Bài thu hoạch Triết học Phương đông của thạc sĩ Triết học. Bài thu hoạch trình bày những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta. Bài thu hoạch có dung lượng 15 trang
Trang 1Những t tởng triết học cơ bản của nho giáo và ảnh hởng của
nó ở nớc ta
Trung Hoa là một nớc lớn ở miền Đông châu á, thuộc vùng khí hậu ôn đới, rất thuận lợi cho con ngời tồn tại và phát triển Lịch sử Trung Quốc cổ, trung đại có thể chia thành bốn thời
kỳ chính:
Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ hình thành và tồn tại xã hội
nguyên thuỷ, khoảng thiên niên kỷ thứ V trớc công nguyên
Về sản xuất vật chất: trình độ sản xuất còn lạc hậu,công cụ sản xuất chủ yếu bằng gỗ, đá
Về tổ chức xã hội: sống theo bầy ngời nguyên thuỷ bằng các hình thức cộng đồng thị tộc, bộ lạc
Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ hình thành và tồn tại xã hội nô
lệ Thời kỳ này tồn tại khoảng hơn một ngàn năm, trải qua các triều đại: Hạ, Ân, Thơng và Chu
Về sản xuất vật chất: lực lợng sản xuất có bớc phát triẻn mạnh Con ngời biết dùng và chế tạo đồ sắt, biết dựa vào
điều kiện tự nhiên để gieo trồng, chăn nuôi Đời sống ổn
định và phát triển
Về chính trị xã hội: chế độ thiện nhợng bị bãi bỏ, thay vào đó là chế độ tập vơng vị, xã hội bắt đầu xuất hiện giai cấp
Thời kỳ thứ ba: Sự tàn lụi của xã hội nô lệ và sự hình
thành xã hội phong kiến Trung Quốc (khoảng thế kỷ thứ V trớc công nguyên đến thế kỷ thứ III trớc công nguyên), còn gọi là thời kỳ Xuân thu- Chiến quốc
Trang 2Về sản xuất vật chất: kinh tế phát triển mạnh, có sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất, tạo ra một loạt các ngành nghề mới nh: luyện kim, đúc, rèn sắt, nghề mộc, nhuộm v.v
Về chính trị xã hội: đây là thời kỳ phong kiến hoá xã hội Trung Quốc, quyền lực nhà Chu ngày một suy giảm, chiến tranh xảy ra liên tục và tàn khốc làm cho đời sống của nhân dân vốn đã cùng cực lại càng khốn khó hơn, trật tự xã hội bị
đảo lộn Từ đó làm xuất hiện nhiều quan điểm, t tởng chính trị xã hội khác nhau, trong đó có t tởng triết học
Thời kỳ thứ t: từ thế kỷ thứ III trớc công nguyên đến trớc
cách mạng Tân Hợi năm 1911
Về kinh tế: đây là thời kỳ hoàn thiện quan hệ sản xuất phong kiến
Về chính trị xã hội: tơng đối ổn định và phát triển Với tính cách là một hình thái ý thức xã họi, sự phát sinh, phát triển của t tởng triết học Trung Quốc gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học Triết học Trung Quốc cổ, trung đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên kỷ thứ I trớc công nguyên và phát triển rực rỡ nhất ở thời kỳ Xuân thu-Chiến quốc Đặc trng chủ yếu nhất của t tởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại là đều có xu hớng giải quyết những vấn
đề thực tiễn chính trị- đạo đức xã hội Tuy nhiên, họ cũng
đặt ra và giải quyết những vấn đề cơ bản nhất của triết học, tiêu biểu có các trờng phái: Thuyết âm dơng- ngũ hành, nho gia(nho giáo), đạo gia, mặc gia, pháp gia Trong đó, t
Trang 3t-ởng triết học nho gia là một trong những t tt-ởng ảnh ht-ởng khá sâu sắc và rộng rải ở nớc ta
Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trớc công nguyên, do Khổng Tử, nhà t tỏng vĩ đại của Trung Quốc thời
cổ sáng lập Đến thời Chiến quốc, nho giáo đợc Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai hớng khác nhau, trong đó dòng nho Khổng – Mạnh có ảnh hởng rộng rải và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc và một số nớc lân cận
Kinh điển của nho giáo gồm có Tứ th (Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh tử) và ngũ kinh( Lễ, Nhạc, Thi, Th và Xuân) Hệ thống kinh điển của nho giáo hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Quốc Điều đó chứng tỏ xu hớng biện luận về xã hội, về chính trị, đạo đức
là những t tởng cốt lõi của nho giáo
T tởng triết học của nho giáo thể hiện trên những
ph-ơng diện: bản thể luận, chính trị xã hội và học thuyết về giáo dục
Về bản thể luận: nho giáo cho rằng, vạn vật trong vũ trụ
luôn sinh thành, biến hoá không ngừng theo đạo của nó Sự vận động và biến đổi của sự vật bắt nguồn từ mối tơng tác của hai lực “âm” và “dơng” trong một thể thống nhất, đó là
“thái cực” Tuy nhiên, bên cạnh đó nho giáo cũng thừa nhận có trời và quỷ thần Theo họ, trời là lực lợng có ý chí, làm chủ vũ trụ, chi phối mọi sự biến hoá cho hợp lẽ điều hoà Khổng Tử nói: “Đạo của ta thi hành ra đợc cũng do mệnh trời, mà bị bỏ phế vong cũng do mệnh trời” hay “Than ôi! trời làm mất đạo ta”, “Mắc tội với trời không thể cầu ở đâu mà thóat đợc”
Trang 4Còn T Mã Thiên viết: “Phù thiên giả, nhân chi thuỷ dã”, nghĩa
là trời là thuỷ tổ của con ngời, trời là cái bất biến, cùng mục
đích với con ngời, con ngời có thể hiểu đợc trời đất ý của trời là thiên mệnh, mỗi cá nhân, sự sống – chết, phú quý hay nghèo nàn đều là do thiên mệnh quy định Mặt khác, Khổng Tử lại cho rằng con ngời bằng nỗ lực chủ quan của mình cũng có thể thay đổi đợc cái thiên tính ban đầu Ông nói, con ngời lúc sinh ra, cái tính trời phú cho là giống nhau nhng trong quá trình tiếp xúc, học tập…nó làm cho họ khác nhau, có kẻ trí, có ngời ngu “ Tính tơng cận, tập tơng viễn”
Đây là mặt tích cực, chỗ “thêm vào” của Khổng Tử so với quan niệm mệnh trời trớc đó Nhng đôi khi các ông chỉ xem trời nh là lực lợng tự nhiên, không có ý chí: “Trời có nói gì
đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trởng” Khổng Tử cũng tin có quỷ thần và cho rằng, quỷ thần là do khí thiên của trời đất tạo thành, tuy mắt ta không nhìn thấy, tai ta không nghe thấy…nhng dờng nh lu động trong
đầu ta, ở bên phải ta, bên trái ta, đâu đâu cũng có Song
ông lại cho rằng, quỷ thần không có tác dụng chi phối đời sống con ngời Vì vậy ông phê phán mê tín, sùng bái quỷ thần, kêu gọi mọi ngời hãy chú trọng vào việc làm của mình
Nh vây, trong quan điểm về thế giới, t tởng nho giáo có tính chất mâu thuãn Một mặt, giải thích thế giới đi từ chính bản thân thế giới, đó là yếu tố duy vật chất phác và t tởng biện chứng tự phát Mặt khác lại thừa nhận có lực lợng siêu tự nhiên chi phối, quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật và con ngời, đó là yếu tố duy tâm
Trang 5Thực chất đây chính là mâu thuẫn của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, nó thể hiện t tởng, tâm lý muốn gạt bỏ quan niệm thần học nhng không gạt nổi
Về chính trị xã hội: Từ quan niệm trời là cái bất biến,
cùng mục đích với con ngời, nho giáo chủ trơng xây dựng, tổ chức đời sống xã hội theo đạo trời (thiên trị) T tởng “thiên trị” thể hiện ở chỗ: lấy trời làm cứu cánh cho việc trị nớc ( vua thay trời hành đạo), trị nớc theo luật của tự nhiên (thiên tạo), còn luật do con ngời đặt ra (nhân tạo) nên hết sức tránh Xã hội không có hiến pháp mới là quan trọng, cái khoá chắc nhất là không khoá, khoá ở lòng dân
Nho giáo cho rằng: một xã hội thịnh trị khi xã hội đó có tôn ti trật tự, dân chúng đợc giáo hoá, htuận trời đất, thuận lòng ngời…ngợc lại xã hội sẽ loạn khi lòng ngời xa rời đạo lý, khinh thị cơng thờng, vua không ra vua, tôi không ra tôi, xã hội không còn tôn ti trật tự
Để đa xã hội từ loạn thành trị, nho giáo chủ trơng là phải chính danh Khổng Tử giải thích: Chinh danh là làm mọi việc cho ngay thẳng Chính danh thì ngời nào có địa vị, bổn phận chính đáng của ngời ấy, trên dới, vua tôi, cha con trật tự phân minh Muốn trị nớc điều trớc tiên phải sửa cho chính danh, vì nếu danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hng thịnh, lẽ nhạc không hng thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay làm, đặt chân đứng vào đâu Đây là một chủ trơng, một giải pháp, một t tởng trị nớc của nho giáo
Trang 6khá tiến bộ, tuy nhiên đằng sau đó là một quy định khắc khe, thủ tiêu nhân tài, không có ngời làm cách mạng
Để thực hiện chính danh, nho giáo chủ trơng phải tu thân theo ngũ luân và ngũ thờng
Ngũ luân là năm mối quan hệ: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bè – bạn Các luân này nói rất rõ danh phận của từng ngời Nừu mỗi ngời thực hiện đúng danh phận
đó sao cho “vua ở hết phận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con…” thì có chính danh Một xã hội có chính danh là một xã hội có trậ tự kỷ cơng, thái bình thịnh trị Trong năm mối quan hệ đó có ba mối quan
hệ cơ bản là vua – tôi, cha – con và chồng – vợ gọi là tam
c-ơng
Ngũ thờng là năm phẩm chất của con ngời: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Trong việc trị nớc và tu thân, Không Tử đặc biệt quan tâm đến đức nhân và lễ
Nhân là đức tính toàn diện, là cái gốc đạo đức của con ngời Chữ nhân theo nho giáo bao hàm nội dung hết sức rộng rãi Nhân là thơng ngời, giúp ngời, tôn trọng ngời…Ông nói: “nhân là thơng yêu ngời”, nhân là “tôn trong ngời hiền, nhân là lòng ngời, tình ngời, là quan hệ giữa ngời với ngời” v.v…nhân còn bao hàm cả đức tính trung, hiếu, cần mẫn, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm…thậm chí giết một ngời để cứu muôn ngời cũng là nhân Nh vậy, đức “nhân” trong nho giáo không chỉ là thơng ngời mà thực chất là đạo làm ngời Nhân bao quát nhiều tiêu chuẩn đạo đức nh vậy nên một
Trang 7ng-ời chỉ có một số tiêu chuẩn thì cha có thể đợc coi là ngng-ời có nhân
Còn lễ là những phong tục, tập quán, cách thức thờ cúng, những quy tắc quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật nhà nớc, nh: sinh, tang, tử, hôn, tế lễ, triều sinh, luật lệ, hình pháp…
Lễ quan hệ chặt chẽ với nhân Nhân là chất, là nội dung, lễ là lợng, là hình thức biểu hiện của nhân Vì thế
để đạt đợc nhân, Khổng tử khuyên con ngời ta: “chớ xem
điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ”
Để xây dựng một xã hội yên bình, nho giáo đặt ra yêu cầu rất cao đối với việc tu thân của mọi ngời, mọi tầng lớp trong xã hội Chẳng hạn, đối với bề tôi thì phải trung với vua,
đối với ngời phụ nữ thì phải tam tòng, tứ đức, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, một lòng thuỷ chúng son sắt, giữ gìn tiết hạnh…quy định rất nghiêm ngặt, hà khắc Đặc biệt, nho giáo đặt ra yêu cầu rất cao đối với việc tu thân của các bậc đế vơng, hiền thần Quan niệm của nho giáo, Đế vơng
là ngời quán tam tài, ngời kết nối giữa trời đất và con ngời,
ảnh hởng của các Đế vơng sẽ qua các trung gian hiền thần
mà thấu đến bách tính Bách tính hấp thụ đợc ảnh hởng ấy
sẽ đợc giáo hoá, sẽ đợc hoàn cải Quan niệm này của nho giáo rất đề cao vai trò của ngời cán bộ, điều naỳ hoàn toàn phù hợp với lý luận về con ngời của chủ nghĩa Mác – Lênin và của
Đảng ta hiện nay Cán bộ đảng viên là gốc của mọi công việc, công việc tốt hay xấu đều do ngời cán bộ đó tốt hay xấu,
Trang 8cán bộ là cầu nối giữa đảng với dân, mọi đờng lối, chủ trơng của Đảng muốn trở thành hiện thực trong cuộc sống đều cốt yếu quan trọng nhất là qua sự hấp thụ và truyền bá của ngời cán bộ vào trong dân nh thế nào, nong hay sâu, ít hay nhiều
Nh vậy, quan niệm về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội của nho giáo nói chung, Khổng Tử nói riêng có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải
đáp những vấn đề đặt ra của lịch sử Song do hạn chế bởi
điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp, học thuyết của ông luôn chứa đựng những mâu thuẫn, giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô thần và những yếu tố duy tâm, giữa những t tởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh đúng tâm trạng của ông trớc biến chuyển của thời cuộc
Về giáo dục: Để đạt tới đạo nhân, nho giáo rất quan
tâm tới giáo dục, nhng do không coi trọng cơ sở kinh tế – kỹ thuật của xã hội, cho nên giáo dục của nho giáo chủ yếu hớng vào rèn luyện đạo đức của con ngời Họ cho rằng vua (nhà n-ớc) phải biết dỡng dân, giáo dân và chính mình
Dỡng dân là lo cho dân có cuộc sống no đủ Mạnh Tử còn tiến bộ hơn ở t tuởng “dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi” Ông chủ trơng chia ruộng cho dân theo chế độ tỉnh điền
Giáo dân là giáo dục cho dân đạo lý là ngời T tởng
“trăm năm trồng ngời” của Khổng Tử là nhằm đào tạo lớp ngời
Trang 9quân tử lấy đức làm chính Hay t tởng “Tiên học lễ, hậu học văn”, học phải đi đôi với hành Trong giáo dục, Khổng Tử rất coi trọng sự nêu gơng của các tầng lớp vua quan và đặc biệt
là chủ trơng mở trờng lớp cho tất cả mọi ngòi “Hữu giáo vô loại” – dạy học cho mọi ngời, không phân biệt đẳng cấp là t tởng rất tiến bộ của Khổng Tử Nó không chỉ có giá trị đối với đất nớc Trung Hoa mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với nhiều nớc trên thế giới, nó không chỉ có giá trị trong thời kỳ
cổ đại mà còn có ý nghĩa và giá trị thực tiễn thời đại rất cao
Giáo dục trong nho giáo chú ý cả ngời dạy và ngời học,
đặc biệt đối với ngời dạy họ rất đề cao và tôn vinh thành
“s phụ” Do vậy, yêu cầu rèn luyện, tu dỡng trình độ năng lực
và đạo đức đối với ngời thầy rất nghiêm khắc Ngời thầy phải là ngời thực sự có đức và tài, cái tâm phải trong sáng, khách quan, trung thực, phơng pháp phải mềm dẻo, linh hoạt…ngời trò, học phải nghiêm túc, ý chí quyết tâm cao, thật thà khiêm tốn, biết tôn kính “nhất tự vi s, bán tự vi s”-một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, thậm chí cả
ng-ời làm sai cũng xem là thầy để từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân
Nguyên tắc đối với ngời học là phải tích cực, tự giác; học mới kết hợp với ôn cũ; học phải hỏi, trao đổi, tranh luận; vào lớp phải gạt bỏ những u t, phiền toái, thực sự khoan thai, ung dung tơi tĩnh; học phải lấy cái hành làm đầu…
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, tiến bộ về giáo dục của nho giáo cũng có những hạn chế nhất định Chẳng hạn,
Trang 10Khổng Tử quan niệm “đối với dân việc gì cần làm thì cứ sai khiến ngời ta làm, không nen giảng giải vì dân không có khả năng hiểu đợc nghĩa lý sâu xa” hay “ngời quân tử có khi phạm điều bất nhân, chứ cha từng thấy kẻ tiểu nhân mà làm đợc điều nhân”…Rõ ràng, đằng sau hạt nhân hợp lý của Khổng Tử lại ẩn chứa sự phân biệt thứ bậc, đẳng cấp xã hội mà ông hầu nh không thể thoát ra khỏi thiên kiến và sự ràng buộc khắc khe đó Đây cũng chính là một trong những nét dặc trng trong t tởng đạo đức của nho giáo
Triết học Trung Quốc là một nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đồi, hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên và nó phat triển rực rỡ nhất vào thời kỳ quá
độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến Đây là thời kỳ loạn lạc, chiến tranh xảy ra liên miên và tàn khốc Chính điều đó là một trong những nguyên nhân quan trọng
và trực tiếp làm nảy sinh những nhà t tuởng vĩ đại, hình thành những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh và là cơ sở xuất phát điểm cho toàn bộ các quan điểm, các trờng phái triết học sau này
Trong tất cả những lĩnh vực đa dạng mà triết học Trung Quốc đề cập tới thì vấn đề chính trị xã hội, đạo đức, luân
lý đợc các nhà t tởng chú ý quan tâm nhiều nhất Họ lý giải những vấn đề đó bằng nhiều cách khác nhau nhng chung quy là để tìm ra câu trả lời lớn của thời đại đặt ra là làm thế nào để đa xã hội từ loạn thành trị Trong đó t tởng triết học của nho giáo là một trong những trờng phái có ảnh hởng
Trang 11khá rộng rãi, sâu sắc và lâu dài nhất không chỉ ở Trung Quốc mà cả các nớc lân cận
Việt Nam là một nớc có lịch sử văn hoá lâu đời và phát triển khá rực rỡ thể hiện qua các dụng cụ, đồ trang sức, trống dồng, thành quách v.v…bên cạnh những truyền thuyết, thần thoại, tín ngỡng, tôn giáo cũng khá phát triển Tuy nhiên, do
điều kiện địa lý thuận lợi trong quan hệ giao lu buôn bán với các nớc trong khu vực; do bị phong kiến phơng Bắc xâm lợc hàng ngàn năm, cho nên sự phát triển của nền văn hoá nớc ta chịu ảnh hởng khá lớn của văn hoá nớc ngoài, trong đó có Trung Quốc
Sự ảnh hởng của t tởng triết học Trung Quốc vào Việt Nam diễn ra khá phức tạp: có thể là sự ảnh hởng trực tiếp của một trờng phái cụ thể, có thể là sự ảnh hởng đan xen của nhiều trờng phái, bằng nhiều con đờng khác nhau, trong
đó t tởng triết học nho giáo là một trong những trờng phái có
ảnh hởng rtộng lớn và lâu dài nhất
Nho giáo vào nớc ta khá sớm từ những năm cuối trớc công nguyên, chủ yếu bằng con đờng xâm lợc, với mục tiêu dùng nho giáo nh một vũ khí nhằm đồng hoá dân tộc ta, biến nớc
ta thành một bộ phận của Trung Quốc Bằng thủ đoạn dạy học mhmg thực chất là truyền nho giáo vào nớc ta, ép dân ta phải theo phong tục của chúng Do lợi ích của kẻ xâm lợc, nho giáo vào nớc ta bằng con đờng này đã bị xuyên tạc đi nhiều, những yếu tố tích cực mang tính nhân loại hầu nh bị loại bỏ