1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đặc điểm hình thái và sinh vật học của ruồi đục lá hành Liriomyza chinensis (Kato) (Diptera: Agromyzidae)

6 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 154,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này cung cấp một số dẫn liệu về hình thái, thời gian vòng đời, khả năng sống và đẻ trứng của ruồi đục lá hành. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH VẬT HỌC CỦA

RUỒI ĐỤC LÁ HÀNH Liriomyza chinensis (Kato) (Diptera: Agromyzidae)

MORPHOLOGICAL AND BIOLOGICAL CHARACTERISTICS OF THE STONE

LEEK LEAFMINER Liriomyza chinensis (Kato)

(Diptera: Agromyzidae)

Trần Đăng Hòa (1) Takagi Masami (2)

Abstract

The stone leek leafminer, Liriomyza chinensis (Kato), has become a serious pest on Allium spp in Vietnam However, the knowledge of L chinenis is still limited

The morphology of L chinensis adults collected from Vietnam and Japan was described To

distinguish different larval instars, some morphological characteristics such as the lengths of mouth hook, cephalopharyngeal skeleton, body and mine were measured The lengths of mouth hook and cephalopharyngeal skeleton of first, second and third instars were 0.021 mm and 0.089 mm, 0.054 mm and 0.165 mm, and 0.092 mm and 0.261 mm, respectively

The biology of the leafminer on japanese bunching onion was investigated at constant temperatures

of 20, 25 and 30oC and a photoperiod of 16L: 8D Developmental time for the immature stages was 35.3, 22.5 and 17.1 days at 20, 25 and 30oC, respectively; pupal development lasted slightly longer than the combined egg and larval stages The females laid a mean of 108 eggs and fed on 1013.9 punctures during an average lifespan of 9 days at 25oC.

Keywords: Liriomyza chinensis (Kato), mouth hook, cephalopharyngeal skeleton

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ruồi đục lá hành, Liriomyza chinensis (Kato),

gây hại nghiêm trọng trên hành (Allium spp.) tại

Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản,

Singapore, Thái Lan, Trung Quốc (Chen et al.,

2003; Shiao, 2004; Spencer, 1973) Trong những

năm gần đây, ruồi đục lá hành gây hại trên hầu

hết các vùng trồng hành ở Việt Nam (Tran et al.,

2005a) Ruồi đục lá thường phát sinh nhanh và

lứa gối nhau nên nông dân đã sử dụng nhiều loại

thuốc trừ sâu với tần suất và nồng độ phun rất

cao nhưng hiệu quả trừ ruồi đục lá hành không

cao Phun thuốc hóa học không đúng đã ảnh

hưởng đến quần thể ong ký sinh và làm tăng tính kháng thuốc của ruồi đục lá dẫn đến mật độ ruồi tăng trên đồng ruộng (Tran & Takagi, 2005b; Tran et al., 2005)

Nhận biết chính xác đặc điểm hình thái, các đặc điểm sinh học sinh thái của ruồi đục lá hành

là cơ sở cho việc xác định các biện pháp phòng trừ hợp lý Bài viết này cung cấp một số dẫn liệu

về hình thái, thời gian vòng đời, khả năng sống

và đẻ trứng của ruồi đục lá hành

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Phương pháp nuôi sâu: Ruồi đục lá L

chinensis được nuôi trên giống hành lá Allium

1 Trường ĐHNL Huế

2 ĐH Kyushu, Nhật Bản

Trang 2

fistulosum L tại phòng thí nghiệm Côn trùng

thiên địch Đại học Kyushu, Nhật Bản Mỗi cây

hành được trồng trong chậu nhựa đường kính

9cm 15 chậu nhựa này đặt vào một khay nhựa

(32 x 44 x 6cm) Đặt các khay này trong nhà kính

có nhiệt độ 20±5oC và ẩm độ 60±10% Thả 100

ruồi trưởng thành loài L chinensis (50 đực +50

cái) vào lồng nhựa (45 x 30 x 45cm) có 6 cây

hành ở giai đoạn 2-3 lá Sau 24 giờ, lấy các chậu

hành này ra, phủ một tờ giấy thấm (đường kính

11cm) trên mỗi chậu hành để ngăn sâu non hóa

nhộng trong đất Sau đó đưa vào tủ nuôi sâu

(nhiệt độ 25oC, ẩm độ 70-80% và chế độ chiếu

sáng là 16h sáng và 8h tối) Có nhộng thì để vào

đĩa Petri (đường kính 9cm) có chứa đất ẩm và đặt

trong tủ nuôi sâu Khi trưởng thành vũ hóa sử

dụng làm thí nghiệm tiếp theo

Mô tả hình thái của trưởng thành: Vào

tháng 3 và 6 năm 2004 và tháng 3 và tháng 7 năm

2005, các lá hành bị ruồi đục lá được thu từ vùng

trồng hành ở Thanh Hóa, Huế, Quảng Nam đem

về phòng thí nghiệm Bộ môn BVTV (Trường

ĐHNL Huế) Ruồi trưởng thành vũ hóa từ các lá

hành bị hại được thu và bảo quản trong ethanol

70% Mẫu vật được TS Akeo Iwasaki (Trung tâm

NCNN Hokkaido, Nhật Bản) giám định tên khoa

học Hình thái của ruồi đục lá hành được mô tả

theo Spencer (1973) và Shiao (2004)

Phân biệt tuổi sâu non: Sau khi thấy đường

đục xuất hiện trên lá hành, tiến hành thu sâu non

12 giờ /lần và cho vào lọ có ethanol 70% Đo

kích thước cơ thể, chiều dài đường đục, móc

miệng và xương họng của sâu non các tuổi theo

Petitt (1990), Tran & Takagi (2005a)

Theo dõi thời gian phát dục các pha ở nhiệt

độ khác nhau: Cho 6 cây hành có trứng mới đẻ

của ruồi L chinensis vào tủ nuôi sâu ở các nhiệt

độ ổn định là 20, 25 và 30o

C, với chế độ 16h sáng: 8h tối Theo dõi thời gian trứng nở 12

giờ/lần Sau khi trứng nở (đường đục xuất hiện),

dùng bút dạ đánh dấu đường đục Sử dụng các sâu non nở cùng một thời gian để xác định thời gian phát dục của sâu non Theo dõi thờì gian phát dục của chúng 12 giờ /lần Khi nhộng xuất hiện, thu chúng để riêng rẽ trong đĩa Petri (đường kính 6cm) có đất ẩm Theo dõi thời gian vũ hóa trưởng thành Ngay sau khi vũ hóa, cho 2 trưởng thành đực và 1 trưởng thành cái vào một lồng nhựa (35 x 20 x 25cm) có 1 cây hành Không cho ruồi ăn thêm Đặt các lồng nhựa này trong tủ nuôi sâu ở nhiệt độ 25oC, chế độ 16h sáng: 8h tối Thay cây hành hàng ngày Nếu trưởng thành đực chết thì cho trưởng thành đực mới vũ hóa vào lồng cho đến khi trưởng thành cái chết Hàng ngày đếm số lượng vết châm và trứng do mỗi trưởng thành cái đẻ; ghi nhận thời gian sống của trưởng thành

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm hình thái của trưởng thành

Tất cả 251 cá thể ruồi đục lá trên ruộng hành thu được ở Thanh Hóa, Huế và Quảng Nam đều

thuộc loài ruồi đục lá hành Liriomyza chinensis

(Kato) (Diptera: Agromyzidae) Hình thái của trưởng thành ruồi đục lá hành thu được ở Việt Nam giống với ruồi đục lá hành nuôi ở Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Fukuoka, Nhật Bản Trưởng thành là một loài ruồi nhỏ, sải cánh rộng 1,6-1, 9 mm Đầu, phía trước mặt, phía sau mắt kép có màu vàng Gốc lông thẳng đứng phía ngoài đỉnh đầu có màu đen, gốc lông phía trong

có màu vàng Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt sự khác nhau của các loài đục lá thuộc

giống Liriomyza Râu đầu 3 đốt có góc cạnh

Mảnh cứng scutellum và mảnh ngực giữa mesonotum có màu đen Bụng có màu đen Mặt lưng bụng không có rãnh dọc màu vàng Độ dài của rãnh dọc này là đặc điểm cơ bản để phân biệt

L chinenis với L sativae, L bryoniae, L huidobrensis, L trifolii và L brassicae (Shiao,

Trang 3

2004) Trưởng thành cái có ống đẻ trứng cứng,

dài, màu đen (hình 1)

Hình 1 Phần bụng của ruồi đục lá hành

L chinensis: Ruồi đực (1), ruồi cái (2)

3.2 Phân biệt tuổi sâu non

Sâu non có 3 tuổi để phân biệt tuổi sâu non,

có thể dựa vào kích thước cơ thể và độ dài đường đục (bảng 1) Tuy nhiên, kích thước cơ thể và độ dài đường đục có thể thay đổi tùy thuộc vào mật

độ sâu non trên một đơn vị diện tích lá Khi mật

độ sâu non cao xảy ra hiện tượng cạnh tranh giữa các cá thể nên kích thước sẽ giảm (Petitt & Wietlisbach, 1992)

Bảng 1 Chiều dài móc miệng, xương họng, cơ thể và đường đục của

sâu non ruồi đục lá hành L chinensis ở nhiệt độ 250C

Móc miệng

(mm)

0,021±0,0003 (0,018-0,026)

42 0,054±0,0004 (0,042-0,064)

103 0,092±0,0012 (0,076-0,113)

56

Xương họng

(mm)

0,089±0,0014 (0,065-0,114)

42 0,165±0,0018 (0,126-0,203)

103 0,261±0,0037 (0,213-0,314)

56

Cơ thể

(mm)

0,685±0,023 (0,425-0,97)

34 1,429±0,039 (0,831-2,35)

105 2,61±0,066 (1,68-3,63)

61 Đường đục

(mm)

6,4 ± 0,59 (2,3 - 13,9)

21 12,2 ± 0,89 (5,2 - 19,2)

21 37,2 ± 2,68 (10,8 - 63,9)

21

N (số cá thể theo dõi); (giá trị nhỏ nhất - giá trị lớn nhất)

Khi so sánh sự khác nhau giữa các tuổi sâu non

của ruồi đục lá L trifolii, Minkenber (1999) nhận

thấy rằng chiều dài móc miệng của sâu non là một

đặc điểm phân biệt quan trọng Tuy nhiên Head et al

(2002) lại phát hiện có sự trùng lặp về chiều dài móc

miệng giữa sâu non các tuổi của ruồi đục lá L

huidobrensis Chúng tôi đã sử dụng cả hai chỉ tiêu

chiều dài móc miệng và xương họng (hình 2) để

phân biệt tuổi sâu non của ruồi đục lá hành L

chinensis Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng không

có sự trùng lặp về chiều dài móc miệng và xương

họng giữa 3 tuổi của sâu non ruồi đục lá hành (hình

3)

Hình 2 Móc miệng và xương họng của sâu non

ruồi đục lá hành L chinensis

Hình 3 Sự liên hệ giữa chiều dài móc miệng và xương họng của sâu non các tuổi của ruồi đục lá

hành L chinensis

Trang 4

3.3 Thời gian phát dục của các giai đoạn

trước trưởng thành

Thời gian phát dục của trứng, sâu non các

tuổi và nhộng của loài L chinensis phụ thuộc

vào nhiệt độ Trong khoảng 20-30oC, nhiệt độ

càng cao thì thời gian phát dục càng ngắn

(bảng 2) Ruồi đẻ trứng trong mô lá Thời gian

phát dục của trứng là 2,3; 3,4 và 5,5 ngày

tương ứng ở nhiệt độ 30, 25 và 20oC Sâu non

tuổi 1 lột xác thành tuổi 2 sau 1, 2 đến 2,3 ngày Thời gian phát dục của tuổi 2 là 0, 8 đến 2,6 ngày Thời gian phát dục của tuổi 3 từ 1, 9 đến 2,9 ngày Cuối tuổi 3, sâu non đục 1 lỗ thoát ra ngoài đường đục, rơi xuống đất hóa nhộng Thời gian phát dục của nhộng là 10,9; 13,6 và 22,0 ngày ở nhiệt độ 30, 25 và 20oC

Bảng 2 Thời gian phát dục các pha của ruồi đục lá hành

L chinensis ở nhiệt độ khác nhau

Nhiệt độ

(oC)

Thời gian phát dục các pha (ngày)

20 5,5±0,02 a

(224)

2,3±0,06 a (43)

2,6±0,05 a (48)

2,9±0,09 a (98)

22,0±0,1 a (46)

25 3,4±0,06 b

(50)

1,5±0,06 b (35)

1,7±0,05 b (72)

2,3±0,07 b (61)

13,6±0,08 b (68)

30 2,3±0,02 c

(339)

1,2±0,03 b (39)

0,8±0,03 c (44)

1,9±0,07 b (58)

10,9±0,09 c (29)

Trung bình của một giai đoạn phát dục ở các nhiệt độ khác nhau có cùng chữ là không khác nhau

có ý nghĩa bởi phương pháp so sánh Turkey’s HSD, phân tích phương sai (ANOVA) một nhân tố, P<0,05

Giá trị trong ngoặc là số cá thể theo dõi

Khi áp dụng các biện pháp hóa học cũng như

sinh học để phòng trừ một loài sâu hại thì hiệu

lực tiêu diệt sâu khác nhau giữa các tuổi sâu Hầu

hết các loại thuốc trừ sâu có hiệu lực cao hơn đối

với sâu non tuổi 1 so với sâu non tuổi 3 của ruồi

đục lá L trifolii (Parrella et al., 1982) Petitt &

Wietlishbach (1993) đã tìm thấy khả năng ký

sinh sâu non tuổi 2 và tuổi 3 ruồi đục lá L

Braconidae) là cao hơn so với tuổi 1 Vì vậy, số

liệu về thời gian phát dục của ruồi đục lá hành L

chinensis ở các điều kiện nhiệt độ (bảng 2) có thể

sử dụng để điều tra xác định tỷ lệ các giai đoạn phát dục của ruồi đục lá trên đồng ruộng, từ đó xác định thời gian áp dụng các biện pháp phòng trừ hợp lý

3.4 Thời gian sống, khả năng ăn thêm và

đẻ trứng của trưởng thành

Ở nhiệt độ 25o

C, trưởng thành cái sống trung bình 9 ngày Trong khoảng thời gian đó, mỗi trưởng thành cái đẻ được 108 trứng và châm

1013, 9 vết châm để ăn thêm Ruồi trưởng thành cái đẻ trứng sau khi vũ hóa 2,4 ngày và sau đẻ trứng sống trung bình 0,6 ngày (bảng 3)

Trang 5

Chỉ tiêu theo dõi Các giá trị theo dõi (TB±SE)

Thời gian sống (ngày) 9,0 ± 1,1 (4 - 14)

Thời gian trước đẻ trứng (ngày) 2,4 ± 0,7 (0 - 8)

Thời gian sau đẻ trứng (ngày) 0,6 ± 0,2 (0 - 2)

Giá trị trong ngoặc là giá trị nhỏ nhất - giá trị lớn nhất

Sự gây hại của ruồi đục lá hành L chinensis

trên cây hành rất giống với các loài ruồi đục lá

khác thuộc giống Liriomyza: sâu non đục trong

lá, ăn biểu bì lá; trưởng thành cái dùng ống đẻ

trứng châm lên lá để đẻ trứng hoặc ăn thêm

Trưởng thành ăn dịch tiết ra từ các vết châm

(Parrella, 1987) Trưởng thành cái chỉ đẻ trứng

vào khoảng 10% số vết châm (Tran & Takagi,

2005a) Vết châm trên lá làm giảm quang hợp

của cây và có thể làm chết cây con (Elmore &

Ranney, 1954) Vì vậy khả năng ăn thêm của

trưởng thành cũng là một chỉ tiêu để đánh giá

thiệt hại do ruồi đục lá gây nên Thời gian sống

và khả năng đẻ trứng của ruồi đục lá phụ thuộc

vào nhiệt độ và thức ăn (Parrella, 1987) Trong

thí nghiệm này trưởng thành không được ăn

thêm Tuy nhiên, trên đồng ruộng, trưởng thành

có thể ăn thêm mật hoa, chất bài tiết của rệp…

nên thời gian sống có thể kéo dài và khả năng đẻ

trứng có thể nhiều hơn Một số nghiên cứu đã

khẳng định sự tương quan thuận giữa tính ăn

thêm, thời gian sống và khả năng đẻ trứng của sâu đục lá (Minkenberg, 1990; Tran & Takagi, 2005a)

IV KẾT LUẬN

- Ruồi đục lá hành ở Việt Nam là loài

Agromyzidae, bộ hai cánh Diptera Sâu non của

L chinensis có 3 tuổi Dựa vào kích thước móc

miệng và xương họng để phân biệt tuổi sâu non

là chính xác nhất

- Thời gian phát dục pha trứng, sâu non các

tuổi và nhộng của L chinensis phụ thuộc vào

nhiệt độ Trong khoảng 20-300C, nhiệt độ càng cao thì thời gian phát dục càng ngắn Thời gian phát dục từ trứng đến trưởng thành

là 35,3; 22,5 và 17,1 ngày tương ứng ở nhiệt

độ 20, 25 và 30o

C

- Ở nhiệt độ 25oC, trưởng thành cái sống trung bình 9 ngày, đẻ 108 trứng và châm 1013, 9 vết châm để ăn thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chen, X X., X Y Lang, Z H Xu, J H He

and Y Ma, 2003 The occurrence of leafminers

and their parasitoids on vegetables and weeds

in Hangzhou area, Southeast China

BioControl, 48: 515-527

Head, J., K F A Walters and S Langton,

2002 Utilisation of morphological features in

life table studies of Liriomyza huidobrensis (Dipt., Agromyzidae) developing in lecttuce J

Appl Ent., 126: 349-354

Parrella, M P., 1987 Biology of Liriomyza

Ann Rev Entomol., 32: 201-224

Trang 6

Parrella, M P., K L Robb and P

Morishita, 1982 Response of Liriomyza trifolii

(Diptera: Agromyzidae) larvae to insecticides,

with notes about efficacy testing J Econ

Entomol., 75: 1104-1108

Petitt, F L., 1990 Distinguishing larval

instars of the vegetable leafminer, Liriomyza

sativae (Diptera: Agromyzidae) Flo Entomol.,

73: 280-286

Petitt, F L and D O Wietlisbach, 1992

Intraspecific competition among same-aged

larvae of Liriomyza sativae (Diptera:

Agromyzidae) in lima bean primary leaves

Environ Entomol 21: 136-140

Petitt, F L and D O Wietlisbach, 1993

Effects of host instar and size on parasization

efficiency and life history parameters of Opius

dissitus Entomol Exp Appl., 66: 227-236

Shiao, S F., 2004 Morphological diagnosis

Agromyzidae) of quarantine importance in

Taiwan Appl Entomol Zool., 39: 27-39

Spencer, K A., 1973 Agromyzidae (Diptera) of economic importance Dr W Junk

B V., Publishers, The Hague Tran, D H and M Takagi, 2005a

Developmental biology of Liriomyza chinensis (Diptera: Agromyzidae) on Onion J Fac

Agr., Kyushu Univ., 50: 375-382

Tran, D H and M Takagi, 2005b Susceptibility of the stone leek leafminer

Liriomyza chinensis (Dip.: Agromyzidae) to

insecticides J Fac Agr., Kyushu Univ., 50:

383-390 Tran, D H., M Takagi and K Takasu,

2005 Toxicity of selective insecticides to

(Hymenoptera: Eulophidae), a parasitoid of the

American serpentine leafminer Liriomyza

trifolii (Burgess) (Diptera: Agrizomydae) J Fac.Agr Kyushu Univ 50: 109-118

ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP XỬ LÝ NHIỆT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA NẤM Fusarium lateritium GÂY ĐỐM QUẢ THANH LONG

HEAT TREATMENT ON Fusarium laterium DAMAGING DRAGON FRUITS

Trần Thị Việt Hà (1 ) , Nguyễn Hữu Đạt ( 1 ) , Bùi Cách Tuyến ( 2 ) ) , Lê Đình Đôn ( 2 )

Abstract

Dragon trees growing in Bình Thuận and Long An province in Vietnam were infected with Fusarium

fungus to cause several spots on surface of fruits, which named as Dragon fruit spot disease Agent attacks on fruits in field condition and still develops during storage and marketing leading to reduce the price and loss the quality This study we treated the infected dragon fruits using vapor heat method at 46.5°C for 5, 10, 20, and

30 min After treated, the fruits were storied in 25°C and 5°C for examination of spore survive, disease area, and development of fungal hypha inside of fruit tissues Results indicated that a long exposure to heat was to reduce the disease area, to inhibit the spore germination and hypha development We found that at 5°C, the

growth of Fusarium lateritium was arrested leading to a suggestion that storage condition could play an

Ngày đăng: 13/03/2021, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w