Bài viết này trình bày tình hình cây trồng và rầy nâu hại lúa; nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bùng phát rầy nâu trong thời gian vừa qua; tình hình sâu bệnh từ nay đến cuối vụ; các chủ trương, biện pháp đã triển khai.
Trang 1MỘT SỐ KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG RẦY NÂU HẠI LÚA TẠI CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cục BVTV
1 Tình hình cây trồng và rầy nâu hại lúa
Diện tích lúa vụ đông xuân tại các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long gieo cấy khoảng 1.549.1900
ha, hiện nay lúa đông xuân đã thu hoạch được
khoảng 420.000 ha, năng suất bình quân 4,5 - 7
tấn /ha; có 952.000 ha lúa đông xuân đang giai
đoạn đòng - trỗ và khoảng 100.000 ha đang giai
đoạn đẻ nhánh
Các giống lúa chủ lực được gieo trồng tại các
tỉnh ĐBSCL là: Jasmine, OM 1490, OM 2514,
OM 2717, VNĐ 95 - 20, OM 2517, OMCS 2000,
OM 3536, IR 64, ST1, MTL 250, IR 50404 ,
đây là các giống nhiễm rầy và nhiễm bệnh đạo
ôn
Diễn biến tình hình rầy nâu
Vụ lúa đông xuân 2005 - 2006 gieo sạ khá
sớm (tháng 10/2005) trong khi diện tích lúa vụ 3
còn nhiều nên ngay từ tháng 11/2005 vùng đồng
bằng sông Cửu Long đã có khoảng 27 ngàn ha
lúa bị nhiễm rầy; đến ngày 8/2/2006 có khoảng
64.900 ha bị nhiễm rầy, trong đó có 4.600 ha bị
nhiễm nặng, có 30 ha bị cháy từng chòm thiệt hại
ở mức 10 - 15% năng suất, 10 ha bị cháy từng
chòm bị thiệt hại ở mức 20 - 50% năng suất, 5 ha
bị thiệt hại ở mức 70% năng suất Diện tích nhiễm
rầy phân bố chủ yếu tại các tỉnh Long An, Vĩnh
Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, TP Cần
Thơ; đến ngày 20/2/2006 toàn vùng có 86.700 ha
bị nhiễm rầy, trong đó 1.900 ha bị nặng
Đến ngày 23/02/2006 diện tích nhiễm rầy chỉ
còn 39.716 ha, trong đó chỉ có 1420 ha nhiễm
nặng Mật độ rầy tại nơi nặng phổ biến 3000 c
/m2, cao 5000 - 6000 c/m2, cá biệt trên 10.000 c
/m2 Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng trừ rầy
nâu, diện tích nhiễm rầy đang giảm dần, không còn diện tích bị cháy rầy (bảng 1, 2)
Đạt được kết quả trên là do cơ quan chuyên ngành thực hiện nghiêm túc công điện của Thủ tướng Chính phủ, chỉ thị của Bộ trưởng, đã kết hợp với chính quyền các cấp, chỉ đạo quyết liệt
và hướng dẫn nông dân phòng trừ tích cực nên chưa có thiệt hại lớn do rầy gây ra
Ngoài ra, hiện nay diện tích lúa bị bệnh đạo
ôn lá toàn vùng khoảng 30.000 ha, trong đó có 1.280 ha bị nhiễm nặng
Bảng 1 Diện tích nhiễm rầy nâu của các tỉnh
vùng ĐBSCL theo thời gian (HA) Ngày, tháng,
năm
Diện tích nhiễm
Nhiễm nặng
Diện tích cháy rầy Tháng
11/2005
Kết hợp với phòng trừ rầy nâu, các địa phương đã hướng dẫn nông dân phòng trừ đạo ôn
lá và đạo ôn cổ bông nên hầu hết diện tích lúa đông xuân vẫn được bảo vệ an toàn, chưa có diện tích nào bị bệnh đạo ôn gây hại nặng ảnh hưởng đến năng suất
Bảng 2 Diện tích nhiễm rầy nâu
của các tỉnh vùng ĐBSCL (ha) (đến ngày 23/02/2006)
tích nhiễm
Nhiễm nặng
Diện tích cháy
Trang 2Hậu Giang
TP Cần Thơ
Vĩnh Long
Trà Vinh
An Giang
Kiên Giang
Đồng Tháp
Tiền Giang
Bến Tre
Long An
290 1.115 2.072
156 4.917
450 7.757 2.355
155 17.265
0
0
0
0
0
0
0
0
0 1.420
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
2 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bùng phát rầy
nâu trong thời gian vừa qua
- Điều kiện thời tiết thuận lợi, có những cơn
mưa trái mùa, mùa mưa đến sớm;
- Diện tích lúa vụ 3 cao, chủ yếu gieo trồng
bằng các giống nhiễm rầy; đây là điều kiện thuận
lợi để rầy tích lũy về số lượng và là nguồn rầy
chủ yếu chuyển sang gây hại lúa vụ đông xuân;
- Các giống lúa gieo cấy phổ biến ngoài sản xuất
đều là các giống nhiễm rầy, trong đó có 60% diện
tích gieo cấy các giống nhiễm rầy nặng 40% diện
tích gieo cấy các giống nhiễm rầy ở mức trung bình
đến nhẹ;
- Tập quán gieo sạ dày, bón phân chưa cân
đối;
3 Tình hình sâu bệnh từ nay đến cuối vụ
- Rầy nâu lứa mới tiếp tục nở từ nay đến khoảng
5/3/2006 và tiếp tục gây hại trà lúa đông xuân muộn
giai đoạn làm đòng - trỗ bông, phân bố ở hầu hết các
tỉnh vùng ĐBSCL
- Bệnh đạo ôn cổ bông cũng có khả năng gây hại
các giống lúa nhiễm giai đoạn trỗ bông
4 Các chủ trương, biện pháp đã triển khai
Thủ tướng Chính phủ ra công điện số 267/TTg -
NN ngày 15/02/2006 về việc phòng trừ rầy nâu hại
lúa ở các tỉnh ĐBSCL
Đã chỉ đạo Cục Bảo vệ thực vật tổ chức hội
nghị do lãnh đạo Bộ chủ trì có sự tham gia của
cơ quan liên quan trong Bộ, lãnh đạo Sở Nông nghiệp - PTNT các tỉnh ĐBSCL, các Viện, Trường liên quan, một số doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV, các cơ quan thông tin đại chúng để bàn các biện pháp cấp bách phòng trừ rầy nâu và Bộ đã chỉ đạo các Cục, các Viện, các Trường đại học kết hợp với các địa phương hướng dẫn nông dân diệt trừ rầy hiệu quả; các công ty cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại thuốc có hiệu lực diệt trừ rầy cao, chất lượng tốt và giá cả ổn định
Đã thành lập Ban chỉ đạo phòng trừ rầy nây ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long tại Quyết định số 448 QĐ/BNN - BVTV ngày 17/2/2006; đồng thời các địa phương thành lập ban chỉ đạo phòng trừ rầy nâu hại lúa tới cấp xã
để huy động lực lượng tập trung chỉ đạo bảo vệ lúa đông xuân từ nay tới cuối vụ
Đã ra chỉ thị số 12/2006/CT - BNN - BVTV ngày 21/2/2006 về việc phòng trừ rầy nâu hại lúa
ở các tỉnh vùng ĐBSCL
Ngay sau khi rầy nâu và bệnh đạo ôn xuất hiện, ngày 8/2/2006, Cục BVTV đã tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Chi cục BVTV các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số cơ quan chuyên môn có liên quan để bàn biện pháp phòng trừ Trong đó chú trọng việc tổ chức cho cán bộ thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, nắm chắc diễn biến của rầy nâu, xác định những nơi có mật
độ cao cần phòng trừ Tham mưu cho địa phương
tổ chức và chỉ đạo nông dân phòng trừ, chỉ phun thuốc những nơi có mật độ cao, không dùng các loại thuốc có khả năng làm bùng phát rầy Phối hợp với các cấp chính quyền tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường kiểm soát việc kinh doanh thuốc BVTV ở địa phương nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng tăng giá và bán thuốc giả, thuốc kém phẩm chất
Đã thành lập nhiều đoàn công tác do Lãnh đạo
Trang 3Cục BVTV trực tiếp làm trưởng đoàn đi kiểm tra,
chỉ đạo việc phòng trừ rầy nâu tại hầu hết các
tỉnh vùng ĐBSCL
Cục đã thành lập đoàn thanh tra chuyên ngành
để thanh tra việc kinh doanh và sử dụng thuốc
BVTV phòng trừ rầy nâu và bệnh đạo ôn hại lúa
từ ngày 20/2 đến ngày 20/3/2006 Đoàn thanh tra
của Cục sẽ kết hợp với thanh tra chuyên ngành
Bảo vệ & KDTV của các tỉnh tổ chức thanh tra
theo nội dung trên
Đã kết hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc
gia bằng nguồn kinh phí của 5 Công ty cung ứng
thuốc BVTV (Công ty Bayer, Công ty Syngenta,
Công ty thuốc trừ sâu Sài Gòn, Công ty vật tư
BVTV H.A.I) in 1 triệu tờ rơi hướng dẫn biện pháp
phòng trừ rầy nâu và bệnh đạo ôn phát đến tận tay
nông dân
Hiện nay, Cục BVTV vẫn thường xuyên chỉ
đạo các tỉnh bám sát đồng ruộng, hướng dẫn
nông dân chủ động phòng trừ rầy nâu và các loại sâu bệnh khác quyết tâm bảo vệ thắng lợi vụ lúa đông xuân 2005 - 2006
5 Một số kiến nghị
Để khống chế sự gây hại của sâu bệnh và công tác phòng trừ rầy nâu đạt hiệu quả cao, Cục Bảo vệ thực vật đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT:
- Chỉ đạo các địa phương thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của Bộ theo nội dung chỉ thị
số 12/2006/CT - BNN - BVTV ngày 21/2/2006,
cụ thể:
Xác định cơ cấu giống lúa theo hướng giảm dần diện tích gieo trồng lúa nhiễm sâu bệnh;
Mở rộng diện tích ứng dụng "3 giảm 3 tăng" kèm với sử dụng giống xác nhận, chất lượng tốt;
- Tăng cường mạng lưới cán bộ nông nghiệp ở
cơ sở
NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT NĂM 2006
Hoàng Văn Thông
Cục Bảo vệ thực vật
Năm 2006 là năm đầu thực hiện kế hoạch 5
năm lần thứ 2 của thế kỷ 21, thực hiện các
chương trình phát triển kinh tế, xã hội của
Đảng và Chính phủ Mục tiêu phát triển nông
nghiệp năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT là "Tiếp tục xây dựng một nền nông
nghiệp sản xuất hàng hoá có năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh cao, bền vững trên cơ
sở ứng dụng những thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến Xây dựng nông thôn xã hội chủ
nghĩa có kinh tế hợp lý, có quan hệ sản xuất
phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát
triển, đời sống nông dân được nâng cao cả về vật chất, văn hoá và tinh thần" Thực hiện các mục tiêu trên, trong năm 2006 ngành Bảo vệ thực vật (BVTV) sẽ thực hiện các nội dung và nhiệm vụ: Công tác BVTV với việc nâng cao hiệu quả phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia theo hướng sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững và kiểm dịch thực vật (KDTV) phục vụ xuất nhập khẩu phù hợp với việc hoà nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Để thực hiện nội dung và nhiệm vụ nêu trên