Bài thu hoạch thạc sĩ triết học của môn học lịch sử triết học mác với chủ đề TÍNH SÁNG TẠO CỦA TRIẾT HỌC MÁC GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ. Bài thu hoạch thạc sĩ triết học của môn học lịch sử triết học mác có dung lượng 26 trang
Trang 1MỞ ĐẦU
Triết học Mác, trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhânloại, đã khẳng định mình với những đặc trưng rất riêng so với những trườngphái triết học khác trong lịch sử xét trên nhiều phương diện Trong đó, tínhsáng tạo là yếu tố quan trọng nhất, là cơ sở tiền đề quan trọng để chủ nghĩaMác - Lênin nói chung, triết học Mác nói riêng trở thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trongthời đại mới
Nghiên cứu triết học Mác nói chung, tính sáng tạo triết học Mác nóiriêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn,đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo Nó là cơ sở để luận giải việc C.Mác đã
kế thừa có chọn lọc và phát triển sáng tạo di sản văn hoá nhân loại, nhất làlịch sử tư tưởng triết học nhân loại, gắn kết với thực tiễn đấu tranh cách mạngcủa giai cấp vô sản toàn thế giới và những thành tựu mới của khoa học, gắnkết hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng để tạo nên một học thuyếtcách mạng về giải phóng con người, giải phóng xã hội
Với tư cách một hệ thống lý luận chặt chẽ nhưng lại mang tính mở, triếthọc Mác vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa cách mạng của nó trongthời đại ngày nay, vẫn là công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loạitiến bộ, là cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho mọi hành động của chúng tatrong công cuộc đổi mới đất nước
Trang 2
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của sự hình thành triết học Mác
Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp: Vào giữa những năm 40 của thế
kỷ thứ XIX, chủ nghĩa tư bản bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển mới Sự rađời của chủ nghĩa tư bản như là một tất yếu, nó đạt được một số thành tựu
và trở thành hệ thống thống trị về mặt kinh tế ở nhiều nước Châu Âu Sựphát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa được củng cố, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triểnmạnh mẽ trên cơ sở vật chất kỹ thuật của chính mình, do đó nó đã thể hiện
rõ tính hơn hẳn so với phương thức sản xuất phong kiến Nó phát triểnnhanh và tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, thể hiện sự đơn giản hóa tạokhông gian thông thoáng và phá vỡ hàng rào của chế độ phong kiến Tạo ramôi trường cạnh tranh rất khốc liệt giúp con người phải rèn luyện, cạnhtranh và phát triển C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp tư sản, trong quátrình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sảnxuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trướckia gộp lại”1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn
xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt Của cải xã hội tănglên nhưng bất công xã hội lại tăng thêm, đối kháng xã hội thêm sâu sắc,
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.603.
Trang 3những xung đột giữa vô sản và tư sản đã trở thành những cuộc đấu tranhgiai cấp
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị - xã hội độc lập: Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân
ở các nước tư bản Tây Âu trong giai đoạn này còn mang tính tự phát, thiếu tổchức, do đó nhu cầu khách quan đặt ra là phải có một vũ khí lý luận sắc bénphản ánh một cách khoa học quá trình vận động cách mạng của giai cấp côngnhân Các học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng thời đó của XanhXimông, Phuriê, Ôoen đã không phản ánh được lợi ích căn bản của cuộc đấutranh giai cấp của giai cấp công nhân vì sự nghiệp giải phóng giai cấp mình
và giải phóng quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột
Nhu cầu lý luận của thực tiễn cách mạng: Triết học Mác đã xuất hiện
đúng lúc trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và sáng tạo những di sản tư tưởng củatriết học của loài người, biết phân tích đúng thực tiễn kết hợp với năng lực tưduy của một nhà bác học, C.Mác đã cùng với Ph.Ăngghen xây dựng nên chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Triết học Mác ra đời
đã phản ánh đúng đắn lịch sử khách quan phong trào đấu tranh cách mạng củagiai cấp công nhân toàn thế giới, cũng như nguyện vọng và lợi ích chân chínhcủa nó Với sự ra đời của triết học Mác, giai cấp công nhân đã tìm thấy ở đósức mạnh và vũ khí tinh thần của mình, là một học thuyết khoa học dẫn dắtphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đi từ tự phát đến tự giác Bêncạnh triết học C.Mác còn có mối quan hệ hữu cơ với phong trào cách mạngcủa công nhân, C.Mác nói: “triết học nhận thấy giai cấp vô sản là vũ khí vậtchất và tinh thần của mình”
1.2 Tiền đề lí luận của sự hình thành triết học Mác
Tiền đề về kinh tế - xã hội là hết sức quan trọng và cần thiết cho sự rađời của triết học Mác Song nó chỉ là tiền đề khách quan, nó chỉ đặt ra chonhu cầu lịch sử và tạo khả năng cho sự giải quyết nhu cầu đó Nhưng nhu cầu
Trang 4lịch sử không thể tự nó thực hiện và khả năng không tự hiện thực hóa và nócần có sự hoạt động của con người, của nhân tố chủ thể Chủ thể ở đây khôngchỉ là quần chúng nhân dân mà còn là cá nhân lỗi lạc, có tầm trí tuệ cao, đủsức nắm lấy và giải quyết những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài ngườiđặt ra C.Mác và Ph.Ăngghen, như V.I.Lênin nhận xét, là những cá nhân nhưthế Sự ra đời của triết học Mác là sự kế thừa nền văn minh của nhân loại,trực tiếp nhất là những trào lưu tư tưởng là và lý luận ở châu Âu thế kỷ XIXnhư: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh, chủ nghĩa xãhội không tưởng Pháp Trên cơ sở kế thừa và phát triển những mặt tích cựccủa hệ thống lý luận trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng một thế giớiquan triết học mới.
Triết học cổ điển Đức, với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen và
Phoiơbắc đã có ảnh hưởng rất quan trọng về mặt lý luận đến sự hình thành thếgiới quan duy vật biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen
C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết họcHêghen Sau này, cả khi đã từ bỏ chủ nghĩa duy tâm triết học Hêghen, cácông vẫn đánh giá cao tư tưởng biện chứng của nó Chính cái “hạt nhân hợplý” đó đã được C.Mác kế thừa bằng cách cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xâydựng nên lý luận mới của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật Phépbiện chứng duy vật của C.Mác được hình thành dựa trên cơ sở chọn lọc cóphê phán phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen - một trongnhững nhà triết học biện chứng duy tâm khách quan lớn nhất của lịch sử triếthọc C.Mác cho rằng: Dù triết học của Hêghen mang tính duy tâm thần bí,nhưng ông là người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có hệ thống cáchình thức vận động chung của phép biện chứng
Cùng với phép biện chứng duy tâm của Hêghen, trong chủ nghĩa duyvật biện chứng của C.Mác còn có sự kế thừa và phát triển những quan điểmduy vật về tự nhiên của Phoiơbắc - nhà dân chủ tư sản cấp tiến, đại biểu
Trang 5sau cùng của triết học cổ điển Đức Phoiơbắc là người có công bảo vệ vàphát triển quan điểm duy vật tự nhiên, đấu tranh chống tôn giáo Đặc điểmtriết học duy vật của Phoiơbắc là lấy con người làm xuất phát điểm củatriết học, khuyết điểm lớn nhất trong triết học của ông là duy tâm về mặt xãhội và không nhận thấy được những hạt nhân tích cực và hợp lý trong phépbiện chứng của Hêghen Bản thân con người mà ông chọn làm trung tâmnghiên cứu của triết học cũng chỉ là con người sinh học chứ không phảicon người xã hội
Mặc dù trong triết học của Hêghen và Phoiơbắc còn có những hạn chếnhất định, nhưng nhờ được C.Mác kế thừa và phát triển hợp lý mà phép biệnchứng duy tâm khách quan của Hêghen, chủ nghĩa duy vật về tự nhiên củaPhoiơbắc đã trở thành một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng của triếthọc Mác Từ đó C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng nên học thuyết triết họcmới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau mộtcách hữu cơ tạo thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, một mình thức mới,một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh với những khuynh hướng tiến bộ trong
sự phát triển của tư tưởng kinh tế tư sản đã được C.Mác đã tiếp thu, cải tạo vàphát triển trên lập trường của giai cấp vô sản, chỉ ra những quy luật kinh tế cơbản của chủ nghĩa tư bản Các đại biểu tiêu biểu là A.Smith và Đ.Ricácđô
Theo C.Mác, A.Smith đã phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị traođổi, khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi A.Smith cómột linh cảm nhạy bén và thiên tài Ông cảm thấy giá trị hàng hóa trong chủnghĩa tư bản có gì khác trong sản xuất giản đơn, nhưng ông chưa chỉ ra được
sự khác nhau là như thế nào vì ông chưa biết đến phạm trù giá cả C.Mác chorằng linh cảm của A.Smith còn nằm trong bóng tối, song vẫn là một linh cảmquý giá Vì C.Mác đã ít nhiều sử dụng quan điểm lịch sử đó để xem xét cácphạm trù kinh tế
Trang 6Với Đ.Ricácđô, C.Mác khẳng định ông là người đã đưa kinh tế chính trị
tư sản cổ điển lên đến đỉnh cao và chấm dứt luôn tại đó C.Mác đánh giáĐ.Ricácđô là tiền bối trực tiếp của mình Thế giới quan của Đ.Ricácđô duyvật, máy móc và tự phát Với thế giới quan đó, Đ.Ricácđô đã đưa ra quy luậtphân phối trong chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ Bên cạnh đó, cùng với sử dụngphương pháp luận, Đ.Ricácđô đã sử dụng thành thạo phương pháp trừu tượnghóa một cách thành thạo nhưng không triệt để Bên cạnh đó, do bị ảnh hưởngbởi thế giới quan tư sản và quan niệm phạm trù kinh tế của tư bản là vĩnh viễnnên ông đã đồng nhất tư bản với hiện vật
Như vậy, việc cải tạo có phê phán những gì có giá trị trong kinh tế chínhtrị cổ điển Anh (đại biểu là Ađam Smit,Đa vit Ricácđô) có một vai trò to lớntrong việc sáng tạo ra học thuyết kinh tế mác xít ấy thì không thể phát hiện ra
cơ sở vật chất của quá trình lịch sử xã hội, không thể sáng lập ra quan điểmduy vật về lịch sử và không thể khắc phục được tính chất không triệt để củachủ nghĩa duy vật trước Mác
Cùng với triết học cổ điển Đức và kinh tế chính trị học cổ điển Anh thì chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc hình thành thế giới quan duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen với các đạibiểu nổi bật là Xanh Ximông, Phuriê và Ôoen…
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng muốn xây dựng một xã hội cộngsản như kiểu một xã hội tồn tại hoàn toàn tách rời khỏi xã hội hiện thực,muốn cảm hoá con người bằng tình thương để làm gương cho giai cấp tư sản.Một “ốc đảo” mơ ước như vậy giữa trùng khơi của xã hội tư bản hoàn toàn làđiều không tưởng và không chóng thì chầy nó sẽ bị biển khơi hung dữ và bạotàn kia nhấn chìm, nuốt chửng Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghentrong xã hội có đối kháng giai cấp thì đấu tranh giai cấp là động lực phát triểntrực tiếp của xã hội có giai cấp Đấu tranh giai cấp tất nhiên dẫn đến chuyênchính vô sản Chuyên chính vô sản là tiếp tục đấu tranh giai cấp để xoá bỏ áp
Trang 7bức bóc lột tiến tới xoá bỏ giai cấp, xây dựng một xã hội không còn giai cấp
-xã hội cộng sản văn minh Nghiên cứu và phê phán tư tưởng -xã hội chủ nghĩakhông tưởng đã giúp C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu một cách duy vật biệnchứng về đời sống xã hội và dự báo được sự phát triển tương lai của hình tháikinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
Việc cải tạo có tính chất sáng tạo các học thuyết xã hội chủ nghĩa, đặcbiệt là chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Pháp thế kỷ XIX với các đại biểu nhưXanh Ximông, Phuriê và Ôoen có vai trò quan trọng trong việc hình thànhtriết học Mác, đặc biệt là quan điểm duy vật về lịch sử và những dự báo vềtương lai cộng sản chủ nghĩa
1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên của sự hình thành triết học Mác
Sự ra đời của triết học Mác còn có tiền đề về khoa học tự nhiên Khoahọc này đòi hỏi phải phương pháp nghiên cứu từ siêu hình máy móc sangphương pháp biện chứng, nghĩa là trình bày sự phát triển của tự nhiên nhưmột quá trình vận động, liên hệ thống nhất
Trong quá trình phát triển của khoa học tự nhiên vào đầu thế kỷ thứ XIX,C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói đến ba phát minh lớn có ý nghĩa đối với sự hìnhthành triết học duy vật biện chứng, đó là: Định luật bảo toàn và chuyển hóanăng lượng, học thuyết tế bào và thuyết tiến hóa của Đácuynh
Phát minh thứ nhất: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng được
phát minh vào thời kỳ 1842-1845 bởi nhà vật lý học người Đức R.Mayer.Định luật này đã chứng minh cho luận điểm: Vận động của vật chất là phổbiến, các dạng vận động của vật chất đều chuyển hóa lẫn nhau; mọi vật đềukhông tự sinh ra, không tự mất đi, mà chúng chỉ chuyển hóa từ dạng tồn tạinày sang dạng tồn tại khác Phát minh này cho phép vạch ra được mối liên hệthống nhất giữa các hình thức vận động khác nhau của thế giới vật chất, rõràng sự xuất hiện của phát minh này đã cung cấp cơ sở khoa học để bảo vệvững chắc cho sự tồn tại của quan điểm duy vật biện chứng về thế giới
Trang 8Phát minh thứ hai: Học thuyết về tế bào được phát minh vào những năm
30 của thế kỷ XIX Nội dung học thuyết này khẳng định: Sự sống là sản phẩmphát triển của bản thân giới tự nhiên; mọi cơ thể dù là động vật hay thực vậtđều được cấu tạo từ những đơn vị mang sự sống rất nhỏ gọi là tế bào; quátrình không ngừng phân hóa và tăng trưởng của tế bào cũng là quá trình duytrì và phát triển của mỗi cơ thể sống, làm cho cơ thể ngày càng hoàn thiện…Như vậy học thuyết tế bào góp phần quan trọng vào việc khẳng định cơ sởkhoa học của sự thống nhất về mặt cấu tạo của các cơ thể động vật và thựcvật, đồng thời đã góp phần cho sự tồn tại và phát triển của sự sống Phát minhnày chứng minh cho sự thống nhất, sự phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp của thế giới sinh vật
Phát minh thứ ba: Thuyết tiến hóa của Đácuynh có vai trò to lớn đối với
quan niệm duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen Đácuynh đã chứng minh đượcrằng các loài đang tồn tại hiện nay được sinh ra từ các loài khác bằng conđường chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo C.Mác và Ph.Ăngghen nhấnmạnh rằng, cống hiến của Đácuynh đã góp phần xác định cơ sở khoa học củatính biến dị và di truyền giữa các loài, vạch trần sự xuyên tạc của những quanđiểm duy tâm, tôn giáo và thần học xung quanh học thuyết về sự phát triểncủa thực vật và động vật, giải thích tính chất biện chứng của sự phát triểnphong phú, đa dạng của giống loài trong thế giới tự nhiên hữu sinh Sự hìnhthành các khoa học tự nhiên mang tính lý luận như vậy đã làm cho triết học
về tự nhiên trước đây có tham vọng đóng vai trò “khoa học của các khoa học”như Ph.Ăngghen không còn nữa
C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử như một triết học phù hợp với sự phát triển của các khoahọc cụ thể (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội), đồng thời trở thành thếgiới quan và phương pháp luận cho các khoa học đó Như vậy sự xuất hiệncủa chủ nghĩa Mác và triết học của nó không phải là ngẫu nhiên mà là một
Trang 9hiện tượng hợp qui luật, như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống vàthực tiễn, nó do những nguyên nhân kinh tế xã hội và sự phát triển của tưtưởng nhân loại trước đó Khi sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác đã góp phần vạch ra những qui luậtvận động chung nhất của giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người Nhờ khắcphục được những thiếu sót cơ bản của triết học duy vật cũ mà triết học Mác
đã trang bị cho giai cấp vô sản và quần chúng lao động công cụ khoa học để
nhận thức và cải tạo thế giới
1.4 Nhân tố chủ quan của sự hình thành triết học Mác
Triết học Mác xuất hiện không chỉ là kết quả của sự vận động và pháttriển tất yếu từ các nhân tố có tính chất tiền đề khách quan về phương diệnkinh tế - xã hội, lý luận và khoa học tự nhiên như đã dẫn ở trên mà còn làkết quả của sự vận động và phát triển của nhân tố chủ quan Đó là thiên tàicủa C.Mác và Ph.Ăngghen, lập trường giai cấp vô sản và tình bạn vĩ đạicủa hai ông V.I.Lênin chỉ rõ rằng: “Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ởchỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại
đã nêu ra”2
C.Mác ngoài với tư cách là một nhà khoa học vĩ đại còn là một nhàcách mạng nồng nhiệt Ông coi khoa học trước hết là một động lực cáchmạng, triết học phải góp phần thúc đẩy sự nghiệp tổ chức phong trào côngnhân và cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, dành thắnglợi cho chủ nghĩa xã hội Ông có một trí tuệ uyên bác đặc biệt, có sự nhạycảm chính trị và tầm nhìn rộng lớn bao quát mọi lĩnh vực và ở nhiều lĩnh vựcông đã đưa ra được những kết luận thiên tài C.Mác đã tìm được ởPh.Ăngghen một người cùng tư tưởng, một người bạn, người đồng chí trungthành, người trợ lực gắn bó mật thiết trong sự nghiệp khoa học và đấu tranhcách mạng Nói về tình bạn vĩ đại này V.I.Lênin viết: “Giai cấp vô sản châu
2 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.49.
Trang 10Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà báchọc kiêm chiến sĩ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhấttrong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người”3.
Trước khi học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen xuất hiện phong tràocông nhân châu Âu còn mang tính chất tự phát, không có tổ chức Giai cấp vôsản chưa giác ngộ về địa vị thực sự của mình, chưa thấy con đường và biệnpháp đấu tranh đúng đắn chống áp bức bóc lột tư bản Sống trong phong tràocông nhân được tận mắt chứng kiến sự bất công giữa ông chủ tư bản và ngườilao động và thông cảm với họ nên C.Mác và Ph.Ăngghen đã đứng về phíanhững người cùng khổ, đấu tranh không mệt mỏi vì lợi ích của họ, trang bịcho họ một công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới với thiên tài khoahọc, lập trường giai cấp vô sản kiên định và tình bạn vĩ đại C.Mác vàPh.Ăngghen đã làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ không tưởng trở thànhkhoa học
Tóm lại: Triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như
một tất yếu lịch sử, không những vì nó là là sự phản ánh thực tiễn xã hội, nhất
là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mà còn là sự phát triển hợplôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÍNH SÁNG TẠO TRONG TRIẾT HỌC MÁC - GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỰ
2.1 Nội dung cơ bản của tính sáng tạo trong triết học Mác
2.1.1 Sáng tạo ra sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo ra hình thức cao nhất của chủ nghĩa duyvật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và hình thức cao nhất của phép biệnchứng là phép biện chứng duy vật Trong triết học mácxít, chủ nghĩa duy vật
và phép biện chứng có mối quan hệ hữu cơ với nhau
3 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 2, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.12.
Trang 11Trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, chủ nghĩa duyvật trước Mác đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển của khoa họctrong cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm Tuy nhiên trướckhi triết học Mác ra đời, trong suốt chiều dài lịch sử triết học, chủ nghĩa duyvật thường tách khỏi phương pháp biện chứng
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, có thể nói, đã có sự thống nhất nhất địnhgiữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng ở một số nhà triết họcduy vật Sự thống nhất này được thể hiện rõ nhất trong triết học của Hêraclít.Tuy nhiên, sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứngtrong triết học của Hêraclít còn ở trình độ thấp Hơn nữa, cả chủ nghĩa duyvật lẫn phương pháp biện chứng của Hêraclít đều còn ở trình độ thô sơ, chấtphác, đúng như Ph.Ăngghen đã đánh giá: "Cái thế giới quan ban đầu, ngâythơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng:mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi,mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh vàtiêu vong"4
Ở thời kỳ Phục Hưng và Cận đại, chủ nghĩa duy vật đã có bước pháttriển về chất so với chủ nghĩa duy vật thời Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, chủnghĩa duy vật thời kỳ này, về cơ bản, vẫn là chủ nghĩa duy vật siêu hình.Nghĩa là chủ nghĩa duy vật vẫn tách rời phương pháp biện chứng
Triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật Nhưng Mác khôngdừng lại ở chủ nghĩa duy vật của thế kỉ XVIII mà đưa nó lên một trình độ caohơn bằng cách tiếp thu có phê phán những thành quả của triết học cổ điểnĐức, nhất là của hệ thống triết học Hêghen, với thành quả chủ yếu là phépbiện chứng, tức là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển Tuynhiên, phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, vì vậy để sử
4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.35.
Trang 12dụng phép biện chứng đó C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo nó, đặt nó trên cơ
sở duy vật Trong khi thực hiện phê phán ông nồng nhiệt tiếp nhận quan điểmduy vật của triết học Phoiơbắc Song với tinh thần phê phán ông đã thấynhững mặt hạn chế, nhất là việc xa rời những vấn đề chính trị nóng hổi củaPhoiơbắc Sự phê phán sâu rộng triết học Hêghen, việc khái quát kinh nghiệmlịch sử cùng với ảnh hưởng quan điểm duy vật và nhân văn của triết họcPhoiơbắc đã tăng cường mạnh mẽ xu hướng duy vật trong quan điểm triết họccủa Mác
Chính trong quá trình cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, cảitạo chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc và phát triển tiếp chủ nghĩa duy vật, trên cơ
sở khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên và thực tiễn xã hội giữa thế kỉXIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo phép biện chứng duy vật hay chủnghĩa duy vật biện chứng Vì vậy để xây dựng triết học duy vật biện chứngMác đã phải cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ, siêu hình và cả phép biện chứngduy tâm Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi hạn chế siêu hình và phép biệnchứng ra khỏi chủ nghĩa duy tâm Mác đã tạo ra được sự thống nhất hữu cơgiữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng Mac xít là phép biện chứngduy vật
Như vậy, trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật gắn kết, thống nhất hữu
cơ với phương pháp biện chứng Chủ nghĩa duy vật được C.Mác làm giàubằng phương pháp biện chứng, còn phương pháp biện chứng được ông đặttrên nền chủ nghĩa duy vật Đồng thời, cả chủ nghĩa duy vật lẫn phương phápbiện chứng đều được C.Mác phát triển lên một trình độ mới về chất Do vậy,
sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứngtrong triết học Mác hơn hẳn về chất so với sự thống nhất giữa chủ nghĩa duyvật và phương pháp biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại Vì vậy, đâychính là bước phát triển sáng tạo trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghenthực hiện
Trang 132.1.2 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã đóng một vai trò to lớn đối với sựphát triển của xã hội, của khoa học và triết học Tuy nhiên, đó là chủ nghĩaduy vật không triệt để Nghĩa là nó chỉ duy vật trong giải thích thế giới tựnhiên, nhưng còn duy tâm trong giải thích xã hội, lịch sử, tinh thần Do vậy,chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không đánh đổ được chủ nghĩa duy tâmmột cách hoàn toàn Chủ nghĩa duy tâm vẫn còn nơi ẩn trú của nó là lĩnh vực
xã hội, lịch sử, tinh thần
Ngược lại, chủ nghĩa duy vật của C.Mác đã giải thích một cách duy vật,khoa học không chỉ thế giới tự nhiên, mà cả lĩnh vực xã hội, lịch sử, tinh thần
Do vậy, chủ nghĩa duy vật của C.Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để nhất, hoàn
bị nhất Không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin đã khẳng định: “Triết học củaMác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị”5 Rằng, “chủ nghĩa duy vậtlịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luậnkhoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện,vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”6.Như vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩđại nhất của tư tưởng khoa học chặt chẽ thống nhất và hoàn chỉnh Đây là mộttrong hai phát kiến vĩ đại của Mác Lần đầu tiên trong lịch sử C.Mác vàPh.Ăngghen đã gắn tự nhiên với xã hội, và coi xã hội là một bộ phận của tựnhiên, trước đó chưa có đại biểu nào có quan điểm đúng đắn ngay cả Phoi ơbắc khi đi nghiên cứu về xã hội lại rơi vào duy tâm thần bí
C.Mác khẳng định giới tự nhiên là thân thể vô của con người, con ngườisống bằng giới tự nhiên, đời sống thể xác và tinh thần của con người là gắnliền khăng khít với giới tự nhiên, con người là một bộ phận của giới tự nhiên.Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở thành con người đích thực khi nó được
5 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.54
6 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.53