1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ven đô hiện nay (khảo sát trường hợp xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

228 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về văn hoá gia đình luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau với các vấn đề như: cơ cấu, chức năng của gia đình; đặc điểm của gia đình t

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

SỰ KHÁC BIỆT LỐI SỐNG GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH VEN ĐÔ HIỆN NAY

(Khảo sát trường hợp xã Thuỵ Vân, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Xuân Kính

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận án Sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia

đình ven đô hiện nay (khảo sát trường hợp xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của

GS.TS Nguyễn Xuân Kính

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố tại bất cứ công trình nào và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG 11

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 11

1.1.1 Nghiên cứu về lối sống và lối sống gia đình 11

1.1.2 Nghiên cứu về thế hệ trong gia đình 23

1.2 Tổng quan về xã Thuỵ Vân và gia đình xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 30

1.2.1 Tổng quan về xã Thuỵ Vân 30

1.2.2 Tổng quan về gia đình xã Thuỵ Vân 35

1.3 Lý thuyết vận dụng 37

1.3.1 Lý thuyết hành động xã hội 37

1.3.2 Lý thuyết hiện đại hoá và luận điểm biến đổi giá trị giữa các thế hệ của Ronald Inglehart 39

1.3.3 Lý thuyết giá trị 41

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2: SỰ KHÁC BIỆT TRONG HOẠT ĐỘNG MƯU SINH, HOẠT ĐỘNG TIÊU DÙNG VÀ HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ 46

2.1 Sự khác biệt trong hoạt động mưu sinh 46

2.2 Sự khác biệt trong hoạt động tiêu dùng 56

2.2.1 Hoạt động tiêu dùng của thế hệ già 56

2.2.2 Hoạt động tiêu dùng của thế hệ trung niên 62

2.2.3 Hoạt động tiêu dùng của thế hệ trẻ 66

2.3 Sự khác biệt trong hoạt động giải trí 74

2.3.1 Hoạt động giải trí của thế hệ già 74

2.3.2 Hoạt động giải trí của thế hệ trung niên 77

Tiểu kết chương 2 85

Chương 3: SỰ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VÀ GIA ĐÌNH 86

3.1 Sự khác biệt trong tiêu chuẩn chọn bạn đời 86

Trang 5

iii

3.2 Sự khác biệt trước vấn đề tình yêu, tình dục 92

3.2.1 Sự khác biệt trước vấn đề tình yêu 92

3.2.2 Sự khác biệt trước vấn đề tình dục 95

3.3 Sự khác biệt trong việc sinh con trai, con gái 103

3.4 Sự khác biệt về ứng xử trước mô hình tam đại đồng đường 109

Tiểu kết chương 3 115

Chương 4: NGUYÊN NHÂN, KẾT QUẢ VÀ SỰ ỨNG PHÓ/THÍCH ỨNG CỦA CÁC THẾ HỆ Ở THUỴ VÂN ĐỐI VỚI SỰ GIA TĂNG KHÁC BIỆT VỀ LỐI SỐNG 116

4.1 Nguyên nhân gia tăng sự khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình xã Thuỵ Vân 116

4.1.1 Sự tác động của chuyển đổi kinh tế - xã hội ở Thuỵ Vân 116

4.1.2 Sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng 122

4.1.3 Các chính sách liên quan đến gia đình và lối sống trong gia đình, làng xã 126 4.2 Sự ứng phó/thích ứng của các thế hệ trước sự khác biệt về lối sống trong gia đình 129

4.2.1 Thế hệ người cao tuổi: cố gắng níu giữ, bảo lưu các giá trị truyền thống 129

4.2.2 Thế hệ người trung tuổi: cố gắng cân bằng giữa truyền thống và đổi mới 132 4.2.3 Thế hệ trẻ: cởi mở tiếp nhận cái mới 135

4.3 Kết quả/hệ quả của sự gia tăng về cường độ và tốc độ của sự khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ở Thuỵ Vân 137

4.4 Nét riêng và tương lai của gia đình đa thế hệ ở Thuỵ Vân 140

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Danh mục bảng

Bảng 1.1 Dân cư phân chia theo độ tuổi tại xã Thuỵ Vân 34

Bảng 1.2 Phân chia quy mô gia đình theo số thế hệ 35

Bảng 2.1 Số lượng các cửa hàng kinh doanh phục vụ tiêu dùng tại xã Thuỵ Vân 68 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Nghề nghiệp chính của các thế hệ hiện nay 46

Biểu đồ 2.2 Mong muốn nghề nghiệp của các thế hệ 49

Biểu đồ 2.3 Nhu cầu chi tiêu so với thu nhập của các thế hệ trong gia đình 66

Biểu đồ 2.4: Mức độ thực hiện các hoạt động giải trí của thế hệ già 74

Biểu đồ 2.5: Mức độ thực hiện các hoạt động giải trí của thế hệ trung niên 78

Biểu đồ 2.6: Mức độ thực hiện các hoạt động giải trí của thế hệ trẻ 80

Biểu đồ 3.1 Tiêu chuẩn chọn bạn đời của các thế hệ 87

Biểu đồ 3.2: Con cái sau khi lập gia đình có nên ở cùng ông bà, bố mẹ 109

Biểu đồ 3.3: Mô hình sống chung được coi là phù hợp sau sau khi con cái đã lập gia đình 110

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế xã Thuỵ Vân trước 1998 116

Biểu đồ 4.2 Cơ cấu kinh tế xã Thuỵ Vân hiện nay 117

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quy luật phát triển mang tính tất yếu khách quan Cũng giống như nhiều nước trong khu vực, ở Việt Nam, trong khoảng ba thập kỷ trở lại đây, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ đã mang đến những biến đổi sâu sắc trên mọi phương diện của đời sống xã hội Trong những biến đổi ấy, một trong những yếu tố dễ nhận thấy nhất đó là sự thay đổi về lối sống

Lối sống là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: triết học, xã hội học, chính trị học, giáo dục học, đạo đức học, văn hóa học… Giữa lối sống và văn hóa

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Dựa vào những tiêu chí khác nhau, người ta phân chia lối sống thành các loại khác nhau như: lối sống phong kiến, lối sống tư bản, lối sống xã hội chủ nghĩa; lối sống nông thôn, lối sống đô thị, lối sống đồng bằng, lối sống miền núi; lối sống thanh niên, lối sống người về hưu, lối sống phụ nữ Trong đó không thể không nhắc đến lối sống gia đình

Gia đình là “tế bào”, là “hạt nhân” của xã hội, là môi trường xã hội cơ bản đầu tiên giúp con người nhập thân văn hóa Văn hoá gia đình là sự thể hiện cụ thể, sinh động một phần đời sống văn hoá xã hội, góp phần hình thành văn hoá dân tộc Nghiên cứu về văn hoá gia đình luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học

xã hội khác nhau với các vấn đề như: cơ cấu, chức năng của gia đình; đặc điểm của gia đình truyền thống và hiện đại; sự biến đổi văn hóa gia đình; vấn đề xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa… Là một bộ phận hợp thành của văn hóa, lối sống là nội dung quan trọng và cần thiết khi nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình

Xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là xã có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, cũng là xã đang diễn ra quá trình đô thị hoá mạnh mẽ Kể từ sau năm

1998, khi khu công nghiệp Thuỵ Vân hoàn thành và đi vào hoạt động, đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây, xã Thuỵ Vân đã có nhiều biến đổi trên mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó có những biến đổi về lối sống của các cư dân trong gia đình

Qua những chuyến đi điền dã tại xã Thụy Vân, chúng tôi đặc biệt ấn tượng bởi

tỉ lệ người cao tuổi, tuổi thọ trung bình và số gia đình chung sống ba thế hệ trở lên chiếm số lượng lớn nơi đây Được cán bộ văn hoá xã giới thiệu, tôi làm quen và thân

Trang 9

2

thiết với gia đình cụ Tuân1 (84 tuổi, xóm Phú Hậu) là gia đình tiêu biểu có bốn thế hệ cùng chung sống Trước đây, cả cụ ông và cụ bà đều là nông dân, ngoài ra cụ ông còn làm kế toán trong hợp tác xã Trong số bảy người con trai, gái của hai cụ, một người sinh sống trong Nam, một người công tác ở Hà Nội, một người ở thành phố Việt Trì, còn lại đều sinh sống cùng xóm hoặc khác xóm trong xã Hiện nay, hai cụ sống cùng gia đình của người con trai trưởng và gia đình cháu trai trưởng Chú Mạnh,

59 tuổi, con trai trưởng, có thời gian tham gia kháng chiến chống Mĩ, trở về tiếp tục công việc đồng áng cùng vợ Gia đình chú Mạnh có bốn người con, tất cả đều đã trưởng thành Theo tục lệ, Minh (34 tuổi) - con trai trưởng của chú Mạnh (cháu đích tôn của cụ Tuân) sau khi lập gia đình vẫn sống chung cùng ông bà, cha mẹ Lập gia đình tương đối sớm nên con lớn của Minh đã trên 10 tuổi Minh và vợ buôn bán vật liệu xây dựng, ngoài ra còn mua thêm một chiếc xe con (theo hình thức mua trả góp) để vừa phục vụ nhu cầu đi lại của gia đình, vừa chạy taxi hoặc hợp đồng du lịch

Đại gia đình cụ Tuân sinh sống trong một khuôn viên rộng rãi, được xây thành hai căn nhà Căn nhà cũ, theo lời cụ Tuân kể, được xây dựng từ đời ông nội cụ Tuân, nay chủ yếu là nơi hương khói tổ tiên Ngay sát bên cạnh là căn nhà mới khang trang, rộng rãi, khá đầy đủ tiện nghi, là nơi sinh sống của đại gia đình Đây cũng là kiểu mô hình sinh sống của không chỉ nhà cụ Tuân mà còn của khá nhiều các gia đình khác trong xã, đặc biệt là các gia đình trưởng chi, trưởng nhánh, những gia đình có sự nối tiếp nhiều đời sinh sống

Qua nhiều lần đi lại, gần gũi, tham gia, trải nghiệm cuộc sống và các hoạt động của gia đình, dòng họ nhà cụ Tuân, tôi thấy có nhiều điều tương phản trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, trong quan niệm, ứng xử của các thế hệ Bên cạnh bộ trường kỷ, sập thờ với những câu đối, lời răn dạy về lòng hiếu thảo là bộ dàn nhạc thông minh, hiện đại đặt ở ngay phòng khách Bên cạnh hình ảnh cụ Tuân với chiếc đài khá cũ kỹ

mà cụ thường xuyên nghe vào các khung giờ đều đặn sáng, trưa, tối là hình ảnh hai bố con Minh với chiếc máy tính, điện thoại thông minh như một vật bất ly thân Những ngày giỗ lễ, bên cạnh những món ăn truyền thống là những món ăn được chế biến sẵn (những kiểu món ăn mà theo cụ Tuân, trước đây chẳng ai chấp nhận) Trong khi vợ

1 Để đảm bảo tính ẩn danh, tên của những người cung cấp thông tin và tham gia PVS trong luận án đều được thay đổi Mọi sự trùng hợp đều là ngẫu nhiên

Trang 10

chồng Minh chi tiêu khá “mạnh tay” cho những nhu cầu cá nhân thì cô chú Mạnh, đặc biệt là hai cụ Tuân lại khá tiết kiệm, thậm chí tằn tiện Hai cụ Tuân gần như chỉ ở trong làng tham gia các hoạt động của họ hàng, của người cao tuổi còn gia đình Minh đều đi

du lịch ít nhất một năm một lần, có thời gian rảnh Minh lại đưa các con ra thành phố Việt Trì “đổi gió”… Ngoài gia đình cụ Tuân, trong xã còn có khá nhiều những gia đình sinh sống ba thế hệ, thậm chí bốn thế hệ như thế

Các thế hệ sống trong gia đình đều có sự giống nhau và khác nhau trong lối sống Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá, chuyển đổi đất nông nghiệp, phương thức mưu sinh thay đổi, công nghệ thông tin phát triển… đã có những tác động đậm, nhạt khác nhau đến việc hình thành lối sống của các thế hệ Đã có những nghiên cứu về lối sống của cư dân nội đô, cư dân nông thôn; những nghiên cứu về lối sống của cư dân ở ven đô thuộc

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Chắc chắn rằng lối sống của các cư dân ở những vùng khác nhau, bên cạnh cái chung sẽ có những cái riêng, cái đặc thù do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hoá quy định Qua việc khảo sát lối sống gia đình tại một địa phương, chúng tôi muốn nhận diện những biểu hiện cụ thể của sự khác biệt về lối sống, giải thích căn nguyên gia tăng khác biệt, phân tích cách thích ứng của các thế hệ

và kết quả của sự gia tăng khác biệt về lối sống trong bối cảnh hiện nay, mong muốn góp thêm một tiếng nói trong nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ

trong gia đình ven đô hiện nay (khảo sát trường hợp xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì,

tỉnh Phú Thọ) làm đối tượng nghiên cứu của luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án làm rõ sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ở một tỉnh trung du; lý giải, phân tích kết quả của sự gia tăng khác biệt lối sống; luận giải về sự đan xen các cách thích ứng của các thế hệ trong bối cảnh chuyển đổi của xã hội hiện nay; dự báo về gia đình và lối sống trong gia đình ở Thuỵ Vân, góp phần định hướng nhận thức trong cách nhìn nhận, đánh giá về lối sống của các thế hệ trong gia đình

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

4

- Tổng hợp, thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài luận án thông qua quá trình điền dã, quan sát tham dự, phỏng vấn bảng hỏi, phỏng vấn sâu (PVS), các tài liệu sách báo…

- Phân tích sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình qua một số thành

tố của lối sống

- Xác định và đánh giá nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng về cường độ và tốc độ

sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình

- Phân tích cách ứng phó/thích ứng của các thế hệ trước sự gia tăng khác biệt về lối sống và kết quả của sự gia tăng khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ven đô hiện nay

Thực hiện những nhiệm vụ trên, tức là luận án đã trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

- Sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ở Thuỵ Vân diễn ra như thế nào?

- Những nhân tố tác động và kết quả/hệ quả của sự gia tăng khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình?

- Các thế hệ trong gia đình ven đô đã có những thích ứng như thế nào trước sự biến đổi và khác biệt về lối sống?

- Sự khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình có gây nên sự bất hoà hay các thế hệ vẫn chung sống ổn thoả?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lối sống của các thế hệ trong gia đình ở một xã ven đô,

cụ thể là xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì

Có nhiều quan niệm về lối sống và cũng khó có một định nghĩa nào có thể bao quát được những biểu hiện phức tạp, đa chiều của khái niệm này (xin xem Phụ lục) Tiếp thu những điểm hợp lý và thống nhất trong quan niệm về lối sống của các nhà

khoa học, chúng tôi quan niệm: Lối sống bao gồm toàn bộ những hoạt động sống được

khuôn mẫu hoá, mang tính cơ bản, ổn định, đặc trưng cho mỗi cá nhân, nhóm xã hội, mỗi vùng miền, dân tộc trong những hoàn cảnh, điều kiện sống cụ thể Không phải bất cứ hoạt

động nào của con người cũng được coi là lối sống Chỉ những hoạt động sống chi phối bởi

Trang 12

quan niệm, thói quen, sở thích, mang tính ổn định và có độ phổ biến cao, được đa số cá thể của một nhóm người hay của cả xã hội thực hành, mới được gọi là lối sống

Khái niệm thế hệ nhằm chỉ “một tập hợp người thường có cùng một độ tuổi Mặc dù họ có tính đa dạng khác nhau về nghề nghiệp, hoàn cảnh sinh sống, tính cách v.v… nhưng họ đã cùng chứng kiến và cùng trải qua sự diễn biến của các sự kiện lịch

sử trọng đại quốc gia và quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá v.v… do họ cùng sống trong một khoảng thời gian nhất định” [138, tr.14-15] Thế hệ người trong gia đình, theo chúng tôi, để chỉ một tập hợp người, thường sống cùng nhau trong một khoảng thời gian, không gian, sống phụ thuộc cùng nhau, gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quyền lợi và nghĩa vụ Sự gắn bó, liên kết thế hệ người trong gia đình ngoài yếu tố thời gian, không gian sống, còn có sự quy định bởi nề nếp gia

phong và quan hệ huyết thống

Về thời gian, chúng tôi nghiên cứu những biến đổi về lối sống trong gia đình ở Thuỵ Vân kể từ sau năm 1998 – là thời điểm khu công nghiệp Thuỵ Vân bắt đầu đi vào hoạt động, trong đó tập trung vào lát cắt từ năm 2017 đến nay Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng có những liên hệ, so sánh với lối sống của các thế hệ trong thời gian trước 1998 qua phỏng vấn hồi cố của những người cao tuổi và một số người trung tuổi

Về thế hệ, chúng tôi lấy mốc năm 2017 để tính tuổi các thế hệ Mốc giới hạn và phân định độ tuổi cho từng thế hệ có “độ chênh” nhất định giữa các thời kỳ, giữa các nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác nhau (xin xem Phụ lục) Trong luận án, chúng tôi quan tâm đến cách gọi thế hệ trong gia đình theo vai vế, chức năng (như thế

hệ con cái, thế hệ cha mẹ, thế hệ ông bà, thế hệ các cụ) Tuy nhiên, tại địa bàn nghiên cứu, độ tuổi kết hôn, độ tuổi được “lên chức” ông bà, cha mẹ… ở mỗi cá nhân là không hoàn toàn giống nhau (một người vừa có thể là thế hệ con, vừa thuộc thế hệ cha mẹ,

Trang 13

6

thậm chí có thể đã là thế hệ ông bà nếu con cái lập gia đình sớm) nên việc phân chia và định danh thế hệ cũng không tách rời độ tuổi Thông thường khoảng cách sự phân định khoảng cách tuổi cha và tuổi con ở các nước là 30 năm Ở Việt Nam nói chung, tại địa bàn nghiên cứu nói riêng, do độ tuổi kết hôn sớm nên sự phân định khoảng cách giữa các thế hệ trong gia đình thường là từ 20 đến 25 năm Với một xã hội đầy biến động như Việt Nam, với những đổi thay từ quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra từng ngày tại địa bàn nghiên cứu thì khoảng cách 20 đến 25 năm giữa các thế hệ là hợp lý, có thể chấp nhận được Với những tiêu chí như vậy, chúng tôi chia các thế hệ trong gia đình ven đô tại địa bàn nghiên cứu gồm bốn thế hệ với tên gọi và độ tuổi như sau:

- Thế hệ niên thiếu (từ khi sinh ra cho đến dưới 15 tuổi);

- Thế hệ trẻ (từ 15 tuổi đến 35 tuổi);

- Thế hệ trung niên (từ 36 tuổi đến dưới 60 tuổi);

- Thế hệ già/cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên)

Thế hệ trẻ chúng tôi chọn mốc từ 15 đến 35 tuổi Mốc từ đủ 15 tuổi trở lên chúng tôi căn cứ theo độ tuổi được quy định trong Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh nhưng chọn mốc tuổi kết thúc thế hệ trẻ là 35 tuổi2 vì thế hệ trẻ hiện nay kết hôn muộn hơn, tuổi thanh niên cũng kéo dài hơn Mốc 60 tuổi trở lên được xếp vào thế hệ già vì theo quy định độ tuổi này đã hết tuổi lao động và hầu hết những người ở lứa tuổi này đã lên chức ông bà

Trong luận án chúng tôi chỉ khảo sát ba thế hệ là thế hệ trẻ, thế hệ trung niên

và thế hệ người cao tuổi Thế hệ niên thiếu chúng tôi không khảo sát vì những người này còn nhỏ, còn phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình và nhà trường

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Tập hợp các tài liệu thứ cấp tìm hiểu về vấn đề lối sống, về làng ven đô, về lối

sống gia đình, lối sống của các thế hệ trong gia đình Những tài liệu này bao gồm cả những tác phẩm văn học, điện ảnh, báo chí… nhằm tái hiện bối cảnh lịch sử xã hội

2 Điều 1 Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI ngày 13/12/2017, thống nhất độ tuổi đoàn viên từ đủ 15 tuổi (bắt đầu sang tuổi 16) và không vượt quá tuổi 30 Điều 4 Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quy định nếu đoàn viên quá 30 tuổi có nguyện vọng tiếp tục sinh hoạt Đoàn thì Chi đoàn xem xét, quyết định nhưng cũng không vượt quá tuổi 35 Như vậy, nếu căn cứ vào quy định tuổi đoàn, thế hệ trẻ (thanh niên) là những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến 30 tuổi và trong một số trường hợp có thể kéo dài đến 35 tuổi.

Trang 14

của các thế hệ, trải dài từ thế hệ người cao tuổi đến thời điểm nghiên cứu, thấy được bức tranh chuyển đổi của xã hội qua lối sống của các thế hệ

- Phương pháp điền dã dân tộc học là phương pháp chủ yếu nhất được sử dụng

để thu thập thông tin trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu và thâm nhập thực sự vào cuộc sống hàng ngày của các gia đình ven đô tại địa bàn xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Để thu thập thông tin được đầy đủ, đa chiều, có ý nghĩa thiết thực với luận án, nghiên cứu sinh vận dụng các kỹ năng như: quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn các đối tượng liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, phỏng vấn hồi cố, thảo luận nhóm…

Quan sát, đặc biệt là quan sát tham dự giữ một vai trò quan trọng trong việc

nhận diện sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ Bởi thực tế, những khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình không chỉ được thể hiện qua cách họ chia sẻ, trò chuyện

mà còn thể hiện rõ nét qua cách hành động, cách sinh hoạt lặp đi lặp lại có tính ổn định, tạo thành lối sống của mỗi thế hệ Tại gia đình cụ Tuân và nhiều gia đình khác trong xã Thuỵ Vân, NCS được tham gia, trải nghiệm, quan sát tham dự vào cuộc sống sinh hoạt thường nhật, các sự kiện của các gia đình hay các buổi họp nhóm của các thế hệ, các phong trào của nhóm, hội, đoàn thể, làng xã… để thâu nhận, phân tích, đánh giá và xử

lý thông tin, tư liệu Quan sát, quan sát tham dự vì thế là một trong những kỹ năng được

sử dụng nhiều nhất để NCS nhận diện rõ hơn, hiểu sâu hơn những khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình

- Phỏng vấn qua bảng hỏi và PVS:

NCS đã lập bảng hỏi và gửi đi 400 phiếu: nhóm người cao tuổi là 110 phiếu; nhóm người trung tuổi là 140 phiếu; nhóm người trẻ là 150 phiếu Đối với thế hệ người cao tuổi, nhất là những cụ trên 80 tuổi, phần lớn việc tham gia trả lời các câu hỏi ở bảng hỏi đều có sự trợ giúp của con cháu, cán bộ xã hoặc NCS Khi gửi phiếu và phân loại phiếu theo độ tuổi, NCS đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và tận tình của các anh chị trong UBND xã, các trưởng xóm, chi hội người cao tuổi, chi hội phụ nữ, đoàn thanh niên… và các gia đình thân quen Trong quá trình xử lý phiếu, chúng tôi thu về

378 phiếu hợp lệ (104 phiếu của thế hệ già, 136 phiếu của thế hệ trung tuổi và 138 phiếu của thế hệ trẻ)

Trang 15

8

Thông tin thu được từ phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm mô tả, so sánh sự khác biệt trong quan niệm sống và hoạt động sống của các thế hệ trong gia đình Kết quả khảo sát định lượng giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát hơn khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Kết quả định lượng được kết hợp phân tích với kết quả PVS để nhận diện rõ vấn đề nghiên cứu

Phương pháp quan trọng được sử dụng là PVS NCS đã tiến hành PVS 32 người thuộc các lứa tuổi và thành phần nghề nghiệp khác nhau Tuỳ vào các đối tượng khác nhau mà thời gian và nội dung các câu hỏi PVS có thể linh hoạt khác nhau, sao cho người dân có thể thoải mái bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm của mình Chẳng hạn, với thế hệ già, do họ có nhiều thời gian và đặc biệt khi đã thân quen, họ rất thích được trò chuyện, nên việc PVS có thể tiến hành mọi lúc Với thế hệ người trung tuổi, hầu hết ban ngày họ đều đi làm nên việc PVS thường diễn ra trong thời gian buổi tối, trong các buổi sinh hoạt chung của gia đình, dòng họ hoặc làng xã Cũng có một số trường hợp NCS cùng tham gia lao động sản xuất với họ, như giúp họ bán hàng, theo chân họ ra đồng, giúp họ cho gia cầm ăn… Với thế hệ trẻ tuổi trong các gia đình, việc PVS cũng chủ yếu qua các buổi sinh hoạt chung của gia đình, dòng họ hoặc các hội nhóm của thế

hệ trẻ trong làng xã Đối với thế hệ này, NCS tích cực tìm hiểu các thông tin trên mạng

xã hội, kết bạn với những người trẻ qua facebook, zalo, tham gia vào các fan page, kịp thời cập nhật những thông tin về phim ảnh, thời trang, ca nhạc… để dễ dàng trò chuyện, thu nhập thông tin từ đối tượng tham gia PVS

Do có mối quan hệ từ trước khi chúng tôi thực hiện đề tài luận án, những người tham gia PVS và thảo luận nhóm đều rất cởi mở, nhiệt tình, giúp NCS thu thập được những thông tin chính yếu, giải quyết những vấn đề đặt ra trong câu hỏi nghiên cứu

- Thảo luận nhóm: Việc thảo luận nhóm được thực hiện theo từng nhóm lứa tuổi

trong các gia đình khác nhau Việc thảo luận nhóm này có thể được tiến hành một cách ngẫu nhiên (ví dụ nhóm các cụ cao tuổi thường tụ tập ăn trầu, trò chuyện ở nhà cụ Tuân; nhóm thanh niên xóm Nội, xóm Ngoại… trong các sinh hoạt đoàn thể) hoặc có chủ đích của NCS (thường mỗi nhóm thảo luận khoảng từ 3 đến 10 người) Thảo luận nhóm giúp NCS thu thập được cứ liệu định tính quan trọng về ý kiến, thái độ, quan niệm… của mỗi thế hệ với các vấn đề mà luận án đưa ra

Trang 16

Các phương pháp phỏng vấn qua bảng hỏi và PVS, thảo luận nhóm bổ sung cho nhau Phương pháp đầu đem đến cái nhìn bao quát, các phương pháp sau giúp NCS hiểu thực chất vấn đề Chẳng hạn, qua bảng hỏi có thể thấy thế hệ thanh niên không xem nặng việc phải sinh con trai, thế hệ trung niên ở Thuỵ Vân không khe khắt với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân Song khi PVS và thảo luận nhóm, NCS thu được kết quả ngược lại, và

đó mới là thực chất của vấn đề

- Ngoài ra, lối sống là một phạm trù có liên quan nhiều đến các ngành khoa học

xã hội khác Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, luận án còn sử dụng phương pháp

nghiên cứu liên ngành bao gồm: phương pháp nghiên cứu văn hóa, xã hội học, lịch sử

học, dân tộc học… đưa đến những góc nhìn đa chiều để làm sáng tỏ và tìm hiểu sâu sắc

hơn vấn đề nghiên cứu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Trình bày các kết quả quan sát điền dã, khảo sát và hệ thống hoá, cụ thể hoá tình hình khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong gia đình xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

- Lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình ven đô thuộc địa bàn nghiên cứu

- Bàn luận, phân tích những khác biệt lối sống giữa các thế hệ tại một địa phương cụ thể gắn với bối cảnh đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là nguồn tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu văn hoá học, xã hội học, gia đình và giới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận án đóng góp một số vấn đề lý luận cho chuyên ngành văn hoá học khi nghiên cứu về lối sống gia đình, sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình

- Góp phần cung cấp một số kinh nghiệm trong tiếp cận đối tượng nghiên cứu và

phương pháp nghiên cứu về lối sống các thế hệ trong gia đình dưới góc nhìn văn hoá

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận án góp phần định hướng nhận thức của các thế hệ trong gia đình trong cách nhìn nhận, đánh giá lối sống của mỗi thế hệ Sự khác biệt lối sống giữa các thế hệ trong gia đình cần được nhìn nhận một cách bình tĩnh, khách quan Mỗi thế hệ trong gia

Trang 17

sự khác biệt quá lớn dẫn đến mâu thuẫn, phát huy tối đa sự thông cảm, khoan dung trong việc ứng xử giữa các thế hệ trước sự khác biệt về lối sống

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương, 14 tiết, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và lý thuyết

vận dụng

Chương 2: Sự khác biệt trong hoạt động mưu sinh, hoạt động tiêu dùng và

hoạt động giải trí

Chương 3: Sự khác biệt trong đời sống tình cảm và gia đình

Chương 4: Nguyên nhân tác động, sự ứng phó/thích ứng của các thế hệ và

kết quả/hệ quả của sự gia tăng khác biệt về lối sống trong gia đình ở Thuỵ Vân

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về lối sống và lối sống gia đình

1.1.1.1 Nghiên cứu về lối sống

Nghiên cứu về lối sống từ lâu đã được tìm hiểu trong nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, tâm lý học, văn hóa học… ở cả trong và ngoài nước

Ở phương Tây, nghiên cứu về lối sống đã được quan tâm khá sớm, từ khoảng

giữa thế kỷ XIX C.Mác và Ph.Ăngghen trong một số công trình như: Luận cương về

Phơbách; Nguồn gốc của tư hữu, của gia đình và nhà nước; Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản… đã bàn về lối sống Đặc biệt, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

(1848), Mác và Ăngghen đã chỉ ra những xu hướng biến đổi lối sống trong xã hội phương Tây dưới tác động của quá trình chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản Mác và Ăngghen có thể coi là những người đã “xây dựng nền tảng cho

sự ra đời của trường phái khoa học xã hội mácxít trong nghiên cứu về lối sống của các cộng đồng người” [3, tr 18]

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự ra đời và phát triển của hai ngành khoa học là tâm lý học và xã hội học, nghiên cứu về lối sống đạt những bước tiến căn bản với các công trình của Wertheim, H Spencer, Siegfred Bernfeld…, đặc biệt là Max Weber

với bộ công trình Gesammelte Aufatze zur Religionssoziologie (Tập hợp các chuyên

luận xã hội về tôn giáo) Lối sống trong quan niệm của Weber có liên quan đến đẳng

cấp và vị thế xã hội Ông mô tả nó như kiểu sống của một nhóm xã hội, giai cấp, cộng đồng cùng chung một vị trí kinh tế Những nghiên cứu này đã mở ra hướng tiếp cận hệ giá trị văn hóa, thiết chế xã hội và lối sống của các cộng đồng người

Vào những thập niên 60-80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông

Âu đã có khoảng hơn 50 định nghĩa về lối sống [128, tr 26] Một số cuốn sách viết

về lối sống đã được dịch sang tiếng Việt như: Lối sống xã hội chủ nghĩa (1981), Lối

sống Xô Viết hôm nay và ngày mai (1984) Các sách này tập trung phân tích bản

chất, ý nghĩa và biện pháp xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa

Trang 19

12

Vấn đề lối sống ở phương Đông, theo các tác giả trong công trình Hoạt động

văn hoá thể thao, du lịch và lối sống của con người Việt Nam hiện nay [3] thậm chí

còn được nghiên cứu và quan tâm sớm hơn phương Tây Tuy nhiên những nghiên cứu

về lối sống ở phương Đông trước thời kỳ cận đại thường gắn liền với các nghiên cứu

về tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán… Ở thời kỳ cận đại và hiện đại, những nghiên cứu ở phương Đông chịu ảnh hướng lớn từ những nghiên cứu khoa học xã hội phương Tây

Ở nước ta, việc nghiên cứu về lối sống được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và

có những công trình chuyên sâu dưới các góc nhìn đa dạng từ triết học, tâm lý học, xã hội học, văn hóa học Những nghiên cứu về lối sống ở Việt Nam bao gồm hai nội dung chính: một là các vấn đề lý luận chung về lối sống; hai là nghiên cứu những vấn đề cụ thể của lối sống như: đặc trưng lối sống dân tộc, lối sống của một vùng, miền, của một nhóm cộng đồng người trong một thời kỳ lịch sử nhất định, những yếu tố tác động và

xu hướng biến đổi lối sống

Ở nội dung thứ nhất, có thể thấy một số công trình tiêu biểu: Thế nào là lối sống

xã hội chủ nghĩa (1979) [84] và Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa (2001)

[85] đều do Thanh Lê chủ biên; Về lối sống mới của chúng ta (1983) của tác giả Phong Châu và Nguyễn Trọng Thụ [25]; Bàn về lối sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa (1985)

do Trần Độ chủ biên [42]; Một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (2001)

do Huỳnh Khái Vinh chủ biên [156]… Nhìn chung, qua các công trình này, các tác giả đã bàn và phân tích khái niệm “lối sống”, phân biệt “lối sống” với “mức sống”, “nếp sống”, làm sáng tỏ những đặc trưng, những mặt cơ bản của lối sống và lối sống xã hội chủ nghĩa, phân tích mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức, phát triển văn hóa và con người, nêu lên ý nghĩa của lối sống dân tộc – hiện đại Bên cạnh đó, cuốn sách do Huỳnh Khái Vinh chủ biên (đã nêu trên) còn chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến đến lối sống của người Việt như: bệnh gia trưởng gia đình chủ nghĩa, tư tưởng trọng nam khinh

nữ, tư tưởng địa vị đẳng cấp, thói đạo đức giả… Tìm hiểu về Lối sống xã hội chủ nghĩa

và xu thế toàn cầu hoá, tác giả Thanh Lê cũng đặt ra một số vấn đề về lối sống văn hoá,

lao động chất xám và đời sống đô thị, sự định hướng, xây dựng nền văn hoá và lối sống

xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường Đáng chú ý, ở nội dung này, trong bài

viết “Lý thuyết về lối sống” in trên Tạp chí Văn hoá học số tháng 3 (49) năm 2020, tác

Trang 20

giả Bùi Hoài Sơn đã đề cập đến việc tiếp cận lý thuyết đối với lối sống Tác giả tổng hợp

ba mô hình lý thuyết có thể ứng dụng được trong nghiên cứu về lối sống ở Việt Nam đó là: mô hình cấu trúc, mô hình chức năng, mô hình thay đổi Mô hình cấu trúc chỉ ra những đặc trưng cơ bản của một lối sống và các lối sống hợp lý trong một hệ thống lớn hơn Theo đó, lối sống của một cá nhân được so sánh với một chuẩn mực lối sống Điều kiện, lựa chọn, nhận thức là ba yếu tố cơ bản xây dựng nên cấu trúc của lối sống Mô hình chức năng của thuyết lối sống giải thích hành vi trong đời sống Động cơ, sự phát triển và nhận thức là ba khía cạnh truyền thống của nghiên cứu tâm lý liên quan đến mô hình chức năng Mô hình thay đổi của thuyết lối sống đưa ra bốn nguyên lý thay đổi, có thể định hướng giúp cá nhân tìm đến một lối sống mới Bốn nguyên lý trong mô hình thay đổi là: trách nhiệm, sự tự tin, ý nghĩa và cộng đồng Mỗi lý thuyết được tác giả tổng hợp, phân tích tương đối kỹ, mang đến cách tiếp cận mới, gợi mở “cơ sở để các nhà khoa học đánh giá về lối sống và xây dựng lối sống” [119, tr.14], đặc biệt hữu ích khi “tiếp cận

lý thuyết đối với lối sống vẫn là một khoảng trống trong học thuật ở nước ta” [119, tr.3]

Nội dung thứ hai là những vấn đề cụ thể của lối sống thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều tác giả

Nghiên cứu về lối sống dân tộc có công trình tiêu biểu Đặc điểm tư duy và lối

sống của con người Việt Nam hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2011) của

nhóm tác giả Viện Triết học do Nguyễn Ngọc Hà chủ biên [49] Nhóm tác giả đã phân tích sự hình thành tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm và cả nhược điểm trong tư duy và lối sống truyền thống, từ đó so sánh, phân tích những biến đổi của tư duy và lối sống của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới tư duy và xây dựng lối sống mới của con người Việt Nam hiện nay

Tìm hiểu về đặc điểm lối sống của mỗi vùng, miền cụ thể trong phạm vi đất

nước có: Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay (1993) [53]; Lối sống đô thị miền

Trung – mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (1996) [54] đều do Lê Như Hoa chủ biên…

Các công trình này tập trung nhận diện những biểu hiện đặc thù của lối sống các đô

thị Việt Nam trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới Công trình Lối sống trong

đời sống đô thị hiện nay (1993) còn đặt ra nhiều vấn đề tích cực và tiêu cực có liên

quan và được đặt ra trong lối sống đô thị hiện nay như: sự lựa chọn phương án sống

Trang 21

14

tối ưu, lao động chất xám, giáo dục thẩm mỹ, lối sống tiêu dùng, lối sống thực dụng, lối sống tiểu nông, lối sống đô thị nhìn từ góc độ kinh tế, vấn đề nhà ở, vấn đề giáo dục trẻ em trong các gia đình đô thị…

Nghiên cứu về lối sống của thanh niên nói riêng, có các công trình: Thanh niên –

lối sống của Nguyễn Thị Oanh (2001) [111]; Xây dựng lối sống văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh của Đặng Quang Thành (2005) [125]; đặc biệt là công trình Thanh niên và lối sống của thanh niên trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

(2007) của Phạm Hồng Tung [148] Dựa trên lý thuyết xã hội hóa

(Sozialisationstheorie), tích hợp, liên ngành giữa tâm lý học, xã hội học, khoa học

chính trị và sử học, công trình nghiên cứu đã phân tích những vấn đề lý luận và cách tiếp cận đối với các vấn đề “lối sống”, “biến đổi và định hướng lối sống”, “thanh niên”,

“tuổi thanh niên” và “lối sống thanh niên”; khảo sát, phân tích tình hình thanh niên Việt Nam hiện nay và lối sống của họ; làm rõ những xu hướng biến đổi của thanh niên trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế Các xu hướng biến đổi tích cực trong lối sống của thanh niên hiện nay là: trân trọng và phát huy những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; Yêu nước, quan tâm đến tình hình đất nước và tương lai đất nước; Năng động, sáng tạo, luôn hướng tới cái mới, cái khác biệt; Tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu thành tựu văn minh và tinh hoa văn hoá thế giới Các biểu hiện tiêu cực trong biến đổi lối sống thanh niên thể hiện qua một số xu hướng như: lối sống buông thả bản thân; hành xử hung bạo, bất chấp pháp luật; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; tiếp thu thiếu chọn lọc ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài Xu hướng lối sống “thực tế, thực dụng” gồm cả hai mặt tích cực và tiêu cực được các tác giả xếp vào những biến đổi theo chiều hướng tích cực và đánh giá đây là “một giá trị văn hoá – đạo đức” bởi “nếu mặt tích cực của giá trị này được hiện thực hoá thì nó sẽ góp phần giúp cho thanh niên khắc phục được tư duy duy ý chí, giáo điều, giảm thiểu được cách hành xử cảm tính, duy tình và lối nghĩ viển vông” [148, tr 287] Công trình cũng đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng lối sống thanh niên phù hợp với tình hình hiện nay Đây là công trình có ý nghĩa

cả về mặt lý luận khoa học và thực tiễn

Tìm hiểu về mối quan hệ giữa tôn giáo và lối sống, ảnh hưởng của tôn giáo đến

lối sống có Ảnh hưởng của tư duy tôn giáo đến lối sống người Việt (2012) của Phùng

Thị An Na, Đỗ Lan Hiền [98] Dưới góc nhìn triết học, các tác giả khẳng định mối quan

Trang 22

hệ chặt chẽ giữa tư duy và tôn giáo Những ảnh hưởng tôn giáo đến lối sống người Việt được các tác giả phân tích qua cách con người ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử trong giao tiếp, qua cách thức lao động sản xuất và hoạt động tư tưởng Nghiên cứu của các tác giả đã đưa đến những nhận thức sâu sắc hơn về bản tính tộc người và lối sống của người Việt

Phân tích những tác động của khoa học công nghệ, của quá trình công nghiệp hóa, toàn cầu hoá đến lối sống được khá nhiều các tác giả quan tâm Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài viết “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa” khẳng định “các giá trị của toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ tới lối sống người Việt Nam, tạo ra những chuyển biến quan trọng”, “trang bị cho người Việt Nam những nhận thức mới và tầm nhìn mới” [65, tr 494 – 495] Song toàn cầu hóa “cũng đặt ra những thách thức vô cùng bức xúc và nan giải”, “là nhân tố phá vỡ nhiều hình thức và nội dung trong lối sống truyền thống Việt Nam” [65, tr 501] Tác giả phân tích rất nhiều những biểu hiện tiêu cực của lối sống hiện nay như: lối sống tiêu thụ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, lối chơi thời thượng, chạy theo mốt, lối sống lạnh lùng “tiền trao cháo múc”, lối sống gấp, tuyệt đối hóa vật chất – kỹ thuật… Song đôi lúc, tác giả có phần hơi cực đoan khi đánh giá về lối sống phương Tây với “nhiều yếu tố phi nhân tính”, “đã từng dẫn xã hội đó đến sự què quặt”, “lây nhiễm” vào nước ta “gây nên những vết thương nhức nhối ngày càng khó cắt bỏ trên cơ thể lành mạnh của lối sống xã hội chủ nghĩa” [65, tr 503]… Chuyển từ 08 đề tài trong chương trình khoa học cấp Bộ, cuốn

sách Hoạt động văn hoá thể thao, du lịch và lối sống của con người Việt Nam hiện nay

do tác giả Hoàng Tuấn Anh và Nguyễn Chí Bền [3] chủ biên nghiên cứu lối sống trong mối quan hệ với nhân cách văn hoá từ phương diện lý luận và thực tiễn Cuốn sách phân tích những tác động của bối cảnh hiện nay đến lối sống của người Việt trên ba phương diện: văn hoá, thể thao và du lịch Ba hoạt động đặc thù này đã tác động đến lối sống người Việt với những thay đổi lớn lao: từ cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh đến cách thức ứng xử, các tập quán, quan niệm… Với vai trò, nhiệm vụ, chức năng của

cơ quan quản lý về văn hoá, thể thao, du lịch, công trình cũng đề xuất những quan điểm, giải pháp xây dựng lối sống cho con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Luận án

tiến sĩ triết học Tác động của khoa học công nghệ hiện đại đến lối sống của người Việt

Nam hiện nay (2013) của Lê Thị Thắm [127] cũng chỉ ra những tác động tích cực và

Trang 23

16

tiêu cực của cách mạng khoa học công nghệ đến lối sống người Việt Luận án đề xuất một số giải pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của khoa học công nghệ đến lối sống người Việt hiện nay Nghiên cứu lối sống của một

làng xã cụ thể, luận án tiến sĩ văn hóa học Sự biến đổi lối sống làng xã vùng châu thổ

Bắc Bộ qua nghiên cứu làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội (2015) của

Lê Thị Tuyết tập trung phân tích những biến đổi lối sống của người dân dưới tác động của quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Phân tích thực trạng biến đổi lối sống làng xã qua hoạt động mưu sinh, tập quán sinh hoạt vật chất, qua quan

hệ xã hội và hoạt động tinh thần, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi lối sống, luận

án khẳng định “biến đổi lối sống luôn luôn là hệ quả của biến đổi xã hội và là biểu hiện

rõ nét nhất sự biến đổi của một nền văn hóa” [150, tr 10]

Những nghiên cứu về lối sống ở Việt Nam trình bày ở trên cho thấy nghiên cứu

về lối sống là một đề tài rộng lớn, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau Nội dung nghiên cứu về lối sống bao gồm phong phú các vấn đề từ lý luận đến thực tiễn với rất nhiều những đặc điểm, phương diện biểu hiện cụ thể của lối sống Nghiên cứu lối sống là nghiên cứu liên ngành của các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, tâm lý học, văn hóa học

1.1.1.2 Nghiên cứu về lối sống gia đình

Dưới góc nhìn xã hội học, tâm lý học, vấn đề lối sống trong gia đình đã được

trực tiếp nghiên cứu trong một số công trình Tiêu biểu là cuốn Lối sống gia đình ngày

nay (1987) của tác giả Mai Huy Bích Xuất phát từ quan điểm lý thuyết chung “gia đình

là tế bào của xã hội” và xuất phát từ những nguyên nhân thực tiễn cụ thể, Mai Huy Bích cho rằng muốn hiểu thấu đáo nhiều hiện tượng trong đời sống xã hội thì không thể không nghiên cứu lối sống gia đình Lối sống gia đình chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ những điều kiện sống của bản thân gia đình, biểu hiện qua những “hoạt động sống muôn hình nhiều vẻ” [14, tr 22] Phân tích lối sống gia đình, tác giả chọn góc độ xem xét theo chức năng, xem lối sống gia đình qua việc thực hiện ba chức năng quan trọng nhất là sinh đẻ, dạy dỗ con cái và tổ chức sinh hoạt gia đình

Cuốn Xã hội học đô thị (2005) của Trịnh Duy Luân trình bày những vấn đề cơ

bản về đô thị, trong đó tác giả dành một chương phân tích về “Cơ cấu xã hội và lối sống của cộng đồng dân cư đô thị” Một số đặc điểm lối sống gia đình đô thị đã được tác giả

Trang 24

phân tích trên một số bình diện như: cơ cấu, chức năng, nghề nghiệp, số lượng và chất lượng thời gian rỗi Những bình diện này ở lối sống gia đình đô thị luôn khác với lối sống gia đình nông thôn “do được hưởng thành quả của đối mới nhiều nhất (…) các gia đình đô thị có những thay đổi nhanh nhất”, cụ thể: “trên bình diện kinh tế, các gia đình

đô thị chuyển đổi nhanh chóng từ chỗ chủ yếu dựa vào bao cấp nhà nước sang việc cạnh tranh để giành các cơ hội kinh tế của thời mở cửa”, “cách thức tổ chức và sử dụng thời gian rỗi phong phú và đa dạng hơn”, “trong chức năng tái sản xuất dân số, tỷ lệ sinh ở các gia đình đô thị luôn thấp hơn gia đình nông thôn”… [86, tr 139 – 143]

Gần gũi với vấn đề lối sống, tác giả Nguyễn Hồng Hà tìm hiểu về Nếp sống gia

đình ở khu đô thị mới (nghiên cứu trường hợp khu chung cư Trung Hòa – Nhân

Chính) (2012) [48] dưới tác động của các nhân tố kinh tế, văn hóa xã hội Tác giả đã phân tích những tương tác giữa các thành viên trong gia đình và quan hệ xã hội của gia đình: tương tác cùng thế hệ, tương tác liên thế hệ, tương tác trong quan hệ cộng đồng gia đình Tuy nhiên, nếp sống hẹp hơn lối sống Nếp sống là những thói quen được lặp đi lặp lại trong cuộc sống hằng ngày, trở thành “nếp” trong mọi hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt của con người Nếp sống cũng có những biến đổi, tuy nhiên có tính ổn định và bền vững hơn lối sống

Những nghiên cứu, tìm hiểu về lối sống dưới góc nhìn xã hội học, tâm lý học là những nguồn tài liệu tham khảo cho chúng tôi khi thực hiện đề tài luận án

Dưới góc nhìn văn hóa học, cho đến nay, mới có ít công trình chuyên khảo trực tiếp nghiên cứu về vấn đề lối sống gia đình Các yếu tố chi phối đến việc hình thành lối sống và biểu hiện của lối sống trong gia đình như: hoạt động mưu sinh, đời sống sinh hoạt vật chất và đời sống sinh hoạt tinh thần thường được lồng ghép trong các nghiên cứu về văn hóa gia đình Thực chất lối sống và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Lối sống vừa là một bộ phận của văn hóa, vừa là sự phản ánh văn hóa của cộng đồng Và xét đến cùng, “những nghiên cứu về lối sống của con người nhìn chung đều được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu văn hóa, thậm chí là trong khuôn khổ của nghiên cứu về văn hóa” [148, tr 17]

Trong các nghiên cứu về văn hóa gia đình (trong đó có lối sống gia đình), chúng tôi thấy phương diện văn hóa sinh hoạt tinh thần được tập trung nghiên cứu nhiều nhất, biểu hiện qua những ghi chép, luận bàn về nề nếp, gia phong, nghi thức, nghi lễ và các

Trang 25

18

mối quan hệ trong gia đình Điều này được phản ánh trong các nghiên cứu về gia đình

và văn hóa gia đình từ thời kỳ trung đại cho đến hiện nay

Ở thời trung đại, nề nếp, gia phong, nghi thức, nghi lễ trong gia đình được thể hiện chủ yếu qua những lời răn dạy, những kinh nghiệm ứng xử trong ca dao, thơ văn, trong các hương ước làng xã Nếu coi việc xây dựng luật pháp về gia đình cũng bắt nguồn từ nghiên cứu về gia đình thì trong Luật Hồng Đức (1483) và Luật Gia Long (1822) ở nước ta có rất nhiều các vấn đề về gia đình (lối sống gia đình) phong kiến được phản ánh, như: tính tôn ti trật tự, uy quyền của người con trưởng, sự phụ thuộc của người phụ nữ, đề cao chữ hiếu, sự thủy chung, hòa thuận, phê phán những biểu hiện trái với luân thường đạo lý Hai bộ luật đã góp phần xác lập giá trị gia đình trong xã hội phong kiến, góp phần gìn giữ và đề cao các giá trị trong truyền thống văn hóa gia đình của người Việt

Thế kỷ XVIII, tác giả Hồ Sỹ Tân (1690 – 1760) viết cuốn Thọ Mai gia lễ quy

định các phong tục, nghi lễ trong gia đình, chủ yếu về lễ tang Cuốn sách cho thấy sự thiêng liêng về gia đình được thể hiện trong nghi lễ người Việt, phản ánh mối quan hệ gắn bó sâu sắc giữa các thành viên trong gia đình, không chỉ trong đời sống thường nhật mà cả trong đời sống văn hóa tâm linh Cuốn sách này hiện nay vẫn được nhiều gia đình tìm hiểu và tiếp tục thực hành theo những nghi lễ truyền thống

Từ đầu thế kỷ XX đến trước 1945, trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây,

xã hội Việt Nam và văn hóa gia đình, lối sống gia đình người Việt, đặc biệt là gia đình

đô thị có nhiều thay đổi Nghiên cứu về gia đình Việt Nam nói chung, văn hóa gia đình Việt Nam nói riêng được một số tác giả quan tâm

Các phong tục tập quán, những đặc điểm trong lối sống, văn hóa gia đình Việt

Nam được giới thiệu trong một số công trình: Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính, tái bản năm 2005 [9], Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh [2]…

Việt Nam phong tục nghiên cứu văn hóa gia đình Việt Nam từ góc nhìn dân tộc học

Nhóm phong tục gia đình được miêu tả gồm 22 mục với những quy định cụ thể về mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, về chữ hiếu của đạo làm con, về đạo vợ chồng, tình nghĩa vợ chồng Không chỉ “kê cứu”, đánh giá những cái hay, cái đẹp, tác giả còn luận bàn cả những cái “dở”, “hủ bại” của mỗi phong tục trong gia đình người Việt Với việc ghi chép, giới thiệu, miêu tả các phong tục, cuốn sách đã phản ánh phần nào những đặc

Trang 26

điểm, giá trị trong lối sống, văn hóa gia đình người Việt truyền thống Giống như Phan

Kế Bính, trong Việt Nam văn hóa sử cương, ở mục “gia tộc”, Đào Duy Anh cũng giới

thiệu, phân tích các đặc điểm trong văn hóa gia đình truyền thống Tuy nhiên, nếu Phan

Kế Bính cho rằng “các phong tục ta bây giờ, phần nhiều do ở Tàu mà ra cả” và gợi mở tiếp thu các yếu tố văn minh phương Tây [9, tr 1] thì Đào Duy Anh chỉ ra sự khác biệt giữa văn hóa gia đình Việt Nam và Trung Hoa, khẳng định nét riêng trong văn hóa gia đình người Việt, vai trò của văn hóa gia đình trong văn hóa dân tộc

Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám 1945, mặc dù phần lớn các cuốn sách mới dừng lại ở những ghi chép và một số những luận bàn về phong tục gia đình người Việt nhưng có thể nói, đây là những cuốn sách có giá trị trong việc khắc họa, phản ánh một phần những đặc điểm gia đình người Việt truyền thống trong tình hình những nghiên cứu, ghi chép về gia đình truyền thống người Việt vẫn còn rất ít ỏi

Từ sau đổi mới (1986) đến nay, đặc biệt là từ khi Liên hiệp quốc lấy năm 1994

là năm quốc tế về gia đình, nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình (trong đó có những phương diện của lối sống gia đình) ngày càng được quan tâm

Các nghiên cứu tiếp tục bàn về những đặc điểm của gia đình truyền thống, trong

đó có đề cập đến một số nội dung liên quan đến lối sống gia đình như nề nếp, gia phong, gia lễ, những nguyên tắc ứng xử, những chuẩn mực đạo đức… Một số các công trình

tiêu biểu có thể kể đến như: Nền nếp gia phong (1996) [120], Đạo nghĩa trong gia đình (1999) [121], Gia lễ xưa và nay (2011) [122] đều của Phạm Côn Sơn; Văn hóa gia đình (2006) của Vũ Ngọc Khánh [74]; Lễ tục trong gia đình người Việt (2007) của Bùi Xuân

Mỹ [97] … Các tác giả đều khẳng định vai trò của nề nếp, gia phong và việc duy trì nề nếp gia phong trong gia đình đối với cá nhân và xã hội Phạm Côn Sơn khẳng định gia

lễ, gia giáo “ảnh hưởng sâu sắc tới phẩm cách, cuộc sống của con người Việt Nam” [122, tr 12], “chỉ có những người nào hấp thụ được một truyền thống giáo dục gia đình

có quy củ, biết tôn trọng gia lễ, gia phong mới có thể là những con người biết trọng danh dự, chấp hành kỷ luật, luật pháp nhà nước cùng chu toàn những trọng trách do xã hội giao phó” [122, tr 16] Tác giả Vũ Ngọc Khánh cũng khẳng định “có một văn hóa gia đình Việt Nam”, “bàn đến văn hóa gia đình Việt Nam, nên chăng có thể nói thẳng ra cho mọi người nhận chân được quan niệm thực sự là văn hóa truyền thống Việt Nam

Trang 27

đề mối liên hệ giữa văn hóa gia đình truyền thống và hiện đại, giá trị của văn hóa, của lối sống gia đình truyền thống trong bối cảnh hiện nay

“Đi tìm những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống”, trên cơ sở phân tích những đặc điểm về địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử Việt Nam, Đặng Cảnh Khanh đã nhận diện một số đặc điểm nổi bật trong văn hóa và lối sống gia đình người Việt truyền thống: tính cộng đồng; giàu tình nghĩa, lấy tình cảm làm cơ sở xử lý các mối quan hệ gia đình và xã hội; coi trọng sự bình đẳng, đặc biệt coi trọng sự “thuận vợ thuận chồng” Chỉ ra những hạn chế và nhu cầu khắc phục hạn chế của gia đình Việt Nam trước những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bài viết đặt vấn đề

“liệu có phải gia đình truyền thống với tất cả các khía cạnh về cơ cấu, hệ giá trị và các quy chuẩn trong việc xử lý các mối quan hệ ông bà, cháu chắt, cha con, vợ chồng, anh em… đã là những khuôn mẫu tốt đẹp để chúng ta noi theo?” [73, tr 107]

Cùng quan điểm với Đặng Cảnh Khanh, trong công trình Gia đình và biến đổi

gia đình ở Việt Nam (2012), Lê Ngọc Văn phân tích những đặc trưng của gia đình

truyền thống và văn hóa, lối sống trong gia đình người Việt: tính cộng đồng, tình yêu thương, trách nhiệm, sự hòa thuận, thủy chung… Tác giả cho rằng gia đình truyền thống Việt Nam là hình thái gắn liền với xã hội nông thôn, nông nghiệp, là sản phẩm của xã hội nông nghiệp trồng lúa nước, tiêu biểu là ở đồng bằng Bắc Bộ Thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bằng những mối liên hệ vật chất quyết định sự sống còn của họ và bằng mối liên hệ tình cảm là sự gắn bó giới tính nam nữ, tình yêu thương của cha mẹ với con cái, sự kính trọng, biết ơn của con cháu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ [153,

tr 61 - 63] Tác giả đặt ra câu hỏi liệu những giá trị văn hóa gia đình còn lưu giữ được bao nhiêu? Những giá trị ấy sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào trước những biến đổi rất lớn của xã hội hiện đại?

Trong các vấn đề của gia đình hiện đại, vấn đề biến đổi văn hoá gia đình (trong

đó có liên quan đến lối sống gia đình) được rất nhiều các tác giả quan tâm

Trang 28

Đa số các nghiên cứu dưới góc độ xã hội học đều chỉ ra rằng những biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã có ảnh hưởng trực tiếp đến biến đổi gia đình Những nghiên cứu này tuy không trực tiếp nhắc đến biến đổi lối sống gia đình nhưng trong quá trình tìm hiểu những biến đổi về quy mô, cấu trúc, chức năng gia đình cũng ít nhiều đề cập đến các khía cạnh liên quan đến lối sống gia đình Đó là sự thay đổi về quy mô gia đình theo xu hướng ngày càng nhỏ và số con cũng ổn định hơn Song song với nhu cầu về vật chất, nhu cầu thoả mãn tâm lý – tình cảm ngày một tăng lên trong xã hội hiện đại Các hiện tượng như: gia đình mẹ đơn thân, gia đình ly thân, ly hôn và tái hôn, gia đình nông thôn có chồng hoặc vợ đi làm ăn xa, xuất khẩu lao động, phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, hiện tượng sống thử trước hôn nhân, xu hướng không kết hôn hoặc kết hôn chậm… ngày càng đậm nét hơn trong lối sống của các gia đình [11], [92], [133], [135], [148]

Dưới góc độ văn hóa học, biến đổi gia đình thường được nhìn nhận qua việc biến đổi các giá trị văn hóa gia đình, trong đó có nhắc đến những biểu hiện của biến đổi lối sống gia đình

Nghiên cứu “những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô

Hà Nội trong thời kỳ đổi mới” (2007), nhóm tác giả do Ngô Văn Giá chủ biên đã dành

một phần nội dung phân tích những biến đổi giá trị trong cộng đồng gia đình Cụ thể: kiến trúc nhà cao tầng với kết cấu nhiều phòng, tối đa hóa sinh hoạt cá nhân làm giảm mối quan hệ cộng đồng; bàn thờ gia tiên không đặt ở giữa nhà mà đặt ở gian cao nhất làm cho mối liên hệ với tổ tiên chỉ được nhắc nhở vào các ngày cúng lễ thông qua một thành viên thường xuyên làm việc này; phương thức sản xuất chính trong gia đình không phải chỉ là nông nghiệp mà còn là công nghiệp, dịch vụ khiến cho con người ngày càng bận rộn hơn; những giá trị gia đình truyền thống không ngăn cản được sự buông thả trong lối sống, nếp sống; những tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp… cũng gia tăng [44]

Trong bài viết “Gia đình trong quá trình đô thị hoá ở vùng ven đô Hà Nội”, qua nghiên cứu trường hợp xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, tác giả Bùi Văn Tuấn đã phân tích những biến đổi của gia đình trên các phương diện: quy mô, cấu trúc, chức năng gia đình, chất lượng sống gia đình… Những biến đổi này một mặt tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, mặt khác cũng đặt gia đình trước những nguy cơ và thách thức mới như

Trang 29

22

“lối sống thực dụng ích kỷ, đề cao cuộc sống hưởng thụ, cổ xuý cho tư tưởng tự do phát triển cá nhân”, “cuộc sống tiện nghi với những phương tiện công nghệ cao đã tạo nên những “ốc đảo” ngay trong mỗi gia đình”, “văn hoá ứng xử bị xuống cấp, đạo đức bị coi nhẹ”… [147, tr 432]

Tìm hiểu “Một số biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, ngoài việc phân tích những biến đổi trong mô hình gia đình, trong phương diện tổ chức cuộc sống, Nghiêm Thu Nga còn chỉ ra sự thay đổi nhận thức về giá trị gia đình trong quan niệm của nhiều người trẻ hiện nay Đối với không ít người, gia đình không còn là giá trị duy nhất, nhiều người không muốn bị ràng buộc bởi cuộc sống gia đình Số người hướng tới cuộc sống độc thân ngày càng nhiều Một số bạn trẻ vị thành niên, dù được bố mẹ chu cấp cho một cuộc sống đầy đủ nhưng lại muốn thoát ly gia đình, sống độc lập ngoài xã hội [101]

Vấn đề biến đổi văn hóa gia đình, trong đó có liên quan đến lối sống gia đình

cũng thu hút một số luận án chuyên ngành văn hóa học tìm hiểu như: Sự biến đổi của

văn hóa gia đình đô thị ở Hà Nội từ năm 1986 đến nay (2009) của Vũ Thị Huệ [62], Sự biến đổi văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (2015) của

Nguyễn Thị Nguyệt [110], Hệ giá trị gia đình ven đô Hà Nội hiện nay (trường hợp làng

Sáp Mai, xã Võng La, huyện Đông Anh, Hà Nội) (2018) của Nguyễn Thị Phượng

[115] Trong sự biến đổi văn hoá gia đình có sự biến đổi về lối sống gia đình như: hình thành lối sống dân chủ, bình đẳng; xuất hiện lối sống thử trước hôn nhân; sự thay đổi quan niệm về giá trị con cái; sự gia tăng các nhu cầu giải trí, thư giãn… Các luận án này đều là các nghiên cứu trường hợp, so sánh sự biến đổi văn hóa gia đình qua một mốc thời gian đã chọn gắn với đối tượng nghiên cứu, từ đó chỉ ra nhân tố tác động đến

sự biến đổi, phân tích các xu hướng biến đổi hoặc đề xuất một số giải pháp gìn giữ và xây dựng những nét đẹp của văn hóa gia đình

Có thể thấy, các nghiên cứu về văn hóa gia đình nói chung đã đề cập đến một số khía cạnh của lối sống gia đình Một số phương diện biểu hiện và đặc điểm của lối sống trong gia đình đã được quan tâm tìm hiểu như: nề nếp, phong tục, đời sống văn hóa tinh thần, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình… Tuy vậy, những nghiên cứu nói trên vẫn chỉ là những nghiên cứu gián tiếp, chưa có các công trình nghiên cứu một cách độc lập, chuyên sâu, trực tiếp về vấn đề lối sống gia đình

Trang 30

1.1.2 Nghiên cứu về thế hệ trong gia đình

1.1.2.1 Nghiên cứu về thế hệ người nói chung

Nghiên cứu về thế hệ người nói chung chủ yếu được triển khai theo hai hướng

cơ bản: một là chỉ ra các đặc điểm của thế hệ người Việt Nam, hai là nghiên cứu về một thế hệ người trong xã hội (thường là thế hệ trẻ hoặc thế hệ già)

Ở hướng nghiên cứu thứ nhất, nổi bật lên là một số công trình của tác giả Lê Thi: “Sự phát triển các thế hệ người Việt Nam dưới tác động của lịch sử, văn hóa đất nước” (2007) [136]; “Đặc điểm của các thế hệ Việt Nam hiện nay và con đường chung

sống hòa hợp” (2007) [137] và đặc biệt là cuốn Sự tương đồng và khác biệt trong quan

niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay (2009) [138]

Trong cuốn Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình

giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay, tác giả Lê Thi đề xuất khái niệm thế hệ người,

phân chia thế hệ người theo lứa tuổi Tác giả khái quát đặc điểm chung của từng thế hệ như: thế hệ trẻ nhiều ước mơ và khát vọng, năng động, sáng tạo, ưa đổi mới; thế hệ trung niên biết quan tâm đến sự nghiệp, thận trọng, biết tính toán thiệt hơn; thế hệ người già hay hồi tưởng quá khứ, thích tham gia các hoạt động cộng đồng… Mặc dù vậy, một số nhận xét thế hệ trẻ “chưa nhìn xa, lo xa, mới thấy cái trước mắt, chưa thấy cái lâu dài”, “còn ham chơi”, “chưa thận trọng”, “dễ tự kiêu” [138, tr.30], thế hệ già

“ngạc nhiên trước những tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, phải thú nhận sự dốt nát của mình trước nhiều việc mà lớp trẻ hiểu và làm được” [138, tr.37] là chưa thật sự đúng trong nhiều trường hợp Thực tế, có rất nhiều người thuộc thế hệ trẻ

đã biết nhìn xa trông rộng và trưởng thành, thành đạt từ rất sớm; và cũng nhiều người già, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay rất nhanh nhạy, nắm bắt kịp thời những tiến

bộ của khoa học kỹ thuật, thành thạo công nghệ hiện đại không thua kém gì thế hệ trẻ Nghiên cứu của tác giả, đặc biệt là quan niệm về thế hệ người Việt Nam hiện nay là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi khi tiến hành luận án

Bài viết “Thế hệ, khoảng cách thế hệ và hệ quả” của tác giả Trần Luân Kim quan tâm đến khoảng cách thế hệ trong giai đoạn nhiều biến động như hiện nay Theo tác giả,

có nhiều tiêu chí để xác định thế hệ như: tiêu chí thời đại, tiêu chí giai đoạn lịch sử, nhưng thường thấy nhất là theo lứa tuổi, được xác định là thế hệ cha và thế hệ con Bài

Trang 31

24

viết khẳng định có sự khác biệt thế hệ, khoảng cách thế hệ là hiện tượng tự nhiên phù hợp quy luật phát triển khách quan của đời sống, nhưng nếu vượt qua giới hạn hợp lý, không có sự quan tâm, điều chỉnh, khoảng cách thế hệ sẽ hàm chứa nguy cơ đối với từng gia đình và toàn xã hội Từ việc phân tích hệ quả tiêu cực của sự khác biệt thế hệ, bài viết đề xuất “cải hoán cách biệt thế hệ thành kết nối thế hệ, gắn kết lớp trước với lớp sau, truyền thống với hiện đại, tạo nên sức mạnh nội sinh của mỗi con người cũng như của cả dân tộc để vươn nhanh lên đỉnh cao, lưu dấu xứng đáng trên các chặng đường đi qua, là trọng trách thiêng liêng của mỗi thế hệ trên cõi đời” [77, tr 16]

Hướng nghiên cứu thứ hai quan tâm đến một thế hệ cụ thể trong xã hội như thế hệ trẻ em, thế hệ thanh niên, thế hệ người cao tuổi Những nghiên cứu này thiên về việc tập trung phân tích một vấn đề của thế hệ như: vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em; thực trạng trẻ

em phạm tội [72], [76], [90]; vấn đề thực trạng, định hướng, xây dựng lối sống, lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên [1], [33], [142]; vấn đề chăm sóc người cao tuổi, những mong muốn của thế hệ người cao tuổi [135], [153] Phần lớn các nghiên cứu này thuộc về chuyên ngành triết học, xã hội học

1.1.2.2 Nghiên cứu thế hệ người trong gia đình

Nghiên cứu về thế hệ và lối sống của thế hệ người trong gia đình chưa được quan tâm trong các công trình chuyên sâu, chủ yếu là các nghiên cứu tập trung tìm hiểu

mối quan hệ giữa các thế hệ người trong gia đình Đây cũng là một phương diện biểu

hiện của lối sống gia đình và có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án

Nguyễn Bích Khánh Trâm trong phần viết “Quan hệ giữa các thế hệ” (Xu hướng

gia đình ngày nay, 2006) nhận định “quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình là một quan

hệ được cấu trúc hóa theo những chuẩn mực phản ánh hệ tư tưởng của một xã hội, đặc trưng cho nét riêng biệt của một nền văn hóa” [132, tr 134] Nhiều vấn đề trong gia đình có thể đặt ra phân tích từ góc độ quan hệ giữa các thế hệ như: vai trò của bố mẹ trong hôn nhân của con cái, ảnh hưởng của quan niệm về giá trị con cái của thế hệ bố

mẹ đã tác động đến mô hình gia đình như thế nào… Bản chất quan hệ của các thế hệ trong gia đình sẽ có những thay đổi khi xã hội có biến đổi

Nghiên cứu về quan hệ giữa các thế hệ người trong gia đình thường được thể hiện qua những phân tích về mối quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu và ngược

Trang 32

lại; so sánh mối quan hệ đó giữa xưa và nay, từ đó luận bàn về sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay

Về mối quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu và mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ trong gia đình truyền thống, các nghiên cứu đều khẳng định vai trò tuyệt đối của ông bà, cha mẹ và bổn phận của con cái là phải phục tùng Vũ Thị Phương Hậu, Lê Thi, trong các nghiên cứu định tính, khẳng định: “Nguyên tắc sử xự trong gia đình là sai khiến và phục tùng, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của gia đình, dòng họ, không có bình đẳng, dân chủ, trên nói dưới phải tuân theo”; “tiếng nói của người già là tiếng nói quyết định”; “quyền người gia trưởng trong gia đình truyền thống là rất lớn” [11, tr 526]; “nguyên tắc chỉ đạo các quan hệ gia đình không phải là

sự bình đẳng, dân chủ mà là uy quyền, thông qua tình nghĩa để tạo ra sự êm ấm, thông qua lễ để tạo ra dáng vẻ hợp lý trong cách sống” [135, tr 295] Theo tác giả Lê Ngọc Văn, trong gia đình truyền thống, sự chăm sóc, hỗ trợ của con cháu đối với ông bà (người cao tuổi) là một đạo hiếu của người Việt, thể hiện tình cảm yêu thương giữa những người có chung huyết thống, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, và là quy luật tự nhiên của mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình Lê Ngọc Văn đã khái quát một trong những lý do cơ bản nhất chi phối đến các đặc điểm trên là “tư tưởng về đạo hiếu, cốt lõi của luân lý và đạo đức gia đình theo Nho giáo” [153, tr 410]

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình truyền thống, các nghiên cứu đã so sánh, phân tích, luận bàn mối quan hệ và sự thay đổi mối quan hệ trong gia đình hiện nay

Gia đình hiện nay vẫn đề cao sự chung thủy, tình nghĩa vợ chồng, lòng hiếu thảo,

sự biết ơn của con cháu với ông bà tổ tiên nhưng cũng đề cao quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân Tiếng nói quyết định trong gia đình hiện nay không hẳn chỉ là người đàn ông (người chồng, người cha), người lớn tuổi trong gia đình mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tính chất công việc trong gia đình, người nắm giữ về mặt kinh tế… [153] Vũ Thị Phương Hậu cho rằng: “Nguyên tắc ứng xử mới của gia đình hiện nay

là sự dung hòa lợi ích của từng thành viên với lợi ích chung của cả gia đình” [11, tr 526] Việc truyền thụ các giá trị văn hóa giữa các thế hệ không diễn ra một chiều như trước mà hiện nay có sự tương tác hai chiều từ thế hệ già đến thế hệ trẻ và ngược lại Trong các gia đình ba thế hệ, có thể có những khó khăn nhưng lại tạo điều kiện cho

Trang 33

26

các thế hệ biết dựa vào nhau, giúp đỡ nhau cùng hưởng hạnh phúc: ông bà giúp đỡ con trong việc chăm sóc, dạy dỗ các cháu, cung cấp cho con cháu kinh nghiệm làm ăn, giao tiếp, ứng xử, ngược lại, ở với con cháu họ cũng thu được nhiều thông tin, kiến thức mới [11], [135]

Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra những biến đổi không thuận chiều trong mối quan hệ giữa con cháu với ông bà Những biến đổi này chủ yếu tác động nhiều đến lớp người già Nghiên cứu “các mối quan hệ trong gia đình ở Việt Nam: một số vấn đề cần quan tâm”, Nguyễn Hữu Minh nhận xét một số bộ phận không nhỏ người già cảm thấy thiếu buồn phiền khi thiếu sự quan tâm, hỏi han của con cháu và thấy không còn được tôn trọng như trước đây [91, tr.392 – 393] Trần Thanh Giang trong bài viết “Vai trò của người cao tuổi trong xây dựng văn hoá gia đình và những vấn đề đặt ra hiện nay” phân tích một thực tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá khi nhịp sống văn hoá thay đổi, vai trò của người cao tuổi với việc xây dựng văn hoá gia đình đang phải đối mặt với những thay đổi, thách thức mới, nhiều người cao tuổi rơi vào tình trạng không có chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần [45, tr.249 - 254]

Về mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, một số nghiên cứu cũng tìm hiểu sự khác biệt giữa các thế hệ qua hôn nhân và giá trị gia đình

Công trình Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình

giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Thi với phương pháp chính là

điều tra xã hội học, khảo sát về mặt định tính và định lượng đã phân tích những điểm thống nhất và khác biệt trong nhận thức về quan niệm hôn nhân của các thế hệ, chỉ ra nguyên nhân và hệ quả trong cách họ giải quyết các vấn đề trong gia đình và ngoài xã hội Kết quả nghiên cứu đã làm rõ sự đan xen và kết hợp “những chuẩn mực văn hóa truyền thống của dân tộc ta với những giá trị tư tưởng tiến bộ của thời đại” [138, tr.6]

Bài viết “Sự tương đồng và khác biệt về giá trị gia đình giữa các lớp thế hệ và giữa nam và nữ” của tác giả Trịnh Thị Quang [118] nhận diện sự khác biệt giá trị gia đình giữa các thế hệ, giữa nam và nữ trong nhận thức, thái độ về tình yêu và hôn nhân; về quan hệ tình dục; về tầm quan trọng của tình cảm và vật chất trong các quan

hệ gia đình và về một số giá trị gia đình như: nhận thức, thái độ về quyền của các thành viên gia đình, thái độ kính trọng và chăm sóc người cao tuổi, quan hệ mẹ chồng nàng dâu… Qua nghiên cứu trường hợp một xã nông thôn ở ngoại thành Hà Nội, bài

Trang 34

viết nhận định các giá trị gia đình giữa chuẩn mực và thực tế đã có những khoảng cách, tuy nhiên “quá trình chuyển hoá của các giá trị gia đình từ khuôn mẫu truyền thống sang các khuôn mẫu mới hầu như chưa thể hoàn chỉnh” [118, tr.155] Sự biến đổi các giá trị gia đình cho thấy “sức sống của những giá trị truyền thống của Việt Nam, đồng thời cũng cho thấy tính năng động trong việc thích ứng với điều kiện mới của các lớp thế hệ, đặc biệt là thanh niên” [118, tr.156] Nghiên cứu cũng cảnh báo

“sự lĩnh hội cái mới của thanh niên cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu họ không được giúp

ra, các nghiên cứu trường hợp dưới góc nhìn xã hội học, tâm lý học… còn chỉ ra rất nhiều mâu thuẫn khác giữa các thế hệ trong cuộc sống gia đình ở các khía cạnh: chi tiêu, mua sắm, ứng xử, kiếm tiền, dạy dỗ trẻ, nội trợ và phân chia tài sản, quan hệ

họ hàng, cách thức làm ăn [48], [67]

Dưới góc nhìn văn hóa, Đặng Thành Hưng trong bài viết “Mâu thuẫn thế hệ trong gia đình hiện nay – những phương thức mới” (1994) cho rằng, mâu thuẫn trong gia đình thường có hai hình thức biểu hiện: khác biệt hoặc bất đồng (không đối kháng) và xung đột (đối kháng) Trong xã hội truyền thống, mâu thuẫn gia đình thường phát sinh và được điều hòa chủ yếu thông qua quan niệm đạo đức, đời sống tâm lý, tình cảm giữa ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt Kết quả của mâu thuẫn thế

hệ trong gia đình truyền thống có thể “chỉ ảnh hưởng ngấm ngầm”, “làm cho mâu thuẫn thế hệ âm ỉ” Mâu thuẫn thế hệ trong gia đình hiện nay thường bộc lộ công khai hơn, dễ nhận thấy hơn, “dường như có chiều hướng tiêu cực trầm trọng hơn” Chúng tôi nhất trí với nhận xét của tác giả khi cho rằng những mâu thuẫn và khác

Trang 35

28

biệt trẻ - già không chỉ có tính chất tiêu cực mà “có tính chất rất tích cực như là những mâu thuẫn biện chứng, động lực của sự phát triển và sự tiếp nối thế hệ, sinh khí của các gia đình” [66, tr 7]

Nhìn nhận về thế hệ trẻ và thế hệ già trong gia đình, đặc biệt là trước những thay đổi trong mối quan hệ giữa các thế hệ xưa và nay, đã xuất hiện những xu hướng, quan điểm khác nhau

Có quan điểm đề xuất lấy văn hóa truyền thống, lấy đặc điểm thế hệ cũ làm chuẩn mực để nhìn nhận, đánh giá thế hệ mới, đặc biệt là trước những dấu hiệu khủng hoảng gia đình trong xã hội hiện đại Trong các cuộc hội thảo, không ít nhà quản lý đã lên tiếng đề xuất duy trì loại hình gia đình truyền thống, giảm bớt xu hướng gia đình hạt nhân, đưa phụ nữ trở lại nhiều hơn với gia đình [dẫn theo Đặng Cảnh Khanh, 73,

tr.106 - 107] Đặc biệt trong Gia lễ xưa và nay, khi lấy truyền thống nhìn vào hiện tại,

Phạm Côn Sơn đã có phần cực đoan trong so sánh và cho rằng thế hệ trẻ ngày nay không bằng thế hệ trẻ ngày xưa Thế hệ xưa được đánh giá là những người có phẩm cách gia giáo: đến nhà ai, biết ý tứ nhìn vào cái bàn thờ để tìm chỗ ngồi phù hợp; trẻ con mới ba, bốn tuổi đã biết “đi phải thưa, về phải trình”, biết cung kính nội ngoại, ra đường biết chào hỏi người lớn, biết thưa, biết vâng, biết dạ… Đời sống của lớp trẻ ngày nay “phóng túng khác hẳn nếp ăn ở có khuôn phép của những người thuộc các thế hệ bốn năm mươi năm trở về trước” “Nhiều bạn trẻ ngày nay hoàn toàn không hiểu mình

sẽ phải làm gì trước những sự kiện hôn nhân, tang chế và tế lễ”, “không biết nể nang và thiếu tự trọng”, “tục tằn, đánh chửi nhau”, “trâng tráo”, thậm chí đến đôi ba mươi tuổi

mà vẫn không biết lễ nghĩa là gì, mà không biết lễ nghĩa tức là “vô học, là ngu dốt, là thiếu giáo dục” [122, tr.13] Ngay cả trong nghiên cứu của tác giả Lê Thi [138], cũng vẫn còn một đôi chỗ chưa thật chính xác khi khái quát về đặc điểm chung của thế hệ trẻ, thế hệ già như chúng tôi vừa phân tích ở trên Thực tế, mỗi thế hệ đều có những đặc điểm riêng, tạo nên sự khác biệt và những đặc điểm riêng ấy cần được nhìn nhận một cách khách quan, không nên có cái nhìn hơn kém ở đây

Xu hướng thứ hai nhìn nhận một cách khách quan đặc điểm các thế hệ, tìm cách

lý giải những thay đổi trong quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay, đề xuất một số giải pháp xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các thế hệ

Trang 36

Lý giải nguyên nhân của những thay đổi giữa các thế hệ xưa và nay, nhiều nghiên cứu đều khái quát một trong những yếu tố cơ bản nhất là sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [10], [11], [90],[109], [110], [115], [146], [147]…

Giải thích sự bình đẳng hơn trong mối quan hệ giữa các thế hệ người trong gia đình, tác giả Lê Ngọc Văn cho rằng có nguyên nhân sâu xa từ việc “các xã hội hiện đại đều phải thừa nhận hoặc buộc phải thừa nhận quyền con người” như Công ước quốc tế

về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với người phụ nữ, Công ước quốc tế về quyền trẻ em và hàng loạt các công ước khác được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua [153, tr 408]

Bàn về vấn đề khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ, tác giả Lê Thi cho rằng “giữa các thế hệ nối tiếp nhau có đặc điểm khác nhau vì họ đã trải qua những cảnh ngộ khác nhau, đã chứng kiến những sự kiện lịch sử xảy ra khác nhau nên tất yếu họ có cách suy nghĩ, nhận thức khác nhau và cách giải quyết cũng khác nhau” [138, tr 28]

Trước thực trạng những thay đổi trong quan hệ giữa các thế hệ, nhiều tác giả đã

đề xuất các giải pháp để dung hòa các thế hệ trong gia đình như: “xây dựng mối quan

hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái từ góc độ tâm lý và tình cảm”; “vun đắp cho mối quan hệ đầm ấm, hài hòa giữa ba thế hệ, người già và người trẻ trong cuộc sống gia đình hiện nay” [133], [138]…

Như vậy, nghiên cứu về thế hệ trong gia đình chủ yếu được biểu hiện ở những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình Các nghiên cứu đã chỉ ra tính chất, đặc điểm của mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình truyền thống; so sánh với những thay đổi trong gia đình hiện đại và luận bàn về những thay đổi đó Có xu hướng coi văn hóa truyền thống là chuẩn mực, lấy đặc điểm thế hệ già làm cơ sở để đánh giá thế hệ trẻ (tiêu biểu Phạm Côn Sơn) Phần nhiều các nghiên cứu chỉ ra những biểu hiện tích cực và tiêu cực (trong đó biểu hiện tiêu cực được nhắc đến nhiều hơn), từ đó lý giải nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp hài hòa mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay

Qua các công trình, tài liệu về lối sống, lối sống gia đình, lối sống giữa các thế

hệ trong gia đình, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Lối sống là đối tượng đã được quan tâm nghiên cứu ở một số ngành khoa học như triết học, tâm lý học, xã hội học… trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 37

30

- Dưới góc nhìn văn hóa, lối sống cũng đã ít nhiều được nghiên cứu, trong đó chủ yếu tập trung vào lối sống ở các vùng miền Lối sống gia đình chưa được nghiên cứu một cách trực tiếp mà thường được lồng ghép trong các nghiên cứu về văn hóa gia đình Một số các phương diện biểu hiện của lối sống gia đình đã ít nhiều được đề cập đến, tuy nhiên cũng chủ yếu là những biểu hiện trên phương diện đời sống văn hóa tinh thần Hoạt động lao động sản xuất (phương thức mưu sinh) – một trong những yếu tố chi phối và cũng là biểu hiện của lối sống trong gia đình – chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức

- Các nghiên cứu về thế hệ người và lối sống của các thế hệ người trong gia đình thường được tập trung ở việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, phân tích, đánh giá về đặc điểm thế hệ và sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các thế hệ ở một phương diện nào đó như quan niệm, ứng xử, cách dạy dỗ con cái… và cũng chủ yếu được thực hiện dưới góc nhìn xã hội học, tâm lý học

Từ tình hình nghiên cứu như trên, dưới góc độ văn hóa học, nghiên cứu lối sống giữa các thế hệ người trong gia đình, chúng tôi đặt ra và trả lời các câu hỏi cụ thể hơn: Lối sống của các thế hệ trong gia đình có sự khác biệt như thế nào? Tại sao lại có sự gia tăng khác biệt về lối sống giữa các thế hệ trong bối cảnh hiện nay? Các thế hệ đã có những thích ứng như thế nào trước sự gia tăng khác biệt lối sống trong gia đình? Những nghiên cứu về lối sống nói chung, về thế hệ người và mối quan hệ giữa các thế

hệ trong gia đình của các tác giả đi trước là những nguồn tài liệu tham khảo cần thiết, cung cấp những gợi ý mang tính phương pháp luận cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án

1.2 Tổng quan về xã Thuỵ Vân và gia đình xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

1.2.1 Tổng quan về xã Thuỵ Vân

1.2.1.1 Vị trí địa lý và tên gọi

Nằm ở vùng ngoại thành của thành phố, Thuỵ Vân và đặc biệt là khu công nghiệp Thuỵ Vân hiện nay là một địa điểm quen thuộc với người dân Phú Thọ Đi trên con đường đê Tứ Xã (thuộc huyện Lâm Thao) hay đi trên đường một chiều Vân

Cơ (thuộc thành phố Việt Trì), hỏi thăm về xã Thuỵ Vân hay khu công nghiệp Thuỵ Vân, không người dân nào là không biết và trả lời khá tường tận

Trang 38

Cách trung tâm thành phố Việt Trì hơn 5km, Thuỵ Vân có diện tích đất tự nhiên rộng 986 ha Phía Đông giáp xã Minh Nông và xã Minh Phương (thành phố Việt Trì) Phía Tây giáp xã Cao Xá và xã Thanh Đình (huyện Lâm Thao) Phía Nam giáp với sông Hồng Phía Bắc giáp xã Vân Phú (thành phố Việt Trì) và khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng

Thuỵ Vân có hai tên gọi, một là tên Hán Việt hay là tên chữ được dùng làm tên chính thức trong hệ thống quản lý Nhà nước và hai là tên nôm, còn gọi là tên tục, là phổ biến trong ngôn ngữ dân gian Xuất phát từ truyền thuyết về Tản Viên Sơn, Thụy Vân trước kia tục gọi là Kẻ Đọi Tương truyền, có lần Tản Viên Sơn đi kinh lý dọc theo sông Thao vào mùa nước lớn, Tản Viên Sơn dừng lại, ghé vào nhà một cụ già họ Tạ Khi ấy, nước dâng lên rất to, cụ già xin Tản Viên Sơn cứu giúp Tản Viên bảo cụ mời dân làng tới thắp đuốc, đốt đèn ra bãi sông làm lễ xin thủy thần không dâng nước lên bãi bờ “Đọi” là đèn trong đêm chống lụt “Kẻ” có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng hầu hết đều thống nhất rằng lúc đầu là từ chỉ người, sau đó phát triển nghĩa phái sinh, dùng để chỉ nơi chốn3 Từ đó, làng có tên là Kẻ Đọi Cho đến tận bây giờ, cái tên “Kẻ Đọi”, “làng Đọi”, “dân Đọi” vẫn là cái tên được nhiều người trong làng biết đến và đôi lúc vẫn được dùng, không chỉ ở những người già

mà một số người trung tuổi cũng quen dùng cách gọi này

Trong tiềm thức, truyền ngôn và các văn bản pháp lý, đặc biệt là trong Lịch sử

Đảng bộ xã Thuỵ Vân (1947 – 2007) [5], kể từ khi có tên gọi Kẻ Đọi cho đến tên gọi

Thuỵ Vân như hiện nay, Thuỵ Vân đã có nhiều lần thay đổi địa giới hành chính

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các làng Nỗ Lực, Thụy Vân, Cẩm Đội được đổi thành các xã và đều thuộc huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ Cuối tháng 2 năm 1947, ba

xã trên hợp lại thành một xã và lấy tên là xã Thống Nhất Ngày 01/9/1962, Chính phủ quyết định giải thể huyện Hạc Trì, xã Thống Nhất được sáp nhập vào huyện Lâm Thao Tháng 8/1964, xã Thống Nhất được đổi tên thành xã Thụy Vân Năm 1968, Chính phủ hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, lúc này xã Thụy Vân thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú Ngày 05/7/1977, xã Thụy Vân, huyện Lâm Thao thuộc về thành phố Việt Trì Như vậy, từ năm 1977 đến 1996, xã Thụy Vân thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phú Từ 1997 đến nay, xã Thụy Vân thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

3 Nhiều làng Việt cổ truyền vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cũng bắt đầu bằng từ “Kẻ” như: Kẻ Chợ (Hà Nội), Kẻ Chằm (Hải Dương), Kẻ Lẫm (Thái Bình), Kẻ Đụn (Nam Định)…

Trang 39

32

Hiện nay Thụy Vân có bảy khu dân cư, theo phân chia địa giới hành chính gọi là các xóm Người dân trong xã thường gọi là các xóm này là làng Như vậy theo tác giả Phan Đại Doãn trong “Kết cấu xã hội làng Việt cổ truyền ở châu thổ sông Hồng” [112] thì Thuỵ Vân thuộc trường hợp “nhất xã nhị tam thôn” Bảy xóm thuộc xã Thuỵ Vân đó là: Cẩm Đội, Phú Thịnh, Phú Hậu, Nỗ Lực, xóm Nội, xóm Ngoại, Vĩnh Hoá

1.2.1.2 Truyền thống văn hoá và đặc điểm dân cư

- Thuỵ Vân là xã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời

Dựa trên các di chỉ khảo cổ học và các tài liệu còn ghi chép lại, Thụy Vân là một miền đất cổ, có người Việt cổ sinh sống, nằm trong cái nôi chung của vùng đất Tổ vua Hùng, có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ kết hợp với ngành Khảo cổ học Việt Nam đã khai quật được hơn 60 địa điểm thuộc thời đại Hùng Vương trên đất Phú Thọ, trong đó có ba địa điểm thuộc xã Thụy Vân, đó là: di chỉ Đồng Sấu, di chỉ Gò Tro dưới và di chỉ Gò Tro trên Kết quả cho thấy đây là những tụ cư lâu đời từ vài trăm năm đến vài ngàn năm Tầng văn hóa có khi mỏng và thưa thớt, có khi dày tới 3-4 mét, chứa đựng các giai đoạn phát triển liên tục, xuyên suốt thời đại Hùng Vương Thế kỷ VII TCN, thủ lĩnh bộ lạc Văn Lang thống nhất các bộ lạc Việt, dựng lên nước Văn Lang, Nhà nước đầu tiên đóng đô ở Việt Trì ngày nay [5]

Theo Lịch sử Đảng bộ xã Thụy Vân (1947 – 2017) và theo lời kể dân gian lưu

truyền trong vùng, từ xa xưa, các vua Hùng đã chọn làng Cẩm Đội là nơi đóng quân và rèn luyện binh lính Nhiều tên gọi các địa danh thuộc xã Thụy Vân ra đời trong thời kỳ này và đều gắn với một ý nghĩa nào đó Khu rừng gần chỗ rèn luyện binh đao, tuyệt đối cấm người qua lại nên có tên là “Rừng Cấm” Quả đồi dành riêng cho các vua Hùng đi săn bắn những lúc rảnh rỗi, có tên gọi là ‘Nhà Săn”… Một số tên gọi của các thôn xóm trong xã như: Cẩm Đội, Đồng Lính… đều gắn liền với núi Con Voi và Thậm Thình - những vùng đất thiêng, xung quanh núi Nghĩa Lĩnh – cội nguồn của dân tộc [5]

- Thuỵ Vân có nhiều di tích mang giá trị lịch sử, văn hoá, tâm linh, thể hiện đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương

Đó là hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, tiêu biểu như đền Thượng, chùa Thượng Lâm, chùa Cẩm Đội, đền Mẫu… Trong đó có hai di tích lịch sử được công nhận là công trình văn hoá cấp Nhà nước là đền Thượng và chùa Thượng Lâm

Trang 40

Đền Thượng thôn Cẩm Đội là một trong những di tích quan trọng gắn với hội làng Thụy Vân Đền Thượng hiện nay không còn lưu giữ được cuốn ngọc phả gốc, song căn cứ vào các đạo sắc phong gốc, bản sao kê khai thần tích và thần sắc lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội kết hợp với lời kể của các cụ cao tuổi trong làng thì đền Thượng thờ ba vị thần thành hoàng húy là Quý Minh, Bạch Thạch (hai vị tướng thời Hùng Vương) và Đông Hải Đại Vương (một vị tướng thời Lý) đều là những người tài giỏi có công dẹp giặc bảo vệ quê hương đất nước Đền Thượng được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 1964

Chùa Thượng Lâm (Thượng Lâm tự) xóm Ngoại được xây dựng vào khoảng thế

kỷ XVII Chùa toạ lạc trên một khu đất rộng, quay đầu về hướng Đông Trải qua những thăng trầm lịch sử, với nhiều lần tu sửa, hiện nay, chùa vẫn còn lưu giữ lại nhiều pho tượng quý ở các toà Tiền đường, Toà Thiên hương, toà Thượng diện như: tượng ông Thiện, tượng ông Ác, tượng Thánh tăng, tượng Đức ông, tượng Thích ca… và một số

đồ đồng, đồ đá có giá trị về lịch sử và nghệ thuật như chuông đồng, bia đá, cây hương đá… Năm 2000, chùa Thượng Lâm cùng với đền Thượng được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia [5], là nơi tổ chức các hoạt động liên quan đến lễ phật của tất cả cư dân trong xã và ngoài xã, là điểm đến quen thuộc của những người dân trong vùng và những người con xa quê trở về

Bên cạnh đình Thượng và chùa Thượng Lâm, hầu như xóm nào trong xã cũng có

di tích thờ cúng Ngoài ra, ở hai xóm Nỗ Lực và Vĩnh Hoá còn có một bộ phận dân cư theo đạo Thiên Chúa nên ở đây còn có nhà thờ

Các di tích lịch sử, văn hoá, di tích tâm linh đều được chính quyền địa phương

và người dân hết sức coi trọng Đây là một trong những sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cư dân xã Thuỵ Vân

- Xã Thuỵ Vân có tỉ lệ người cao tuổi và tuổi thọ trung bình của cư dân vào loại cao nhất tỉnh

Đây cũng là một trong những điều ấn tượng đầu tiên với NCS và nhiều người khi đến Thuỵ Vân Bên cạnh hình ảnh những thanh niên đi xe máy, nhộm tóc vàng hoe, không khó để bắt gặp những hình ảnh cụ ông, cụ bà nhuộm răng đen, bỏm bẻm nhai trầu, đầu chít khăn, vận quần lụa, áo tứ thân trên những con đường nhựa mới được trải thẳng tắp hay những khu chợ Gốc Đa, chợ xóm Nội, xóm Ngoại…

Ngày đăng: 14/03/2021, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w