- Kiểm định chất lượng giáo dục đại học là “quá trình tự đánh giá và đánh giá của đồng nghiệp cùng các chuyên gia đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cũng như trách nhiệm của các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
TẠ DUY LÂM
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO ĐÁP ỨNG CHUẨN KIỂM ABET ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO KỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Lý luận và phương pháp dạy học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS LÊ HUY TÙNG
Hà Nội, 09/2018
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 3
5.2 Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu câu hỏi 3
5.3 Phương pháp thống kê toán học 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Cấu trúc 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Chất lượng 4
1.1.2 Đảm bảo chất lượng 4
1.1.3 Kiểm định chất lượng 5
1.2 Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục 8
1.3 Giới thiệu một số tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục 9
1.3.1 Giới thiệu sơ qua về các bộ tiêu chuẩn kiểm định hiện hành 9
AUN-QA 9
ABET 11
Trang 3ACBSP 12
FIBAA 12
1.3.2 Những lợi ích khi thực hiện kiểm định theo ABET 14
1.4 Bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo ABET 16
1.4.1 Cách thức hoạt động của ABET 16
1.4.2 Những thách thức khi thực hiện kiểm định bởi ABET 21
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 2.1 Thực trạng hoạt động kiểm định chương trình ĐT ở Việt Nam 23
2.2 Tổ chức đảm bảo chất lượng tại Trường ĐHBKHN 27
2.3 Hoạt động kiểm định chất lượng tại Trường ĐHBKHN 29
2.4 Đánh giá chung 31
2.4.1 Thành tựu 31
2.4.2 Hạn chế 32
2.4.3 Nguyên nhân 32
Tiểu kết chương 2 33
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO TIẾP CẬN KIỂM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO KỸ THUẬT THEO ABET TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 3.1 Phân tích bộ tiêu chuẩn ABET 34
3.2 Các giải pháp 51
3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động đánh giá chất lượng đào tạo 51
3.3.2 Sắp xếp lại trình tự các môn học 52
3.2.3 Nâng cấp cơ sở vật chất 53
3.2.4 Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng sinh viên 53
Trang 43.2.5 Xây dựng chương trình đào tạo gắn chặt với yêu cầu của doanh
nghiệp và người sử dụng lao động 54
3.3 Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp 57
3.3.1 Mục đích khảo sát 57
3.3.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 57
3.3.3 Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 58
Tiểu kết chương 3 61
KẾT LUẬN 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 67
Trang 6Kiểm định chất lượng đào tạo là sự nhìn nhận của một tổ chức bên ngoài
về chất lượng đào tạo của một chương trình hay một tổ chức đào tạo ABET là một tổ chức chuyên kiểm định chất lượng của các chương trình đào tạo trong các lĩnh vực Kỹ thuật, Công nghệ, Điện toán và Khoa học ứng dụng Kiểm định chương trình đào tạo không chỉ là câu trả lời về đảm bảo chất lượng đào tạo của một chương trình cho các bên liên quan mà còn giúp liên tục nâng cao chất lượng đào tạo trong chương trình đó Một câu hỏi lớn là phải kiểm định theo tiêu chuẩn nào: tiêu chuẩn trong nước, tiêu chuẩn khu vực hay tiêu chuẩn quốc tế? Mỗi tiêu chuẩn kiểm định đều có những đòi hỏi nhất định và quan trọng là cần xác định được mục tiêu kiểm định
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu đánh giá chuyên sâu nào
về công tác kiểm định chất lượng dạy nghề có những giải pháp hữu hiệu để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này
Vì những lý do trên, người nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Đề
xuất một số giải pháp cho đáp ứng chuẩn kiểm ABET đối với chương trình đào tạo kỹ thuật tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội”
Trang 72.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bộ tiêu chuẩn ABET đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật
- Khảo sát, phân tích thực trạng đảm bảo chất lượng đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp để đáp ứng bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đồng thời khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Kiểm định chất lượng là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượng bên ngoài các trường Kiểm định chất lượng giáo dục đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, trước tiên là áp dụng cho các cơ sở giáo dục đại học, sau này mở rộng cho tất cả các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục Tuy nhiên, trước đây ít được các nước khác biết đến Trong quá trình phi tập trung hóa và đại chúng hóa giáo dục đại học, các chuẩn mực giáo dục đại học bị thay đổi và khá khác nhau giữa các trường đại học do chất lượng tuyển sinh đầu vào bị hạ thấp, quy mô tăng nhanh nhưng tài chính tăng chậm, các yếu tố tiêu cực bên ngoài tác động đến nhà trường Đặc biệt, giáo dục đại học của thế giới đang dần dần chuyển từ nên giáo dục đại học theo định hướng của Nhà nước hay theo định hướng học thuật của nhà trường sang nền giáo dục đại học theo định hướng của thị trường Trong bối cảnh đó, kiểm định chất lượng trở thành
Trang 83
công cụ hữu hiệu của nhiều nước trên thế giới để duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học
4 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp để đáp ứng bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập tài liệu từ các bài báo, các đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác
có liên quan Tiến hành phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống lý thuyết, từ đó rút ra các kết luận khoa học là cơ sở lý luận cho đề tài
5.2 Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu câu hỏi
Bảng câu hỏi phục vụ khảo sát được thiết kế nhằm thu thập thông tin để phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
6 Phạm vi nghiên cứu
Bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
7 Cấu trúc
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chương 3: đề xuất một số giải pháp cho tiếp cận kiểm định chương trình đào tạo kỹ thuật theo ABET tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 9Định nghĩa chất lượng được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất lượng, như: “chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng'' (Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu – EOQC) [13]; “Chất lượng
là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc” [1] Theo cách định nghĩa này, các cơ sở đào tạo được phép hoạt động để đạt được những mục tiêu đề ra trong mục tiêu nhiệm vụ của mình
1.1.2 Đảm bảo chất lượng
Theo ISO 9000 thì “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng” [1]
Trong môi trường kinh doanh, đảm bảo chất lượng được xem là một quá trình “nơi mà một nhà sản xuất đảm bảo với khách hàng là sản phẩm hay dịch
vụ của mình luôn đáp ứng được các chuẩn mực” (Ellis, 1993:4) Lý thuyết chủ đạo của hệ thống đảm bảo chất lượng xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục Quá trình này bắt đầu khi thuyết “mười bốn điểm dành cho việc quản lý” của Edwards Deming (Deming, 1986) được giới thiệu rộng rãi Sau Deming, Juran (1988; 1989) và Crosby (1979) đã phát triển các ý tưởng nhằm quản lý và củng cố chất lượng trong các tổ chức
Trang 105
“Trong giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng” [2]
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được tính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng ở đại học (Kells, 1988; 1989; 1990; Neave & van Vught, 1991) Theo Russo (1995:23), đảm bảo chất lượng “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếu như chúng ta có hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phế phẩm”
- Kiểm định chất lượng là một hình thức đánh giá chất lượng mà trong đó kết quả là một quyết định kép (Đạt/ Không đạt) thường liên quan đến việc công nhận thực tế của cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo
- Kiểm định chất lượng giáo dục đại học là “quá trình tự đánh giá và đánh giá của đồng nghiệp cùng các chuyên gia đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cũng như trách nhiệm của các trường đại học” (CHEA, 2005) [14]
Như vậy, kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lý chất lượng và hiệu quả nhằm các mục tiêu sau đây:
- Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn và tiêu chí như thế nào? – tức là hiện trạng cơ sở giáo dục có hay chưa chất lượng giáo dục và hiệu quả giáo dục
Trang 11Có thể hiểu kiểm định chất lượng “là một hệ thống tổ chức và giải pháp
để đánh giá và công nhận chất lượng đào tạo (đầu ra) và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực được quy định” [3]
* Kiểm định chất lượng giáo dục có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi:
- Quyền tự chủ (quản lý, học thuật và tài chính) của các cơ sở đào tạo được mở rộng
- Tỷ trọng (số người theo học) và thành phần (loại hình trường đào tạo) trong hệ thống giáo dục quốc dân ngày một phát triển
- Yếu tố nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo ngày càng tăng do toàn cầu hóa
Khi đó, kiểm định chất lượng là “sự thể chế hóa được phát triển đầy đủ nhất về tính chịu trách nhiệm ở đại học” (Van Vught, 1994) đối với công luận Kiểm định chất lượng không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất lượng đào tạo mà còn mang lại cơ hội để nâng cao chất lượng cho các trường đã qua kiểm định Một trường chỉ được công nhận đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chí của Hội đồng kiểm định sau khi nhà trường chịu sự kiểm tra của các cán
bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục Quá trình kiểm định cũng mang lại cho các trường đã qua kiểm định cơ hội tự phân tích đánh giá để có những cải tiến về chất lượng
Trang 127
Mục đích của kiểm định chất lượng “không chỉ là đảm bảo nhà trường có trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cũng như chất lượng toàn trường” [4]
Kiểm định chất lượng được coi là hoạt động có hiệu quả khi kiểm định viên không chỉ đánh giá xem một trường hay một chương trình đào tạo có đạt chất lượng hay không mà còn có vai trò như những chuyên gia tư vấn sẵn sàng giúp nhà trường giải quyết các vấn đề tồn đọng và nâng cao chất lượng các hoạt động
* Kết quả kiểm định góp phần định hướng các hoạt động sau đây:
- Định hướng lựa chọn đầu tư của người học đối với cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả hơn đồng thời cũng phù hợp với khả năng của mình
- Định hướng lựa chọn đầu tư của nhà nước để tạo nguồn nhân lực theo những ngành nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai
- Định hướng đầu tư của các doanh nghiệp cần nguồn nhân lực thích hợp cho doanh nghiệp của mình
- Định hướng cho các nhà đầu tư nước ngoài làm từ thiện hay cần phát triển vốn của mình
- Định hướng phát triển cho các cơ sở giáo dục để tăng cường năng lực cạnh tranh trong và ngoài nước (xây dựng văn hóa chất lượng, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học thuật, quản lý và tài chính, …)
- Định hướng cho sự hợp tác đào tạo (chuyển đổi, công nhận văn bằng chứng chỉ, …) của các cơ sở trong và ngoài nước với nhau
* Đặc trưng của kiểm định chất lượng:
- Kiểm định chất lượng có thể được tiến hành ở phạm vi cơ sở đào tạo hoặc chương trình đào tạo
- Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện
- Kiểm định chất lượng không thể tách rời công tác tự đánh giá
- Tất cả các quy trình kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng nghiệp
Trang 131.2 Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục
Quy trình kiểm định chất lượng chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục [5] được thực hiện theo các bước:
a) Tự đánh giá;
1 Thành lập Hội đồng tự đánh giá
2 Lập kế hoạch tự đánh giá
3 Thu thập, phân tích và xử lý thông tin, minh chứng
4 Viết báo cáo tự đánh giá
5 Lưu trữ và sử dụng báo cáo tự đánh giá
6 Triển khai các hoạt động sau khi hoàn thành báo cáo tự đánh giá b) Đánh giá ngoài;
1 Nghiên cứu hồ sơ tự đánh giá
2 Khảo sát sơ bộ tại cơ sở giáo dục
3 Khảo sát chính thức tại cơ sở giáo dục
4 Dự thảo báo cáo đánh giá ngoài, gửi cho cơ sở giáo dục để tham khảo ý kiến
5 Hoàn thiện báo cáo đánh giá ngoài:
Trang 149
kèm theo kiến nghị của Hội đồng về việc đề nghị cơ sở giáo dục khắc phục những tồn tại và tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục d) Công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 5 năm/lần
1.3 Giới thiệu một số tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục
Có hai loại hình kiểm định chất lượng là kiểm định cơ sở giáo dục (kiểm định trường) và kiểm định chương trình đào tạo Kiểm định trường liên quan đến việc xem xét, đánh giá toàn bộ hoạt động của một cơ sở giáo dục đại học dựa trên một bộ tiêu chuẩn kiểm định trường Kiểm định chương trình đào tạo (khóa đào tạo/ ngành đào tạo) là việc xem xét, đánh giá một phần của cơ sở giáo dục đại học liên quan trực tiếp đến một chương trình/ khóa đào tạo, và chú trọng vào các hoạt động chuyên môn Kiểm định chương trình có thể được thực hiện với một bộ tiêu chuẩn kiểm định được dùng chung cho các chương trình đào tạo hoặc một bộ tiêu chuẩn được xây dựng cho một chương trình đào tạo cụ thể
Trong phạm vi của luận văn này, chúng ta sẽ đi sâu vào phần kiểm định chương trình đào tạo
1.3.1 Giới thiệu sơ qua về các bộ tiêu chuẩn kiểm định hiện hành AUN-QA [15]
Hội nghị thương đỉnh ASEAN lần thứ 4 năm 1992 đã kêu gọi các nước thành viên trong khu vực Đông Nam Á trợ giúp việc “thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển khu vực thông qua tăng cường phát triển nguồn nhân lực cũng như thắt chặt thêm mạng lưới các trường đại học và các viện giáo dục hàng đầu trong khu vực” Ý tưởng này đã dẫn đến việc thành lập AUN – Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á vào tháng 11 năm 1995 với việc ban hành Hiến chương về giáo dục đại học cho 6 nước thành viên, cùng với sự tham gia của 11 trường đại học của 6 nước này Một ký kết thỏa thuận về việc thành lập mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á sau đó đã được ký bởi chủ tịch hoặc hiệu
Trang 1510
trưởng của các trường đại học thành viên Việc ký kết đã ủy thác thành lập Ban quản trị và Ban thư ký điều hành bởi Giám đốc điều hành
Cuộc họp Hội đồng quản trị AUN đầu tiên diễn ra vào tháng 11 năm
1996 đã đưa ra định hướng kế hoạch làm việc trước mắt cho AUN ở bốn lĩnh vực trọng yếu: trao đổi giảng viên và sinh viên, các nghiên cứu Đông Nam Á, mạng lưới thông tin và các hợp tác nghiên cứu
Sau đó, Khi Bộ trưởng ký ban hành Hiến chương của 10 thành viên ASEAN năm 2007, AUN bắt đầu đảm nhiệm vai trò là tổ chức thực hiện quan trọng của Đông Nam Á về văn hóa – xã hội AUN thực hiện các chương trình
và các hoạt động nhằm khuyến khích và tăng cường hợp tác, phát triển giáo dục
mở rộng hội nhập khu vực tiến đến việc đạt được các chuẩn mực toàn cầu Các hoạt động hiện tại của AUN được phân thành 05 lĩnh vực bao gồm (1) Các chương trình trao đổi dành cho giới trẻ, (2) Hợp tác học thuật, (3) Các tiêu chuẩn, Cơ chế, Hệ thống và Chính sách hợp tác giáo dục đại học, (4) Môn học
và Phát triển chương trình và (5) Các diễn đàn về chính sách khu vực và toàn cầu
Mối quan tâm chiến lược của AUN được xác định bởi các thành viên khu vực Đông Nam Á, nhằm xúc tiến hợp tác trong khu vực với việc đẩy mạnh:
• Tăng cường mạng lưới các trường đại học hiện tại trong khu vực Đông Nam Á và mở rộng hơn nữa;
• Đẩy mạnh các nghiên cứu hợp tác, điều tra và các chương trình đào tạo ở những lĩnh vực ưu tiên do ASEAN chỉ định;
• Tăng cường hợp tác và đoàn kết giữa các học giả, các nhà học thuật, nhà nghiên cứu trong các khối thành viên Đông Nam Á;
• Phục vụ cho các cơ quan giáo dục trong khu vực Đông Nam Á
Bộ tiêu chuẩn AUN-QA hiện nay gồm có 11 tiêu chuẩn
Trang 1611
ABET [16]
ABET (Accreditation Board for Engineering and Technology) là một tổ chức được thành lập bởi các hiệp hội ngành nghề tại Mỹ với 7 hiệp hội thành viên lúc thành lập vào năm 1932 và, hiện nay, đã có đến 33 hiệp hội ngành nghề
là thành viên của tổ chức Hàng năm, có khoảng 2000 tình nguyện viên từ các hiệp hội thành viên tham gia các hoạt động của ABET như điều hành, đánh giá viên, …
Tổ chức này đưa ra những tiêu chuẩn (criteria) đánh giá chương trình đào tạo mức đại học/sau đại học, tạm gọi tiêu chuẩn ABET, nhằm thực hiện kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo Kiểm định theo chuẩn ABET đảm bảo một chương trình đào tạo thỏa mãn các tiêu chuẩn chất lượng được thiết lập bởi các chuyên gia trong nghề nghiệp mà chương trình này chuẩn bị cho sinh viên ABET thực hiện kiểm định các chương trình giáo dục đại học trong các lĩnh vực Kỹ thuật (Engineering), Công nghệ (Technology), Điện toán (Computing) và Khoa học ứng dụng (Applied Science)
Cùng với một số chuẩn kiểm định khác, kiểm định theo chuẩn ABET trở thành một yêu cầu quan trọng cho các chương trình đào tạo trong các lĩnh vực liên quan ABET đã được công nhận bởi Ủy ban kiểm định chất lượng giáo dục đại học Mỹ (Council of Higher Education Accreditation) từ năm 1997 Cho tới nay, ABET đã kiểm định chất lượng cho khoảng 3850 chương trình đào tạo của hơn 771 trường đại học và cao đẳng tại 31 quốc gia
Không chỉ thực hiện kiểm định chất lượng cho các chương trình đào tạo đại học trong nước Mỹ, từ năm 2007, tổ chức này chính thức cấp chứng chỉ kiểm định cho các chương trình đào tạo của các trường đại học ngoài nước Mỹ Cho đến nay, đã có 28 nước có các chương trình đào tạo được kiểm định chính thức bởi ABET Trong khu vực Đông Nam Á, các nước Singapore, Philippines
và Indonesia đã có một số chương trình được kiểm định bởi tổ chức này Ngoài việc trực tiếp kiểm định chất lượng một số chương trình đào tạo ngoài nước Mỹ,
Trang 1712
tổ chức ABET cũng đã thỏa thuận công nhận qua lại với các tổ chức kiểm định các nước qua các thỏa thuận Washington Accord, Sydney Accord và Seoul Accord
Các tiêu chuẩn kiểm định của ABET gồm các tiêu chuẩn chung và riêng cho mỗi chương trình
Được thành lập vào năm 1988 có trụ sở tại Overland Park, Kansas Tổ chức nhấn mạng những ưu điểm của việc dạy học xuất sắc và nhấn mạnh với sinh viên rằng đó là rất cần thiết để học phưong pháp học tập ACBSP thừa nhận tầm quan trọng của nnghiên cứu học thuật và các yêu cầu nghiên cứu và tin rằng các hoạt động này tạo điều kiện cải thiện giảng dạy Các trường đại học được khuyến khích một cách mạnh mẽ theo đuổi một sự cân bằng hợp lý cùng
có lợi giữa giảng dạy và nghiên cứu Và hơn nữa, ACBSP khuyến khích các giảng viên tham gia vào thế giới kinh doanh hiện đại để nâng cao chất lượng giảng dạy trong lớp học và cống hiến cho việc học tập của sinh viên
ACBSP kiểm định các chương trình đào tạo về kinh doanh, và kế toán ở các trình độ đại học, thạc sỹ và tiến sỹ trên toàn cầu
ACBSP có 6 tiêu chuẩn, 27 tiêu chí cấp 1 và 61 tiêu chí cấp 2
FIBAA [18]
FIBAA (Foundation for International Business Administration Accreditation) là một tổ chức đảm bảo chất lượng của chính phủ Thụy Sĩ, hiện nay FIBAA có hai cơ quan đại diện được đặt tại thành phố Bonn của Đức và
Trang 18và thúc đẩy các giá trị chung của FIBAA về tính minh bạch, chất lượng và sự quốc tế hóa trong lĩnh vực giáo dục đại học
Do tính khắt khe, yêu cầu cao về các tiêu chí kiểm định như: chất lượng giảng viên, thiết kế chương trình, cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ, tính ứng dụng thực tiễn, chất lượng người học nên kiểm định FIBAA là một trong những chứng nhận tốt nhất và được công nhận rộng rãi trên thế giới
FIBAA được công nhận là cơ quan đảm bảo chất lượng tại:
• Đức - do Hội đồng Kiểm định Đức công nhận;
• Thụy Sĩ - được Vụ Kinh tế liên bang FDEA công nhận;
• Hà Lan - được Nederlands Vlaamse Accreditatie Organisatie (NVAO) công nhận;
• Kazakhstan - được Bộ Giáo dục và Khoa học Kazakhstan công nhận;
• Áo - được Bộ Khoa học và Nghiên cứu Liên bang công nhận;
• Toàn Châu Âu - Là thành viên đầy đủ của Hiệp hội Châu Âu về Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học (ENQA), được liệt kê trong danh sách Đăng ký các tổ chức Đảm bảo chất lượng Châu Âu về Giáo dục Đại học (EQAR);
• Là thành viên chính thức của EUA (Europe University Association), CEENQA (Central and Eastern European Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education) và INQAAHE (International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education);
Trang 1914
• Ngoài ra, với tư cách là cơ quan chính thức về đảm bảo chất lượng, FIBAA có các thỏa thuận hợp tác với các cơ quan đảm bảo chất lượng nước ngoài ở Úc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Hà Lan, Ba Lan, Hoa kỳ
và Nga
Tổ chức FIBAA đã thực hiện kiểm định chất lượng Chương trình tại các Trường Đại học ở Ý, Hà Lan, Pháp, Ba Lan, Ireland, Hoa kỳ, … đặc biệt chương trình quản trị điều hành cấp cao (eMBA) của Trường Quản trị Kellogg, Chicago, Hoa Kỳ đã được Tổ chức FIBAA kiểm định
Học viên tốt nghiệp chương trình được kiểm định bởi Tổ chức FIBAA sẽ
có điều kiện rất thuận lợi để tìm việc làm, học lên bậc cao hơn tại các nước tiên tiến vì văn bằng có giá trị trên toàn thế giới
1.3.2 Những lợi ích khi thực hiện kiểm định bằng tiêu chuẩn ABET
ABET là tổ chức kiểm định có uy tín trong cộng đồng quốc tế, được công nhận bởi Ủy ban Kiểm định đại học (CHEA) ABET gồm Uỷ ban Kiểm định
Kỹ thuật (Engineering Accreditation Commission – EAC), Ủy ban Kiểm định Công nghệ (Technology Accreditation Commission – TAC), Ủy ban Kiểm định Điện toán (Computing Accreditation Commission – CAC), và Ủy ban Kiểm định Khoa học Ứng dụng (Applied Science Accreditation Commission – ASAC) Các chương trình được ABET kiểm định là các chương trình về kỹ thuật, công nghệ, điện toán, khoa học ứng dụng, tương ứng do EAC, TAC, CAC, hoặc ASAC trực tiếp thực hiện
Chính vì vậy việc thực hiện kiểm định chương trình đào tạo bởi EAC là hoàn toàn phù hợp với một trường Đại học chuyên sâu về kỹ thuật như Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Đối với Nhà Trường: Khi một chương trình đào tạo đạt kiểm định chất
lượng theo chuẩn ABET, điều đó có ý nghĩa:
• Chất lượng đào tạo của chương trình đã được thừa nhận trong phạm vi toàn cầu;
Trang 2015
• Đơn vị triển khai chương trình đào tạo (Khoa/Bộ môn) đã có những cố gắng trong việc thực hiện các hoạt đông giảng dạy tốt nhất nhằm giúp người học đạt được những yêu cầu cần thiết của nghề nghiệp;
• Các giảng viên giảng dạy trong chương trình đào tạo phải tham gia vào một quá trình tự đánh giá và liên tục cải thiện chất lượng;
• Chất lượng của người học là thước đo để đánh giá chất lượng của các hoạt động giảng dạy trong chương trình đào tạo;
• Việc đánh giá để liên thông giữa các chương trình đào tạo cùng đạt chuẩn sẽ dễ dàng hơn
Đối với người học: Theo học một chương trình đạt kiểm định của tổ chức
ABET, người học sẽ được:
• Hưởng thụ một chương trình đào tạo có chất lượng đáp ứng được các yêu cầu nghề nghiệp, xác lập bởi các tổ chức chuyên nghiệp Các chương trình đạt kiểm định của ABET phải thường xuyên nhận phản hồi từ các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, cựu sinh viên, … để luôn luôn cải thiện chất lượng của người học;
• “Gia tăng cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp tăng cao do chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng bởi một tổ chức có uy tín quốc tế” [6] Nhiều công ty nêu rõ ưu tiên tuyển dụng người làm tốt nghiệp từ các chương trình đã được kiểm định bởi ABET;
• Nhận được những ưu đãi khi làm viêc cho các công ty của Mỹ, hoặc khi thi các chứng chỉ nghề nghiệp của các tổ chức của Mỹ
Đối với xã hội: Như đã trình bày ở trên, ABET là tổ chức của các hiệp
hội ngành nghề và các tiêu chuẩn mà tổ chức này đưa ra phản ánh những gì mà
xã hội mong chờ ở một chương trình đào tạo Do đó, thực hiện kiểm định chất lượng theo chuẩn ABET chính là khẳng định chất lượng đào tạo đáp ứng các tiêu chuẩn nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội Quá trình điều chỉnh khi thực
Trang 2116
hiện chuẩn bị kiểm định theo chuẩn ABET chính là quá trình điều chỉnh để sản phẩm giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội
Mặt khác, trong khi nền kinh tế của đất nước đang cần thu hút sự chú ý
và đầu tư của nước ngoài, việc kiểm định theo các tiêu chuẩn của các hiệp hội ngành nghề tại Mỹ sẽ góp phần thu hút đầu tư thông qua việc khẳng định chất lượng đào tạo cho nguồn nhân lực Điều này được thể hiện qua một số động thái của các công ty lớn: Boeing đã tài trợ toàn bộ kinh phí cho các chuyên gia của ABET tổ chức hội thảo tại Việt nam vào các năm 2007 và 2008; Intel khi đầu tư cho dự án HEEAP với một yêu cầu đính kèm là các chương trình đào tạo phải được kiểm định ABET
1.4 Bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo ABET
1.4.1 Cách thức hoạt động của ABET
a Quá trình kiểm định của ABET cho một chương trình gồm các bước
• Ủy ban Công nhận Khoa học Ứng dụng (ASAC);
• Ủy ban Công nhận Tính toán (CAC);
• Ủy ban Công nhận Kỹ thuật (EAC);
• Ủy ban Công nhận Công nghệ Kỹ thuật (ETAC)
Trang 2217
- Các chuyên viên ABET tiến hành chuyến thăm kiểm tra thử tại cơ sở đào tạo, rà soát tất cả tài liệu, các môn học, phòng thí nghiệm, và gặp gỡ những người quản lý, giảng viên, sinh viên, cựu sinh viên, doanh nghiệp …
Mỗi chương trình sau đó thực hiện một đánh giá nội bộ và hoàn thành một báo cáo tự nghiên cứu Các tài liệu tự nghiên cứu cho thấy chương trình đáp ứng được các tiêu chuẩn công nhận đã được xác lập trong nhiều lĩnh vực như sinh viên, chương trình giảng dạy, giảng viên, điều hành, cơ sở vật chất và
sự hỗ trợ của tổ chức Báo cáo tự nghiên cứu phải được cung cấp cho ABET vào ngày 1 tháng 7
Trong khi chương trình tự nghiên cứu, Ủy ban ABET thích hợp (Khoa học Ứng dụng, Máy tính, Kỹ thuật hoặc Công nghệ Ủy ban) sẽ chọn một trưởng nhóm để đứng đầu các thẩm định tại trường đánh giá Ngày thăm quan (thường trong khung thời gian Tháng Chín - Tháng Mười Hai) được đàm phán giữa trưởng nhóm và tổ chức Khi ngày đã được quyết định, ủy ban ABET sẽ chỉ định người đánh giá chương trình (thường là một người cho mỗi chương trình được đánh giá) Cơ sở giáo dục được tạo cơ hội từ chối trưởng nhóm hoặc các nhà đánh giá chương trình nếu thấy xung đột lợi ích Trưởng nhóm và người đánh giá là tình nguyện viên từ học viện, chính phủ, ngành công nghiệp và tư nhân
- Một nhóm chuyên viên ABET đến cơ sở đào tạo kiểm định chính thức chương trình
Nhóm đánh giá (đội trưởng và người đánh giá chương trình) thường sẽ đến trường vào thứ 7 hoặc chủ nhật Trong chuyến thăm trường, nhóm đánh giá
sẽ xem xét lại các tài liệu của mỗi chương trình, cũng như các dự án của sinh viên và các bài tập mẫu Người đánh giá cũng sẽ phỏng vấn sinh viên, giảng viên, quản trị viên, và tham quan các cơ sở để điều tra bất kỳ câu hỏi nào nêu ra trong quá trình tự nghiên cứu Chuyến viếng thăm thường kết thúc vào thứ ba sau đó với một cuộc phỏng vấn xuất cảnh với giám đốc điều hành của cơ quan,
Trang 23- Chứng nhận kiểm định của ABET sau khi được cấp sẽ được duy trì ở các năm tiếp theo dưới sự theo dõi của ABET, nếu cơ sở đào tạo muốn
Báo cáo cuối cùng và hoạt động kiểm định được đề nghị sẽ được xem xét trong cuộc họp hàng năm của tất cả thành viên ủy ban ABET vào tháng 7 sau chuyến thăm trường Dựa trên kết quả, các thành viên của ủy ban bỏ phiếu về hoạt động kiểm định cuối cùng, và trường được thông báo về quyết định vào tháng 8
Thông tin mà trường nhận được xác định những điểm mạnh, mối quan tâm, điểm yếu, và thiếu sót của chương trình, cũng như các khuyến cáo về việc tuân thủ các tiêu chuẩn của ABET Việc công nhận được cấp cho tối đa là sáu năm, sau đó cơ quan phải yêu cầu thẩm định khác
b Các trường hợp công nhận của ABET đối với một chương trình đào tạo được kiểm định
NGR (Next General Review) – Trường hợp này cho thấy chương trình
không có điểm khiếm khuyết hay yếu kém Hoạt động này chỉ được đưa ra sau khi có đánh giá tổng quan chung và kéo dài trong khoảng 6 năm
IR (Interim Report) – Trường hợp này cho thấy chương trình có một
hoặc nhiều yếu kém Bản chất của yếu kém là đoàn kiểm định không cần đi thực
tế hiện trạng nhằm đánh giá những hoạt động khắc phục tình hình của trường
Trang 2419
Khi đó cần có một báo cáo về hoạt động khắc phục của trường Thời gian của việc này vào khoảng 2 năm
IV (Interim Visit) – Trường hợp này cho thấy chương trình có một hoặc
nhiều yếu kém Bản chất của yếu kém là đoàn kiểm định cần đi thực tế để đánh giá những hoạt động khắc phục của trường Hoạt động này thường trong khoảng
2 năm
SC (Show Cause) – Trường hợp này cho thấy chương trình có một hoặc
nhiều khiếm khuyết Khi đó cần có kiểm tra thực tế để đánh giá những hoạt động khắc phục của trường Trường hợp này thường kéo dài trong 2 năm
RE (Report Extended) – Trường hợp này cho thấy nhà trường đã có
những hoạt động thỏa đáng khắc phục những yếu kém như đã được yêu cầu trong lần báo cáo tạm thời trước đây (IR) Trường hợp này gia hạn kiểm định sang đợt đánh giá tổng quát kế tiếp và vì vậy kéo dài thường từ 2-4 năm
VE (Visit Extended) – Trường hợp này cho thấy nhà trường đã có những
hoạt động tích cực để khắc phục những yếu kém đã được nêu trong lần kiểm tra thực tế tạm thời trước đây (IV) Trường hợp này xảy ra sau đợt đánh giá IV và được gia hạn kiểm định sang đợt kiểm tra tổng quát lần sau, vì vậy, kéo dài từ 2-4 năm
SE (Show Cause Extended) – Trường hợp này cho thấy những hoạt
động khắc phục khiếm khuyết và yếu kém theo như trong đợt SC trước đây đã đạt Trường hợp này thường xảy ra sau đợt đánh giá SC tạm thời Trường hợp này thường được gia hạn kiểm định sang đợt kiểm tra tổng quan kế tiếp và vì vậy thường kéo dài trong 2-4 năm
NA (Not to Accredit) – Trường hợp này cho thấy chương trình có nhiều
khiếm khuyết chẳng hạn như chương trình vẫn tiếp tục không đáp ứng tiêu chuẩn đang được ứng dụng Trường hợp này thường xảy ra sau đợt đánh giá SC hay đánh giá một chương trình mới, chưa được kiểm định Kiểm định không được gia hạn trong trường hợp này
Trang 2520
T (Terminate) – Trường hợp này thường xảy ra theo yêu cầu của trường
có gia hạn kiểm định đối với một chương trình đã bị hủy bỏ
- Các phát hiện của Đoàn kiểm định trong quá trình đánh giá bao gồm:
Khiếm khuyết (Deficency): Sự khiếm khuyết cho thấy việc không đáp
ứng được một tiêu chuẩn, chính sách hay thủ tục Vì vậy, chương trình không
đáp ứng đúng chuẩn, chính sách hay thủ tục
Yếu kém (Weakness): Yếu kém cho thấy một chương trình không đủ sức
đáp ứng một chuẩn, chính sách hay thủ thục nhằm đảm bảo chất lượng của chương trình Vì vậy, cần có kế hoạch khắc phục để giúp chương trình đáp ứng
đủ chuẩn, chính sách hay thủ tục để chuẩn bị cho đợt đánh giá sau
Băn khoăn/do dự (Concern): Sự do dự cho thấy một chương trình hiện
đã thỏa mãn một chuẩn, chính sách hay thủ tục; tuy nhiên, tiềm năng hiện có
cho tình huống thay đổi linh hoạt lại chưa đáp ứng được
b Chi phí đánh giá, công nhận chuẩn ABET
Chi phí cho việc kiểm định theo chuẩn ABET gồm 2 phần: Chi phí khảo sát và Chi phí duy trì kết quả kiểm định Theo biểu áp dụng năm 2009/2010, chi phí cho một đoàn đánh giá lần đầu tiên bao gồm chi phí cơ bản (8.500 USD cho một trường đăng ký kiểm định, không kể số chương trình sẽ được kiểm định là bao nhiêu), chi phí của các chuyên gia đánh giá (8.500 USD cho một chuyên gia), chi phí đi lại và khách sạn thực tế cho đoàn, và một số chi phí phát sinh khác Số lượng thành viên của một đoàn từ 2 đến 3 người, trong đó có 1 trưởng đoàn và 1 đến 2 chuyên gia Chi phí của việc duy trì kết quả kiểm định là 1.100 USD phí cơ bản cho một trường đăng ký kiểm định (không kể số chương trình),
và 1.100 USD cho mỗi chương trình được kiểm định
Đạt được kiểm định của ABET là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho nền giáo dục của Việt Nam nói chung, và các chương trình đào tạo về kỹ thuật
và công nghệ nói riêng Nếu xem ABET là mục tiêu thì đó cũng là động lực để đổi mới các chương trình đào tạo đại học ở Việt Nam
Trang 2621
Để đạt được mục tiêu này cần có sự cải cách về tư duy và hành động trong việc thiết kế, tổ chức, và vận hành một chương trình, bên cạnh việc tìm kiếm và đầu tư các nguồn tài chính và nhân lực một cách hiệu quả cho cơ sở đào tạo
Việc triển khai đánh giá chất lượng đào tạo đại học cần được tiến hành một cách bài bản, có tham khảo và nghiên cứu các tiêu chuẩn của các tổ chức kiểm định có uy tín trong khu vực và trên thế giới
1.4.2 Những thách thức khi thực hiện kiểm định bởi ABET
Điều chỉnh hoạt động giảng dạy: Để đạt yêu cầu kiểm định của ABET,
chất lượng của người học là thước đo để đánh giá hoạt động giảng dạy của chương trình đào tạo Do đó, các giảng viên cần phải có khả năng thực hiện những phương pháp giảng dạy phù hợp nhất nhằm làm cho người học có thể đạt được các yêu cầu cần thiết
Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo: Tiêu chuẩn “Liên tục
cải thiện” đòi hỏi một chương trình đào tạo phải có một hệ thống đánh giá chất lượng sinh viên một cách hiệu quả Chất lượng của sinh viên ở mỗi tiêu chí cần phải được xem xét và đánh giá một cách có hệ thống theo một kế hoạch đã định trước Các kết quả đo lường chất lượng phải được một hội đồng giáo dục có thẩm quyền định kỳ xem xét để đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng đào tạo
Tăng cường quan hệ với doanh nghiệp: Vai trò của doanh nghiệp khá
quan trọng trong quá trình triển khai hoạt động giảng dạy theo chuẩn ABET:
• Các chuyên gia từ các doanh nghiệp có thể giúp xác định mục tiêu đào tạo của chương trình đào tạo;
• Các doanh nghiệp là nguồn thông tin phản hồi xác thực nhất về chất lượng của một chương trình đào tạo Thu thập thông tin phản hồi của doanh nghiệp về sinh viên thực tập/tốt nghiệp là một kênh quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sinh viên;
Trang 2722
• Các doanh nghiệp có thể giúp triển khai giảng dạy các công nghệ mới nhất cho sinh viên
Kinh phí cho thiết bị: Để sinh viên có thể đạt được các kỹ năng nghề
nghiệp cần thiết, việc đổi mới một cách có kế hoạch các trang thiết bị trong nhà trường là một yêu cầu không thể thiếu Ngoài ra, tài liệu học tập như sách, giáo trình, thư viện điện tử cũng là những yêu cầu quan trọng phục vụ cho việc học tập của sinh viên
Tiểu kết chương 1
Bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET chuyên ngành kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Mỹ, thúc đẩy mức độ công nhận lẫn nhau về trình độ kĩ sư trên thế giới Việc nghiên cứu các tiêu chuẩn, quy trình kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo chuyên ngành
kỹ thuật của ABET và áp dụng vào các chương trình đào tạo kỹ thuật của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội sẽ cần thiết cho quá trình đảm bảo chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ kĩ sư trình độ cao cho đất nước Qua chương 1, người nghiên cứu đã trình bày những khái niệm, cơ sở lý luận liên quan đến bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET đối với chương trình đào tạo kỹ thuật, đây là cơ sở
đề khảo sát và phân tích thực trạng ở chương 2
Trang 2823
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BÁCH KHOA HÀ NỘI 2.1 Thực trạng hoạt động kiểm định chương trình đào tạo ở Việt Nam
Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam đã góp phần giúp cho mỗi đơn vị trong trường không ngừng hoàn thiện về mặt chất lượng Hoạt động này đã làm thay đổi cách nhìn nhận về trách nhiệm, chuyển từ quan điểm chỉ nhận trách nhiệm công việc trước cấp trên sang nhận trách nhiệm đảm bảo chất lượng trước một số các đối tượng rộng hơn gồm sinh viên, nhà tuyển dụng, nhà đầu tư giáo dục và nhà nước Vì tầm quan trọng của việc kiểm định trường đại học đối với xã hội, cũng như làm rõ hai vấn đề Các Tiêu chí dùng để làm công
cụ đánh giá và Các Quy trình kiểm định, từ năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD) đã có các văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể những vấn đề này Tháng 5 năm 2013 Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ
GD ban hành công văn số 462/KTKĐCLGD-KĐĐH [7] và công văn số
527/KTKĐCLGD-KĐĐH [8] đánh dấu sự hoàn thiện về quá trình chuyển giao
các phương pháp đánh giá của Bộ GD dành cho các trường đại học trên cả nước, chuẩn bị tiến đến KĐCL toàn diện
➢ Kiểm định bởi các các trung tâm trong nước
Tính đến 31/01/2016 cả nước có 203 các trường đại học và học viện thực hiện các hoạt động kiểm định chất lượng đến giai đoạn hoàn thành Báo cáo tự đánh giá ở một trong hai trạng thái đã cập nhật sửa đổi bổ sung hoặc thực hiện lần đầu tiên Như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam không giao cho Bộ
GD trực tiếp thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục các trường Đại học, việc này được các trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thực hiện theo quy trình độc lập Hiện nay, cả nước có 4 trung tâm kiểm định trực thuộc các đơn vị: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Đà Nẵng và Hiệp
Trang 2924
Hội các trường cao đẳng đại học Việt Nam Thành công được ghi nhận thuộc về Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với hoạt động kiểm định và đến ngày 23/03/2016 đã cấp giấy chứng nhận Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục cho hai cơ sở giáo dục đầu tiên trên cả nước là Trường Đại học Sư phạm-Đại học Đà Nẵng và Trường Đại học Giao thông vận tải-Hà Nội
Hoạt động KĐCL các cơ sở GDĐH được thực hiện theo Thông tư số 62/2012/TT-BGDĐT (do Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT ban hành ngày 28/12/2012)
và Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT (do Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT ban hành ngày 04/3/2014)
Trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2016 đến 31/5/2018, bốn Trung tâm đã đánh giá ngoài 122 trường đại học và học viện, 03 trường cao đẳng, trong đó
117 trường đại học/học viện đã được các Hội đồng KĐCLGD ban hành Nghị quyết công nhận đạt Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục do Bộ Trường Bộ GD&ĐT ban hành (hiện còn 17 trường đại học chưa được cấp Giấy chứng nhận công nhận đạt Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đang trong thời hạn công bố công khai Nghị quyết của các Hội đồng KĐCLGD theo quy trình KĐCLGD do Bộ GD&ĐT quy định); riêng 05 trường đại học/học viện đã được đánh giá ngoài nhưng không thực hiện tiếp khâu thẩm định và công nhận của Hội đồng KĐCLGD
Trong 117 trường đại học/học viện đã có Nghị quyết công nhận của các Hội đồng KĐCLGD, có 15,4% là các trường đại học tư thục, 6,8% là trường trực thuộc Ủy ban nhân dân các Tỉnh quản lý và 77,8% là trường/học viện trực thuộc các Bộ chủ quản và các Đại học quốc gia
➢ Kiểm định bởi các chuẩn nước ngoài
Hợp tác quốc tế là hoạt động rất quan trọng trong việc đào tạo chuyên gia
và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam là một nước mới bắt đầu triển khai xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Từ những năm
Trang 3025
2000, thông qua các hội thảo, các đợt tập huấn Việt Nam đã nhận được mô hình các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do các chuyên gia trên thế giới đề xuất Đến năm 2002-2003, nước ta tham gia nhóm đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của SEAMEO Đây là cơ hội để những tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực giáo dục trong nước trao đổi, hợp tác với các nước thành viên SEAMEO để xây dựng khung chính sách đảm bảo chất lượng cho đơn vị mình Theo tiến trình phát triển, Việt Nam đã có nhiều hoạt động hòa nhập và hợp tác khác như: phối hợp với Hà Lan triển khai Dự án "Thành lập 5 trung tâm đảm bảo chất lượng cho 5 trường Đại học trong nước và tăng cường năng lực ở cấp hệ thống" trong giai đoạn 2005-2008; tổ chức các đợt tập huấn đánh giá ngoài do các chuyên gia đến
từ Australia, Indonesia, Hà Lan, Hoa Kỳ thực hiện (2006, 2007, 2009); đăng ký làm thành viên của Mạng lưới chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQN), Mạng lưới quốc tế các tổ chức giáo dục đại học (INQAAHE); thành viên sáng lập của Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN (AUN-QA) (2008)
Theo thống kê của Cục Quản lý Chất lượng–Bộ Giáo dục và Đào tạo [19] (chi tiết xem tại phần Phụ lục) đến tháng 5/2018, cả nước có 104 Chương trình đào tạo của 20 Cơ sở giáo dục được đánh giá và công nhận theo các bộ tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế Trong đó có khoảng 27% (28/104) được đánh giá
là đạt theo tiêu chuẩn quốc tế (ABET, ACBSP, FIBAA, AMBA, CTI, ENAEE), còn lại 73% (76/104) đạt tiêu chuẩn khu vực (AUN-QA)
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã triển khai KĐCL trường cấp quốc gia, mặt khác cũng khuyến khích các trường tham gia KĐCL quốc tế đối với các chương trình tiên tiến, chất lượng cao Bộ cũng đã tạo điều kiện kết nối các trường trong hệ thống với các tổ chức KĐCL quốc tế Đây là chiến lược hợp lý trong khi hệ thống chưa đủ năng lực triển khai cả KĐCL trường và chương trình trên diện rộng cho toàn bộ các trường và chương trình đào tạo hiện có
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, có thể thấy một số trường tốp đầu nắm bắt xu thế khá nhanh Đây là những trường tích cực triển khai đồng loạt KĐCL
Trang 3126
quốc gia và quốc tế đối với cả cấp trường và cấp chương trình Trong số những trường này đầu tiên phải kể đến ĐH Bách khoa TPHCM Tính đến năm 2016, trường đã có hai chương trình được KĐCL bởi ABET (Mỹ), 11 chương trình được KĐCL bởi AUN-QA (ASEAN), và bảy chương trình được KĐCL bởi CTI (Pháp) Ở cấp trường, bên cạnh KĐCL theo bộ tiêu chuẩn của Bộ, ĐH Bách khoa TPHCM cũng vừa được KĐCL bởi HRECES của Pháp, cùng với ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa Đà Nẵng, và ĐH Xây dựng Hà Nội Trong khi đó, một số trường lại đang đặt mục tiêu KĐCL cấp trường theo tiêu chuẩn AUN-QA Trường đi đầu phong trào này là ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, bắt đầu tham gia đánh giá chất lượng cấp trường theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA từ tháng 01/2017 và sau một thời gian bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, minh chứng đã được xét công nhận đạt chuẩn chất lượng AUN-QA cấp trường vào ngày 20/11/2017 Tuy nhiên, các trường phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về nguồn lực cũng như tính hiệu quả và sự cần thiết của việc KĐCL cấp trường theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA cho các nước trong khu vực Đông nam Á
Đánh giá ở cấp chương trình, các bộ tiêu chuẩn KĐCL quốc tế bởi ABET hay AACSB thường rất tốn kém, các trường thường chọn chương trình hàng đầu của mình, vốn có thế mạnh trong nhiều mặt, từ công bố quốc tế của giảng viên cho đến khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế của sinh viên tốt nghiệp để tham gia KĐCL Trong khi nhiều trường không thể tìm ra chương trình nào để KĐCL quốc tế thì những trường như Đại học Bách khoa TP HCM không đủ kinh phí để tham gia KĐCL theo bộ tiêu chuẩn ABET của Mỹ với tất
cả các chương trình họ có tiềm năng
Như vậy có thể nói, việc tham gia KĐCL quốc tế là cần thiết, tuy nhiên ở mức độ nào và quy mô nào để đạt hiệu quả là câu hỏi đối với nhiều trường Trên thực tế, do tính chất và phạm vi đánh giá của KĐCL cấp trường (bao trùm các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, quản trị … và các nguồn lực như cơ sở vật chất)
và cấp chương trình (chủ yếu tập trung vào quá trình giáo dục), việc KĐCL đối
Trang 3227
với cấp chương trình đem lại nhiều lợi ích cho người học hơn so với KĐCL cấp trường KĐCL quốc tế cấp chương trình hầu hết là sự công nhận của các tổ chức KĐCL chuyên ngành quốc tế đối với các CTĐT chuyên ngành có cấp bằng Sự công nhận này tạo điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp có thể tham gia thị trường lao động quốc tế hoặc học tập cao hơn ở nước ngoài Nó cũng cho phép các trường mở rộng hợp tác đào tạo quốc tế, tuyển sinh sinh viên quốc tế,
và trao đổi sinh viên trong phạm vi một chương trình cụ thể
Việc hội nhập quốc tế của giáo dục đại học là cả một quá trình dài để ta xác định đâu là chuẩn, đâu là điều kiện mà chúng ta phải phấn đấu, không phải
là câu chuyện ngày một ngày hai Các trường không thể tự nhận là trường tốt,
mà phải dựa vào đánh giá của các tổ chức kiểm định quốc tế cũng như trong nước
2.2 Tổ chức đảm bảo chất lượng tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được thành lập năm 1956, là trường
đại học kỹ thuật đầu tiên của Việt Nam Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Trường luôn giữ vững vị trí tiên phong trong đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Trường hiện có gần 2.000 cán bộ, giảng viên với 20 khoa, viện đào tạo, 14 trung tâm và viện nghiên cứu, 33 ngành trình
độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ và tiến sĩ Hàng năm, Trường tuyển sinh với số lượng
~ 6.000 sinh viên Quy mô đào tạo hiện nay bao gồm 27.000 sinh viên đại học chính quy, gần 3.000 học viên cao học và hơn 600 nghiên cứu sinh
Trong bối cảnh hiện tại, sự hình thành và phát triển của nhiều loại hình đào tạo đại học và cao đẳng trong cả nước, đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các trường đại học và đặt ra cho các trường một nhiệm vụ, một thách thức lớn về sự đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Nhận thức sâu sắc vấn đề này, đồng thời cũng là chủ trương của Bộ GD-ĐT về việc triển khai công
Trang 3328
tác kiểm định chất lượng các trường đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã ký quyết định số 1578-QĐ-ĐHBK-TCCB vào tháng 10/2008 về việc thành lập Trung tâm Đảm bảo chất lượng (Tên tiếng Anh: Center for Quality Assurance – CEQUA) để thực hiện các mục tiêu đảm bảo chất lượng giáo dục và nghiên cứu khoa học của nhà Trường trong giai đoạn mới
Kể từ năm 2008, hệ thống đảm bảo chất lượng của trường ĐHBK đã được thiết kế, xây dựng, và không ngừng phát triển nhằm hướng đến liên tục đánh giá, đo lường, kiểm soát, duy trì và cải thiện chất lượng của mọi hoạt động chính yếu trong nhà trường như học tập, giảng dạy, nghiên cứu Hệ thống đảm bảo chất lượng hướng đến đáp ứng tốt sứ mệnh, tầm nhìn, đạt các mục tiêu chiến lược của nhà trường và đáp ứng tốt yêu cầu của các bên có liên quan
Hình 2.1 Ban Giám hiệu (BGH) đóng vai trò tổ chức xây dựng chiến lược, định
hướng phát triển, ban hành chính sách, mục tiêu chất lượng, phê duyệt các kế hoạch, chương trình và phân bổ nguồn lực, chỉ đạo thực hiện các kế hoạch, chương trình nhằm đạt các mục tiêu đề ra
Trang 3429
Trung tâm Đảm bảo Chất lượng với chức năng tham mưu cho Ban
Giám hiệu trong công tác xây dựng và vận hành các quy trình đảm bảo chất lượng bên trong Nhà trường, bao gồm các nội dung: Nghiên cứu các tiêu chuẩn đánh giá và kiểm định chất lượng, các kế hoạch công tác Đảm bảo chất lượng trong toàn trường
Các Viện, Phòng ban thành lập tổ Đảm bảo chất lượng có nhiệm vụ giúp
lãnh đạo triển khai các hoạt động Đảm bảo chất lượng trong đơn vị Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm của Tổ Đảm bảo chất lượng các Viện là tự đánh giá chương trình theo các bộ tiêu chuẩn kiểm định, triển khai các hoạt động khắc phục sau đánh giá, phối hợp với Trung tâm Đảm bảo Chất lượng thực hiện các hoạt động Đảm bảo chất lượng của trường
2.3 Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Kiểm định cấp trường: Ngày 19/10/2016, Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội đã đón tiếp Đoàn chuyên gia HCERES Sau khi tiến hành khảo sát sơ
bộ, Đoàn chuyên gia kết luận Trường hoàn toàn đủ điều kiện đáp ứng để tiến hành công tác kiểm định; đồng thời hướng dẫn quy trình kiểm định, bộ tiêu chuẩn kiểm định cũng như chuẩn bị báo cáo tự đánh giá Đến ngày 01/3/2017, Đoàn chuyên gia HCERES đã sang Việt Nam thực hiện đánh giá và kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo của Trường Sau 2 tháng, HCRES gửi bản
dự thảo báo cáo đánh giá để Trường có ý kiến phản hồi HCERES quy định 3 mức đánh giá: không đạt, đạt có điều kiện (yêu cầu khắc phục một số điểm) và đạt vô điều kiện (hiệu lực 5 năm) Ngày 12/6/2017, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội cùng 3 trường ĐH khác là ĐH Xây dựng, ĐHBK Đà Nẵng và ĐHBK TPHCM được Hội đồng cấp cao đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học gọi tắt
là HCERES của Pháp ra kết luận đánh giá đạt chuẩn kiểm định trường đại học với hiệu lực 5 năm
Trang 3530
Kiểm định cấp chương trình: Trong số các chương trình đào tạo liên kết với các đối tác quốc tế, Trường ĐHBK Hà Nội có 3 chương trình kỹ sư chất lượng cao (PFIEV) do Chính phủ Pháp tài trợ theo nghị định thu giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Pháp ký ngày 12/11/1997 và bắt đầu triển khai từ năm 1999 Các chương trình đào tạo này đã được CTI và ENAEE đánh giá, công nhận ở các giai đoạn 2004-2010, 2010-
2016 và 2016-2022 Ngoài ra, từ tháng 11/2015, Trường ĐHBK Hà Nội đã trở thành thành viên của Tổ chức đảm bảo chất lượng AUN-QA và có 6 chương trình được cấp giấy chứng nhận đạt kết quả
Trang 3631
Nhiều CTĐT của nhà trường đã tiến hành tự đánh giá theo các bộ tiêu chuẩn quốc tế, trong đó có những CTĐT đã được đánh giá ngoài và được công nhận bởi các tổ chức kiểm định có uy tín như AUN-QA, CTI
Nhà trường đã xây dựng được 1 hệ thống phòng thí nghiệm với trang bị đồng bộ, hiện đại Hàng năm, Trường có nhiều bài báo ISI được công bố bởi các nhóm sinh viên, nghiên cứu sinh, cũng như cán bộ giảng dạy của Nhà trường
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là trường đại học đầu tiên của Việt Nam xây dựng hệ thống doanh nghiệp BKHoldings với vai trò khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
Trang 37Hệ thống cơ sở vật chất trong phòng thí nghiệm đa số lạc hậu, chưa được nâng cấp; một số phòng thí nghiệm hiện đại thì lại chưa được khai thác một cách hiệu quả
Thư viện trường chưa được khai thác hiệu quả: Đa số diện tích không được sử dụng, tài liệu tham khảo chưa đầy đủ cả về số lượng lẫn chất lượng
Số lượng Chương trình giảng dạy bằng tiếng anh, cũng như số giảng viên, sinh viên quốc tế tại trường còn ít
Việc hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp nhằm nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm chưa đạt hiệu quả như mong muốn
Chưa khai thác hiệu quả hệ thống E-learning nhằm phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu
2.4.3 Nguyên nhân
Các bộ tiêu chuẩn kiểm định theo khu vực và quốc tế đòi hỏi một chương trình đào tạo cần phải có một hệ thống đánh giá chất lượng người học để từ đó liên tục cải thiện nhằm nâng cao chất lượng đạt được Các chương trình được công nhận phải thường xuyên nhận phản hồi từ các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, cựu Sv, Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp và nhà trường vẫn chưa tạo được mối liên hệ chặt chẽ, gây khó khăn khi thực hiện các chương trình đào tạo theo chuẩn
Thiếu sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên, thực tế cho thấy, dù sinh viên phải tự học là chính, các giờ bài tập là cần thiết để sinh viên có thể đặt các câu hỏi và nhận được những lời giải thích cho các thắc mắc gặp phải trong việc
Trang 3833
đọc hiểu một lý thuyết hoặc giải một bài tập về nhà Hệ quả là các sinh viên, kể
cả sinh viên giỏi, không có điều kiện để kiểm tra kịp thời xem những hiểu biết của mình về một vấn đề cụ thể nào đó có đúng chưa Lý do của sự bất cập này nằm ở chỗ phân chia các lớp học chưa hợp lý hơn là ở chỗ thiếu nguồn lực giảng dạy Thật vậy, với một chương trình đào tạo 300 sinh viên một năm chẳng hạn, thường các sinh viên được chia thành 3 lớp, mỗi lớp 100 sinh viên Số sinh viên trong một lớp như vậy là còn nhỏ so với sĩ số có thể của một lớp lý thuyết, trong đó thông tin chủ yếu là một chiều từ giảng viên đến sinh viên Tuy nhiên,
sĩ số đó lại quá nhiều đối với một lớp bài tập hoặc thực hành đòi hỏi mức độ tương tác cao giữa giảng viên và sinh viên
Tiểu kết chương 2
Qua thực trạng hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại Trường đại học Bách Khoa Hà Nội, tác giả nhận thấy một vài chương trình đào tạo kỹ thuật của Trường chưa đáp ứng được hết các tiêu chuẩn của ABET Vì vậy trong chương tiếp theo, tác giả sẽ phân tích kỹ hơn và đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng bộ tiêu chuẩn kiểm định ABET đối với các chương trình đào tạo kỹ thuật ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 3934
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO TIẾP CẬN KIỂM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO KỸ THUẬT THEO ABET TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 3.1 Phân tích bộ tiêu chuẩn ABET
ABET viết tắt từ Accreditation Board for Engineering and Technology là
tổ chức kiểm định chất lượng của Mỹ có uy tín trên thế giới, chuyên kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo khối kỹ thuật (Engineering), công nghệ (Technology) Tiền thân của ABET là Hội đồng Kỹ sư về Phát triển Nghề nghiệp (Engineers' Council for Professional Development - ECPD), thành lập vào năm 1932 Hiện nay, ABET đã kiểm định hơn 3100 chương trình trên 600 trường đại học, cao đẳng trên thế giới
Bộ tiêu chuẩn ABET dành cho chương trình đào tạo kỹ thuật bao gồm 8 tiêu chuẩn [20]:
1 Sinh viên (Student);
2 Mục tiêu đào tạo (Program Educational Objectives);
3 Chuẩn đầu ra của sinh viên (Student Outcomes);
4 Cải tiến liên tục (Continuous improvement);
5 Chương trình đào tạo (Curriculum);
6 Đội ngũ giảng viên (Faculty);
7 Cơ sở vật chất (Facilities);
8 Hỗ trợ của trường đại học (Institutional Support);
TIÊU CHUẨN 1: SINH VIÊN
Mô tả chung
Chương trình đào tạo phải đánh giá được toàn bộ quá trình học tập của sinh viên
Sinh viên được tư vấn về chương trình đào tạo, nghề nghiệp và theo dõi
sự tiến bộ của sinh viên để giúp họ đạt được mục tiêu của chương trình
Trang 4035
Chương trình có các chính sách nhằm tuyển sinh sinh viên mới với chính sách tuyển sinh rõ ràng, tiếp nhận sinh viên chuyển tiếp và công nhận điểm của sinh viên chuyển tiếp
Chương trình phải có danh mục những thủ tục, hệ thống văn bản, cụ thể hóa những yêu cầu và quy trình nhập học của một sinh viên đảm bảo sinh viên
có thể đáp ứng được yêu cầu của chương trình Định kỳ xem xét và bổ sung các tiêu chuẩn tuyển sinh phù hợp
Tiêu chí
Tiêu chí 1: Tuyển sinh
Có yêu cầu về điều kiện và quy trình nhập học rõ ràng đối với một tân sinh viên
Tiêu chí 2: Đánh giá sinh viên
Tổ chức đánh giá chất lượng đầu vào của sinh viên để định hướng cho việc tổ chức đào tạo phù hợp với từng đối tượng, đánh giá quá trình của từng học phần cụ thể, đánh giá sinh viên tốt nghiệp và công nhận kết quả tốt nghiệp của sinh viên
Đánh giá sự tiến bộ của sinh viên trong cả quá trình học tập, hồ sơ năng lực sinh viên tốt nghiệp được xây dựng theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra của chương trình
Đánh giá toàn diện về kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập, rèn luyện của sinh viên trên cơ sở đảm bảo tính khách khách quan và phù hợp với mục tiêu đề
ra
Tiêu chí 3: Hợp tác quốc tế về chương trình và trao đổi sinh viên
Có từ 20% học phần mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy trên cơ sở thực hiện đúng các yêu cầu về chuyên môn và cơ sở pháp lý của Việt Nam
Có quy định về quy trình tiếp nhận, trao đổi sinh viên giữa Việt Nam và nước ngoài học tập các học phần của CTTT
Tiêu chí 4: Tư vấn và định hướng nghề nghiệp