Đánh giá tổng hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng và một số phương hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn .... Việc bố trí các loại hình sử dụng đất nông
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHUTHAVONG LORTHAVY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA ĐỒNG BẰNG THANGONE, HUYỆN XAYTHANY, THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN,
CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Cao Việt Hà
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
đã nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng mọi sợ giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được nêu rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phuthavong Lorthavy
Trang 3Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo đồng bằng Thangone đã tạo điều kiện cho tôi tham gia thực hiện điều tra, thu thập tài liệu, số liệu và cung cấp các số liệu đầy đủ, chính xác trong thời gian tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bản bè và đồng nghiệp: những người giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài đặc biệt là các bạn sinh viên Việt Nam
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phuthavong Lorthavy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nhiên cứu 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tổng quan về sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 3
2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp 3
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 5
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
2.2 Lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 9
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13
2.3.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất 13
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
2.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16
2.4 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
2.4.1 Những nghiên cứu trên Thế giới 20
2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 22
2.4.3 Một số vấn đề việc sử dụng đất nông nghiệp ở Lào 24
2.4.4 Hiện trạng sử dụng đất thủ đô Viêng Chăn 26
Trang 5Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 28
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 28
3.2 Nội dung nghiên cứu 28
3.2.1 Điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp 28
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình sử dụng đất chính của đồng bằng Thangone năm 2014 28
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất theo các tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường 28
3.2.4 Xác định và đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng cho địa bàn nghiên cứu 29
3.2.5 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: kế thừa các tư liệu, tài liệu 29
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 29
3.3.3 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra: 30
3.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất: 30
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 31
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp của đồng bằng THANGONE 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 35
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 42
4.2 Tình hình sử dụng đất của đồng bằng THANGONE 44
4.2.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất 44
4.2.2 Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp 44
4.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 46
4.3.1 Hệ thống cây trồng chính của đồng bằng Thangone 46
Trang 64.3.2 Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông nghiệp của vùng
nghiên cứu 46
4.3.3 Mô tả tình hình canh tác 47
4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 49
4.4.1 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính 49
4.4.2 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 53
4.4.3 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất 54
4.5 Đánh giá tổng hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng và một số phương hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn 55
4.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 55
Phần 5 Kết luận và kién nghị 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
Tài liệu tham khảo 60
Phụ lục 63
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐND Hội đồng nhân dân
FAO Food and Agriculture Organization KT-XH Kinh tế - xã hội
NXB KHKT Nhà xuất bản khoa học kinh tế
QHSDĐĐ Quy hoạch sử dụng đất đai
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng diện tích đất NN và phân theo vùng đất NN toàn quốc 24
Bảng 2.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước CHDCND Lào giai đoạn 2010 -2011 25
Bảng 2.3 Tổng diện tích đất canh tác nước CHDCND Lào giai đoạn 2009 – 2011 25
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất thủ đô Viêng Chăn năm 2013 27
Bảng 4.1 Các loại đất của huyện Xaythany 34
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất thống kê đến 01.01.2015 45
Bảng 4.3 Biến động đất nông nghiệp trong giai đoạn 2009-2014 46
Bảng 4.4 Lịch thời vụ các loại cây trồng của đồnh bằng Thangone 46
Bảng 4.5 Loại hình sử dụng đất chính của đồng bằng Thangone 47
Bảng 4.6 Chi phí đầu tư cho sản xuất Lúa trên 1 năm 50
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa ở vùng đồng bằng 51
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất lúa trên 01 Năm 52
Bảng 4.9 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất 53
Bảng 4.10 Lượng phân bón cho các kiểu sử dụng đất trồng lúa ở đồng bằng Thagone 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Phỏng vấn các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu 29
Hình 4.1 Sơ đồ địa hình của vùng đồng bằng Thangone 31
Hình 4.2 Biểu đồ lượng mưa theo tháng của Thangone 32
Hình 4.3 Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng của vùng đồng bằng Thangone 33
Hình 4.4 Tình hình cơ cấu kinh tế các ngành của đồng bằng Thangone năm 2014 35
Hình 4.5 Đồng lúa của đồng bằng Thangone 37
Hình 4.6 Lúa đang vào chắc trên đồng bằng Thangone 37
Hình 4.7 Hình ảnh hệ thống trạm bơm của trạm bơm Kenh khay 41
Hình 4.8 Cơ cấu sử dụng đất của đồng bằng Thangone 44
Hình 4.9 Bao bì phân bón của Thái Lan mà người dân thương sử dụng 48
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lorthavy Phuthavong
Tên luận văn: “Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp của đồng bằng Thangone, huyện Xaythany, thủ đô Viêng Chăn, Công hoà dân chủ nhân dân Lào”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính của đồng bằng Thangone, huyện Xâythany, thủ đô Viêng Chăn
- Định hướng và đề xuất các loại hình sử dụng đất hiệu quả cho vùng đồng bằng Thangone
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Các cơ quan chức năng về tình hình biến động đất đai, cơ cấu sử dụng đất tình hình kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất: Hiệu quả sử dụng đất được đánh giá theo 3 khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp: Sử dụng mẫu phiếu điều tra với
bộ câu hỏi soạn sẵn để điều tra về tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất Số hộ điều tra: 60 hộ canh tác lúa trên địa bàn các làng như làng Kênh khay, làng Na, Thasommo, lang Phukham, làng Lat Khuay
- Phương pháp điều tra thực địa: khảo sát hệ thống đồng ruộng, khả năng tưới tiêu, tình hình sản xuất thực tế
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra: Sử dụng phầm mềm Excel để xử lý số liệu điều tra nông hộ
Kết quả chính và kết luận
- Đồng bằng Thangone có diện tích đất tự nhiên 3.600 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 2.085 ha Đây là vùng sản xuất lúa trọng điểm của thủ đô Viên Chăn
Giai đoạn 2012-2015, ở vùng đồng bằng có 2 loại hình sử dụng đất là lúa xuân – lúa mùa (658 ha) và lúa mùa (1.427 ha) Năng suất lúa bình quân/ha/ vụ phụ thuộc vào
Trang 11chế độ phân bón Cụ thể như sau:
1 Không sử dụng phân bón là từ 2-2,8 tấn/ha
2 Sử dụng phân bón ít là từ 3-3,8 tấn/ha
3 Sử phân bón nhiều là từ 4-5 tấn/ha
Kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất:
- Hiệu quả kinh tế: Kiểu sử dụng đất trồng lúa 1 vụ và không bón phân mang lại hiệu quả kinh tế thấp nhất Kiểu sử dụng đất trồng lúa 2 vụ và bón nhiều phân mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với giá trị sản xuất là 27,00 triệu Kip/ha/năm, thu nhập hỗn hợp là 14,02 triệu Kip/ha/năm và hiệu quả đồng vốn đạt 1,08 lần
- Hiệu quả xã hội: Kiểu sử dụng đất trồng lúa 2 vụ và bón nhiều phân mang lại hiệu quả xã hội cao nhất với giá trị ngày công đạt 701.000 Kip/ngày
- Hiệu quả môi trường: các kiểu sử dụng đất không gây ô nhiễm môi trường nhưng có khả năng gây suy kiệt đất với các kiểu sử dụng đất hai vụ và không bón hoặc bón ít phân
4 Kiểu sử dụng đất có triển vọng cho địa bàn nghiên cứu được đề xuất cho địa
bàn nghiên cứu là lúa mùa và lúa xuân – lúa mùa bón nhiều phân
5 Giải pháp nâng cao hiệu quả các LUT nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tại đồng bằng gồm: Giải pháp về thị trường tiêu thụ, giải pháp về nguồn vốn, giải pháp về nguồn nhân lực, giải pháp về công tác khuyến nông và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, giải pháp về đầu tư cơ sở
hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Lorthavy Phuthavong
Thesis title: “Assessing the effect and orientation of agricultural production land use of
Thangone lowland, Xaythany district, Vientiane capital, Lao People's Democratic Republic”
Major: Land management Code: 62.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Research method of thesis
The thesis has used methods:
- Document collection method: The authorities on the land changes, land use structure socio-economic situation of the study area
- Methods of evaluating the effectiveness of land use types: Effective use of land
is assessed according to three aspects: economic, social and environmental
- Methods of collecting materials, primary data: Use the sample survey with a questionnaire prepared to investigate the situation of land use and land use efficiency Number of households surveyed: 60 rice farming households in the locality of the village as the village Channel tray, village Na, Thasommo, Phukham sweet, stirring Lat village
- Methods of fieldwork: survey field systems, irrigation possibilities, the actual production situation
- Statistical methodology, analysis and synthesis of the survey data: Using Excel software to handle the household survey data
Main results and conclusion
- Thangone lowland has an area of natural land of 3,600 ha in which agricultural production land area are 2.085 ha This is a key paddy production region of Vientiane capital
Trang 13In 2012-2015 period, there are 02 land use types in lowland area: spring and winter paddy crop (658 ha) and winter paddy crop (1,427 ha) Average paddy crop productivity/ha depends on fertilizer system Specifically as follows:
1 Do not use fertilizer from 2-2.8 tons/ha
2 Use less fertilizer from 3-3.8 tons/ha
3 Use much fertilizer from 4-5 tons/ha
Result of land use effect assessment:
- Economic effect: Type of rice cultivation land use for one paddy crop and no putting down fertilizer has brought the lowest economic effect Type of paddy cultivation land use for two paddy crops and putting down much fertilizer has brought the highest economic effect with production value of 27.00 million Kip/ha/year, mixed income is 14.02 million Kip/ha/year and effect of capital source reached 1.08 times
- Social effect: Type of paddy cultivation land use for two paddy crops and putting down much fertilizer has brought the highest social effect with workday value reached 701,000 Kip/day
- Environmental effect: Types of land use do not cause environmental pollution however it is able to cause to weaken land with types of land use for two paddy crops and no putting down fertilizer or putting down less fertilizer
4 Land use type with prospect for research area has been proposed: winter and spring paddy crop - winter paddy crop with putting down much fertilizer
5 Solution to raising effect of agricultural LUTs and agricultural production development towards goods in lowland including: Solution to consumption market, solution to capital source, solution to human resources, solution to agricultural encouragement work and technical scientific progress transfer in production, solution to investment in infrastructure for agricultural production
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là một loại tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi ngành sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Để sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả cao và lâu bền là vấn đề hết sức quan trọng không những đối với hiện tại mà còn cả trong tương lai
Những năm gần đây, do sức ép của gia tăng dân số và nhu cầu phát triển của xã hội, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm cả về số lượng và chất lượng Con người đã và đang khai thác quá mức tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cuộc sống mà chưa có nhiều các biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai, giữ gìn cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường Trong khi đó tiềm năng đất đai là có hạn, do vậy việc sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất cần được đặc biệt coi trọng
Ở Lào, Luật Đất đai đã ra đời năm 2003 nhưng quá trình sử dụng đất vẫn mang tính tự phát, chưa phù hợp với khoa học và phát triển bền vững đã gây nên nhiều vấn đề phức tạp đến công tác sử dụng và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp cho toàn xã hội và đất nước Trước năm 2005, việc sử dụng đất nông nghiệp chưa có
hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp, vậy hiệu quả trong sử dụng đất còn thấp Đến năm 2005 Nhà nước đã đề cập đến việc phân vùng nông lâm nghiệp cấp huyện trong toàn quốc là việc ưu tiên và cấp bách, với chức năng và nhiệm
vụ của Bộ Nông Lâm nghiệp, vậy đã giao cho Viện nghiên cứu Nông lâm nghiệp
là chủ trì thực hiện công việc đó trên các cơ sở dữ liêu đã có, như vậy đã sử dụng
số liệu đất cấp tỉnh để đánh giá nên làm cho việc đánh giá đất đai cấp huyện chưa hợp lý đúng mức với tiềm năng đất đai trên thực tiễn
Trên thực tế cho thấy chính sách quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước được xem là hạt nhân quan trọng trong công tác lập và thực hiện quy hoạch thành công Vì vậy, nghiên cứu xây dựng cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp lý là một công việc cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đảm bảo định hướng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của CHDCND Lào nói chung và thủ đô Viêng Chăn nói riêng
Huyện Xaythany có tổng diện tích đất tự nhiên 84.685 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 28.641 ha chiếm 33,82 % Đồng bằng Thangone là nằm
ở phía Bắc của huyện Xâythny có diện tích đất tự nhiên 3600 ha trong đó có diện
Trang 15tích đất nông nghiệp 2.085 ha chiếm 57,91 % Đất trồng Lúa 1600 ha, chiếm 76,72 % Đất trồng Ngô 320 ha chiếm 14,38 % còn lại là trồng rau và cây ăn quả
… Đồng bằng Thangone có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và sản xuất hàng hoá phục vụ người tiêu dùng trong toàn huyện Trong những năm qua đã có sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất khác và chuyển đổi
cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đô thị hoá và công nghiệp hoá làm ảnh hưởng lớn đến quỹ đất nông nghiệp
Trong những năm qua với sự nỗ lực của chính quyền địa phương và nhân dân cũng đã đạt được những kết quả nhất định trong sản xuất, có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của huyện, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế Việc canh tác phần lớn dựa trên kinh nghiệm, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Việc sử dụng đất nông ngiệp còn nhiều bất cập và sử dụng quỹ đất chưa được chú trọng, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất chưa đáng kể là nguyên nhân làm cho hệ thống sản xuất nông nghiệp không lâu bền
Việc bố trí các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đúng mục đích trong cơ cấu đất đai hợp lý sẽ thúc đẩy các ngành, lĩnh vực phát triển ổn định và sử dụng đất hiệu quả và bền vững
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hợp lý với tiềm năng của
đất thì việc tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp Đồng bằng Thangone, huyện Xâythny, thủ đô Viêng Chăn, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào”
1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Nắm chắc cách thức điều tra, nguyên tắc, quy trình và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Số liệu điều tra, thu thập phản ánh trung thực, khách quan các điều kiện trên địa bàn
- Những đề xuất, kiến nghị phải khả thi, phù hợp với điều kiện hiện tại và tương lai của địa phương
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI 2.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là đất có độ phì, dới hạn về diện tích có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng (Nguyễn Đình Thi 2009 ) Luật đất đai 2013 phân loại đất thành 3 nhóm theo mục đích sử dụng đất đó là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, và nhóm đất chưa sử dụng Đất nông nghiệp nhóm đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất rừng trồng, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết đời sống xã hội (Quốc Hội 2013)
Theo báo cáo của World Bank (1995) hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150-200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có
từ 6-7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoá do xói mòn Trong 1.200 triệu ha đất
bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý Nhận thức đúng được các vấn đề trên sẽ giúp người sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái
Xét cho cùng đất chỉ có giá trị thông qua quá trình sử dụng của con người, giá trị đó tuỳ thuộc vào sự đầu tư trí tuệ và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất Hiệu quả của việc đầu tư này sẽ phụ thuộc rất lớn vào những lợi thế của quỹ đất đai hiện có và các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể (Nguyễn Điền 2001)
2.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất đai giữ vai trò quyết đinh tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau C Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” (Lê Hội 1996 ) Trong sản xuất nông lâm-nghiệp đất đai có ý nghĩa vô cùng quan trọng, điều này được thể hiện rõ nét qua các đặc điểm sau đây:
Trang 17- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai được xem là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tămg lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi bổ, bảo vệ, làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi vì ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu (Trần An Phong, 1995) Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy
mô sản xuất nông lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn hoàng hoá đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây cũng là xu hướng vận động cần được quan tâm và khuyến khích
Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hàng hoá nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người và sức của Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công tác này thực sự có hiệu quả
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền ( Nguyễn Đình Thi 2009 ) Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên ( thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế-xã hội, dân số, lao động, thị trường…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ
- Đất đai được coi là một hàng hoá đặt biệt, một tài sản (quyền tài sản) của người chủ sử dụng Vì vậy, người sử dụng đất sẽ có các quyền nhất định do pháp luật trao cho mỗi người trong số họ, trong quá trình tập trung phát triển cúa xã hội, tích tụ và chuyển hướng sử dụng đất Từ đó họ có thể tận dụng được lợi ích
và phát huy hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng đất nếu biết cách sử dụng hợp
lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên này
Trang 18Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển cúa mọi nền văn minh vật chất – văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng
cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
2.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất này càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hệp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho nông nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở gắn chặt những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc đầy đủ, hợp lý phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (FAO 1990)
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp phần bảo vệ độ phì đất (Nguyễn Văn Bộ, 2000)
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Điền, 2001) Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu
Trang 19cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
2.1.3.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về
khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu (FAO, 1990)
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định (Lê Văn Bá, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo
vệ môi trường (FAO, 1990)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác
- Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm phải khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp + Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở những mặt sau:
Trang 20- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.1.4.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối (FAO, 1990) Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp hoá cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng
ở tẩm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu
vốn là độ phì đất (Nguyễn Duy Tính, 1995)
2.1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo (Vũ Năng Dũng, 1997) Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North,
ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tưới tiêu hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh (FAO, 1990) Cho đến giữa thế kỷ
Trang 2121, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế, trong nền nông nghiệp nước ta (Vũ Năng Dũng, 1997) Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.1.4.3 Nhóm các yếu tố tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi hợp lý, nhằm khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Huy Phồn, 1996)
Cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng
cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó (Kiều Trí Đức, 2009)
2.1.4.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm :
- Theo tác giả Nguyễn Duy Tính (1995): “Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất
và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra”
Trang 222.2 LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
Hiệu quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chi dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Lê Hội, 1996)
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dụng đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội (Vũ Năng Dũng, 1997) Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chi thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường (Trần An Phong, 1995) Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng
hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa
phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất
Theo tác giả Nguyễn Thị Vòng (2001), “việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều các yếu tố liên quan Vì vậy, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả
sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý
Trang 23luận của lý thuyết hệ thống” Nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường;
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là quy luật ‘Tiết kiệm”,
là “Tăng năng suất lao động xã hội ”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng:
“ Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là
cơ sở của tất cả mọi xã hội “ Như vậy, theo quan điểm của Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hộị (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Theo tác giả Vũ Phương Thụy: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí’ Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất đi ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó"
Trang 24Theo L.M Canirop "Hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng"
Tác giả Nguyễn Duy Tính (1995) cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nổ Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tỉếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là: mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại (FAO, 1990)
Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nếu sản xuất xã hội là một
hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ Do vậy việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn có, hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu
tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội (FAO, 1990)
Trang 25Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng,
vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội (FAO, 1990)
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất (Doãn Khánh, 2000)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mọi tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật
có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Doãn Khánh, 2000)
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân (Trần An Phong, 1995)
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
Trang 26* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà nghiên cứu về môi trường rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai,
nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái một cách bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.3.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần
Trang 27phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước) (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ lên môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai doạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chi có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai doạn hiện tại và
mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn (Đường Hồng Dật và cs, 1994) Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tẩm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tuỳ theo nội dụng của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tỉết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả (FAO, 1990)
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
Trang 28+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu KT-XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (FAO, 1990)
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn
vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao (FAO, 1990)
+ Các tiêu chuẩn được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hoá Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác (FAO, 1990)
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp (FAO, 1990) Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một
hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng
Trang 29Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước do quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng (Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001)
* Bảo vệ về môi trường:
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái
Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và
sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, ) (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
* Bền vững về mặt xã hội:
Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội Đáp ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc
và nhu cầu hàng ngày của người nông dân
+ Tiêu chuần đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
2.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phương pháp xác định với chỉ tiêu đánh giá đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh hiệu quả
nghiệp
Mục tiêu và phạm vi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
nghiệp
Trang 30+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh
có thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn
đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh
tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (FAO, 1990)
+ Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế (FAO, 1990)
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học (FAO, 1990) và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:
2.3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế
Có hai cách tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất biểu hiện bằng hai hệ thống chỉ tiêu sau (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001):
các chỉ tiêu
+ Giá trị sản xuất: GO (Gross Outpu)\ là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất
ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)
+ Chi phí trung gian : IC (Intermediate Cost); Là toàn bộ chi phí vật chất
và dịch vụ sản xuất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hoá học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu)
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:
+ Giá trị gia tăng : YA (Vaiue Added); Là giá trị sản phẩm vật chất mới
Trang 31tạo ra trong qúa trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng: giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
VA = GO – IC Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả :
VA/ l ha đất VA/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD)
VA/ 1 công lao động
+ Thu nhập hỗn hợp : MI (Mixed Income); Là thu nhập sau khi đã trừ các
khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài
MI = VA - T (thuế) - A (khấu hao) - L (chi công lao động)
Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:
MI/ lha đất
MI/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD)
MI/ 1 công lao động
Các chỉ tiêu tính toán để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
+ Giá trị sản xuất (GO)
+ Chi phí biến đổi (VC) hay chi phí khả biến, là chi phí thay đổi khi qui
mô năng suất và khối lượng đầu ra thay đổi
Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :
+ Lãi thô (GM) là phần dôi ra khi so sánh giá trị sản xuất với chi phí biến đổi
GM = GO -VC Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả
Trang 32Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :
+ Lãi ròng (NI) còn gọi là lãi tỉnh hay lãi thuần là phần lãi còn lại sau khi trừ toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định
NI = GM - FC
Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả
NI/ lha đất
NI/1 đơn vị tiền tệ chi phí (1VNĐ, 1USD…)
NI/1 công lao động
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi lựa chọn cách tính thứ nhất vì cách tính này thường áp dụng tính cho các hộ nông dân, các trang trại qui mô nhỏ
mà chia tách được chi phí lao động
2.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện
cụ thể:
- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập (Đỗ Thị Tám, 2001)
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học (FAO, 1990)
2.3.3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường sinh thái có thể phân tích thông qua các chỉ tiêu sau:
- Đánh giá tính thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại thông qua các chỉ tiêu cụ thể:
+ Mức độ đầu tư phân bón
+ Mức độ sừ dụng thuốc BVTV
- Hệ số sử dụng đất, biện pháp luân canh cải tạo đất
- Tỉ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hoá
- Mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất, nước, không khí, động, thực vật)
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Môi trường trong nông nghiệp bao gồm các biện pháp làm đất, bón phân,
Trang 33tưới tiêu nước Nếu như sự phối hợp các khâu này trong canh tác không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất bởi các chất hoá học, đất bị chua, mặn hoặc la thoái hoá, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất nông sản và làm suy thoái môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài (Đỗ Thị Tám, 2001) Vì vậy, đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội và môi trường trong một thể thống nhất, Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.4.1 Những nghiên cứu trên Thế giới
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn
đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam Á như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sáp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện Lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng
Trang 34tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng “quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp” Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng cây trồng phát triển trên đất cao trước, đất thấp sau Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, KT-XH Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai
là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ
sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương ‘ly nông bất ly hương”, đã thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn phát triển và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp (Doãn Khánh, 2000)
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000) (Vũ Thị Phương Thụy, 2000), ở Mỹ tổng số tỉền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canada là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Australia là 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Cộng đồng châu Âu là 67,2 tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (68,9%)
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về
Trang 35giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất vũng đồi núi
Việc nghiên cứu về quản lý đất đồi núi Ở Châu Á đang được thực hiện ở
các nước Indonexia, Nêpan Philiphin, Thái lan, Trung quốc và Việt Nam, những nước này có chung một thực trạng canh tác không hợp lý trên đất đồi núi nên đã gây ra thoái hoá đất (Thái Phiên, 1999)
Vùng đồi núi Trung Quốc có dốc 30 - 40% Những loại hình sử dụng đất
có hiệu quả gồm: Trồng cây theo băng và tạo băng chắn hỗn hợp giữa Tephrosia candida và Conronilla varia; Nông lâm kết hợp trồng cây lương thực xen với các dải rừng bạch đàn ở Indonesia, cơ cấu cây trồng gồm lạc - đỗ xanh - lúa đồi được khuyến cáo trên đất dốc 8 - 18%, với các kỹ thuật trồng xen băng cây phủ đất, xữ lý tàn dư hữu cơ
Để canh tác đất đồi núi bền vững nhiều tác giả nhận định đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất, ngoài những cây trồng chính nên trồng xen các loại cây trồng thuộc bộ đậu, vì nó có thể dùng làm cây phân xanh, làm thức ăn cho gia súc và tạo ra thu nhập
Những năm gần đây tại khu vực Châu Á, các trung tâm nghiên cứu quốc
tế và quốc gia đã tiến hành nghiên cứu về tình trạng và nguyên nhân đất bị xói mòn, thái hóa, mối liên hệ kiếu sử dụng đất canh tác và xói mòn Các kết quả nghiên cứu đưa ra 4 nguyên nhân gây thoái hóa đất đó là:
- Nhân tố tự nhiên (khí hậu, độ dốc)
- Gây cháy rừng
- Chính sách vĩ mô (quyền sở hữu đất đai, thiếu sự hướng dẫn)
2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
* Nghiên cứu quản lý sử dụng đất
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm châu Á, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 4.093,9m2, chi bằng 1/7 mức bình quân của thế giới Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 3.068,2m2 bằng 1/3
Trang 36mức bình quân thế giới (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 (Nguyễn Điền, 2001) Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua, Việt Nam đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn
đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong - Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1995)
Chương trình bản đồ canh tác do Uỷ ban khoa học Nhà nước chủ trì, cũng
đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng một vụ góp phần làm tăng năng suất sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình khuyến nông do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thồn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng Sông Hồng nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó Trong đó phải kể đến các công trình như: Đánh giá các loại hình sử dụng đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm miền núi bắc bộ Việt Nam của tác giả Nguyễn Huy Phồn (1996); Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa đạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Vũ Năng Dũng (1997); Đánh giá đất và hướng sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Bắc Ninh của tác giả Đỗ Nguyên Hải (2001)
Tác giả Đoàn Công Quỳ (2006) đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động, giá trị gia
tăng/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 372.4.3 Một số vấn đề việc sử dụng đất nông nghiệp ở Lào
CHDND lào là một nước có tổng diện tích đất tự nhiên đứng thứ 07 của khu vực đông Nam Á ( Http://www.infoplease.com/country/laos.htm1 ) nhưng dân số năm 2012 là đứng thứ 08 (USAID, 2012), dẫn tới diện tích bình quân trên đầu người lại rộng hơn so với các nước trong khu vực này ( 0,036 km2/người) Vấn đề cấp thiết
ở chỗ là sử dụng đất nông nghiệp không thích hợp với khả năng sản xuất của đất, việc sử dụng đất đai trong SXNN còn thiếu quy hoạch, bố trí cơ cấu cây trồng còn manh mún, sử dụng đất trên diện tích có độ dốc cao và kỹ thuật không hợp lý dẫn đến đất bị suy thoái và xói mòn rửa trôi nhanh chóng, ngày càng tăng lên như các nước trong khu vực nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc của Lào Việc canh tác phần lớn dựa trên kinh nghiệm và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, việc bố trí cây trồng còn nhiều bất cập, quản lý sử dụng quỹ đất chưa được chú trọng còn thiếu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào SXNN dẫ tới năng suất lao động giảm, hiệu quả sản xuấ không cao
Nếu so với các nước trong khu vực thì việc phát triển nông nghiệp ở Lào còn chưa được chú trọng đầu tư, diện tích đất SXNN còn thấp so với diện tích đất
có khả năng khai thác để phục vụ cho việc SXNN toàn quốc Tính đến cuối năm
2012 (trung tâm Điều tra và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 2012) diện tích đất ruộng lúa là 979.462 ha và diện cây trồng khác 876.104 ha
Bảng 2.1 Tổng diện tích đất NN và phân theo vùng đất NN toàn quốc
TT Loại sử dụng đất NN Diện tích, ha Chiếm tỷ lệ %
II Diện tích khai thác làm đất NN mới 2.679.196 59,08
1 Diện tích ruộng lúa, rau màu, cây ngắn ngày 1.079.469 23,80
2 Diện tích trồng rau màu, cây ngắn ngày 249.223 5,50
Nguồn: Bộ Nông lâm nghiệp Lào (2012)
Trang 38Trong những năm gần đây, xu hướng về việc phát triển ngành nông nghiệp khá phát triển và mở rộng khai thác sử dụng đất nông nghiệp theo tiềm năng sản xuất của đất đai để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Cục
Kế hoạch và hợp tác 2012), nhiều sản phẩm từ nông nghiệp được coi trọng và sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài với số lượng khá lớn Trong thơi gian qua thu nhập từ ngành nông nghiệp đóng vai trò vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Năm 2011 đáng kể và chiếm tỷ lệ đến 27,40 % (Cục Thống kê Kinh tế, 2011)
Bảng 2.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
của nước CHDCND Lào giai đoạn 2010 -2011
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư Lào (2011)
Bảng 2.3 Tổng diện tích đất canh tác nước CHDCND Lào
giai đoạn 2009 – 2011
Đơn vị tính: ha
TT Loại sử dụng đất canh tác Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
4 Ngô thức ăn chăn nuôi 175.965 184.935 181.700
5 Ngô thức ăn (Sweet corn) 24.740 27.820 30.405
Trang 392.4.4 Hiện trạng sử dụng đất thủ đô Viêng Chăn
Thủ đô Viêng Chăn có tổng diện tích tự nhiên 392.000 ha bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất ở và đất chưa sử dụng, với tiềm năng tài nguyên đất đai, so với thực trạng sử dụng tài nguyên đất năm 2013
có thể thấy rằng:
- Tỷ lệ đất đã đưa vào sử dụng chưa cao, mới khoảng 294.998 ha, bằng 75,25% diện tích tự nhiên Đất chưa sử dụng còn nhiều với 97.002 ha, tương đương 24,75% diện tích tự nhiên Tuy nhiên, nếu trừ đất sông suối, ao hồ thì đất thực sự chưa sử dụng chỉ còn 88.497 ha (22,58%), trong đó 47.290 ha đất có khả năng lâm nghiệp, 28.392 ha đất có khả năng nông nghiệp, còn lại là đất đồi núi
và đất mặt nước chưa sử dụng Khai thác tối đa đất chưa sử dụng vào mục đích kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng của Thủ đô trong 10, 20 năm tới Theo khảo sát, phần lớn diện tích đất bằng và mặt nước chưa sử dụng đều có thể cải tạo để
có thể trồng lúa, màu và nuôi trồng thuỷ sản Riêng đất đồi núi chưa sử dụng có
độ dốc lớn, bị xói mòn rửa trôi nặng chỉ thích hợp để trồng rừng
- Còn nhiều đất nông nghiệp chưa được khai thác hoặc khai thác chưa có hiệu quả cao Đất nông nghiệp năm 2013 là 92.558 ha, chiếm tỷ trọng 23,6% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất trồng cây hàng năm với diện tích là 68.227 ha, chiếm 17,40%, tiếp theo là đất bãi cỏ kết hợp cây công nghiệp là 16.036 ha, chiếm 4,09% diện tích tự nhiên
- Đất trồng cây lâu năm không đáng kể Toàn Thủ đô mới chỉ có 2.735 ha cây lâu năm, chiếm chưa đến 1%
- Diện tích đất có khả năng lâm nghiệp và đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều Đất lâm nghiệp hiện có 168.299 ha, chiếm 42,93% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng tái sinh tự nhiên (149.141 ha, tương đương 38%), rừng trồng có diện tích không đáng kể Vấn đề đáng nói là diện tích đất có khả năng lâm nghiệp và đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều, do vây, cần đẩy nhanh công tác giao đất, giao rừng hơn nữa để nhanh chóng tăng diện tích rừng
Trang 40Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất thủ đô Viêng Chăn năm 2013
Mục đích sử dụng đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
3 Bãi cỏ, cây bụi kết hợp chăn nuôi 16.036 4,09
Nguồn: Cục Quản lý đất Nông nghiệp
- Đất chuyên dùng và đất ở có diện tích khá lớn Tổng đất chuyên dùng năm
2013 là 34.141 ha, chiếm 8,71% diện tích đất tự nhiên Tỷ lệ này cao hơn so với
tỷ lệ đất chuyên dùng của nhiều nơi Điều này cho thấy đất chuyên dùng cho cơ
sở hạ tầng tương đối khá, có khả năng phục vụ tốt cho phát triển kinh tế trong những năm tới, tuy vậy vẫn cần xem xét thêm để tổ chức sử dụng quỹ đất này có hiệu quả cao
Đất cho phát triển các ngành còn rất nhiều, đặc biệt là quỹ đất dùng cho phát triển nông lâm nghiệp còn rất lớn có thể đảm bảo phát triển ổn định nông lâm nghiệp trong tương lai