nhu cầu đảm bảo tưới tiêu, vận chuyển sản phẩm và cơ giới hóa sản xuất Hệ thống kênh mương tưới tiêu được cứng hóa tăng lên, các bờ thửa được đắp kiên cố, hệ thống giao thông được xây dựng thuận tiện cho việc đi lại, bờ thửa giảm
- Tác động đến mức đầu tư chi phí sản xuất, nâng cao kết quả sản xuất và tăng thu nhập cho người dân Sau khi dồn đổi ruộng đất hầu hết các chi phí đều giảm, giúp đi lại vận chuyển dễ dàng, đáp ứng yêu cầu khung thời vụ gieo cấy, giúp người dân tiết kiệm lượng giống gieo trồng, chi phí phòng trừ sâu bệnh, giá dịch vụ làm đất và thời gian thu hoạch, thời vụ gieo cấy
2.2 KINH NGHIỆM VỀ TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Một số nước ở Châu Âu, Châu Mỹ
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến
Trang 27khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện; với Hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích
tụ ruộng đất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ, ở Pháp năm
1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô 35 ha/hộ Ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông
hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 (Chu Mạnh Tuấn, 2007)
Tình hình tích tụ ruộng đất của các trạng trại ở một số nước Âu, Mỹ được thể hiện chi tiết tại bảng 1.1
Bảng 2.1 Tình hình tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Trang 28Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: Xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn + Về mặt kỹ thuật: Gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất, mới phát huy hiệu quả trong sử dụng đất Kết quả là khoảng 2,0 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở Nhật Bản đã được chuyển đổi Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa/hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa/hộ Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân; việc áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp Vì vậy, cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất từ 3.000 kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000 kg gạo/ha/năm năm 1992 (Nguyễn Sinh Cúc, 1998)
Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á được thể hiện chi tiết tại bảng 1.2
Bảng 2.2 Tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Trang 292.2.3 Indonesia
Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh mún Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,50 ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,50 đến 1,00 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại
có 4,00 đến 5,00 ha Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó Ở Indonesia nói riêng và Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xảy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy, ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu tư thêm lao động giảm xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê đất Như vậy, thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế (Chu Mạnh Tuấn, 2007)
2.2.4 Đài Loan
Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại Đến năm
1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong
xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy
Trang 30mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra, để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một
số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất (Tạ Đình Thi, 2007)
2.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
2.3.1 Việc ban hành các cơ chế chính sách để thực hiện Chương trình
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia làm cơ sở định hướng chỉ đạo xây dựng NTM trên địa bàn xã và 05 quyết định về cơ chế, chính sách để thực hiện chương trình Các Bộ, ngành đã ban hành 05 quyết định và 52
thông tư hướng dẫn thực hiện các cơ chế chính sách, nội dung chương trình
Vận dụng chính sách của Trung ương, các tỉnh, thành phố đã ban hành thêm nhiều cơ chế chính sách phù hợp với địa phương, như chính sách cấp xi măng để dân tự làm đường ở Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình; chính sách hỗ trợ lãi suất để khuyến khích nông dân vay chuyển đổi cơ cấu sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng hoặc mua máy móc làm đất, máy gặt đập liên hợp của An Giang, Đồng Tháp, Thái Bình; chính sách phát triển mỗi làng một sản phẩm của Quảng Ninh
Tuy vậy, tới nay vẫn còn một số cơ chế chính sách của Trung ương chậm được ban hành hoặc chậm sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế như: Chính sách cho các vùng đặc thù, cơ chế lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn xã; Tổ chức bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo chương trình các cấp; Hướng dẫn thực hiện tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa; nhà ở dân cư đạt chuẩn; Hướng dẫn
về quy chế quản lý xây dựng nông thôn… (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.2 Về tổ chức bộ máy triển khai chương trình
Đã hình thành bộ máy chỉ đạo và quản lý Chương trình đồng bộ ở các cấp
từ Trung ương tới cơ sở:
2.3.2.1 Ở Trung ương
- Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập BCĐ và Thường trực BCĐ Chương trình MTQG xây dựng NTM Trung ương do Phó Thủ tướng Chính phủ là Trưởng Ban Thường trực BCĐ Trung ương đã có quyết định thành lập Văn phòng Điều phối Trung ương
Trang 31- Nhiều Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội thành lập bộ phận thường trực
để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ được phân công Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập BCĐ chương trình của Bộ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.2.2 Các tỉnh, thành phố
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều thành lập BCĐ chương trình
do đồng chí Bí thư tỉnh/thành ủy hoặc Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố trực tiếp làm trưởng Ban BCĐ các tỉnh, thành phố đều thành lập bộ phận giúp việc (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.2.3 Cấp huyện
Ở cấp huyện đều thành lập BCĐ huyện do đồng chí bí thư huyện ủy hoặc chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban Bộ phận giúp việc đặt trong phòng Nông nghiệp huyện (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.2.4 Cấp xã
Ở cấp xã đã thành lập BCĐ do đồng chí Bí thư đảng ủy xã làm Trưởng ban
và Ban quản lý xây dựng nông thôn mới do đồng chí chủ tịch UBND xã làm trưởng ban Đã có 71% thôn, bản, ấp thành lập Ban Phát triển thôn, bản, ấp (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.3 Về một số hoạt động
2.3.3.1 Công tác tuyên truyền, vận động
Các cơ quan Trung ương và địa phương đã tích cực tổ chức quán triệt về mục đích, nội dung của chương trình Đến cuối năm 2011 có 100% cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể các cấp đã triển khai công tác tuyên truyền tới người dân tại thôn, bản
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp phát động phong trào thi đua
“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” Nhiều tỉnh, thành phố, Bộ, ngành
đã hưởng ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở địa phương, đơn vị
Ban Thi đua khen thưởng Trung ương đã có văn bản hướng dẫn thực hiện công tác thi đua trong xây dựng NTM và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, tổng hợp kết quả thi đua
Trang 32Ban Chỉ đạo Chương trình ở các địa phương đã chủ động chỉ đạo biên tập, ban hành sổ tay hướng dẫn, xây dựng phim tư liệu, bản tin, tập san riêng về xây dựng NTM phát đến các cơ quan và cán bộ tham gia chỉ đạo xây dựng NTM Các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện chương trình Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng NTM; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã chỉ đạo triển khai nhiều mô hình thực hiện chương trình: “Tổ phụ nữ
tự quản đường giao thông nông thôn”, “Phụ nữ chung sức xây dựng NTM” Công tác tuyên truyền vận động được coi trọng đã góp phần rất quan trọng giúp cán bộ và nhân dân có nhận thức đúng về Chương trình, thay đổi nếp nghĩ, khắc phục một bước tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhân dân, tạo động lực to lớn biến chương trình thành một phong trào ngày càng lan rộng (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.3.2 Công tác kiểm tra giám sát
a Ban chỉ đạo trung ương
- Ban Chỉ đạo Trung ương đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; phân công các thành viên kiểm tra, đôn đốc các địa phương Nhờ đó, đã phát hiện các vướng mắc kịp thời đề xuất bổ sung các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi
cho địa phương tổ chức thực hiện (công tác quy hoạch; thực hiện tiêu chí giao
thông, điện, chợ nông thôn ….)
- Ban Chỉ đạo Trung ương đã tổ chức Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện
Chương trình ở các vùng (miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Cửu long; Duyên
hải nam Trung bộ, Đông nam Bộ và Tây Nguyên) đánh giá kết quả, làm rõ tính
đặc thù của từng vùng, từ đó có cơ chế chính sách và giải pháp phù hợp, thúc đẩy thực hiện chương trình
- Các Bộ, ngành đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát, các hội nghị sơ kết để đánh giá kết quả, kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách, giải pháp thực hiện hiệu quả hơn các nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Văn phòng Điều phối sớm ban hành Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM, các đơn vị chuyên ngành của
Trang 33Bộ đã xây dựng Sổ tay hướng dẫn chuyên ngành, tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ vận hành chương trình và tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình điểm về các nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
b Ở địa phương
Công tác kiểm tra, chỉ đạo được coi trọng Nhiều địa phương đã quy định
cụ thể thời gian kiểm tra địa bàn của BCĐ các cấp (BCĐ tỉnh Hà Tĩnh đã quy
định ngày thứ Bảy hàng tuần là ngày nông thôn mới để xuống kiểm tra, chỉ đạo thực hiện chương trình ở cơ sở)
Tuy nhiên, việc chỉ đạo từ Trung ương hầu như mới chỉ tập trung vào cấp tỉnh và cấp xã, ít chú ý chỉ đạo cấp huyện Vì vậy, vai trò của cấp huyện trong quy hoạch, thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã chưa thật rõ nét (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.4 Kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về NTM
2.3.4.1 Về quy hoạch và lập đề án nông thôn mới
Quy hoạch được xác định là nội dung phải được triển khai trước một bước
để định hướng cho xây dựng NTM Ngày 02/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM, hỗ trợ ngân sách Trung ương để các địa phương thực hiện Đến quý 1/2014 đã có 93,7% số xã của cả nước đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM (trước khi có Quyết định số 193/QĐ-TTg, toàn quốc mới chỉ đạt 23,4%)
Các tỉnh đã hoàn thành 100% công tác lập quy hoạch xây dựng xã NTM gồm: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ
An, Đà Nẵng, Phú Yên, Gia Lai, Đắk Nông, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng… Một số địa phương đạt thấp như Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Sơn La Đồng thời, các xã đã tiến hành lập Đề án xây dựng NTM xác định mục tiêu và giải pháp thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên Đến nay đã có 81% số xã phê duyệt xong
đề án (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.4.2 Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Sau hơn 3 năm thực hiện, Chương trình đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện:
Trang 34- Phát triển giao thông nông thôn: Nhiều địa phương đã có chính sách hỗ
trợ, thu hút nguồn lực phù hợp nên đã huy động được sự tham gia của người dân
và toàn xã hội Tỉnh Tuyên Quang đã có chính sách hỗ trợ bình quân 170 tấn xi măng, 02 triệu đồng và toàn bộ cống qua đường (bằng 50% chi phí) để xây dựng
01 km đường bê tông, nhân dân tự nguyện đóng góp tiền, ngày công, hiến đất, dịch chuyển cổng, tường rào để làm đường Các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hóa, Phú Thọ, Hà Tĩnh… cũng có chính sách tương tự Phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển rất cao Cả nước đã và đang triển khai xây dựng trên 5 ngàn công trình với khoảng 70.000
km đường giao thông nông thôn Đã có 11,6% số xã đạt tiêu chí giao thông (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Về thủy lợi: Đã xây dựng tu bổ sửa chữa, nâng cấp hơn 3.000 công trình
thủy lợi gồm bờ bao, cống, trạm bơm phục vụ tưới tiêu, trong đó nạo vét, tu sửa gần 7 ngàn km kênh mương Tỉnh Thái Bình đã tập trung nguồn lực để hỗ trợ cứng hoá toàn bộ hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng cho các xã điểm Đã có 31,7% số xã đạt tiêu chí thủy lợi (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Điện nông thôn: Từ năm 2010-2013 nguồn vốn huy động đầu tư cải tạo và
xây dựng mới hệ thống điện nông thôn khoảng 15.205 tỷ đồng, chủ yếu là vốn của ngành điện và các dự án vay vốn nước ngoài Người dân đóng góp đất xây dựng hành lang an toàn lưới điện Tới nay, tỷ lệ xã có điện đạt 98,6% và tỷ lệ hộ dân nông thôn có điện đạt 96,6% (tăng 1,3% so với năm 2010), trong đó có 16 tỉnh, thành phố đạt 100% số hộ nông thôn có điện Đã có 67,2% số xã đạt tiêu chí
về điện (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Về nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn: Đã nâng cấp hơn 1.000 công
trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh Đã có 40% xã lập tổ thu gom rác thải tăng 10% so với trước khi thực hiện chương trình Đã có 14,9% số xã đạt tiêu chí về môi trường (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: Đã phát triển đến các xã vùng sâu,
vùng xa Internet tốc độ cao đã đến được hầu hết các điểm bưu điện văn hóa xã, khoảng 55% số xã có điểm truy cập Internet công cộng, vùng phủ sóng 3G đã đạt trên 80% dân số, tỷ lệ xã có điện thoại công cộng là 97% Hầu hết người dân khu
Trang 35vực nông thôn được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông phổ cập Đã có 77% số xã đạt tiêu chí về bưu điện (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Chợ nông thôn: Tới nay đã có 57,6% số xã có chợ; trong đó, có 84 chợ
đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh Về mô hình quản lý chợ, bên cạnh hình thức ban quản lý chợ truyền thống, đã có 194 HTX, 401 doanh nghiệp tham gia kinh doanh, quản lý chợ Đã có 30,2% số xã đạt tiêu chí về chợ nông thôn (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Trường học các cấp: Đã xây mới thêm 198 trường Trung học phổ thông;
xây dựng bổ sung 25.794 phòng học mầm non, 39.480 phòng học cho tiểu học, 21.899 phòng học cho THCS, 5.018 phòng học cho THPT; trẻ em đi nhà trẻ tăng 15,8% so với năm 2008; trẻ em đi mẫu giáo tăng 11,4% so với năm 2008 Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được hoàn thiện, giải quyết được
07 - 12% học sinh dân tộc vào học Đã có 21,9% xã đạt tiêu chí trường học (với
289 trường mẫu giáo, 1.910 trường mầm non, 5.254 trường tiểu học và 2.164 trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia) (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Hệ thống các trạm y tế: Đã có 99,51% số xã có trạm y tế, 72% trạm y tế
xã có bác sĩ, trên 95% trạm y tế xã có nhà hộ sinh, khoảng 78,8% trạm y tế xã đã thực hiện khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động đạt trên 86% Đã có 45,9% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Cơ sở vật chất văn hóa: Đã có 44,8% số xã có Trung tâm văn hoá - Thể
thao xã, 46% số thôn có nhà văn hoá/nhà sinh hoạt cộng đồng, 48,65% thôn được công nhận là làng văn hoá, có 36.141 sân vận động và sân bóng đá do cấp xã quản
lý, 1.593 nhà thi đấu và nhà tập luyện, 348 bể bơi và hồ bơi tự tạo, 38.371 câu lạc
bộ TDTT cơ sở được thành lập Đã có 7,7% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất văn hóa (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.4.3 Về phát triển sản xuất tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo
Nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa, thiết kế lại hệ thống giao thông, thủy lợi - chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng, tiêu biểu là các tỉnh, thành phố: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa… Chính sách hỗ trợ dân mua máy cày,
Trang 36gặt, sấy đã được nhiều tỉnh triển khai mạnh mẽ, đưa tỷ lệ cơ giới hóa các khâu này tăng từ 40% - 50% lên 80% - 90% như Thái Bình, Hà Tĩnh, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp,…
Nhiều địa phương đã quan tâm chỉ đạo kiện toàn tổ chức sản xuất thông qua tăng cường hoạt động của các hợp tác xã trong nông nghiệp Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” được 43 tỉnh trong cả nước áp dụng Riêng vụ Đông Xuân năm 2013 -
2014, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã mở rộng diện tích cánh đồng lớn lên đến 100.000 ha, nhiều nhất tại An Giang (35.000 ha), Cần Thơ (14.228 ha)
Đã có trên 9.000 mô hình sản xuất với tổng vốn ngân sách hỗ trợ khoảng 8.400 tỷ đồng đem lại năng suất thu nhập cao hơn trước từ 15% - 40% Đã có nhiều mô hình phát triển sản xuất hiệu quả cao được các địa phương quan tâm nghiên cứu, nhân rộng Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng triển khai mạnh các
mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao Tỉnh Lâm Đồng có 10.000 ha (11%)
có mức thu từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm Một số tỉnh, thành phố đã bước đầu quan tâm chỉ đạo hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch ở nông thôn (xã Yên Đức, huyện Đông Triều, Quảng Ninh; xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang…), hàng năm đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt khách du lịch
Các hoạt động nêu trên đã góp phần tăng thu nhập của cư dân nông thôn năm 2013 gấp 1,8 lần so với năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết năm
2013 là 12,6% giảm bình quân 2%/năm so với năm 2008
Đến nay, đã có 30,1% số xã đạt tiêu chí thu nhập, 52,8% số xã đạt tiêu chí việc làm và 24,5% số xã đạt tiêu chí hộ nghèo (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.4.4 Về văn hoá - xã hội - môi trường
- Về văn hóa: Trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã động viên, khơi dậy trong các tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, chung sức xây dựng nông thôn mới Phong trào xây dựng gia đình văn hóa ngày càng phát triển sâu rộng Năm 2013 có 47% làng, thôn, ấp, bản văn hóa đạt chuẩn cơ sở vật chất; 16 triệu gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” Đã có 47,5% số xã đạt tiêu chí về văn hóa (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
Trang 37- Về đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn: Đã phát huy sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống chính trị, thường xuyên nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân ở các vùng nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc nâng cao cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội Đã chủ động đấu tranh ngăn chặn các âm mưu, hoạt động chống phá của thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh nông thôn; xử lý tốt các vấn đề phức tạp phát sinh, không để bị động, bất ngờ; đẩy mạnh tấn công trấn áp tội phạm, tạo sự chuyển biến rõ nét về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn Đến nay, đã có 86,1% số xã đạt tiêu chí về
an ninh trật tự xã hội (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.3.4.5 Về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh
- Tổ chức cơ sở đảng ở nhiều vùng nông thôn đã được nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò hạt nhân trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Trong quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều cấp uỷ đảng cơ sở đã chủ động lựa chọn những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để bàn bạc, thảo luận trong cấp uỷ, chi bộ, và xây dựng thành nghị quyết chuyên đề
để lãnh đạo thực hiện có kết quả Nhờ vậy, uy tín được nâng cao
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo được nhiều địa phương (nhất là cấp xã) đã được kiện toàn Qua hoạt động thực tiễn đội ngũ cán bộ xã đã có bước trưởng thành nhanh, năng lực, tinh thần trách nhiệm, kỹ năng vận động quần chúng đã được nâng lên rõ rệt Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở đạt chuẩn được quan tâm (đã có khoảng 85% số xã đạt tiêu chí này) Nhiều nơi đã luân chuyển tăng cường cán bộ về xã Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ về công tác ở cấp xã
- Sự phối hợp giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên trong chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chương trình xây dựng NTM ngày càng cụ thể và hiệu quả như Hội nông dân với xóa đói giảm nghèo; Hội phụ nữ với phong trào “năm không, ba sạch”… Nhờ đó, đã kịp thời khắc phục những hạn chế trong nhận thức của cán bộ và nhân dân; tháo gỡ khó khăn vướng mắc từ cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, tạo sự nhất trí, đồng thuận cao trong cả hệ thống chính trị
Trang 38Đến nay, đã có 61,8% số xã đạt tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội (BCĐ Trung ương Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
2.4 KẾT QUẢ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM
2.4.1 Kết quả dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp cần được phát triển theo hướng hàng hóa như một nhu cầu của chính người dân Nhu cầu ấy chỉ có thể xuất hiện khi nông dân tập trung một diện tích đất đai hợp lý
Thực hiện Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ, Khoán
10 với cách làm cơ bản là “có ruộng tốt, ruộng xấu, có gần, có xa, có cao, có thấp” phần nào đã tạo sự công bằng trong việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Nhưng chính tư tưởng “hoa thơm mỗi người hưởng tý” là thủ phạm khiến ruộng đất Việt Nam bị chia ra thành nhiều thửa ruộng Cả nước có 70 triệu thửa ruộng, bình quân mỗi thửa có diện tích từ 300 - 400 m2, bình quân mỗi hộ có 7 - 10 thửa ruộng (Đỗ Kim Chung, 2000)
- Đã có 11 tỉnh vùng ĐBSH với 50/69 huyện, thị (52,10%); 766/2.001 xã, phường thị trấn (38,10%) tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa Ở Phú Thọ đã có 13/13 huyện, thị với 253/274 xã, phường, thị trấn tiến hành dồn điền đổi thửa (Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
- Về số thửa: Hầu hết ở các địa phương sau thực hiện DĐĐT, số thửa đều
có sự thay đổi theo chiều hướng giảm Hà Nội, trước dồn đổi bình quân có 6 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hà Tây trước dồn đổi bình quân có 9,5 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 4,8 thửa/hộ; ở Hải Dương trước dồn đổi bình quân có 9,2 thửa/hộ, sau dồn đổi còn 3,7 thửa/hộ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
- Về diện tích mỗi thửa: Ở Hà Nội, trước DĐĐT bình quân diện tích/thửa là 286,9 m2, sau DĐĐT là 357 m2/thửa; Hà Tây cũ chỉ số này là 216 m2 và 425 m2; Hải Dương là 283 m2 và 684 m2; Thái Bình là 320 m2 và 960 m2 Kết quả trên cho thấy, diện tích thửa đất lớn đã tiết kiệm được diện tích đắp bờ, chia ranh giới thửa đất (Đảng cộng sản Việt Nam, 2006)
Ngày nay, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015 thì công tác đồn điền đổi thửa là một khâu đột phá Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí cụ thể trong chương trình xây dựng nông thôn mới nhưng lại là yếu tố tiên quyết thúc đẩy kinh tế nông nghiệp
Trang 39theo hướng phát triển hàng hóa bền vững và có tác động đến các tiêu chí như: nâng cao thu nhập, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, giao thông, thủy lợi, bởi ý nghĩa của việc dồn điền đổi thửa không những giúp nông dân giảm chi phí sản xuất mà còn là điều kiện cần
để chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tổ chức hàng hóa, là cơ sở để phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp nông thôn
- DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ xã viên, giải quyết tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, những nghi kỵ, ngờ vực
do việc giao đất không công bằng; tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm, khích lệ sản xuất, làm giàu chính đáng
- DĐĐT đã tạo động lực cho sản xuất phát triển; huy động được nguồn lực kinh tế của hộ nông dân; phát huy tính tự chủ của đơn vị cơ sở, hộ có điều kiện đầu tư thâm canh, bố trí lại cơ cấu sản xuất, thời vụ, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ KHKT vào đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất, lao động, tạo ra nhiều sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao Theo số liệu báo cáo của các địa phương, sau thực hiện DĐĐT một vài vụ, năng suất cây trồng tăng từ 15 - 20%, giá trị thu nhập tăng từ 13 triệu đồng/ha/năm lên 18 triệu đồng/ha/năm và
có nhiều diện tích đạt tới 25 - 30 triệu đồng/ha/năm Nhiều địa phương sau thực hiện DĐĐT đã sắp xếp lại lực lương lao động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hoá), huyện Từ Sơn và huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh)
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công “chạy đồng” trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện
để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
2.4.2 Kết quả dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh miền Bắc
2.4.2.1 Tỉnh Nam Định
Nhằm khắc phục tình trạng manh mún đất đai, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định đã có chủ trương dồn điền đổi thửa trên phạm vi toàn tỉnh Cho đến nay, việc dồn điền đổi thửa tại Nam Định đã thực hiện được 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2002 - 2004 và giai đoạn 2 từ năm 2012 - 2014 Kết quả của dồn điền đổi thửa sẽ tạo điều kiện cho người dân thực hiện tích tụ đất đai, xây dựng cánh đồng mẫu lớn và thực hiện quy hoạch nông thôn mới trên toàn tỉnh
Trang 40Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định ngày 06/6/2002, toàn tỉnh Nam Định đã tiến hành dồn điền đổi thửa giai đoạn 2002 - 2004 và đạt được một số kết quả bước đầu Hầu hết các huyện đều
có số thửa bình quân trên hộ giảm Vụ Bản và Ý Yên là hai huyện có số thửa bình quân trên hộ giảm nhiều nhất Huyện Vụ Bản trước dồn điền đổi thửa là 11,3 thửa/hộ, sau dồn điền đổi thửa còn 3,76 thửa/hộ, huyện Ý Yên trước dồn điền đổi thửa 10,9 thửa/hộ, sau dồn điền đổi thửa còn 5,48 thửa/hộ Một số huyện khác có bình quân số thửa trên hộ giảm ít (giảm từ 1 đến 2 thửa) như: Giao Thủy, Nghĩa Hưng, Mỹ Lộc, Xuân Trường, Trực Ninh, Hải Hậu (Xuân Thị Thu Thảo, Phạm Phương Nam và Hồ Thị Lam Trà, 2015)
Công tác dồn điền đổi thửa trên toàn tỉnh Nam Định, giai đoạn 2012 - 2014 đến nay thực hiện xong Công tác dồn điền đổi thửa được triển khai đồng loạt ở tất cả các huyện trong tỉnh, nhưng kết quả thực hiện không đồng đều, chi tiết được thể hiện tại bảng 1.3
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa tỉnh Nam Định đến năm 2015
và sau) (thửa)
Diện tích (ha)
Bình quân thửa/hộ (thửa)
Diện tích (ha)
Bình quân thửa/hộ (thửa)
Thửa
có diện tích lớn nhất/hộ (m 2 )
Tổng
số
Bình quân (m 2 /sào)
Hải Hậu 531 10.872 2,73 10.503 1,84 13.000 369,38 12,71 -0,89
Ý Yên 314 11.377 5,48 11.073 2,29 13.958 303,58 9,41 -3,19 Trực
Hưng
316 9.842 2.39 9.589 1,46 14.859 252,73 10,30 -0,94
Vụ Bản 200 7.577 3,76 7.308 2,90 9.232 269,21 12,71 -0,86 Giao