1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện hạ hòa tỉnh phú thọ

124 28 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Tám

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi cũng cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Cường

Trang 3

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô bộ môn Quy hoạch đất đai, khoa Quản lý đất đai, các thầy cô đang công tác tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Đỗ Thị Tám người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn thạc sỹ

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Hạ Hòa, UBND các xã và người dân huyện Hạ Hòa đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Cường

Trang 4

MỤC LỤC

Lờı cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục bảng vii

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis Abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch nông thôn mới 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 9

2.1.3 Cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng nông thôn mới 10

2.1.4 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 14

2.2 Cơ sở thực tiễn về quy hoạch nông thôn mới 15

2.2.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới 15

2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 18

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Thời gian nghiên cứu 26

3.3 Đối tượng nghiên cứu 26

3.4 Nội dung nghiên cứu 26

3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Hòa 26

3.4.2 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa 26

Trang 5

3.4.3 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Minh

Côi và xã Gia Điền 27

3.4.4 Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 27

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 27

3.5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu 28

3.5.3 Phương pháp so sánh 29

3.5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu 29

Phần 4 Kết quả và thảo luận 30

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Hòa 30

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 30

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 34

4.2 Kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa 37

4.2.1 Về thành lập, kiện toàn bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình 37

4.2.2 Về công tác lập quy hoạch, đề án 39

4.2.3 Công tác tuyên truyền, vận động 39

4.2.4 Về phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân 40

4.2.5 Về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu 41

4.2.6 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo yệ môi trường 42

4.2.7 Về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn 43

4.2.8 Về kết quả huy động, sử dụng nguồn lực 44

4.2.9 Kết quả thực hiện theo Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới đến tháng 12/2015 44

4.2.10 Đánh giá chung 52

4.2.11 Những tồn tại trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hạ Hòa 56

4.3 Kết quả thực hıện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Minh Côi và xã Gia Đıền 57

4.3.1 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Minh Côi 57

Trang 6

4.3.2 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Gia Điền 69

4.3.3 Đánh giá chung 79

4.4 Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới 84

4.4.1 Đề xuất một số giải pháp để hoàn thành các tiêu chí chưa đạt 84

4.4.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch 86

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 91

5.1 Kết luận 91

5.2 Kiến nghị 91

Tài liệu tham khảo 93

Phụ lục 95

Trang 7

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

CN-TTCN : Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

MTQG : Mục tiêu quốc gia

MTTQ : Mặt trận tổ quốc

PTNT : Phát triển nông thôn

SXKD : Sản xuất kinh doanh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Các loại đất huyện Hạ Hòa 32

Bảng 4.2 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Hạ Hoà 33

Bảng 4.3 Tổng hợp các tiêu chí đạt trước khi thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện Hạ Hòa 53

Bảng 4.4 Tổng hợp các tiêu chí đạt sau khi thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới huyện Hạ Hòa năm 2015 54

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Minh Côi 58

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp xã Minh Côi 62

Bảng 4.7 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống đường giao thông 63

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống thủy lợi 65

Bảng 4.9 Kết đánh giá thực trạng theo 19 tiêu chí xã Minh Côi 68

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Gia Điền đến năm 2015 69

Bảng 4.11 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống đường giao thông 74

Bảng 4.12 Kết đánh giá thực trạng theo 19 tiêu chí xã Gia Điền 79

Bảng 4.13 Sự hiểu biết và trao đổi thông tin về xây dựng nông thôn mới 82

Bảng 4.14 Sự tham gia đóng góp của người dân vào xây dựng nông thôn mới 83

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Hạ Hòa 2015 34

Biểu đồ 4.2 Kết quả thực hiện các nhóm tiêu chí giai đoạn 2011-2015 55

DANH MỤC HÌNH Hình 4.1 Sơ đồ hành chính huyện Hạ Hòa 30

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Bá Cường

Tên luận văn: “Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch xây dựng nông thôn

mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ”

Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã ngành: 60.85.01.03

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhằm tìm ra những tồn tại trong quá trình thực hiện từ năm

2011 - 2015

- Đề xuất một số giải pháp để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo đúng kế hoạch đề ra

2 Phương pháp nghiên cứu

- Số liệu thứ cấp được thu thập tại các phòng ban trong huyện Hạ Hòa

- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 100 hộ tại 02 xã Minh Côi và

Gia Điền thuộc huyện Hạ Hòa

- Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và phân tích số liệu điều tra Từ đó đánh thực trạng phát triển kinh tế xã hội sau 5 năm xây dựng Nông thôn mới

- So sánh tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã điều tra theo các giai đoạn thời gian khác nhau (trước và sau khi có quy hoạch xây dựng NTM) Từ đó thấy được sự khác biệt khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới

3 Kết quả nghiên cứu

* Về tình hình thực hiện nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa

Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa, thực trạng phát triển nông thôn phát triển theo chiều hướng tích cực Hạ tầng kinh tế xã hội được cải thiện rõ rệt Các tuyến đường trục xã, liên xã; trục thôn, liên thôn; và một số đường trục chính nội đồng đã được cứng hóa, diện mạo nông thôn đang đổi thay từng ngày, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Đến năm 2015 tổng số tiêu chí đạt được trên địa bàn toàn huyện là 383 tiêu chí Bình quân toàn huyện đạt 11,96 tiêu chí/xã Đã có 2 xã đạt danh hiệu xã nông thôn mới

Trang 10

* Về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Minh Côi và xã Gia Điền

Tính đến thời điểm 31/12/2015 công tác thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã 2 xã cơ bản bám sát theo phương án quy hoạch đã được duyệt Cơ

sở vật chất được cải thiện, đời sống kinh tế xã hội được nâng lên Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới đòi hỏi các cấp chính quyền cùng nhân dân trong xã cần tập trung hơn nữa để giữ vững và hoàn thành xây dựng nông thôn trong thời gian tới

Đối với xã Minh Côi, mặc dù trước khi xây dựng nông thôn mới xã Minh Côi là một trong những xã có xuất phát điểm thấp nhất trong huyện Hạ Hòa Tuy nhiên sau 5 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới diện mạo nông thôn xã đang dần thay đổi tích cực Đến nay xã Minh Côi đã đạt 8/19 tiêu chí và chỉ còn 11 tiêu chí chưa hoàn thành Đối với xã Gia Điền, là một xã điểm thực hiện nông thôn mới của huyện Hạ Hòa Ngoài sự quan tâm, đầu tư từ các cấp chính quyền, vai trò chỉ đạo, tổ chức của Đảng bộ

và chính quyền địa phương, yếu tố quan trọng giúp xã Gia Điền hoàn thành xây dựng nông thôn mới đó là đã khơi gợi được sức mạnh, sự đồng thuận, đồng lòng của người dân cùng chung tay xây dựng nông thôn mới Đến nay xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí

Đạt danh hiệu xã nông thôn mới

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Ba Cuong

Name of Thesis: "The evaluation of the implementation of new rural construction

in Ha Hoa district - Phu Tho province"

Major: Land Management Industry code 60.85.01.03

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

1 Objectives of the study

- The evaluation of the implementation of new rural construction in Ha Hoa district - Phu Tho province helps us to find out many shortcomings which will be discovered in the process of implementation of the plan from 2011 to 2015

- According to the previous project, we will give out some solutions to construct new rural

2 Research Methods

- Secondary data was collected in the departments of Ha Hoa district

- Primary data was collected through surveys100 households in Minh Coi commune and Gia Dien commune of Ha Hoa district

- Use Excel to sum up and analyze the figures of survey Based on this, the reality

of social economic development of New Rural Construction after 5 years was revised

- Compare the implementation of new rural construction of communes in the different times (before and after constructing new rural plan) From then, see the differences when implementing national target program in constructing new rural

3 Research results

* Regarding the implementation of new rural in Ha Hoa district

After 5years of implementing the develop program of new rural areas on Ha Hoa district, rural development situation develops in a positive direction Economic and social infrastructure was significantly improved The arterial roads communal and inter- communal; Village axle, inter-village; and an infield of the main road was hardened, rural appearance is changing day by day, people's living standards improved significantly

By 2015 the total number of criteria achieved in the whole district is 383 criteria

Of the district at 11,96 per criteria / communes 2 Commune had won the title of new rural commune

Trang 12

* Regarding the implementation of new rural in Minh Coi commune and Gia Dien commune

As at 12.31.2015 the work done planning new rural construction in communes 2 basic social plan that closely follows the approved plan Facilities improvement, social and economic life is raised However, there still exist many difficulties in the process of implementing the new rural construction requires levels of government and local people need to focus even more to maintain and complete rural construction in the near future With Minh Coi Commune, in spite of the fact that Minh Coi Commune is one of the communes with the lowest starting point in Ha Hoa district, after 5 years applying the new rural construction the rural appearance of the commune are steadily positive changes At present Minh Coi Commune achieves 8/19 criteria and only 11 criteria have not been finished

Gia Dien is a Commune which was implemented the new rural of Ha Hoa district Apart from government interest and local government direction, an important factor which helped Gia Dien commune to complete new rural construction, is the people joined together to build a new rural Until now commune completed 19/19 criteria and became a new rural commune

4 Conclusions

After 5 years the new rural have implemented In general, the rural appearance of

Ha Hoa district has many positive changes Infrastructure will be improved gradually, living standards are improved However, to achieve the national target the plan needs more attention from government Especially, we have to strengthen people's knowledge

of construction of new rural in the propaganda Since then we mobilize stir the masses

to join to construct a new rural That is the key factor which help the process of the implementation of new rural construction is successful

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân số chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, với gần 70% nên việc quan tâm đến việc phát triển nông thôn là điều tất yếu Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của BCH Trung ương đã nêu

mục tiêu tổng quát về xây dựng nông thôn mới là: “ Xây dựng nông thôn mới

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch

vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị

ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Để triển khai mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCH Trung ương, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã có nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dụng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020; Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch về quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới Huyện Hạ Hòa là một huyện trung du, miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, gồm 32 xã và 01 thị trấn Trong những năm qua, huyện Hạ Hòa đã

có bước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như: Điện, đường, trường, trạm, Vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn của huyện đang tạo ra một bộ mặt mới theo hướng rất tích cực

Tuy nhiên, Hạ Hòa vẫn là một huyện còn nhiều khó khăn như: Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất chưa cao, giá trị tăng thêm bình quân đầu người đạt thấp, thu ngân sách trên địa bàn không đủ chi Vì vậy công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện là

Trang 14

rất cần thiết, là chìa khóa cho sự liên kết giữa không gian sống, không gian sinh hoạt và không gian sản xuất thêm chặt chẽ Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng

và triển khai đã gặp một số khó khăn đó là: (i) việc thu hồi đất để xây dựng các công trình gặp nhiều khó khăn do bị khống chế bởi chỉ tiêu phân khai quy hoạch

sử dụng đất; (ii) người dân có đất bị thu hồi không ủng hộ do giá bồi thường và hỗ trợ thấp; (iii) việc thực hiện các hạng mục công trình đòi hỏi phải huy động một nguồn vốn rất lớn; (iv) một số tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia về NTM không phù hợp với đặc thù của vùng; (v) một số quy hoạch bị chồng chéo và mâu thuẫn giữa quy hoạch xây NTM với các loại hình quy hoạch khác; (vi) một số công trình

bị lãng phí do khi quy hoạch mới chỉ quan tâm nhiều đến nhu cầu của nhân dân trong xã và thực trạng của xã mà chưa có sự quan tâm đến các xã lân cận

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhằm tìm ra những tồn tại trong quá trình thực hiện từ năm 2011-2015

- Đề xuất một số giải pháp để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo đúng kế hoạch đề ra

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi về không gian:

+ Nghiên cứu trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

+ Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã Gia Điền

và xã Minh Côi, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

- Phạm vi về thời gian:

+ Nông thôn mới các xã trong huyện Hạ Hòa được điều tra từ trước khi có

đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2011)

+ Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội lấy đến 31/12/2015

+ Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều tra đến tháng 12/2015

Trang 15

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

* Đóng góp mới

Bổ sung cơ sở thực tiễn cho huyện Hạ Hòa trong việc đánh giá thực trạng

và tổ chức quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2011 - 2015

* Ý nghĩa khoa học

- Giúp cho việc vận dụng được những kiến thức khoa học vào thực tế

- Từ kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm cơ sở lý luận để đưa ra những đánh giá khách quan về thực trạng và tổ chức quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn vừa qua

* Ý nghĩa thực tiễn

- Quá trình nghiên cứu đề tài góp phần giúp người dân và cán bộ trên địa bàn huyện Hạ Hòa hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Việc đánh giá thực trạng và tổ chức quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ giúp cho học viên hiểu rõ hơn về Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong những năm tới

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Nông thôn được coi như là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó,

có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau

về nông thôn Khi khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với

đô thị Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn so với thành thị; Quan điểm thứ hai lại cho rằng dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị; Quan điểm thứ

ba lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị; Quan điểm thứ

tư lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức

là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp

Những quan điểm này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” (Chính phủ, 2010) Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống

2.1.1.2 Khái niệm và vai trò của mô hình nông thôn mới

Khái niệm nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên

tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa

Trang 17

nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

Mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau Mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những bài học khoa học – kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hóa, tinh thần Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên tất cả các nước

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng

đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà

là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn

ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ tri thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH - HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 18

Hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới

là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị Nông thôn mới được hiểu là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2008)

Trong phát triển kinh tế xã hội, mô hình nông thôn mới đóng vai trò hết sức quan trọng:

* Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường

và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Hình thức sở hữu

đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch

* Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ

làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng trong hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

* Về văn hóa xã hội: Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau

xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

* Về con người: Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá

giả, giàu có, kết tinh các tư cách: công dân, thế nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

Trang 19

* Về môi trường: Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái Bảo vệ

rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải

từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội

sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới

2.1.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân

cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa

Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:

Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát: Hiện nay nông thôn phát

triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã có quy hoạch nhưng thiếu đồng

bộ, tầm nhìn ngắn chất lượng chưa cao Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống dần bị mai một

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài: Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và

dân sinh Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25% Giao thông chất lượng thiếu, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều

Trang 20

vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt quy chuẩn quy định Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22-25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về

cơ sở vật chất thấp (32,7%), còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; Mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu thể thao xã mới đạt 29,6%, hầu hết các thôn không

có khu thể thao theo quy định Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, có 77,6% số

xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu chuẩn, 22,5% số thôn có điểm truy cập internet Cả nước hiện có hơn 400.000 nhà tạm bợ (tranh, tre, nứa, lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn

Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp: Kinh

tế hộ phổ biến quy mô nhỏ (36% số hộ dưới 0,2 ha đất) Kinh tế trang trại chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông - lâm - ngư nghiệp trong cả nước Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã đã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác nhưng hoạt động còn hình thức, có trên 54% số hợp tác xã ở mức trung bình và yếu Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao Thu nhập bình quân đạt 16 triệu đồng/hộ (năm 2008) nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn cao (16,2%)

Các vấn đề văn hóa - môi trường - giáo dục - y tế: Giáo dục mầm non: còn

11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (khoảng 12,8%) Mức hưởng thụ về văn hóa của người dân thấp, những vấn đề

xã hội ở nông thôn vẫn phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc ngày bị mai một, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển Môi trường sống ô nhiễm Số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia thấp, vai trò y tế dự phòng của trạm y tế còn hạn chế

Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ và năng lực điều hành: Trong

hơn 81.000 công chức xã: 0,1% chưa biết chữ, 2,4% tiểu học, 21,5% trung học

cơ sở, 75,5% trung học phổ thông Về trình độ chuyên môn chỉ có 9% có trình độ đại học, cao đẳng, 32,4% trung cấp, 9,8% sơ cấp, 48,7% chưa qua đào tạo Về trình độ quản lý nhà nước: Chưa qua đào tạo 44%, chưa qua đào tạo tin học là 87% Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của

Trang 21

Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới Xây dựng nông thôn mới là chính sách

về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí (Ban chấp hành trung ương, 2008)

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân - nông dân - trí thức

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Chức năng của nông thôn mới

Nông thôn mới có các chức năng cơ bản là:

- Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại: Nông thôn là nơi diễn ra phần

lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp

là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống: Để đảm bảo giữ gìn được văn

hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn, việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá

vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông

Trang 22

thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

- Chức năng sinh thái: Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con

người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước

và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường

tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên, phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất, Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

2.1.2.2 Nhiệm vụ của quy hoạch nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân - nông dân - trí thức

2.1.3 Cơ sở pháp lý về quy hoạch xây dựng nông thôn mới

2.1.3.1 Nội dung xây dựng nông thôn mới

Nội dung xây dựng nông thôn mới được thể hiện trong chương trình MTQG xây dựng NTM (Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010), gồm 11 nội dung sau:

Thứ nhất: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới bao gồm:

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Trang 23

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường, phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trong xã

Thứ hai: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội với mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí

số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Hoàn thiện hệ thống đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống đường giao thông trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã

- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ

- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã

Thứ ba: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm đạt

tiêu chí số 10; 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao

- Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp

- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

Thứ tư: Giảm nghèo và an sinh xã hội nhằm mục tiêu đạt tiêu chí số 11 của

Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

- Thực hiện có hiệu quả các chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 64 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao

- Tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo

Trang 24

Thứ năm: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở

nông thôn nhằm mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

Thứ sáu: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn nhằm đạt yêu cầu tiêu

chí số 5 và 14 của bộ tiêu chí quốc gia về NTM Với nội dung tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực về giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu bộ tiêu chí quốc gia NTM

Thứ bảy: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn nhằm đạt yêu

cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Với nội dung tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực y tế, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

Thứ tám: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

Thứ chín: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm đạt yêu cầu tiêu chí

số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;

- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân

cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng

Thứ mười: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính

trị xã hội trên địa bàn

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

Trang 25

- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong

hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

Thứ mười một: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn nhằm mục tiêu

đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các

tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

- Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

2.1.3.2 Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới

Tại thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 6 nguyên tắc như sau:

Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng tới

mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là

chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia,

chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn

Nguyên tắc 4: Quá trình thực hiện Chương trình phải gắn kết với kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực;

tăng cường tính chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện cho cấp xã; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

Trang 26

Nguyên tắc 6: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính

trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành; Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới

2.1.3.3 Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện quy hoạch có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và xây dựng hạ tầng thiết yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa làng, xã của địa phương

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần hạn chế và giảm thiểu các quy hoạch chắp vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian kiến trúc truyền thống vốn có của nông thôn Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chính phủ

về nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết của Đảng về “tam nông”, phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới thì vấn đề quy hoạch nông thôn đang rất cần được quan tâm

Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch được đặt lên hàng đầu, phải đi trước một bước

Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới không chỉ liên quan đến nhiều tiêu chí khác, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả vùng - huyện

2.1.4 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

Căn cứ Thông tư số 41/2013/TT-BNTPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới

* Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm

- Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí);

- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí);

- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí);

- Nhóm IV: Văn hóa – xã hội – môi trường (có 04 tiêu chí);

- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)

Trang 27

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI

2.2.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Nhật Bản

Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy, trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hóa học; hoàn thiện công tác quản lý

và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp

sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất

Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào

“Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” dựa trên 3 nguyên tắc chính là: Địa phương hóa rồi hướng tới tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu,… giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương

2.2.1.2 Trung Quốc

Tại Hội nghị toàn thể TW lần thứ 5 khóa 16 Ðảng cộng sản Trung Quốc năm

2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch "xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa" Ðây là một kế hoạch xây dựng mới của sự nghiệp cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc và quy hoạch này đã được đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm năm lần thứ 11 (2006 - 2010) Mục tiêu của quy hoạch này là: "Sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ" Quy hoạch này bao gồm cả xây dựng văn minh tinh thần và vật chất, phát triển chính trị ở nông thôn Ðây là một mục tiêu vô cùng to lớn

Một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau:

Trang 28

Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp Ở đây

Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước Thực tế hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (gần bằng 10 tỷ doanh nghiệp), các doanh nghiệp

có số vốn từ 200 tỷ trở lên chỉ chiếm 30% Cách này đã vực dậy tình trạng thua

lỗ của quá nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn

Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công

nghiệp công nghệ cao, là nơi hợp tác giữa nhà Khoa học - Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà nông trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm) Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tỉnh và quốc gia

Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực Để thực hiện được tiêu chí trên thì chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập” Định hướng hổ trợ tài chính cho Tam nông ở Trung Quốc hiện nay là: “Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”

Hiện nay, chính sách Tam nông ở Trung Quốc đã đạt hiệu quả khá tốt, năm

2009 thu nhập bình quân của dân cư nông thôn đạt 8.000 tệ/năm tăng 8,5% so với 2008 Năm 2009 Trung Quốc đã làm 300.000 km đường bộ nông thôn, hổ trợ

46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu triển khai 320 huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm dưỡng lão xã hội ở nông thôn Chính sách tam nông ở Trung Quốc cũng gắn với chủ trương hạn chế tới đa việc lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp ở nước này được qui định rất chặc chẽ

Trang 29

Thứ tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và

tăng quyền cho nông dân Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại qui mô lớn với công nghệ canh tác

2.2.1.3 Hàn Quốc

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; Các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng,

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau

8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971 - 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi làng là 1.280 m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê,

kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể

là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng

đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng

tự chủ về kinh tế

Trang 30

Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn đó là: Phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển sản xuất

để tăng thu nhập, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn, phát huy dân chủ

để phát triển nông thôn, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng , phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân

2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

2.2.2.1 Trên phạm vi toàn quốc

Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm mục tiêu phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển cả về kinh tế và đời sống xã hội Đi theo đường lối của Đảng, từng địa phương trong cả nước tiến hành phát triển kinh tế mà trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn Nhằm mục tiêu đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương khóa X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ thực hiện mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020 Chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã có nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện như: Quyết định

số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về Quy định việc lập nhiệm vụ,

đồ án quy hoạch về quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay sau 5 năm thực hiện các bộ, ngành đã hoàn thành cơ bản hệ thống các cơ chế, chính sách theo phân công Công tác kiểm tra, giám sát ở các địa phương được các thành viên thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch, tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Tại các địa phương, sau khi rà soát lại quy hoạch, đến nay đã có hơn 93,7% số xã của cả nước hoàn thành phê duyệt quy hoạch xây dựng NTM cấp xã Việc quy hoạch đã

có tác dụng tốt tới việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới cho người dân, qua

đó người dân phấn khởi và có cơ hội tham gia quy hoạch, xây dựng đề án nông thôn mới của mình và nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng

Về lập đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, đến nay, cả nước đã có 81% số

xã đã phê duyệt xong đề án Các địa phương vẫn ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho

Trang 31

xây dựng hạ tầng, coi đó là yếu tố quan trọng nhất để cải tạo bộ mặt nông thôn, tạo

đà cho phát triển kinh tế-xã hội-văn hóa, an ninh và đặc biệt là tăng hưởng thụ trực tiếp của người dân, vì vậy được tuyệt đại đa số người dân đồng thuận

Tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có 1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9 tiêu chí (tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã

Ở cấp huyện, đã có 11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận đạt chuẩn NTM là: Huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, thị xã Long Khánh (Đồng Nai), Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (TPHCM), Đông Triều (Quảng Ninh), Hải Hậu (Nam Định), Đơn Dương (Lâm Đồng), Đan Phượng (TP Hà Nội), thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang)

Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm (tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010) (Văn phòng điều phối NTM Trung ương, 2015)

2.2.2.2 Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trong 5 năm qua, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả đáng kể Theo Báo cáo tổng kết Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015 tỉnh đã đạt được những kết quả như sau:

* Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM:

Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chỉ đạo hoàn thành công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới Về lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2010; đến tháng 5/2012, đã có 247/247

xã phê duyệt xong quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã, đạt 100% kế hoạch Về lập đề án xây dựng nông thôn mới bắt đầu triển khai từ cuối năm 2011; đến tháng 12/2012, đã có 247/247 xã phê duyệt xong đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, đạt 100% kế hoạch (BCĐ chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Phú Thọ, 2015)

* Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân:

Trong quá trình chỉ đạo triển khai chương trình, tỉnh Phú Thọ xác định xây dựng nông thôn mới trước hết phải từng bước nâng cao đời sống nông dân, thông qua đẩy mạnh phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân được chú trọng và

Trang 32

đặt lên hàng đầu, bởi nông dân là chủ thể chính để xây dựng các tiêu chí của nông thôn mới

UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện rà soát, xây dựng và triển khai thực hiện các quy hoạch chuyên ngành: Triển khai lập quy hoạch phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; tăng cường công tác quản lý, phát triển sản xuất theo các quy hoạch đã được duyệt; chỉ đạo các sở, ngành tham mưu các cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển sản xuất; triển khai có kết quả các chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm Chương trình sản xuất lương thực có sự chuyển biến tích cực về cơ cấu mùa vụ, chú trọng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm nông sản Triển khai thực hiện

Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn (nghề nông nghiệp) theo Quyết định

số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, trong 5 năm đã tổ chức đào tạo 638 lớp nghề nông nghiệp cho 20,4 nghìn lao động nông thôn, chiếm 67,5% tổng số lao động nông thôn được đào tạo nghề

Đến nay, có 121/247 xã đạt tiêu chí thu nhập (chiếm 48,9%), có 108/247 xã đạt tiêu chí hộ nghèo (chiếm 43,7%), có 199/247 xã đạt tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên (chiếm 80,6%), có 222/247 xã đạt tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất (chiếm 89,9%) Đến hết năm 2015, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đạt 22,3 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 7,89% Tuy nhiên, do xuất phát điểm kinh tế khu vực nông thôn của tỉnh thấp, địa bàn rộng, địa hình chia cắt, đất đai manh mún, bên cạnh đó thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp tại các địa phương; công tác dự báo thị trường còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa; nguồn kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất từ chương trình nông thôn mới hàng năm còn thấp; các địa phương chưa chú trọng đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; thu nhập từ sản xuất nông nghiệp còn thấp, một số địa phương người dân, chưa thiết tha với đồng ruộng, còn có tư tưởng trông chờ sự hỗ trợ của nhà nước (BCĐ chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Phú Thọ, 2015)

* Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu:

- Phát triển giao thông nông thôn (tiêu chí số 2): Thực hiện theo Nghị

quyết 01-NQ/TU ngày 10/3/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển giao

Trang 33

thông nông thôn giai đoạn 2011-2015 Sau 5 năm thực hiện phát triển đường giao thông nông thôn đã trở thành phong trào rộng khắp ở các địa phương, trong điều kiện nguồn lực hạn chế, nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ phù hợp nên đã huy động được nhiều sự tham gia của người dân và cộng đồng Kết quả:

Đã làm mới 57 km đường; đường nâng cấp cải tạo 1.906 km (trong đó đường bêtông nhựa, đá dăm láng nhựa 614 km; đường bêtông xi măng 1.292 km); làm mới 42 cầu, sửa chữa 7 cầu; tràn làm mới 32 cái và sửa chữa 9 cái

Đến nay có 42/247 xã đạt tiêu chí giao thông (chiếm 17%)

- Về thủy lợi (tiêu chí số 3): Thời gian qua các địa phương đã tập trung chỉ

đạo cải tạo và nâng cấp, kiên cố hóa, nạo vét kênh mương, xây dựng tu bổ sửa chữa, nâng cấp bờ bao, cống, trạm bơm đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất; ngành nông nghiệp đã triển khai trên 80 công trình, dự án phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh Toàn tỉnh có 597 km /2.880 km kênh mương đã được cứng hóa Đến nay có 49/247 xã đạt tiêu chí thủy lợi (chiếm 18,6%)

- Điện nông thôn (tiêu chí số 4): Điện nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu

tư, nâng cấp và mở rộng Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 96% (270.177 hộ/281.480 hộ) Số xã đạt tiêu chí về điện nông thôn tăng thêm 119 xã (so với năm 2011)

Dự án REII đã đầu tư cho 102 xã với mức đầu tư là 335.000 triệu đồng, các xã đã giảm tổn thất điện áp từ 28-30% xuống dưới 10%

Đến nay có 230/247 xã đạt tiêu chí điện (chiếm 93,1%)

- Trường học (tiêu chí số 5): Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và

xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, từng bước được xã hội hóa; trong giai đoạn đã công nhận thêm 55 trường đạt chuẩn Quốc gia, nâng tổng số trường học đạt chuẩn quốc gia đến thời điểm hiện tại lên 465 trường

Đến nay có 106/247 xã đạt tiêu chí trường học (chiếm 42,9%)

- Cơ sở vật chất văn hóa (tiêu chí số 6): Được chú trọng đầu tư xây dựng và

nâng cấp Giai đoạn 2011-2015 có thêm 41 nhà văn hóa kiêm trung tâm học tập cộng đồng đạt chuẩn, 36 trung tâm thể thao xã đạt chuẩn, 536 nhà văn hóa khu dân cư đạt chuẩn

Đến nay có 116/247 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (chiếm 47%)

- Chợ nông thôn (tiêu chí số 7): Trên địa bàn có tổng số 214 chợ Đến nay có

78/240 xã đạt tiêu chí chợ nông thôn, trong đó 7 xã không có quy hoạch chợ (chiếm 32,5%)

Trang 34

- Thông tin truyền thông (tiêu chí số 8): Đã phát triển đến các xã vùng sâu,

vùng xa Internet tốc độ cao đã đến được hầu hết các điểm bưu điện văn hóa xã, khoảng 95% số xã có điểm truy cập Internet công cộng, vùng phủ sóng 3G đã đạt trên 98% dân số, tỷ lệ xã có điện thoại công cộng là 98% Hầu hết người dân khu vực nông thôn được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông phổ cập

Đến nay có 243/247 xã đạt tiêu chí bưu điện (chiếm 98,4%)

- Nhà ở dân cư (tiêu chí số 9): Công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát được chú

trọng, hàng năm đã xóa bình quân hàng nghìn nhà tạm, nhà dột nát Các địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ dân đầu tư, chỉnh trang, xây dựng nhà cửa khang trang, sạch đẹp, đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng

Đến nay có 109/247 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư (chiếm 44,1%) (BCĐ

chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Phú Thọ, 2015)

* Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường:

- Về Giáo dục (tiêu chí số 14): Tiếp tục được củng cố và phát triển Chất

lượng giáo dục ở các ngành học, cấp học ổn định Tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở 100% số xã Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học THPT, bổ túc THPT đạt 77,4%; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 99,3%, bổ túc trung học phổ thông đạt 98,02% Triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020” đã đạt được một số kết quả bước đầu, ước đến hết năm 2015 số lao động nông thôn được học nghề 30,2 nghìn người, trong đó nghề nông nghiệp 20,4 nghìn người chiếm 67,5%; số lao động nông thôn sau khi học nghề có việc làm đạt 81,2% Tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt 55% Số lao động qua đào tạo nghề tăng đã tạo nguồn cung cho xuất khẩu lao động; bình quân mỗi năm xuất khẩu 2,5 nghìn lao động

Đến nay có 159/247 xã đạt tiêu chí giáo dục (chiếm 64,4%)

- Về Y tế (tiêu chí số 15): Thực hiện Quyết định số 797/QĐ-TTg ngày

26/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về nâng mức hỗ trợ đóng Bảo hiểm y tế cho người nghèo, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện quyết định, đến nay tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 80,5%

Trang 35

Đến hết năm 2015 ước có 106/247 xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y

tế (theo chuẩn mới giai đoạn 2011-2020) ước đạt 42,9%

- Về Văn hóa (tiêu chí số 16): Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao quần

chúng được đa dạng hóa và đẩy mạnh Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" tiếp tục được triển khai tích cực, đến nay có 87,6% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, 86,6% khu dân cư đạt tiêu chuẩn văn hóa, 30% số

xã đạt danh hiệu "Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới"

Đến nay có 198/247 xã đạt tiêu chí văn hóa (chiếm 79,8%)

- Về Môi trường nông thôn (tiêu chí số 17): Thực hiện chương trình mục

tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, các địa phương đã xây dựng, nâng cấp các công trình nước sạch tập trung, bãi thu gom rác thải, cống rãnh thoát nước thải vệ sinh Đã đầu tư 11 dự án cấp nước sạch tập trung;

19 dự án cấp nước và vệ sinh trường học, trạm y tế; xây dựng hệ thống thu gom,

xử lý rác thải cho 2 xã điểm (Sơn Dương, Đồng Luận) và một số mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh

Trên địa bàn tỉnh có 11/13 huyện, thành, thị đã xây dựng Đề án thu gom chất thải và xử lý rác thải sinh hoạt; năm 2015, tỷ lệ khu dân cư nông thôn tập trung được thu gom, xử lý rác thải đạt 50,6%, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 92%

Đến nay có 46/247 xã đạt tiêu chí môi trường (chiếm 18,6%) (BCĐ chương

bộ, công chức cấp xã với trên 15 nghìn lượt cán bộ; tỷ lệ cán bộ xã đạt chuẩn trên 90%; tỷ lệ xã đạt tiêu chuẩn chính quyền trong sạch vững mạnh tăng qua các năm, đạt tỷ lệ trên 80%

Đến nay có 218/247 xã đạt tiêu chí hệ thống chính trị xã hội (đạt 88,3%)

Trang 36

- Về An ninh trật tự xã hội (Tiêu chí số 19): Tình hình an ninh, trật tự nông

thôn được giữ vững, thực hiện hiệu quả công tác đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn; ngành công an đã xây dựng kế hoạch thực hiện và chỉ đạo lực lượng an ninh chủ động thực hiện các biện pháp nắm tình hình từ xa, tại chỗ, chủ động phòng ngừa không để xảy ra các hoạt động phức tạp về an ninh trật tự ở khu vực nông thôn

Đến nay có 228/247 xã đạt tiêu chí an ninh trật tự xã hội (đạt 92,3%) (BCĐ

chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Phú Thọ, 2015)

* Kết quả huy động nguồn lực triển khai chương trình:

Giai đoạn 2011-2015 đã huy động được khoảng 5.812,205 tỷ đồng đầu tư cho chương trình, trong đó: vốn đầu tư phát triển là 4.649,764 tỷ đồng (chiếm 80%); vốn sự nghiệp đạt 1.162,441 tỷ đồng (chiếm 20%) Trong đó:

- Vốn ngân sách nhà nước, vốn TPCP là 2.614,793 tỷ đồng (chiếm 45,0%) Trong đó:

+ Vốn ngân sách Trung ương, TPCP bố trí trực tiếp cho Chương trình là 611,42 tỷ đồng (chiếm 10,52%)

+ Vốn ngân sách tỉnh là 50,527 tỷ đồng (chiếm 0,87 %)

+ Vốn ngân sách huyện, xã là 649,599 tỷ đồng (chiếm 11,2%)

+ Vốn đầu tư lồng ghép từ các Chương trình dự án khác (CT 134, 135, giảm nghèo; hỗ trợ ximăng; ): Xây dựng hạ tầng khu vực nông thôn chủ yếu về các công trình giao thông, thủy lợi, điện, trạm y tế, trường học, cơ sở vật chất văn hóa ước đạt 1.303,247 tỷ đồng (chiếm 22,42%)

- Vốn tín dụng: Vốn tín dụng cho vay xây dựng nông thôn mới tăng trong giai đoạn là 1.698,0 tỷ đồng (chiếm 29,21%)

- Vốn doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế: ước đạt 743,523 tỷ đồng (chiếm 12,79%)

- Vốn dân góp: ước đạt 755,89 tỷ đồng (chiếm 13,01%) (BCĐ chương trình

Trang 37

doanh nghiệp và sức dân rất khó khăn; thiên tai xảy ra ảnh hưởng đến sản xuất của người dân; đất đai manh mún, người dân chưa thiết tha với sản xuất nông nghiệp; thị trường bất động sản rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc thu từ đấu giá đất để lại ngân sách cấp xã để xây dựng nông thôn mới; các công trình hạ tầng nông thôn còn thiếu, xuống cấp chưa đáp ứng sản xuất và giảm nhẹ thiên tai; môi trường nông thôn còn bị ô nhiễm,

- Hoạt động của Ban chỉ đạo, ban quản lý nhiều xã còn thiếu quyết liệt, sát sao, kết quả đạt được chưa rõ nét; trách nhiệm các thành viên Ban chỉ đạo các cấp từ tỉnh đến cơ sở được xác định nhưng thực tế triển khai còn hạn chế Sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, thường xuyên và liên tục

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được phê duyệt nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao, việc quản lý quy hoạch chưa chặt chẽ (một số xã mới chỉ quan tâm đến quy hoạch hạ tầng, chưa chú trọng đến quy hoạch phát triển sản xuất); mới dừng lại ở quy hoạch tổng thể chưa thực hiện lập quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới cấp xã

- Công tác tuyên truyền, vận động giai đoạn đầu chưa sâu rộng, dẫn đến còn một số cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức doanh nghiệp và người dân nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới chưa đầy đủ, xuất hiện tư tưởng trông chờ, ỷ lại; nhiều địa phương triển khai chương trình còn lúng túng, mới chỉ tập trung vào đầu tư xây dựng công trình hạ tầng, chưa chú trọng đầu tư về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động và bảo vệ môi trường

Trang 38

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu trên địa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Huyện Hạ Hòa là huyện miền núi nằm về phía Bắc của tỉnh Phú Thọ, với 33 đơn vị hành chính xã, thị trấn

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Nông thôn mới các xã trong huyện Hạ Hòa được điều tra từ trước khi có

đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2011)

- Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội lấy đến 31/12/2015

- Tình hình thực quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều tra đến tháng 12/2015

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành nghiên cứu về các tiêu chí nông thôn mới và kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và cụ thể tại hai xã Minh Côi và xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Hạ Hòa

- Điều kiện tự nhiên

+ Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thời tiết

+ Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên nhân văn

- Điều kiện kinh tế xã hội

+ Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

+ Dân số, lao động và việc làm

Trang 39

3.4.3 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Minh Côi và xã Gia Điền

- Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Gia Điền đến tháng 12/2015

- Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Minh Côi đến tháng 12/2015

- Đánh giá chung

3.4.4 Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Đến 31/12/2015 qua điều tra và rà soát kết quả thực hiện quy hoạch nông thôn mới tổng số tiêu chí đạt được trên địa bàn toàn huyện là 383 tiêu chí Bình quân toàn huyện đạt 11,96 tiêu chí/xã Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện toàn được chia làm 2 nhóm như sau:

Nhóm 1: Các xã thực hiện kém (đạt từ 6 – 10 tiêu chí): Đạt 9/19 tiêu chí có

04 xã: (Lệnh Khanh, Phương Viên, Hà Lương, Cáo Điền) Đạt 08/19 tiêu chí có

02 xã: (Minh Côi, Liên Phương) Đạt 10/19 tiêu chí có 06 xã: (Động Lâm, Hậu Bổng, Quân Khê, Chính Công, Vô Tranh, Yên Luật)

Nhóm 2: Các xã thực hiện tốt (đạt từ 11 – 19 tiêu chí): ): Đạt 19/19 tiêu chí

có 02 xã: (Gia Điền, Hiền Lương) Đạt 16/19 tiêu chí có 01 xã: (Mai Tùng) Đạt 11/19 tiêu chí có 02 xã: (Lang Sơn, Đan Thượng) Đạt 12/19 tiêu chí có 09 xã: (Yên Kỳ, Phụ Khánh, Hương Xạ, Đan Hà, Lâm Lợi, Vĩnh Chân, Đại Phạm, Bằng Giã) Đạt 13/19 tiêu chí có 02 xã (Ấm Hạ, Minh Hạc) Đạt 14/19 tiêu chí có 02 xã: (Xuân Áng, Văn Lang) Đạt 15/19 tiêu chí có 02 xã (Vụ Cầu, Chuế Lưu)

Từ kết quả đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Hạ Hòa tiến hành chọn ngẫu nhiên 2 xã từ 02 nhóm (nhóm thực hiện tốt và nhóm thực hiện kém) là xã Gia Điền và Minh Côi để nghiên cứu điểm để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhằm tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới

+ Xã Gia Điền: là xã điểm của huyện Hạ Hòa Trước khi triển khai quy

Trang 40

hoạch xây dựng nông thôn mới (2010), xã có 4/19 tiêu chí đạt Đến nay, sau 5 năm thực hiện đã có 19/19 tiêu chí đạt về nông thôn mới

+ Xã Minh Côi: trước trước khi lập Đề án xây dựng nông thôn mới xã Minh Côi chỉ đạt 2/19 tiêu chí (là xã có ít tiêu chí đạt của các xã trong huyện), đến nay

bố bằng phương pháp ghi chép, mượn

- Điều tra các hộ tại 02 xã đã chọn, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

3.5.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Chọn 2 xã Minh Côi và xã Gia Điền để nghiên cứu

- Nội dung điều tra:

+ Việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã

+ Điều tra, khảo sát, và đánh giá các số liệu có liên quan đến việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại các xã

- Để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài, tôi tiến hành thu thập số liệu sơ cấp thông qua 100 phiếu điều tra được thiết kế sẵn, đối tượng lựa chọn khảo sát là người dân trên địa bàn 2 xã được chọn (bao gồm một số nội dung như hiểu biết của người dân về xây dựng nông thôn mới, sự đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới như: hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, đóng góp ngày công, nguồn vốn…) Qua việc điều tra, phỏng vấn chúng ta có thể thấy được những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện xây dựng NTM

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w