1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kháng thể kháng Topoisomerase I trong bệnh xơ cứng bì hệ thống

6 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 233,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xơ cứng bì hệ thống (XCBHT) là một bệnh tự miễn với đặc điểm là xơ cứng da lan toả, thương tổn các cơ quan nội tạng và tình trạng rối loạn miễn dịch. Việc xét nghiệm tìm kháng thể kháng Topoisomerase I giúp ích cho các thầy thuốc trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh. Bài viết tiến hành khảo sát tỷ lệ của kháng thể kháng Topoisomerase I ở bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Xơ cứng bì hệ thống (XCBHT) là một bệnh

tự miễn, thường gặp thứ hai sau lupus ban đỏ hệ

thống, bệnh chủ yếu gặp ở giới nữ (75-80%), tần

số mắc bệnh khoảng 1-2/10000 dân Biểu hiện

lâm sàng của XCBHT rất đa dạng với tổn thương ở

da và các cơ quan nội tạng Điều trị bệnh hiện vẫn

gặp nhiều khó khăn với tiên lượng nặng và tỷ lệ tử

vong cao [7]

Trong quá trình nghiên cứu về XCBHT, các tác giả đã phát hiện ra nhiều tự kháng thể có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của xơ cứng bì

hệ thống như kháng thể kháng tâm động, kháng thể kháng Topoisomerase I, kháng thể kháng ARN polymerase I, II, III Trong số đó, kháng thể kháng Topoisomerase I đã được nghiên cứu khá đầy đủ

về cấu trúc, cơ chế sinh bệnh, giá trị trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh Kháng thể này trong XCBHT gặp với tỷ lệ khác nhau, từ 28 – 70% tùy chủng tộc, thấp ở người da trắng, cao ở người Nhật và Thái Lan, tỷ lệ cao hơn ở nhóm XCBHT có tổn thương da lan tỏa [9]

KHÁNG THỂ KHÁNG TOPOISOMERASE I TRONG BỆNH XƠ CỨNG BÌ HỆ THỐNG

Nguyễn Thị Hoa*, Lê Hữu Doanh**, Trần Hậu Khang*

TÓM TẮT

Tổng quan: Xơ cứng bì hệ thống (XCBHT) là một bệnh tự miễn với đặc điểm là xơ cứng da lan toả,

thương tổn các cơ quan nội tạng và tình trạng rối loạn miễn dịch Việc xét nghiệm tìm kháng thể kháng Topoisomerase I giúp ích cho các thầy thuốc trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh

Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ của kháng thể kháng Topoisomerase I ở bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống tại

Bệnh viện Da liễu Trung ương

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang.

Kết quả: Kháng thể kháng Topoisomerase I (+) ở 75% bệnh nhân XCBHT, trong đó tỷ lệ dương tính

ở thể da lan tỏa cao hơn thể da giới hạn (89,71% và 43,75%) Nhóm bệnh nhân có kháng thể kháng Topoisomerase I dương tính có điểm m-Rodnan và điểm triệu chứng trung bình theo tiêu chuẩn ACR/ EULAG 2013 cao hơn nhóm âm tính

Kết luận: Kháng thể kháng Topoisomerase I dương tính với tỷ lệ cao trong XCBHT và có liên quan

đến thể da lan tỏa

Từ khóa: Xơ cứng bì hệ thống, kháng thể kháng Topoisomerase I (scl-70).

*Bệnh viện Da liễu Trung ương

**Bộ môn Da liễu – Trường Đại học Y Hà Nội

Phản biện khoa học: PGS.TS Trần Lan Anh

Trang 2

Giá trị của kháng thể kháng Topoisomerase

I trong chẩn đoán XCBHT đã được công nhận qua

việc đưa vào tiêu chuẩn chẩn đoán mới của ACR/

EULAR năm 2013 [4] Ở Việt Nam, các nghiên cứu về

kháng thể kháng Topoisomerase I còn rất ít và chưa

được thực hiện một cách hệ thống Vì vậy, chúng

tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: “Khảo sát

tỷ lệ của kháng thể kháng Topoisomerase I trong

bệnh xơ cứng bì hệ thống tại Bệnh viện Da liễu

Trung ương”.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

100 bệnh nhân XCBHT chẩn đoán xác định

theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ACR/EULAG 2013 từ

5/2013 đến 9/2015, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bệnh nhân chẩn đoán xác định là XCBHT

theo tiêu chuẩn ACR/EULAG 2013

- Được làm xét nghiệm tìm kháng thể kháng

Topoisomerase I

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân đã được lấy vào nghiên cứu từ

lần khám trước

- XCBHT kèm các biểu hiện của bệnh mô liên

kết khác (MCTD, Overlap)

- Bệnh nhân mắc các bệnh lý nội khoa khác

không phải do xơ cứng bì như suy thận mãn, bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính,…

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

Các bước tiến hành:

- Sàng lọc bệnh nhân để đưa vào nghiên cứu

(theo tiêu chuẩn ở trên)

- Hỏi bệnh: tuổi, giới, tuổi khởi phát bệnh, thời gian bị bệnh

- Khám bệnh: đánh giá mức độ dày da theo thang điểm m-Rodnan và phân loại thể bệnh (lan tỏa hay giới hạn)

- Xét nghiệm: Xác định kháng thể anti-Topo I bằng phương pháp ELISA

Xử lý số liệu: Các số liệu thu thập được của

nghiên cứu được xử lý theo các thuật toán thống

kê y học trên máy tính bằng chương trình phần mềm SPSS 16.0

III KẾT QUẢ

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ thể bệnh (lan tỏa/giới hạn) 2/1

Tuổi khởi phát bệnh trung bình 45,2 ± 13,8

Nhận xét: Tỷ lệ nữ/nam của các bệnh nhân

XCBHT trong nghiên cứu là 4/1; tỷ lệ thể da lan tỏa/giới hạn là 2/1; tuổi khởi phát bệnh trung bình

là 45,2 ± 13,8

Bảng 2: Phân bố một số đặc điểm theo thể

lâm sàng

Đặc điểm

Thể bệnh

p

Thể lan tỏa Thể giới hạn Điểm triệu

chứng trung bình

17,6± 2,7 13,9 ±3,8 <0,001

Điểm mRSS trung bình

17,2 ± 8,2

6,1 ± 4,0 <0,001

Trang 3

Nhận xét: Điểm triệu chứng trung bình theo tiêu chuẩn ACR/EULAG 2013 và điểm dày da trung bình

theo thang điểm m-Rodnan của nhóm bệnh nhân XCBHT có tổn thương da giới hạn thấp hơn nhóm bệnh nhân có tổn thương da lan tỏa (17,6 ± 2,7 so với 13,9 ±3,8 và 17,2 ± 8,2 so với 6,1 ± 4,0), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

2 Tỷ lệ của kháng thể kháng Topoisomerase I trong XCBHT

Biểu đồ 1: Tỷ lệ kháng thể kháng Topoisomerase I ở bệnh nhân XCBHT

Nhận xét: Bệnh nhân có xét nghiệm anti-Topo I dương tính chiếm 75% Tỷ lệ xét nghiệm dương tính/

âm tính là 3/1

Biểu đồ 2: Phân bố kháng thể kháng Topoisomerase I theo thể lâm sàng

Nhận xét: Tỷ lệ xét nghiệm anti-Topo I dương tính ở nhóm bệnh nhân XCBHT có tổn thương da lan tỏa

(89,71%) cao hơn ở nhóm bệnh nhân XCBHT có tổn thương da giới hạn (43,75%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)

Bảng 3: Nồng độ kháng thể kháng Topoisomerase I theo thể lâm sàng

0,001

Nhận xét: Nồng độ kháng thể kháng Topoisomerase I của nhóm bệnh nhân XCBHT có tổn thương da

giới hạn (57,57 ±75,44U/ml) thấp hơn nhóm bệnh nhân có tổn thương da lan tỏa (133,83± 59,18U/ml), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,001)

Trang 4

IV BÀN LUẬN

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nữ/

nam là 4/1 Điều này phù hợp với đặc điểm dịch

tễ của bệnh XCBHT, bệnh nhân nữ là đối tượng

thường gặp của bệnh XCBHT Nhiều giả thuyết đã

được đưa ra để giải thích điều này trong đó vai

trò của nội tiết tố nữ estrogen được cho là một

cơ chế bệnh sinh quan trọng Bên cạnh đó, một

số nghiên cứu cho rằng sự có mặt của các tế bào

thai trong quá trình mang thai ở phụ nữ là yếu

tố khởi phát XCBHT Tuổi khởi phát bệnh trung

bình chung cho cả hai giới là 45,2 ± 13,8; tuổi đến

khám bệnh trung bình là 48,1 ± 12,6 Kết quả này

tương đồng với các nghiên cứu trước ở cả trong

và ngoài nước, bệnh hay gặp lứa tuổi trung niên

và tiền mãn kinh, đây là độ tuổi lao động nên tiếp

xúc nhiều với các tác nhân khác nhau của môi

trường cùng với các biến đổi về nội tiết tố - hai

yếu tố quan trọng trong quá trình bệnh sinh gây

biểu hiện bệnh XCBHT

Trong 100 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thể lan tỏa và thể giới hạn tương ứng là 68% và 32% Tỷ lệ bệnh nhân ở thể da giới hạn tương đối cao so với các nghiên cứu trong nước [1], tương đương với hầu hết các nghiên cứu của thế giới [5,8] Điều này là do dân trí người dân Việt Nam đang ngày càng được nâng cao nên bệnh nhân đến khám sớm hơn với tổn thương nhẹ hơn, nhiều thể giới hạn hơn Mặt khác, chúng tôi

áp dụng bộ tiêu chuẩn chẩn đoán mới của ACR/ EULAG năm 2013 với độ nhạy cao hơn bộ tiêu chuẩn trước đây của ACR năm 1980, giúp tránh

bỏ sót các trường hợp thể da giới hạn Điểm triệu chứng trung bình của nhóm bệnh nhân XCBHT có tổn thương da giới hạn (13,9 ± 3,8) thấp hơn nhóm bệnh nhân có tổn thương da lan tỏa (17,6 ± 2,7), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Kết quả này gợi ý rằng điểm triệu chứng theo tiêu chuẩn mới của ACR/EULAG 2013 có thể có mối tương quan thuận với mức độ nặng của bệnh Tuy nhiên,

để khẳng định điều này cần có các nghiên cứu cụ thể hơn với cỡ mẫu lớn trong thời gian tới Nghiên

3 Phân bố một số đặc điểm theo kháng thể kháng Topoisomerase I

Bảng 4: Một số đặc điểm của bệnh nhân XCBHT có kháng thể anti-Topo I dương tính và âm tính

Nhận xét: Điểm triệu chứng trung bình theo tiêu chuẩn ACR/EULAG 2013 và điểm dày da trung bình

theo thang điểm m-Rodnan của nhóm bệnh nhân XCBHT có kháng thể kháng Topo I dương tính cao hơn nhóm bệnh nhân âm tính (17,43 ± 3,04 so với 13,44 ± 3,24 và 15,57 ± 8,93 so với 8 ± 5,37), sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (p < 0,001, p=0,026)

Trang 5

cứu của chúng tôi có điểm MRSS trung bình là 13,7

± 8,8, trong đó điểm MRSS trung bình của nhóm

bệnh nhân XCBHT có tổn thương da giới hạn (6,1 ±

4,0) thấp hơn nhóm bệnh nhân có tổn thương da

lan tỏa (17,2 ± 8,2), sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p < 0,001) Kết quả này tương đồng với nhiều

nghiên cứu khác, điểm dày da ở thể da lan tỏa cao

hơn một cách có ý nghĩa so với thể da giới hạn,

phù hợp với đặc điểm lâm sàng của từng thể bệnh

2 Tỷ lệ của kháng thể kháng Topoisomerase I

trên bệnh nhân XCBHT

Nghiên cứu của chúng tôi trên bệnh nhân

XCBHT với cỡ mẫu 100 cho thấy tỷ lệ kháng thể

kháng Topoisomerase I là 75% Kết quả này tương

đương với kết quả của Thân Trọng Tùy (2014) là

70,9%, nhưng cao hơn hầu hết các nghiên cứu trên

thế giới như Hamaguchi[2] 33%, Katharina 60,4%

Điều này phù hợp với nhận định rằng tỷ lệ kháng

thể kháng Topoisomerase I trong XCBHT khác nhau

tùy chủng tộc, thấp ở người da trắng, cao ở người

da vàng Bên cạnh đó, bệnh nhân nước ta thường

đến khám muộn với tổn thương nặng ở thể da lan

tỏa nhiều hơn so với các nước phát triển

Khi so sánh tỷ lệ dương tính của kháng thể

kháng Topo-I giữa hai thể lâm sàng cho thấy thể

da lan tỏa cao hơn thể da giới hạn với kết quả

tương ứng là 89,7% và 43,7% (p<0,001) Kết quả

này thống nhất với hầu hết công trình khác, kháng

thể kháng Topo-I gặp chủ yếu ở bệnh nhân XCBHT

thể da lan tỏa và có liên quan với điểm MRSS, tổn

thương xơ phổi, thời gian mắc bệnh [6]

Trong XCBHT có tổn thương da lan tỏa, kháng

thể kháng Topo I không chỉ dương tính với tỷ lệ

cao hơn mà nồng độ cũng cao hơn so với thể có

tổn thương da giới hạn Nghiên cứu của chúng tôi

cho kết quả tương ứng là 133,83 ± 59,18 U/ml và

57,57 ± 75,44 U/ml (p<0,001) Điều này giúp củng

cố cho khẳng định về mối liên quan chặt chẽ giữa kháng thể kháng Topoisomerase I và thể lâm sàng của XCBHT

3 Phân bố đặc điểm theo kháng thể kháng Topoisomerase I

Không có sự khác biệt về giới, tuổi trung bình

và tuổi khởi phát bệnh của các bệnh nhân phân nhóm theo sự có mặt của kháng thể kháng Topo-I trong nghiên cứu của chúng tôi Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu thấy rằng các đặc điểm về phân bố tuổi, giới cũng như các đặc điểm cận lâm sàng trong đó có xét nghiệm kháng thể kháng Topo I là tương đồng giữa các thể lâm sàng Điểm triệu chứng trung bình theo tiêu chuẩn ACR/EULAG 2013 và điểm MRSS trung bình của nhóm bệnh nhân có kháng thể kháng Topo I (+) đều cao hơn nhóm (-) (tương ứng là 17,43 điểm và 13,44 điểm; 15,57 điểm và 8 điểm), sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (p <0,001 và p<0,05) Điều này gợi ý mối liên quan thuận giữa kháng thể kháng Topoisomerase I với mức độ nặng của tổn thương

da nói riêng và mức độ nặng của bệnh nói chung Điều này cần được làm rõ ở các nghiên cứu sau

V KẾT LUẬN

Tỷ lệ kháng thể kháng Topoisomerase I dương tính cao ở bệnh nhân XCBHT (75%) và chiếm ưu thế ở thể lan tỏa so với thể giới hạn (89,71% và 43,75%) Điểm triệu chứng trung bình theo tiêu chuẩn mới của ACR/EULAG 2013 và điểm dày da theo thang điểm m-Rodnan cao hơn ở nhóm bệnh nhân có kháng thể kháng Topoisomerase I dương tính gợi ý mối liên quan giữa kháng thể này với mức độ nặng của bệnh Cần có nghiên cứu sâu hơn để làm rõ giá trị tiên lượng của kháng thể anti-Topo I nhằm quản lý, theo dõi bệnh nhân được tốt hơn

Trang 6

1 Thân Trọng Tùy (2014) Đánh giá hiệu quả

điều trị bệnh xơ cứng bì hệ thống bằng Methotrexate

Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú, Trường Đại học

Y Hà Nội

2 Hamaguchi Y., Hasegawa M., Fujimoto

M et al (2008) The clinical relevance of serum

antinuclear antibodies in Japanese patients with

systemic sclerosis Bristish Journal of dermatology,

158, 487-495

3 Hanke K., Dahnrich C., Bruckner C.S et al

(2009) Diagnostic value of anti-topoisomerase I

antibodies in a large monocentric cohort Arthritis

Research and Therapy, 11, 28-33.

4 Hoogen F.V, Khanna D., Fransen J., et al

(2013) Classification Criteria for Systemic Sclerosis

Arthritis and Rheumatism.

5 Ken K.J., Stephan F.E., Dunne J.V (2012)

Limited cutaneous and diffuse cutaneous

scleroderma: circulating biomarker differentiate

lung involvement Rheumatology, 57, 43-48.

6 Khanh H.T., Reveille J.D (2003) The clinical

relevance of autoantibodies in scleroderma.

Arthritis Research and Therapy, 5, 80 - 93.

7 Lowell A.G., Stephen I.K, Barbara G., et

al (2012), Fitzpatrick’s Dernatology General in

Medicine, Mc Graw Hill, 2, 1943 - 1953.

8 Walker U.A., Tyndall A., Denton C et

al (2007) Clinical risk assessment of organ manifestations in systemic sclerosis : a report from the EULAG scleroderma trials and research group

database Ann Rheum Dis, 66, 754-763.

9 Yasuhito H (2010) Autoantibody profiles

in systemic sclerosis: Predictive value for

clinical evaluation and prognosis The journal of

Dermatology, 37, 42 - 53.

SUMMARY

ANTI-TOPOISOMERASE I ANTIBODY IN SYSTEMIC SCLEROSIS Background: Systemic sclerosis (SSc) is an autoimmune disease with diffuse fibrosis of skin, various

internal organs and immune abnormalities The determination of anti-Topo I antibody in patient’s sera

who has SSc helps physiciansa lot in diagnosis and prognosis of the disease Objectives: To determine the

ratio of anti-Topo I antibody in patients with systemic sclerosis in Vietnam National Hospital of

Dermato-Venereology Methods: Cross-sectional descriptive study in 100 patients with systemic sclerosis Results:

Anti-Topo I antibody is found in 75% patients with systemic sclerosis, positive ratio in patients with diffuse cutaneous systemic sclerosis is higher than that in patients with limitted cutaneous systemic sclerosis The patients with anti-Topo I antibody has mRSS and average score (ACR/EULAG2013) is higher than that

in the patients without anti-Topo I antibody Conclusion: Anti-Topo I antibody is found with high ratio in

systemic sclerosis and related to diffuse cutaneous systemic sclerosis

Keyword: Systemic sclerosis/Scleroderma, anti-Topoisomerase I/anti-Scl 70 antibody.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngày đăng: 13/03/2021, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w