1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của tổng công ty may 10 công ty cổ phần tại thị trường hà nội

107 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Trần Đình Hạnh Tên Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 – Công ty cổ phần tại thị trường Hà Nội Ngành: Quản

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN ĐÌNH HẠNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM

ÁO SƠ MI CỦA TỔNG CÔNG TY MAY 10 – CÔNG TY

CỔ PHẦN TẠI THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.01.02 Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng Tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc, chưa được công bố

và sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ

rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Đình Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được

sự giúp đỡ, chia sẻ của các Thầy Cô giáo trong Khoa kế toán và Quản trị kinh doanh cùng gia đình và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp

Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Marketing, đặc biệt là thầy PGS.TS.Trần Hữu Cường là người đã dành thời gian trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Tổng công ty May 10 cùng toàn thể cán

bộ công nhân viên của công ty đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt nhất đến gia đình thân yêu và những người bạn đã cùng đồng hành, động viên tôi trong suốt chặng đường vừa qua

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Đình Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Trích yếu luận văn vi

Thesis abstract vii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm 4

2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm 4

2.1.1 Các khái niệm 4

2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp 10

2.1.3 Nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm 12

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 15

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

2.2.1 Giới thiệu về đặc điểm sản phẩm và thị trường của ngành may 21

2.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài 24

2.2.3 Kinh nghiệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước 27

2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn 29

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Đặc điểm của địa bàn Hà Nội 31

3.1.2 Đặc điểm của đơn vị nghiên cứu 32

3.2 Phương pháp nghiên cứu 39

3.2.1 Khung nghiên cứu 39

Trang 5

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 40

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 41

3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44

4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ min của tổng công ty may 10 trên thị trường hà nội 44

4.1.1 Năng lực cạnh tranh về giá 44

4.1.2 Chất lượng sản phẩm 47

4.1.3 Kiểu dáng mẫu mã sản phẩm 51

4.1.4 Đa dạng hóa sản phẩm 52

4.1.5 Uy tín thương hiệu sản phẩm 54

4.1.6 Quản trị hệ thống phân phối 57

4.1.7 Tổng hợp ý kiến khách hàng về năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 trên thị trường Hà Nội 59

4.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 62

4.2 Định hướng phát triển và mục tiêu 77

4.2.1 Định hướng phát triển 77

4.2.2 Mục tiêu 77

4.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của tổng công ty may 10 trên thị trường hà nội 78

4.3.1 Các giải pháp về nhân lực 78

4.3.2 Các giải pháp về tài chính 84

4.3.3 Mở rộng kênh phân phối trên thị trường Hà Nội 85

4.3.4 Các giải pháp về sản phẩm 87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92

5.1 Kết luận 92

5.2 Một số kiến nghị 93

5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước 93

5.2.2 Kiến nghị với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatas) 95

Tài liệu tham khảo 96

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty May 10 giai đoạn

2007 - 2011 38

Bảng 4.1 Giá một số dòng sản phẩm sơ mi của Tổng công ty May 10 năm 2015 45

Bảng 4.2 Kết quả phân tích về giá sản phẩm áo sơ mi của công ty và đối thủ 45

Bảng 4.3 Danh sách Top 10 doanh nghiệp ngành May - Thêu đạt Hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 2012 đến 2014 49

Bảng 4.5 Kết quả phân tích về kiểu dáng áo sơ mi của công ty và đối thủ 52

Bảng 4.6 Kết quả phân tích về chủng loại áo sơ mi của công ty và đối thủ 53

Bảng 4.7 Danh sách top 25 doanh nghiệp đạt giải thưởng Sao vàng Đất Việt 55

Bảng 4.8 Kết quả phân tích về thương hiệu sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 và đối thủ 56

Bảng 4.9 Hệ thống cửa hàng, đại lý, trung tâm thương mại của May 10, Việt Tiến và Nhà Bè tính đến tháng 12 năm 2015 57

Bảng 4.10 Kết quả phân tích về hệ thống phân phối áo Sơ mi của công ty và đối thủ 59

Bảng 4.11 Tổng hợp phiếu điều tra về đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của công ty và đối thủ cạnh tranh 60

Bảng 4.12 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) của công ty và đối thủ trên thị trường Hà Nội 61

Bảng 4.13 Một số nhà cung cấp nguyên vật liệu chính cho Tổng công ty May 10 63

Bảng 4.14 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Tổng công ty qua 3 năm 2013 – 2015 68

Bảng 4.15 Tổng hợp một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của các công ty cùng ngành trong 3 năm 2012 – 2014 68

Bảng 4.16 Tình hình lao động của Tổng công ty qua các năm 72

Bảng 4.17 Năng suất lao động của May 10, Nhà Bè và Việt Tiến năm 2015 74

Bảng 4.18 Thu nhập trung bình của một số công ty ngành may mặc 75

Trang 7

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Đình Hạnh

Tên Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty

May 10 – Công ty cổ phần tại thị trường Hà Nội

Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi cho tổng công ty trong thời gian tới Cụ thể, đề tài muốn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp may nói riêng, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu chủ yếu là thông qua dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp Từ đó xử lý số liệu theo yêu cầu của đề tài, chủ yếu sử dụng phần mềm Excel để tính toán Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu để đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của doanh nghiệp, bao gồm: Giá bán sản phẩm, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, kiểu dáng mẫu mã, uy tín thương hiệu sản phẩm, hệ thống phân phối

Kết quả chính và kết luận

Tổng công ty May 10 có áo sơ mi làm sản phẩm chủ đạo Trong 3 năm qua, lợi nhuận công ty năm sau cao hơn năm trước Xét trên thị trường Hà Nội, có hai đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty là Tổng công ty May Nhà Bè và Công ty cổ phần May Việt Tiến Với các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm thì khách hàng luôn đánh giá công

ty tốt hơn so với may Nhà Bè, tuy nhiên lại chưa bằng được so với may Việt Tiến

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của May 10 bao gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Trong đó yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là nguồn nguyên liệu đầu vào thường phải nhập khẩu và chi phí cao; thường khó khăn trong việc huy động vốn để đầu tư trang thiết bị, máy móc, ; nguồn lao động thường có biến động lớn

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm áo sơ mi của công ty, đề tài tập trung đưa ra năm giải pháp trong đó có ba giải pháp trọng tâm là giải pháp nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm; giải pháp thứ hai là hạ giá bán sản phẩm bằng cách hạ chi phí liên quan; tiếp đó là giải pháp xúc tiến hỗn hợp

Trang 8

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Tran Dinh Hanh

Thesis title: Stimulating the competitiveness of T-shirt product of GARCO 10 in

Hanoi market

Major: Business Administration Code: 60.34.01.02

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

The overall objective of this research is to evaluate product competitiveness shirt Corporation May 10, which proposes a number of measures to enhance product competitiveness T-Shirt’s for corporations in next time Specifically, subjects to contribute

to systematize the theoretical issues and practical about the competitiveness of businesses

in general and garment enterprises in particular, analyze the actual product competitiveness T-Shirt’s Corporation May 10 main measures proposed in order to improve product competitiveness shirt Corporation May 10 in the near future

Materials and Methods

The study used both primary data and secondary data The data was processed by Excel software The system of indicators applied to assess the T-Shirt’s competitiveness includes: prices, product quality, product diversification, designs and models, brand and distribution system

Main findings and conclusions

T-shirt is the mainstream product of GARCO 10 Over the last three years, the profit increases year after year In Hanoi market, Viet Tien Garment Joint Stock Company ,Nha Be Garment Corporation are the two closest competitors of the GARCO 10 With these indicators to assess the competitiveness of products, customers always evaluate the company better than the Nha Be Garment Corporation, however, be less than Viet Tien JSC

Factors affecting to T-shirt’s competitiveness of Garment 10 company include the external and internal factors Of which, the most influential factors are the high cost of input metarials, the capital for equipment and machinery investment; the unstable labor force

In order to stimulate the T-Shirt product competitiveness for the Garment 10 company, the thesis has suggested five sollutions, especially there are three focal sollutions including: increase the product quality and product diversification; lower the product price

by reducing the involved costs; mix promotion strategy

Trang 9

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, trong cùng một thị trường càng có nhiều doanh nghiệp hoạt động thì cạnh tranh càng trở lên khốc liệt và phức tạp hơn Đối với nền kinh tế hội nhập hiện nay, môi trường kinh doanh biến động không ngừng, diễn biến phức tạp và đầy rủi ro, từ đó áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Do vậy muốn tồn tại và phát triển thì chính bản thân mỗi doanh nghiệp phải khẳng định được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề luôn được các doanh nghiệp quan tâm và thực hiện

Một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù mới thành lập hay đã thành lập từ lâu,

dù mạnh hay yếu muốn tồn tại được đều phải có năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh về sản phẩm Những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sản phẩm yếu, trong thời gian dài không tạo ra được lợi thế cạnh tranh sản phẩm ắt sản phẩm đó sẽ ngừng sản xuất hay bị thị trường đào thải Ngay cả đối với những doanh nghiệp đã giành thắng lợi, có vị thế tốt trong cạnh tranh sản phẩm hiện tại thì cũng rất có thể bị bại trong tương lai nếu không chủ động nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình

Tổng công ty May 10 là một công ty cổ phần đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường Cũng giống như bất kỳ một công ty nào, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là rất cần thiết Đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập như ngày nay tại Việt Nam Doanh nghiệp đang phải đối diện với những vấn đề rất khó khăn về công nghệ, năng lực tài chính, đội ngũ lao động, năng lực quản lý… Thực tế doanh nghiệp đang bộc lộ những hạn chế và khiếm khuyết trong vấn đề làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình so với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong ngành Năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là mục tiêu cơ bản của sản xuất, kinh doanh, có sản phẩm tốt, thương hiệu tốt thì uy tín của nhà sản xuất mới có chỗ đứng trên thị trường cho sản phẩm của mình và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Do đó để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình thì các công ty

Trang 10

may mặc trong nước nói chung và Tổng công ty May 10 nói riêng cần nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển chủng loại, mẫu mã, bao bì sản phẩn và tăng cường cạnh tranh qua giá sản phẩm, hệ thống phân phối và xúc tiến bán hàng

Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, trên thị trường nội địa Tổng công ty May 10 đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, phải cạnh

tranh với các doanh nghiệp trong nước như Tổng Công ty Cổ Phần May Việt Tiến, Tổng Công ty May Nhà Bè, Công ty cổ phần dệt may đầu tư - thương mại

Thành Công,… và cả các đối thủ cạnh tranh nước ngoài như Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp, Nhật Nhận thức được vấn đề trên, tác giả nhận thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa cho các sản phẩm của ngành nói chung, cũng như Tổng công ty May 10 nói riêng là cần thiết Nhận thức vấn đề trên, qua quá trình nghiên cứu hoạt động kinh doanh của Tổng công ty May 10,

tác giả chọn để tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 – Công ty cổ phần tại thị trường Hà Nội ” làm đề tài

luận văn thạc sỹ với mong muốn tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp công ty thực hiện cạnh tranh thành công trên thị trường Hà Nội

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May

10, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

áo sơ mi cho tổng công ty trong thời gian tới

- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp may nói riêng

- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10

- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

áo sơ mi của Tổng công ty May 10 trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Trang 11

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi về: số lượng, chất lượng, chủng loại của Tổng công ty May 10 trên thị trường Hà Nội

- Về không gian: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo sơ mi của Tổng công ty May 10 và một số đối thủ cạnh tranh chính trên địa bàn khu vực Hà Nội

- Về thời gian:

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5/2015 đến tháng 9/2016

Thời gian lấy số liệu: Thứ cấp: Từ năm 2013- 2015

Sơ cấp: Năm 2016

Trang 12

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM

2.1.1 Các khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia Khái niệm chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân

Theo Từ điển Kinh tế chính trị học, cạnh tranh là cuộc đấu tranh có tính chất đối kháng giữa những người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành các điều kiện có lới nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa

- Theo Từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh là hoạt động tranh nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau

- Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh

tế học cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo

- Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống

Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó

- Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm

2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm

Trang 13

quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian

Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây:

Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

- Phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng

mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm

ra và được người mua chấp nhận Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình

- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể,

đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và ở trên thị trường

- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nước)

Cạnh tranh trong kinh tế giữa các doanh nghiệp là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp để giành lấy phần thắng, phần hơn về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trình kinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng và bền vững

Vai trò của cạnh tranh hàng hóa

Cạnh tranh hàng hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế Một mặt nó

giúp loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, mặt khác nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả có cơ hội phát triển

Cạnh tranh hàng hóa rút ngắn khoảng cách từ sản xuất tới tiêu dùng, do cạnh tranh ngày càng quyết định các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu để

có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất

Trang 14

Doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí sản xuất sản phẩm, tăng năng suất nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, cũng như cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tốt với giá rẻ hơn đối thủ cạnh tranh

Để đạt được mục tiêu, doanh nghiệp buộc phải sử dụng hợp lý nguyên liệu đầu vào, tránh lãng phí Đồng thời đổi mới công nghệ sản xuất, mua sắm dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm tăng năng suất chất lượng sản phẩm Như vậy, cạnh tranh hàng hóa buộc các doanh nghiệp phải sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn

và phải áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất

Phân loại cạnh tranh

Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa người sản xuất với nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng và giữa những người mua với nhau

Dưới góc độ thị trường thì có hai loại cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy và cạnh tranh không hoàn hảo [8,tr.125]

Dưới góc độ các công đoạn sản xuất- kinh doanh, người ta cho rằng có ba loại: cạnh tranh trước khi bán hàng và trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng

Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Ngày nay phát triển cách phân loại trên các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang

Xét theo phạm vi lãnh thổ, người ta nói tới cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế

Cạnh tranh sản phẩm là một bộ phận của cạnh tranh kinh tế, do vậy những tiền đề xây dựng khái niệm cạnh tranh kinh tế cũng có giá trị như

là những tiền đề để nghiên cứu khái niệm cạnh tranh sản phẩm

2.1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Khi nói đến khái niệm năng lực cạnh tranh người ta rất khó có thể định nghĩa chung chung, thông thường định về năng lực cạch tranh thường sẽ định nghĩa cụ thể hơn về phạm vi cũng như cấp độ

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho các

Trang 15

doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Sức cạnh tranh là khả năng của các

doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Định nghĩa này đã phản ánh được

khái niệm cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân

Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive Power)

là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp

(Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội)

Các cấp độ năng lực cạnh tranh:

Năng lực cạnh tranh thường được nhìn nhận dưới ba cấp độ đó là năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Mỗi cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó năng lực cạnh tranh sản phẩm là cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và tổng hợp lại góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia

Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Theo định nghĩa của WEF (1997) thì:

Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô Đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”

Năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp): Năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao Một nhà sản xuất được gọi là nhà sản xuất có khả năng cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng sản phẩm chất lượng cao với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghệp là tổng hợp các yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng, phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một môi trường và thị trường cạnh tranh xác định trong một khoảng thời gian nhất định

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa:Là khả năng đáp ứng nhu

cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương

Trang 16

hiệu, bao bì hơn hẳn so với sản phẩm hàng hóa cùng loại Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa quy định toàn bộ marketing- mix khi định giá Nếu sản phẩm được định vị dựa trên những yếu tố phi giá cả, thì các quyết định về chất lượng, quảng cáo và phân phối sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên giá cả Nếu giá cả là một yếu tố định vị chính yếu thì giá cả sẽ ảnh hưởng mạnh lên những quyết định đối với các yếu tố khác của marketing- mix

Trong đề tài này xét tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính lý học, hóa học, sinh học, có thể quan sát được dùng để thỏa mã những nhu cầu cụ thể của đời sống

Theo quan niệm marketing, sản phẩm là thức có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút chú ý, mua sắm và tiêu dùng Theo

đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản: Yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất

Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng tốt các yếu tố: Chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian giao hàng và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Với sản phẩm thuần túy thì không thể tự cạnh tranh với nhau, chỉ có sự cạnh tranh của các chủ thể thông qua sản phẩm Nghĩa là doanh nghiệp này cạnh tranh với doanh nghiệp khác, quốc gia này cạnh tranh với quốc gia khác Vì vậy, nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sản phẩm tức là đang gián tiếp nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo nghĩa hẹp quan niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự biểu hiện “tính trội” của sản phẩm về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyển của

nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế, chiếm ưu thế trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm

Theo nghĩa rộng, năng lực cạnh tranh sản phẩm, ngoài những yếu tố gắn với năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa hẹp, còn phải xem các yếu tố khác như các điều kiện sản xuất kinh doanh, các điều kiện gắn với tiêu thụ sản phẩm, các công cụ và biện pháp mà các chủ thể dùng có hiệu quả trong cạnh tranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các thuận lợi khác cho mình

Trang 17

Với cách đặt vấn đề trên có thể hiểu khái quát năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa rộng là: Tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với sản phẩm cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành năng lực cạnh tranh được chủ thể dùng trong ganh đua với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng

và đem lại nhiều lợi ích cho chủ thể tham gia cạnh tranh

Mối quan hệ năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra Nhưng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của sản phẩm, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng một doanh nghiệp tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các hàng hóa cũng như năng lực của doanh nghiệp để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới

Trong quá trình kinh doanh có nhiều yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như các yếu jtoos do doanh nghiệp chi phối đó la chiến lược cạnh tranh, đào tọa lao động và công tác Marketing Ngoài ra, còn có các yếu tố thuộc môi trường ngoài doanh nghiệp như đối thủ cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách thương mại của đối thủ,

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại Lợi thế của hàng hóa bao gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến Đó là giá cả, chất lượng, hình thức, chủng loại hàng hóa, Qua khái niệm trên, có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao phải có hàng hóa có năng lực cạnh tranh cao

Trang 18

Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là cốt lõi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.1.1.3 Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của

nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu) Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh [7,tr.108]

Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoàn thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm

đó trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau Vì vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác

Vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là việc doanh nghiệp thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hoặc cải thiện nội dung cấu thành năng lực cạnh tranh sản phẩm nhằm tăng thị phần, vị thế cạnh tranh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp

2.1.2.1 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh làm cho giá cả sản phẩm giảm Trên thị trường không chỉ có một nhà cung cấp sản phẩm mà còn có nhiều nhà cung cấp sản phẩm Với cùng một loại sản phẩm hoặc cùng chủng loại sản phẩm với các mẫu mã, chất lượng, tính năng, công dụng như nhau, doanh nghiệp nào bán ra với giá rẻ hơn các đối thủ thì sẽ chiếm lĩnh được khách hàng Bởi vì người tiêu dùng luôn tìm đến nơi có sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ để mua Và ngược lại,

Trang 19

doanh nghiệp nào bán sản phẩm với giá cao sẽ bán chậm hoặc sẽ không bán được sản phẩm Vì vậy, để bán được sản phẩm các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau và đẩy giá sản phẩm giảm xuống Do vậy, các doanh nghiệp cần phải tối

ưu các yếu tố đầu vào để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, từ đó định ra giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh tranh

Nhờ có nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm mà nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng được đáp ứng và thỏa mãn Do trên thị trường có nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp cung cấp nhiều sản phẩm với chủng loại, mẫu mã khác nhau nên có kích thích nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng Người tiêu dùng được quyền chọn mua những sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ, đáp ứng được nhu cầu của mình Hơn nữa, để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng tính cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp phải thay đổi dây truyền sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất Người sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch Do

đó, cạnh tranh là áp lực đối với người sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội ngày càng phát triển

Để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải giữ “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng lên Trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, chỉ doanh nghiệp nào cung cấp sản phẩm chất lượng tốt, mấu mã đẹp, giao hàng đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời hạn, dịch vụ bảo hành, chăm sóc khách hàng tốt sẽ dự trữ được “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng và sẽ chiếm lĩnh được thị trường Ngược lại, doanh nghiệp nào không giữ được “chữ tín” với khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp đó sẽ giảm, người tiêu dùng không còn tin tưởng vào tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp đó nữa Doanh nghiệp đó sẽ không có chỗ đứng trên thị trường

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có vai trò sắp xếp lại thị trường Trên thị trường bây giờ không chỉ có một nhà cung ứng mà có nhiều nhà cung ứng sản phẩm Các nhà cung ứng này giành giật nhau thị phần trên thị trường Để

có thể tồn tại trên thị trường các doanh nghiệp cần phải xác định mình kinh doanh sản phẩm gì và tập trung vào đối tượng khách hàng nào để khai thác tốt đối tượng khách hàng đó và dần chiếm lĩnh thị trường

Tuy nhiên, nhu cầu của khách hàng là đa dạng và nguồn lực doanh nghiệp

Trang 20

là có hạn nên mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng hết tất cả nhu cầu của khách hàng và do đó không thể chiếm lĩnh hết thị trường mà chỉ khai thác được một phần của thị trường

2.1.2.2 Ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với từng doanh nghiệp mang ý nghĩa sống còn Nó giúp doanh nghiệp phát huy được nội lực của mình, phát huy được những lợi thế cạnh tranh của bản thân để có những quyết định sáng suốt góp phần vào sự phát triển bền vững của công ty

Nâng cao năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc tăng thị phần cho doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ nắm thế chủ động trong việc tìm kiếm nhu cầu, thoả mãn nhu cầu và không dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh điều khiển Nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở giảm chi phí kinh doanh làm tăng

số lượng sản phẩm bán ra và tăng lợi nhuận cho công ty Phần lợi nhuận giúp doanh nghiệp tiến trước đối thủ cạnh tranh một bước, tăng thêm động lực cho toàn thể nhân viên "thành công tiếp nối thành công"

Nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực giúp công ty có thể tiếp tục tồn tại, phát triển và vươn xa hơn tại thị trường trong và ngoài nước Công ty càng có nhiều nỗ lực hơn để có thể tạo ra những sản phẩm tốt hơn cho khách hàng, giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn

Ngoài ra việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh đối với nền kinh tế quốc dân Một nền kinh tế năng động, phát triền là một nền kinh tế có sức cạnh tranh lớn Có năng lực cạnh tranh lớn giúp nền kinh

tế quốc dân phát huy được nội lực của toàn bộ các tế bào

Vì vậy, có thể đưa ra nhận xét rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp có ý nghĩa sống còn và tác động tương hỗ với chính doanh nghiệp

và với cả toàn bộ nền kinh tế quốc dân

2.1.3 Nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm

Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm hàng hóa là khả năng sản phẩm tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Hay nói một cách khác năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung ứng, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo …

Trang 21

- Năng lực cạnh tranh về giá

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là

“Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường

- Năng lực cạnh tranh về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Chất lượng sản phẩm cùng với kiểu dáng, mẫu mã được coi là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm hoặc kiểu dáng mẫu mã không phù hợp thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng cùng kiểu dáng mẫu mã thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ khi được nâng cao nó sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng, kiểu dáng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng, kiểu dáng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó

- Đa dạng hóa sản phẩm:

Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh Thực chất của đa dạng hoá đó là quá

Trang 22

trình mở rộng hợp lý danh mục hàng hoá, tạo nên một cơ cấu hàng hoá có hiệu quả của doanh nghiệp Hàng hoá của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông

số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duy trì các hàng hoá đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tìm ra các hàng hoá mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Đa dạng hoá hàng hoá kinh doanh không chỉ là để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu được nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh khi mà tình hình cạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt Đa dạng hóa là yếu tố rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, vì khi doanh nghiệp càng đa dạng hóa sản phẩm thì sẽ càng hạn chế được rủi ro, giúp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

- Thương hiệu

Thương hiệu (theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)):

là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Xây dựng một thương hiệu mạnh mang đến cho doanh nghiệp lợi thế rất to lớn, không chỉ vì nó tạo ra hình ảnh của sản phẩm và doanh nghiệp

mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo uy tín cho doanh nghiệp, thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá và là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh Với một thương hiệu mạnh, người tiêu dùng sẽ có niềm tin với sản phẩm của doanh nghiệp, sẽ yên tâm

và tự hào khi sử dụng sản phẩm, trung thành với sản phẩm và vì vậy tính ổn định

về lượng khách hàng hiện tại là rất cao Hơn nữa, thương hiệu mạnh cũng có sức hút rất lớn với thị trường mới, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường và thu hút khách hàng tiềm năng, thậm chí còn thu hút cả khách hàng của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh

- Quản trị hệ thống phân phối

Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phối sản phẩm hợp

lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ

Trang 23

theo nhu cầu của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Thường người ta chia làm hai nhóm yếu tố đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài

2.1.4.1.Các yếu tố bên ngoài

Đây là nhóm nhân tố vĩ mô có tác động mạnh mẽ tới hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Có thể kể đến là: Nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh trên thị trường; khách hàng; chính sách Nhà nước

a Nhà cung cấp

Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản xuất, nhân công, Các nhà cung ứng này có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt động của công ty Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh

Các nhà cung cấp nguyên, vật liệu cho sản xuất: Nguyên liệu, vật liệu,

phụ liệu là các đối tượng sản xuất, vì thế nó sẽ quyết định tới chất lượng và mẫu

mã sản phẩm Các yếu tố này có tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm

vì một trong các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là chất lượng sản phẩm Những nhà cung ứng này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá cung ứng hoặc giảm mạnh chất lượng các yếu tố cung ứng Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà cung ứng cũng tương tự như yếu tố làm tăng thế mạnh của khách hàng Ví dụ như yếu tố số lượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung ứng chào bán sản phẩm

có tính khác biệt Nếu nhà cung ứng có điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần cải thiện quan hệ của họ thông qua việc tác động vào các yếu tố nói trên

Ngoài ra còn có các dịch vụ đi kèm bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra an toàn và có nhiều thuận lợi Đó là sự hợp tác của các nhà cung cấp các dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm, để doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động của mình hơn nữa

Trang 24

Các nhà cung cấp vốn: Nguồn cung vốn có tác dụng làm hoạt động sản

xuất kinh doanh tuần hoàn và diễn ra nhanh chóng Khi có vốn doanh nghiệp hoàn toàn có những quyết định kinh doanh kịp thời, chớp lấy cơ hội kinh doanh, thu lợi nhuận cao Giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm Vì thế, dĩ nhiên doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt hơn so với doanh nghiệp có trang thiết bị lạc hậu Đó chính là một chuỗi liên hoàn tạo nên sức mạnh về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên

thị trường

Cung cấp nhân lực được hiểu là nguồn cung ứng tất cả những người tham

gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có được nguồn cung tốt đồng nghĩa với cơ hội lựa chọn được những nhân viên giỏi

sẽ có khả năng tạo ra những sản phẩm tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

Như vậy, nhà cung cấp đóng vai trò rất quan trong trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Nhà cung cấp có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm, dịch

vụ cung ứng.Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép lợp nhuận sản phẩm của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng lên trong giá thành sản xuất

b Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh là một nhân tố quan trọng khiến cho doanh nghiệp luôn đổi mới và phát triển Nếu không có đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp sẽ là người phân phối độc quyền Còn nếu trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn có sự đổi mới để có thể khác biệt với các đối thủ cạnh tranh Không những bắt buộc phải có những cố gắng trong việc tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với người tiêu dùng, hơn nữa các doanh nghiệp còn cần tạo ra những giá trị khác ngoài công năng thuộc tính của sản phẩm, kèm theo đó là những dịch vụ đi kèm để thoả mãn tối đa nhu cầu và mong ước của khách hàng Như thế doanh nghiệp đã có những biến đổi về chất để có thể phù hợp hơn với thị trường cạnh tranh Một trong những thứ vô giá mà doanh nghiệp có thể học được từ đối thủ cạnh tranh là các bài học về thành công, nhất là thất bại Nhìn vào đó chúng ta cũng biết được mình đang ở đâu trên thị trường, trong mắt khách hàng của chúng ta, từ đó có kế sách phù hợp để kinh doanh thành công Có hai loại đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh hiện tại và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Trang 25

Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Là các đối thủ đối đầu tồn tại cùng với công

ty, cùng sản xuất một ngành hàng, một nhóm hàng, một loại sản phẩm hay sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của công ty

Các lĩnh vực cần tìm hiểu về tiềm năng của đối thủ cạnh tranh bao gồm chủng loại sản phẩm, chính sách marketing, tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực

và trình độ quản lý, khả năng về công nghệ, những cơ hội đầu tư, các quan hệ xã hội của đối thủ,…

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là các doanh nghiệp chưa tồn tại nhưng có

khả năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần, đem lại nguy cơ đe doạ vì sẽ chiếm một phần của “chiếc bánh thị trường”

Khi một ngành có sự gia tăng thêm số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ

Khi đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ

Như vậy, đối thủ cạnh tranh là một yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Khi đối thủ cạnh tranh nhiều trên thị trường sẽ tạo ra khó khăn cạnh tranh cho doanh nghiệp

c Khách hàng

Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khác hàng Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và

sự trung thành từ phía khách hàng

Khách hàng chính là động lực để các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm ngày càng tốt hơn Không có cầu sẽ chẳng có cung, tất nhiên trong xu thế ngày nay chúng ta cũng là người phải biết gợi mở nhu cầu của khách hàng để đáp ứng, song vai trò quyết định của khách hàng là điều chúng ta không cần tranh cãi “ Khách hàng là thượng đế” hay “khách hàng là ân nhân” đều là những thành ngữ

mà các doanh nghiệp luôn đề cao Khách hàng gồm hai loại:

Trang 26

Cá nhân: Là những người mua sản phẩm về để tiêu dùng các nhân hoặc

cho các thành viên trong gia đình Có thói quen và nhu cầu đa dạng là những đặc tính mà các doanh nghiệp nên chú ý tới tập khách hàng này

Như vậy, khách hàng là yếu tố quyết định đến sự sống còn sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng đông chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng được cầu của thị trường

d Chính sách Nhà nước, địa phương, vùng

Đây là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sự đầu tư cho sản phẩm của doanh nghiệp và nhất là cơ hội tìm kiếm và mở rộng thị trường của sản phẩm

Những nhân tố này liên quan tới việc tạo ra môi trường thuận lợi và thông thoáng về mặt pháp luật cho doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể có những thuận lợi hay khó khăn, có cơ sở hạ tầng tốt hay không để phục vụ sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm tốt hơn, mang tính cạnh tranh cao hơn để thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng

Nhìn chung yếu tố này tác động như nhau đối với các doanh nghiệp

2.1.4.2.Các yếu tố bên trong

Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao

lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững [24] Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì thường xét đến các yếu tố:

- Năng lực về tài chính:

Năng lực tài chính phản ánh năng lực, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Trang 27

Doanh nghiệp cần có đủ tiềm lực về tài chính, có khả năng tài trợ vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: vốn đầu tư mua sắm thiết

bị kỹ thuật công nghệ mới hay chi phí cho việc tu bổ sữa chữa máy móc thiết bị hiện có nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu tài chính thường được quan tâm khi phân tích năng lực tài chính như:

+ Vốn điều lệ: công ty nào có vốn điều lệ cao thì đồng nghĩa với việc vốn đầu tư cho hoạt động của công ty lớn, sự cam kết mức trách nhiệm bằng vật chất với khách hàng đối tác cũng cao hơn

+ Cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn

+ Tổng tài sản: thể hiện quy mô tài chính của các doanh nghiệp

+ Khả năng thanh toán

Hệ số thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động /Nợ ngắn hạn Nếu tỉ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán nợ ngắn hạn sắp đáo hạn

Hệ số thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng nợ ngắn hạn Thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này nhỏ hơn 0,5 vì khi đó công

ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh số bán

+ Tỉ suất lợi nhuận

Hệ số sinh lợi của tài sản (ROA) = (Lợi nhuận sau thuế + Tiền lãi phải trả)/Tổng tài sản Nếu hệ số này lớn hơn 0 thì có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi

Hệ số sinh lợi doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần Hệ

số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ số này càng lớn nghĩa là lãi càng lớn

Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu

- Quản trị nhân lực

Lao động là yếu tố đầu tiên cũng như là yếu tố cuối cùng tạo nên sự thành bại của một doanh nghiệp Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một

Trang 28

vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa

đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc Có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không

có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề

là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban lãnh đạo không có

đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ

bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ

Một số chỉ tiêu để đánh giá về nguồn nhân lực của mỗi công ty là cơ cấu lao động theo giới tính, đối tượng, trình độ; các chính sách đào tạo, lương thưởng, phúc lợi xã hội; năng suất lao động Trong đó năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi thông qua năng suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản

lý, trình độ lao động và trình độ công nghệ của doanh nghiệp

- Chiến lược kinh doanh: có tầm quan trọng đặc biệt, là mối quan tâm hàng đầu, định hướng cho mọi hoạt động kinh doanh, chiến lược kinh doanh vạch ra phương hướng phát triển của công ty trong ngắn hạn và trong dài hạn phù hợp với điều kiện kinh doanh của tổng công ty

- Quản trị công nghệ

Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máy móc

Trang 29

hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảm hay không Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm

và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất

kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnhh tranh Tuy nhiên, công nghệ luôn luôn thay đổi, do vậy mỗi doanh nghiệp cần không ngừng cải tiến và đổi mới kĩ thuật và công nghệ

- Trình độ tổ chức hoạt động quản trị: tổ chức hoạt động quản trị là công việc rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hoạt động quản trị bao gồm nhiều công việc như bố trí công việc cho từng người nhằm phát huy năng lực công tác của người lao động và hiệu quả kinh doanh, tránh hao phí trong quá trình sản xuất, xây dựng những định mức tiêu hao nguyên vật liệu và có kế hoạch bố trí, sử dụng nguyên vật liệu hiệu quả,…

Trên đây là những yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, nó có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tác động tiêu cực hay tích cực, mức độ ảnh hưởng như thế nào, doanh nghiệp cần làm rõ để có những biện pháp phòng ngừa những rủi ro làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như nắm bắt được cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Giới thiệu về đặc điểm sản phẩm và thị trường của ngành may

2.2.1.1 Đặc điểm sản phẩm của ngành may

Sản phẩm may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào đối tượng tiêu dùng Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính, tuổi tác…

sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của từng nhóm người tiêu dùng trong các bộ phận thị trường khác nhau

Trang 30

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu

mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng nhu cầu thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng Do đó để tiêu thụ được sản phẩm, việc am hiểu các xu hướng thời trang là rất quan trọng

Một đặc trưng nổi bật trong buôn bán sản phẩm may là vấn đề nhãn mác sản phẩm Mỗi nhà sản xuất cần ra được một nhãn hiệu thương mại của riêng mình Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hoá và uy tín của người sản xuất Đây là vấn đề cần quan tâm trong chiến lược sản phẩm vì người tiêu dùng không chỉ tính đến giá cả mà còn rất coi trọng chất lượng sản phẩm

Khi buôn bán các sản phẩm may cần chú trọng đến yếu tố thời vụ Phải căn cứ vào chu kỳ thay đổi của thời tiết trong năm ở từng khu vực thị trường mà cung cấp hàng hoá cho phù hợp Điều này cũng liên quan đến vấn đề thời hạn giao hàng, nếu như không muốn bỏ lỡ cơ hội thì hơn bao giờ hết, hàng may cần được giao đúng thời hạn để cung cấp hàng hoá kịp thời vụ

Thu nhập bình quân đầu người, thói quen tiêu dùng, cơ cấu tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc trong tổng thu nhập dân cư và xu hướng thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong tổng thu nhập… có tác động lớn đến xu hướng tiêu thụ hàng dệt may Với các thị trường có mức thu nhập bình quân, tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc cao, yêu cầu

về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng…sẽ trở nên quan trọng hơn các yếu tố về giá cả

2.2.1.2 Đặc điểm về thị trường của ngành may

Một đặc trưng nổi bật của công nghệ may là được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các nước trên thế giới bằng những chính sách thể chế đặc biệt Chúng ta cũng thấy đây là một thị trường có những điều kiện về kiểm soát, tiêu chuẩn, chất lượng rất là khó khăn và không dễ xâm nhập vào được Nó quản lý rất chặt chẽ

và nghiêm khắc Cùng với đó là thị hiếu người tiêu dùng của thị trường dệt may này cũng khá khó tính, có chọn lọc

Trong những năm gần đây thị trường nội địa ngành may Việt Nam có xu hướng mở rộng nhanh chóng, do các sản phẩm may được xếp vào loại sản phẩm không thể thay thế được, mặt khác với thị trường dân số hiện gần 90,5 triệu người (năm 2014) và thu nhập từng bước được nâng cao

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc của thị trường trong nước

Trang 31

tương đương 389.000 tấn sản phẩm dệt/năm Như vậy, mỗi năm trung bình một người Việt Nam tiêu thụ khoảng 4,8 kg hàng dệt Hiện chưa có một công thức chính xác để quy đổi con số trên ra số bộ quần áo (và sản phẩm may mặc khác) một người Việt Nam tiêu thụ trung bình mỗi năm Tuy nhiên, có thể khẳng định

là tiêu dùng nội địa hiện thấp hơn nhiều so với mức chung của thế giới Trong những năm tới, nhu cầu hàng may mặc của thị trường nội địa sẽ ngày càng tăng cao cùng với sự tăng trưởng đều đặn thu nhập và mức sống dân cư (khoảng 5%/ năm) Mặc dù mức tiêu dùng còn khiêm tốn nhưng xét về tương quan thì quy mô thị trường nội địa không quá nhỏ bé so với thị trường xuất khẩu: năm 2014, tổng giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 24,5 tỷ USD thì tiêu thụ dệt may nội địa cũng đạt 70 ngàn tỷ đồng

Ngoài đặc điểm thuận lợi đối với ngành may Việt Nam là dung lượng thị trường khá lớn và tiềm năng tăng trưởng khá, thì tiêu dùng nội địa hiện nay còn khá "dễ tính" Chỉ ở thành phố thị xã mới có sự lựa chọn kỹ càng về kiểu dáng, chất liệu, màu sắc, thời trang còn đa số người dân nông thôn chỉ mới chú trọng đến yếu tố “ăn chắc, mặc bền” Trong tiêu dùng hàng may mặc hiện nay thì hàng may sẵn là hình thức chủ yếu vì nhanh gọn, đơn giản và tiện lợi, giá rẻ lại phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại Đồ may sẵn thường xuyên phải giảm giá do chất lượng thấp, tiêu thụ chậm, tồn đọng nhiều Những sản phẩm gắn mác chất lượng cao chỉ phù hợp với một bộ phận nhỏ tiêu dùng trong xã hội

Tại Việt Nam, mức sống của người dân thành thị ngày càng cao và đang theo xu hướng chuyển sang tiêu dùng hàng may mặc cao cấp nhập khẩu từ Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản Một bộ phận dân cư ưa chuộng phương thức may

đo không chỉ với những bộ quần áo sang trọng mà cả quần áo mặc thường ngày Hàng may mặc nội địa cũng có một vị thế khá vững chắc với nhiều thương hiệu nổi tiếng như Việt Tiến, May 10, Thành Công, Thăng Long… Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ bị cạnh tranh khốc liệt ngay trên sân nhà với hàng dệt may của Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan…, nhất là hàng may mặc từ Trung Quốc vì hàng Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường sản phẩm may mặc đơn giản, thường ngày và đáp ứng nhu cầu cho các tầng lớp dân cư có thu nhập từ thấp đến trung bình và khá

Đặc điểm của thị trường may mặc nông thôn là tiêu dùng ít, tập trung vào một số thời điểm trong năm (ngày Tết, cuối thu - đầu đông ) Ở đây hầu như không xuất hiện hàng may mặc nội địa mà chỉ có hàng Trung Quốc giá rẻ, chất

Trang 32

lượng trung bình và thấp cùng với hàng may sẵn của các hộ gia đình địa phương Thực tế là cả số hàng địa phương này sản xuất cũng hầu như sử dụng 100% vải vóc, nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc Như vậy, ảnh hưởng của nhân tố Trung Quốc đối với thị trường may mặc nội địa là rõ ràng và rất lớn

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng (Bộ Thương mại và Tổng công

ty dệt may Việt Nam) các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện có thể đáp ứng đến 80% nhu cầu nội địa, khoảng 10% được phép nhập khẩu nhằm thỏa mãn nhu cầu của tầng lớp có thu nhập cao gồm các loại quần áo thời trang cao cấp của Hoa Kỳ, Anh, Ý, Pháp… Tuy nhiên, vấn đề là 10% nhu cầu còn lại đang bị cuốn hút bởi hàng ngoại nhập khẩu trái phép Nghiêm trọng nhất là tình trạng nhiều hàng Trung Quốc, Thái Lan được nhập khẩu trốn thuế, giá bán rất thấp làm khuynh đảo cả hàng nội địa ngay trên sân nhà

2.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các

doanh nghiệp nước ngoài

2.2.2.1 Kinh nghiệm của tập đoàn gia công và sản xuất sản phẩm Esquel China holdings của Trung Quốc về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may trên thị trường Mỹ

Tập đoàn gia công và sản xuất sản phẩm Esquel china holdings của Trung Quốc là một trong những nhà cung cấp sản phẩm lớn nhất của Trung Quốc trên thị trường Mỹ, hiện nay trung bình tập đoàn sản xuất 800 triệu sản phẩm/năm trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt trung bình 450 triệu USD/năm đó là con số tương đối lớn Một số biện pháp mà Tập đoàn sản phẩm Esquel china holdings của Trung Quốc đã sử dụng để nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường Mỹ:

Thứ nhất: Nâng cao chất lượng

Trong nhiều năm qua, tập đoàn đã không ngừng đổi mới đồng loạt máy móc thiết bị hiện đại sản xuất sản phẩm, những máy may, là, hấp, cắt, thêu được nhập khẩu từ Nhật Bản, Châu Âu Do được đổi mới đầu tư đồng bộ máy móc đã làm cho sản phẩm của Tập đoàn ngày càng có chất lượng cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm có chất lượng của khách hàng Mỹ

Thứ hai: Giá bán thấp

Nói chung, giá sản phẩm của Tập đoàn thấp hơn các đối thủ cạnh tranh do chi phí sản xuất sản phẩm ở Trung Quốc thấp như các nguyên phụ liệu được sản

Trang 33

xuất trong nước và do lợi thế sản xuất theo quy mô lớn, giúp cho sản phẩm may mặc của Tập đoàn bán với giá thấp mà không sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nào trên thị trường Mỹ có thể bán như vậy

Thứ ba: Đa dạng hóa mẫu mã, màu sắc và nhu cầu sử dụng

Hiện nay, tập đoàn có 9 nhà máy đặt rải rác trên thế giới và hơn 47.000 công nhân và đã xây dựng được mô hình “các liên kết công nghiệp” Đó là sự liên kết giữa các vùng, miền sản xuất các loại sản phẩm, các nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm, tạo thành các chuỗi sản xuất và Tập đoàn có lợi thế về độ ngũ thiết kế kiểu dáng công nghiệp rất phát triển, có những trung tâm thiết kế thời trang ở các thành phố lớn như Thẩm Quyến, Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu, các trung tâm này nắm bắt nhanh thị hiếu tiêu dùng của khách hàng trên thị trường Mỹ

Thứ tư: Hệ thống kênh phân phối rộng khắp

Tập đoàn thành lập từ năm 1978, cũng là năm Trung Quốc bắt đầu mở cửa thị trường nên sớm thiết lập quan hệ thương mại với các quốc gia Với quy

mô sản xuất lớn, bảo đảm chất lượng và thời gian giao hàng, Tập đoàn đã ký được các hợp đồng sản xuất trực tiếp với các tổ hợp thương mại lớn của Mỹ, Tập đoàn này trực tiếp là người cung cấp hàng cho các tổ hợp thương mại, vì thế họ đã nhanh chóng thiết lập mạng lưới tiêu thụ sản phẩm rộng khắp thị trường Mỹ

Thứ năm: Nhanh chóng đáp ứng những yêu cầu về sản phẩm “xanh”, sản phẩm “sạch”

Tập đoàn đã và đang cố gắng đưa ra những quy định về quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn môi trường (Eco Friendly) như đổi mới công nghệ, sử dụng nguyên phụ liệu chất lượng tốt, thực hiện đúng các quy trình sản xuất bao gồm cả

hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải độc hại Đây là chiến lược đi tắt đón đầu cho sản phẩm của Tập đoàn trước những yêu cầu mới trong cạnh tranh trên thị trường Mỹ

Thứ sáu: Sớm đầu tư vào sản phẩm cao cấp

Tập đoàn đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất những sản phẩm cao cấp như váy dạ hội, các bộ vesting, comple xuất khẩu hàng loạt sang thị trường Mỹ, nhằm

đa dạng hóa sản phẩm, tạo thế chủ động sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cao cấp, chủ động chiếm mảng thị trường sản phẩm cao cấp mà ít doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 34

ở các quốc gia là đối thủ cạnh tranh dám đầu tư

2.2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh bằng tạo dựng thương hiệu sản phẩm Pepsi lon của công ty PepsiCo

Pepsi lon là một thương hiệu sản phẩm thành công, lý do chính khiến Pepsi lon được xếp vào một trong những thương hiệu sản phẩm thành công nhất thế giới là vì Pepsi lon đã khác biệt hóa thương hiệu sản phẩm của mình, tương phản với thương hiệu lãnh đạo thị trường một cách tuyệt với, thay vì bắt chước theo Họ bắt đầu tập trung hơn vào tính cách thương hiệu sản phẩm “Hòa đồng hơn với một Pepsi” là câu chủ đề quảng cáo đầu tiên của họ nhằm vào giới trẻ Năm 1961, hai thuộc tính khác biệt “bây giờ” và “trẻ” được xác định với câu chủ

đề “Bây giờ là Pesi Dành cho những ai cho là mình vẫn trẻ”, “đã quá Pepsi ơi” Câu chủ đề này còn hay ở chỗ là đã thiết lập ý tưởng trẻ trung như một trạng thái tinh thần chứ không trói buộc vào tuổi tác thật sự, một chiến lược hoàn toàn thích hợp với một thương hiệu đã từng có mặt trên 60 năm

Một cách nữa mà sản phẩm Pepsi lon dùng để tự phân biệt với đối thủ chính của họ đó là diện mạo thể hiện Vào năm 1941, để ủng hộ những nỗ lực chống chiến tranh của chính phủ Hoa Kỳ, dãy màu của Pepsi lon gồm màu đỏ yêu nước, màu trắng và màu xanh dương Trong những năm gần đây, thương hiệu sản phẩm này dần chuyển sang duy nhất một màu xanh dương, tương phản

rõ ràng so với màu đỏ của Coca – Cola lon Còn từ “Pepsi” trên lon hiện được viết theo kiểu chữ cách tân, mà một lần nữa đã không thể tách rời khỏi kiểu chữ viết ngoằn nghèo của hình ảnh thương hiệu Coca- Cola lon

Chiến lược khác biệt hóa đã đưa đến kết quả là thương hiệu Pepsi lon tiếp tục trở nên nổi bật hơn Và dường như sự khác biệt càng rõ ràng thì khoảng cách giá trị giữa hai thương hiệu sản phẩm Pepsi lon và Coca- Cola lon càng lúc càng thu hẹp

Những bí quyết thành công của sản phẩm Pepsi lon:

Thứ nhất: Khác biệt hóa

Coca- Cola lon là cổ điển còn Pepsi lon là mới mẻ Coca – Cola lon là màu đỏ còn Pepsi lon là màu xanh Quảng cáo của Coca- Cola lon là nhằm vào những giá trị vượt thời gian còn của Pepsi lon là nhằm vào danh tiếng và sự hài hước Cách xây dựng thương hiệu khác biệt này đã giúp phân biệt hoàn toàn hai sản phẩm hết sức tương tự với nhau

Trang 35

Dựa trên thực trạng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Đà Nẵng

- Về giá cả: đây chính là lợi thế của ngành dệt may Đà Nẵng do chi phí về nhân công rẻ hơn so với hai đầu đất nước Chi phí về tiền lương thấp nhưng năng suất lao động trong ngành lại rất thấp (chỉ bằng 2/3 so với mức bình quân các nước ASEAN), đã làm cho giá thành sản phẩm cao Chi phí vận chuyển tại Đà Nẵng cao hơn hai đầu đất nước, do sản lượng sản xuất thấp, thời gian chờ đợi để nhận hàng lâu

- Về chủng loại, mẫu mã sản phẩm: mặc dù có sự cải tiến đáng kể về kiểu dáng, mẫu mã nhưng nhìn chung cơ cấu sản phẩm dệt may còn rất đơn điệu, sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, hàm lượng kỹ thuật chưa cao, chưa có sản phẩm đặc thù để chiếm lĩnh thị trường

- Chất lượng sản phẩm: Sản phẩm may cũng mới chỉ dừng lại ở đầu thấp của thị trường, chủ yếu phục vụ cho đối tượng bình dân…

Trước thực trạng đó buộc dệt may Đà Nẵng phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình, cụ thể:

Thứ nhất: Doanh nghiệp đã đầu thư cho giai đoạn nghiên cứu để nắm bắt

xu hướng thay đổi nhu cầu của thị trường, giai đoạn thiết kế sản phẩm nhằm tạo

ra nhiều giá trị gia tăng cho doanh nghiệp

Trang 36

Thứ hai: Áp dụng các công nghệ phù hợp, vừa đảm bảo tạo ra các sản

phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường, vừa có chi phí sản xuất thấp

Để đạt được điều này doanh nghiệp đã tập trung vào nội dung cơ bản: liên doanh liên kết với các tổ chức khác nhằm đi tắt đón đầu công nghệ mới Tập trung đổi mới ở các khâu quyết định như: sản xuất sợi tổng hợp, sản xuất vải chất lượng cao, hóa chất thuốc nhuộm, phụ liệu cho ngành may, thiết kế mẫu cho sản phẩm, chuẩn hóa sản phẩm, đầu tư xử lý môi trường

Thứ ba: Thương mại điện tử, hệ thống giao hàng tận nơi theo đơn đặt

hàng, thiết lập mạng lưới tiêu thụ hiệu quả

Thứ tư: Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ lao động

Phát triển hệ thống đào tạo đa dạng, nâng cao chất lượng đào tạo, tiếp cận những chương trình đào tạo mới nhất từ các nước phát triển

Có chính sách tiền lương, thưởng khuyến khích nâng cao trình độ, cải tiến

kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động, đồng thời thu hút lực lượng cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn

Thứ năm: Mở rộng thị trường tiêu thụ: doanh nghiệp đã tận dụng các sở

thích tiêu dùng của khách hàng thông qua hoạt động chiếm lĩnh các điểm bán hàng tối ưu, giới thiệu sản phẩm để khách hàng dùng thử, đa dạng hóa chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm và chi phí bán hàng, tận dụng hết các phân đoạn thị trường Doanh nghiệp còn tối đa hóa thị phần cho sản phẩm của mình thông qua hệ thống đại lý, liên doanh, mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở những nơi

có nhu cầu

2.2.3.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm giầy dép của công ty Giầy Thượng Đình trên thị trường nội địa

Công ty Giầy Thượng Đình là một thương hiệu lớn của Việt Nam Công ty

đã xây dựng cho mình một chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng Việt Hiện nay trung bình công ty sản xuất 4-5 triệu đôi/năm đó là một con số tương đối lớn Một số biện pháp mà Công ty đã sử dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường trong nước đó là:

Thứ nhất: Đầu tư cho nghiên cứu thị trường

Doanh nghiệp đã tập trung đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu để nắm bắt xu

Trang 37

hướng thay đổi nhu cầu của thị trường, giai đoạn thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho doanh nghiệp

Thứ hai: Áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại

Công ty đã không ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Áp dụng các công nghệ phù hợp vì vậy vừa bảo đảm tạo ra

các sp có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường, vừa có chi phí sản xuất thấp

Thứ ba: Đa dạng hóa sản phẩm

Công ty coi trọng công tác nghiên cứu và phát triển mẫu mốt hoàn chỉnh hơn nữa Coi trọng công tác nghiên cứu và phát triển mẫu mốt giầy hợp thời trang phù hợp với như cầu thị trường trong nước

Thứ tư: Thương mại điện tử, hệ thống giao hàng tại nhà theo đặt hàng online, thiết lập mạng lưới tiêu thụ hiệu quả

Công ty đã tập trung vào khả năng giao hàng linh hoạt, đúng hạn Đó chính là những cách thức giúp doanh nghiệp phục vụ và giữ khách hàng hiệu quả hàng linh hoạt, đúng hạn

2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn

Qua nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, khi nói đến năng lực cạnh tranh sản phẩm và đặc biệt là cạnh tranh sản phẩm của ngành dệt may thì cần đề cập đến

* Các nội dung chủ yếu của năng lực cạnh tranh sản phẩm

- Giá bán sản phẩm: Quyết định mực tiêu dùng sản phẩm trên thị trường,

khách hàng sẽ chọn sp của doanh nghiệp có giá bán thấp hơn các sp khác cùng loại của các doanh nghiệp khác

- Sự khác biệt: Chính sự khác biệt của hàng hóa này so với hàng hóa khác

đem lại những giá trị khác nhau cho những hàng hóa khác nhau Sự khác biệt này tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho hàng hóa Để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm

hàng hóa doanh nghiệp cần chú ý đến

Chất lượng sản phẩm: Là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực

mua của người tiêu dùng Khi chất lượng được đánh giá là tốt, người tiêu dùng sẽ tiêu dùng nhiều hơn và ngược lại

Số lượng sản phẩm: Thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu về sản phẩm của

khách hàng

Trang 38

Mức độ hấp dẫn của sản phẩm là mẫu mã, kiểu dáng,hình thức, màu sắc, bao bì, nhãn hiệu Mức độ hấp dẫn tạo ra sức cạnh tranh của hàng hóa vì nó

mang lại nhưng đặc thù riêng biệt của hàng hóa này so với hàng hóa khác Đặc biệt, với sản phẩm may mặc tính thời trang nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩn rất cao Doanh nghiệp cần chú ý tới kiểu dáng, mẫu mã hình thức của sản phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫn của sản phẩm, sự khác biệt hóa theo hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với sản phẩm của đối thủ

Dịch vụ: Được thể hiện ở trước, trong và sau khi bán hàng Công cụ này

tạo ra được tiện lợi cho khách hàng

Uy tín thương hiệu sản phẩm: Thương hiệu sản phẩm thể hiện uy tín và chất

lượng sản phẩm của một doanh nghiệp.Người tiêu dùng nhận biết và mua sản phẩm của các công ty có thương hiệu mạnh, sẵn sàng trả giá cao và tự hào khi được tiêu dùng sản phẩm của công ty đó Năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng được thể hiện số sản phẩm cùng loại được đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu

- Tập trung hóa thị trường: Để doanh nghiệp lựa chọn thị trường mục tiêu,

giúp doanh nghiệp hiểu thấu đáo hơn nhu cầu và ước muốn của khách hàng Từ đó doanh nghiệp có thể đáp ứng được đúng và trùng những nhu cầu và ước muốn đó, không lãng phí tiền của và công sức và thu lợi nhuận cho công ty Đây là tiền đề để doanh nghiệp tăng thêm năng lực cạnh tranh sản phẩm cho chính mình

- Hợp tác (liên kết): Hợp tác giữ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

* Các yếu tố ảnh hưởng

- Các yếu tố bên ngoài: Nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh; khách hàng;

chính sách Nhà nước, địa phương, vùng

- Các yếu tố bên trong: Vốn; lao động; công nghệ, kết quả sx kinh doanh

Trang 39

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm của địa bàn Hà Nội

Bên cạnh phát triển thị trường xuất khẩu, năm vừa qua cũng như trong thời gian tới ngành may mặc vẫn luôn định hướng đi sâu vào thị trường nội địa (trong

đó chủ yếu là thị trường Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) Chính những khó khăn về xuất khẩu trong những năm gần đây đã khiến nhiều doanh nghiệp cơ cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư mạnh cho thị trường nội địa Nỗ lực cạnh tranh với các nước xuất khẩu để dành lấy phần thị trường đang bị co hẹp và đẩy mạnh chiếm lĩnh thị trường nội địa là chiến lược hành động thành công của hầu hết các doanh nghiệp may mặc

Thị trường nội địa nói chung cũng như Hà Nội nói riêng, được coi là một cứu cánh của nhiều doanh nghiệp may mặc trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế Năm 2015, mặc dù nền kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng doanh thu từ thị trường nội địa của các doanh nghiệp dệt may vẫn tăng trưởng khá Theo số liệu nghiên cứu và dự báo của công ty nghiên cứu & tư vấn thương hiệu the Pathfinder thì tốc độ tăng trưởng tiêu dùng hàng may mặc của thị trường trong

nước khoảng 15%/năm

Khách hàng tiêu dùng thời trang tại Hà Nội có thể tạm chia làm 3 nhóm: nhóm có thu nhập thấp thường sử dụng hàng may sẵn, rẻ tiền nhưng nhanh hỏng; nhóm có thu nhập cao sử dụng sản phẩm của các hãng thời trang cao cấp; nhóm trung lưu chiếm số lượng khá đông đảo, không chấp nhận các hàng đại trà hàng kém chất lượng nhưng lại không quan tâm tới các loại hàng hiệu Đối tượng này khá khó tính, nhưng lại có nhu cầu lớn về thời trang Thời trang của họ phải đẹp, độc đáo, sang trọng, lại hợp túi tiền Một số doanh nghiệp có tên tuổi đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu nhóm này như Việt Tiến, Thành Công, Nhà Bè, May 10 Tuy nhiên ngành May mặc khi kinh doanh tại thị trường nội địa cũng gặp phải một số khó khăn như:

- Hàng Trung Quốc ồ ạt tràn sang làm sản phẩm may mặc trong nước khó cạnh tranh và khiến các doanh nghiệp may mặc hết sức khó khăn do hàng may mặc giá rẻ của Trung Quốc đang chiếm lĩnh, hàng Việt Nam không cạnh tranh lại

Trang 40

được về giá cả, thiết kế và cả tốc độ trong kinh doanh

- Một trong những vấn đề khó khăn của ngành May mặc Việt Nam là phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và khâu thiết kế Việc xây dựng các trung tâm nguyên phụ liệu cho hàng dệt may đã được nhắc đến cách đây 5-7 năm nhưng vẫn chưa có tiến triển gì

- Ngoại trừ các thương hiệu như Việt Tiến, Nhà Bè, May 10, Ninomax …

đã tìm được vị trí vững chắc tại thị trường nội địa, nhiều thương hiệu thời trang Việt đang bị thu hẹp dần thị trường nội địa ví dụ như thương hiệu Hoàng Tấn, Foci… Một trong những nguyên nhân chính để lý giải cho việc “giậm chân tại chỗ” đó chính là trình độ thiết kế thời trang của Việt Nam vẫn còn non kém, chưa

có những trường dạy chuyên nghiệp, lực lượng những nhà thiết kế trẻ dù đã được đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng Vì thế khâu thiết kế vẫn là trở ngại lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng vượt qua được

3.1.2 Đặc điểm của đơn vị nghiên cứu

3.1.2.1 Giới thiệu khái quát về Tổng công ty May 10 – CTCP

Tên công ty : Tổng công ty May 10 – CTCP

Tên tiếng anh : Garment 10 Corporation - Joint Stock Company

Tên viết tắt : GARCO 10 JSC

Hoạt động chính của Tổng công ty bao gồm:

 Sản xuất kinh doanh các loại quần áo thời trang và nguyên phụ liệu may mặc Với sản phầm chủ lực của Tổng công ty là áo sơ mi nam được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng

 Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp tiêu dùng khác

 Kinh doanh văn phòng, bất động sản, nhà ở cho công nhân

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w