1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG GIÁ TRỊ về bản THỂ LUẬN và PHÉP BIỆN CHỨNG của TRIẾT học DUY vật THỜI kỳ HY lạp cổ đại

17 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những giá trị về bản thể luận và phép biện chứngcủa triết học duy vật thời kỳ hy lạp cổ đại Hy lạp cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, với những thành tựu khoa học

Trang 1

Những giá trị về bản thể luận và phép biện chứng

của triết học duy vật thời kỳ hy lạp cổ đại

Hy lạp cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, với những thành tựu khoa học tự nhiên, văn học nghệ thuật và một nền triết học phát triển rực rỡ bao gồm những hệ thống, những trờng phái triết học khác nhau gắn liền với tên tuổi của những nhà triết học lớn, khởi đầu cho sự

ra đời và phát triển của triết học phơng Tây; góp phần vào quá trình phát triển lịch sử triết học nhân loại Có đợc sự phát triển rực rỡ đó phải nói đến nền tảng của phơng thức sản xuất và sự phát triển của kinh tế-xã hội ở Hy lạp cổ đại

Vào thế kỷ VI tr CN nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy lạp cực kỳ phát triển, đó là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời

đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Với việc xuất hiện các quan hệ tiền – hàng đã làm cho thơng mại và trao đổi hàng hoá thông thơng, phát triển Thời kỳ này ngời Hy lạp đã đóng

đợc thuyền lớn để vợt Địa Trung Hải tìm đến những vùng

đất mới, mở rộng lãnh thổ , tăng cờng giao lu văn hoá với các dân tộc ở các vùng lân cận Phơng thức sản xuất phát triển dần dần các quan hệ xã hội cũng thay đổi và đã xuất hiện những t tởng t hữu về của cải điều đó buộc mỗi ngời cần ý thức và suy nghĩ về lập trờng sống riêng cho phù hợp với hoàn cảnh mới Nhu cầu đó đòi hỏi sự ra đời của triết học, giúp cho con ngời xây dựng một nền tảng thế giới quan để xem xét nhìn nhận về tự nhiên và vai trò con ngời trong chinh phục thế giới

Trang 2

Sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay phát triển, sự phân chia lao động đã tạo điều kiện xuất hiện các tri thức triết học và khoa học, phá vỡ ý thức hệ thần thoại, tôn giáo Cho nên triết học mang tính giai cấp sâu sắc, là thế giới quan của giai cấp chủ nô và tri thức triết học dần dần trở thành t tởng thống trị trong xã hội nô lệ; sự phát triển đó đã làm xuất hiện hai trung tâm kinh tế- chính trị

điển hình là thành bang Aten và thành bang Spác Xã hội Hy Lạp lúc này có hai tầng lớp cơ bản đó là: tầng lớp chủ nô dân chủ ở thành bang Aten và tầng lớp chủ nô quý tộc ở thành bang Spác Tơng ứng với hai trung tâm kinh tế- chính trị này

là hai thể chế nhà nớc khác nhau về hình thức đó là nhà nớc chủ nô dân chủ Aten và nhà nớc chủ nô quân chủ Spác Sự khác nhau đó đã gây ra cuộc nội chiến tơng tàn và cuối cùng chiến thắng đã thuộc về thành bang Spác

Từ những nét đặc thù về kinh tế- chính trị, xã hội và những tiền đề về khoa học ấy, triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, sự phân chia và đối lập giữa các trờng phái triết

học, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần

và hữu thần là nét nổi bật của quá trình phát sinh, phát triển triết học; trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai “đờng lối” triết học: đờng lối duy vật của Đêmôcrít và đ-ờng lối duy tâm của Platôn Triết học Hy lạp ngay từ đầu đã mang tính giai cấp sâu sắc đó là thế giới quan, ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị

Trang 3

Thứ hai, các hệ thống triết học Hy lạp cổ đại nói chung

đều có xu hớng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thể luận và nhận thức luận, là những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Trên cơ sở đó giúp cho các nhà triết học có cơ sở chống lại những quan điểm mê tín, dị đoan và những điều vô lý trong thần thoại

Thứ ba, nền triết học Hy Lạp cổ đại nói chung còn ở trình

độ trực quan, chất phác, mộc mạc, sơ khai

Thứ t, triết học Hy Lạp cổ đại luôn gắn với khoa học tự

nhiên, nhìn nhận tự nhiên với bức tranh tổng thể để xem xét, giải đáp về tự nhiên một cách thuyết phục

Những nét đặc trng này không chỉ là cái phân biệt giữa hai nền triết học Đông- Tây cổ đại mà còn nói lên vị trí và vai trò của triết học Hy Lạp cổ đại đối với lịch sử triết học thế giới, nó đặt nền tảng cho sự phát triển triết học Tây

Âu sau này

Do nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất xã hội nên lực lợng sản xuất từng bớc phát triển đó cũng là sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Chính sự phát triển các ngành khoa học ấy nó lại tạo ra điều kiện để phát triển lực lợng sản xuất Vì lực lợng sản xuất thời kỳ này ở Hy Lạp cổ đại yêu cầu ngày càng cao đối với khoa học và t tởng tiên tiến T tởng Hy Lạp cổ đại cũng đan xen hình thành phát triển với các khoa học khác do yêu cầu sản xuất vật chất phát triển Những tri thức này tuy ở hình thái sơ khai nhng đều đợc trình bày trong hệ thống triết học tự nhiên của các nhà triết học cổ

đại Khoa học lúc đó cha phân ngành, các nhà triết học

Trang 4

đồng thời là nhà khoa học nh: toán học, vật lý học, thiên văn học Nh vậy, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi mới ra đời

đã gắn với nhu cầu thực tiễn và gắn liền với khoa học Sự hình thành và phát triển t tởng triết học Hy Lạp cổ đại liên tục gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các lực lợng xã hội đối lập, đó là lực lợng đại diện cho chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc bảo thủ muốn duy trì xã hội chiếm hữu nô lệ Chính

đó là cuộc đấu tranh gay gắt giữa nô lệ và chủ nô Đấu tranh gay gắt giữa khoa học và tôn giáo, giữa t tởng duy vật với t tởng thần thánh

Những nhà triết học tiêu biểu ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại là: TaLét (626- 547 tr.CN), Anaximanđrơ (610- 546 tr.CN), Anaximen (585- 525 tr.CN), Hêraclít (520- 460 tr.CN), Pitago (571- 479 tr.CN), Lơxíp (500- 440 tr.CN), Đêmôcrít (460- 370 tr.CN), Platôn (472- 347 tr.CN), Arixtốt (384- 322 tr.CN) những quan điểm triết học gắn liền với t tởng chính trị của

họ là cơ sở lý luận cho sự hoạt động tiến bộ của tầng lớp tiên tiến trong giai cấp chủ nô Sự nảy nở rực rỡ của các trào lu t t-ởng triết học Hy Lạp cổ đại có liên hệ mật thiết và chịu ảnh hởng của triết học phơng Đông cổ đại Vào thời kỳ khoa học phát sinh ở Hy Lạp, thì ở phơng Đông đã tích luỹ đợc những tri thức đáng kể về thiên văn học, hình học, đại số, y học các nhà bác học lớn của Hy Lạp cổ đại phần nhiều đã tới Ai Cập, Babilon nghiên cứu và học tập Những mầm móng về quan niệm duy vật và vô thần của các nhà triết học Ai Cập

và Bibalon có ảnh hởng tích cực đến sự phát triển của triết học ở Hy Lạp cổ đại Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Nhng

Trang 5

đời sống chính trị ở Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan

hệ thơng mại với nhiều nớc khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nớc ấy, sự quan sát các hiện tợng tự nhiên một cách trực tiếp nh một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần qui định

và làm phát triển thế giới quan duy vật tự phát và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các tri thức khoa học sơ khai, triết học Hy Lạp cổ đại đã đề cập tới những vấn đề cơ bản của thế giới quan theo nghĩa hiện đại tuy còn ở trạng thái mầm móng Triết học Hy Lạp cổ

đại tuy thô sơ, mộc mạc tự phát nhng về cơ bản nó đã phản

ánh đúng thế giới trong sự vận động và phát triển thế giới Nên những giá trị và những t tởng triết học tích cực của nó cũng có ý nghĩa rất to lớn trong đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, t tởng thần thoại tạo cơ sở cho khoa học và triết học phát triển

Ngay từ khi mới ra đời triết học duy vật Hy Lạp cổ đại cũng thể hiện rõ tính biện chứng sơ khai của nó Mặc dù ngay thời kỳ này sự phân chia khuynh hớng triết học đã khá

rõ rệt nhng nhìn chung nó mang tính duy vật tự phát Ngay

từ khi mới ra đời, nó đã tìm cách giải thích thế giới nh một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật vận động và biến

đổi không ngừng Ngoài ra triết học Hy Lạp cổ đại còn thể hiện ở chỗ nó là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội Hy Lạp và La Mã lúc bấy giờ Nh vậy, ngay từ đầu nó mang tính giai cấp sâu sắc Tính giai cấp của một học thuyết triết học, theo các nhà nghiên cứu, không

Trang 6

chỉ thể hiện ở chỗ học thuyết đó biểu hiện lập trờng của một giai cấp hay một đảng phái nào đó, mà còn thể hiện t t-ởng của một khuynh hớng, trào lu triết học nhất định Những mâu thuẫn trong xã hội cổ đại đợc thể hiện trong cuộc đấu tranh về t tởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp, tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh giữa hai đờng lối triết học Đêmôcrít

và đờng lối triết học Platôn Đây cũng là cuộc xung đột của hai thế giới quan xuất hiện đầu tiên trong triết học Nó liên quan đến thế giới quan, phơng pháp luận trong triết học trong giải quyết tính đảng, tính chính trị, tính xu hớng Từ những điều kiện kinh tế, xã hội và những đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại có thể khái quát những giá trị của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại trên các mặt sau:

Về bản thể luận

Trớc tiên phải kể đến trờng phái triết học Milê, trờng phái triết học này cũng xuất hiện ở cái nôi triết học đầu tiên của

Hy Lạp cổ đại là Iônia Điểm tiến bộ của các nhà triết học duy vật này đều xuất phát từ các tầng lớp tiến bộ trong giai cấp chủ nô, họ có nhiều t tởng khác với các quan niệm thần thoại

và tôn giáo nguyên thuỷ thống trị hồi đó Chủ yếu lý giải các vấn đề bản chất và khởi nguyên của thế giới dựa trên một số các tri thức khoa học sơ khai có đợc thời đó, coi toàn bộ thế giới chúng ta nh một chỉnh thể thống nhất, sinh ra từ một khởi nguyên duy nhất nh: nớc, lửa, không khí để giải thích thế giới, có thể có nhìn nhận khác nhau, nhng cái chung là nghiên cứu sự tồn tại trong tự nhiên vốn có của sự vật Chẳng hạn, nh Talét thành tựu nổi bật của ông là giải thích tự nhiên

Trang 7

không phải bằng tín điều tôn giáo, mà bằng nghiên cứu hiện thực, xuất phát từ việc quan sát trực tiếp sự vật, ông cho rằng nớc giữ vai trò trực tiếp quan trọng trong tự nhiên cũng nh trong đời sống con ngời, cũng nh mọi thức ăn, mọi sự vật

đều ẩm ớt, hạt giống của mọi sự vật đều ẩm ớt nguồn gốc

ẩm ớt của vật thể chính là nớc, không có nớc là không có gì cả Vì thế, Talét cho rằng nớc là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật, tất cả bắt đầu từ nớc, rồi trở lại về với yếu tố cuối cùng là nớc

Nhà triết học Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở của mọi vật trong vũ trụ là một dạng vật chất đơn nhất, vô định, vô hạn

và tồn tại vĩnh viễn là chất Apâyrôn, theo Anaximăngđrơ,

Apâyrôn luôn ở trạng thái vận động không ngừng, từ đó tạo

ra những mặt đối lập nh nóng và lạnh, khô và ớt, sinh ra và chết đi… Qúa trình vận động và chuyễn hoá của những mặt đối lập là nguồn gốc của mọi sự vật: cái lạnh và ớt kết lại thành đất, cái nóng và khô toả ra xung quanh tạo nên các thiên thể mặt trời, mặt trăng và các vì sao vận động xung quanh trái đất Nhng so với quan niệm của Talét thì quan niệm về vật chất của Anaximăngđrơ có bớc phát triển mới Bởi vì, ông coi vật chất khởi nguyên không phải là một dạng vật chất cụ thể nh nớc, cũng không phải là một vật thể có

kích thớc có khối lợng Apâyrôn là một yếu tố vật chất khởi

nguyên, khó nhận thức bằng giác quan, phản ánh ở mức độ trừu tợng hơn Talét Với quan niệm nh vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học duy vật Hy Lạp cổ đại vật chất không bị

đồng nhất với một vật thể cụ thể Mặc dù còn mang nặng tính chất ngây thơ, chất phác, nhng quan niệm nh vậy đã là

Trang 8

một bớc tiến mới rất tích cực trong quá trình nhận thức vật chất, bớc nhảy vọt mới về trình độ t duy trừu tợng của ngời

Hy Lạp cổ đại

Còn Anaximen cho không khí là căn nguyên của mọi vật

Không khí theo ông là một loại vật chất ẩm và nóng không có

hình dạng nhất định và mờ tối Không khí sinh ra mọi vật bằng sự tản ra hay tụ lại của nó; không khí gặp nóng sẽ tản

ra thành lửa, gặp lạnh sẽ ngng tụ lại thành nớc, thành đất, thành đá Điểm tiến bộ tích cực của ông cống hiến cho triết học duy vật là dành nhiều công sức để nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ trên quan điểm vô thần Ông bác bỏ những chuyện hoang đờng về thần thánh và khẳng định rằng mọi

nguyên nhân của sự vật đều quy về không khí vô hạn Ông

là ngời đầu tiên phát hiện ra ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời; ma đá là do nớc trong không khí ngng đọng lại và cầu vồng là sự phản chiếu của

ánh sáng mặt trời

Nói đến giá trị đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp

cổ đại là phải liên hệ chứng minh các đại biểu của trờng phái nguyên tử luận, đại biểu sáng giá nhất là Đêmôcrít, đồng quan điểm với thầy mình là Lơxíp để phát triển thuyết

nguyên tử luận lên một trình độ mới Ông cho rằng, nguyên tử

là cơ sở cấu tạo nên vạn vật, nguyên tử là hạt vật chất cực

nhỏ, không nhìn thấy đợc, không phân chia đợc, không mùi

vị, không âm thanh, không màu sắc, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và t thế Dới con mắt của Đêmôcrít, mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều

Trang 9

đ-ợc tái tạo từ các nguyên tử và khoảng không; nguyên tử vô hạn

về số lợng và hình thức nhng mỗi nguyên tử lại có hình thức xác định Theo ông các sự vật hiện tợng đều do nguyên tử cấu tạo nên, các nguyên tử kết hợp với nhau theo một trật tự

xác định, sự liên kết khác nhau đã quy định bản chất khác nhau của sự vật Sự xuất hiện hay mất đi của sự vật này hay

sự vật khác là kết quả việc kết hợp hay phân tán của các

nguyên tử trong quá trình vận động trong khoảng không và

tuân theo những quy luật tự nhiên Mọi biến đổi của sự vật

thực chất là sự thay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng Còn bản thân mỗi nguyên tử thì không thay

đổi gì cả

Theo ông động lực vận động vĩnh viễn của nguyên tử là

động lực tự thân nó Quan niệm ấy có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu vận động trên quan điểm duy vật, ông cho

rằng vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, nguyên nhân

vận động là tự bản thân nó, nguồn gốc của sự vận động

của các nguyên tử là do sự va chạm.

Với thành tựu triết học rực rỡ của Đêmôcrít đã đa chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại lên một đỉnh cao mới Mặc dù chủ nghĩa duy vật của ông cha thoát khỏi tính chất thô sơ, chất phác, còn mang tính chất máy móc siêu hình nhng so với triết học duy vật của các trờng phái trớc đó, đã thể hiện

đợc tính trừu tợng và tính khái quát cao trong định nghĩa vật chất; đã có những quan niệm đúng đắn về mối liên hệ không thể tách rời giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Ông cũng là ngời đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho chủ

Trang 10

nghĩa vô thần Công lao lịch sử của ông đợc thể hiện rõ trong cuộc đấu tranh bền bỉ để bảo vệ, truyền bá chủ nghĩa duy vật, chống lại một cách quyết liệt chủ nghĩa duy tâm và thần học ở Hy Lạp cổ đại

Tóm lại, dới góc độ bản thể luận và vũ trụ quan sơ khai

giá trị cống hiến của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là phản

ánh thế giới đúng đắn, có tác dụng thúc đẩy tiến bộ xã hội, sản xuất, văn hoá, khoa học trong xã hội chiếm hữu nô lệ nói riêng và cho nhân loại nói chung Nét nổi bật của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc thô sơ của nó

Nó giải thích tự nhiên trên quan điểm duy vật thuần phác,

theo Ăngghen, đó là “quan niệm về thế giới một cách nguyên

thuỷ, ngây thơ, nhng căn bản là đúng”1 Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan Thế giới đó không do thần thánh hoặc do một lực lợng siêu nhiên nào tạo nên Quan niệm duy vật thô sơ của các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đóng góp vào trong cuộc

đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổ đại

Về phép biện chứng

Hêraclít là ngời có công đóng góp những giá trị to lớn về phép biện chứng Hy lạp cổ đại Ông là đại biểu điển hình nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong giai

đoạn đầu của triết học Cống hiến lớn nhất và nổi tiếng của

ông là triết học duy vật với rất nhiều yếu tố biện chứng có giá trị, tuy ông cha trình bày dới dạng một hệ thống các luận

1 Ăng ghen, chống Đuy- rinh, Nxb, ST, HN, 1984, tr 32.

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w