Nghiên cứu này đã chỉ ra cách lai tạo theo nguyên tắc bổ sung của sợi đơn oligonucleotide, điều này cũng đã được sử dụng làm cơ sở cho DNA cảm ứng.
Trang 1I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HÌNH THÀNH
Biochip
Sự ra đời của Biochip gắn với một lịch sử lâu
dài, có thể phải kể đến tác phẩm đầu tiên dựa trên
cơ sở công nghệ cảm biến Đó là điện cực thủy tinh
đo pH - dựa trên cảm biến hóa học do Hughes phát
minh năm 1922 Việc đo pH được thực hiện trên một
màng mỏng thủy tinh có tính chọn lọc bằng cách
trao đổi giữa các ion H + và các SiO Các khái niệm
cơ bản đã được sử dụng để phát triển các bộ cảm biến ion trong những năm tiếp theo: bộ cảm biến ion
K+ được sản xuất bằng cách kết hợp valinomycin thành một màng mỏng (Schultz, 1926) Năm 1956, Leland Clark phát minh bộ cảm biến điện cực oxy, thiết bị này đã trở thành cơ sở cho một bộ cảm biến sáng chế năm 1962 của Clark và Lyons, trong đó sử dụng các phân tử enzym glucose oxydase gắn vào một màng lọc máu
Với sự có mặt của glucosse trong máu, các enzyme này có khả năng làm giảm lượng ôxy sẵn có
Biochip - MỘT CÔNG NGHỆ MỚI ĐƯỢC ÁP DỤNG THÀNH CÔNG TRONG PHÒNG XÉT NGHIỆM SINH Y (Biochip - a new successful technology
in medical laboratory)
Bùi Tuấn Anh*
TÓM TẮT
Sự ra đời của vi mạch sinh học (Biochip) là thành quả phát triển nhanh chóng của công nghiệp công nghệ sinh học, trong đó bao gồm một phạm vi rất đa dạng các nghiên cứu về gen, proteomic, sinh học điện toán và ngành dược Kế tiếp là các công nghệ nano, công nghiệp bán dẫn phát triển đã được hoàn thiện có khả năng thu nhỏ các vi mạch Việc hội tụ các lĩnh vực nói trên trong những năm gần đây đã cho phép công nghệ sinh học chuyển từ “đóng gói” truyền thống cồng kềnh thành các công cụ cảm biến trong một không gian nhỏ hơn - cái được gọi là Biochip Nhờ các công nghệ mới này đã sáng tạo ra phương pháp mới giúp cho các nhà khoa học làm sáng tỏ những phản ứng và quá trình hóa sinh phức tạp diễn ra bên trong các tế bào, từ đó có những hiểu biết giúp ích trong quá điều trị các bệnh Những con chip cơ bản là hình ảnh thu nhỏ phòng xét nghiệm y sinh nói chung và hóa sinh nói riêng Giống như một con chip máy tính có thể thực hiện hàng triệu phép tính trong một giây, một Biochip có thể thực hiện hàng trăm hoặc hàng ngàn phản ứng hóa sinh đồng thời trong cùng một thời gian ngắn, chẳng hạn như giải mã gen có thể trong vòng một vài giây
Sự xuất hiện công nghệ Biochip trong một vài năm gần đây có thể ứng dụng: sàng lọc, chẩn đoán, theo dõi tiến triển bệnh và đáp ứng bệnh trong quá trình điều trị
* Khoa Hóa sinh, Bệnh viện Bạch Mai
Trang 2ở điện cực oxy, do vậy làm thay đổi mức oxy từ đó có
thể xác định được nồng độ glucose có trong máu Bộ
cảm biến sinh học này được gọi là điện cực enzyme,
vẫn đang sử dụng hiện nay, ví dụ một số máy đo khí
máu có kèm thông số glucose Năm 1953, Watson
và Crick công bố phát hiện cấu trúc chuỗi xoắn kép
của phân tử DNA Phát hiện này đã thiết lập ra một
hướng mới cho di truyền học nghiên cứu tiếp tục
và phát triển cho đến ngày nay (Nelson, 2000) Sự
phát triển kĩ thuật giải trình tự gen năm 1977 bởi
Gilbert và Sanger cho phép các nhà nghiên cứu có
thể trực tiếp đọc các mã di truyền cung cấp cho tổng
hợp protein Nghiên cứu này đã chỉ ra cách lai tạo
theo nguyên tắc bổ sung của sợi đơn oligonucleotide,
điều này cũng đã được sử dụng làm cơ sở cho DNA cảm ứng Năm 1983 Kary Mullis phát minh ra phản ứng chuỗi polymerase (PCR), một phương pháp để khuếch đại nồng độ DNA Phát minh này đã giúp phát hiện một lượng cực kì nhỏ của DNA trong các mẫu Năm 1986, Hood và đồng nghiệp tìm ra phương pháp đánh dấu phân tử DNA bằng một chất huỳnh quang thay cho đánh dấu bằng chất phóng xạ, tạo cho các thí nghiệm có thể quan sát được bằng quang học Các công nghệ trong lĩnh vực hóa sinh và chất bán dẫn nhanh chóng phát triển trong thập niên 1980
đã dẫn đến việc phát triển của Biochip trong thập niên 1990 Và rõ ràng Biochip là một công nghệ “nền tảng” bao gồm nhiều lĩnh vực tích hợp mà thành
Trên phương diện hóa sinh miễn dịch, người ta
sử dụng kĩ thuật ELISA với 2 phương pháp:
- Phương pháp “sandwich”, ví dụ: trong định
lượng các chỉ điểm ung thư (tumor marker), các
Cytokine, các hocmon tuyến giáp
- Phương pháp cạnh tranh, ví dụ: trong định
lượng các chất ma túy
Với phương thức gắn đặc hiệu (sandwich
ELISA): kháng nguyên (KN) được gắn với một
kháng thể (KT) đặc hiệu cho cùng KN cần định
lượng KT đặc hiệu sẽ được thêm vào, phản ứng tạo phức hợp KT-KN sẽ xảy ra Nếu KT được gắn trực tiếp với enzyme, tín hiệu quang học do enzyme làm biến đổi cơ chất sẽ giúp định lượng được KN cần phân tích bằng việc đo cường độ ánh sáng phát quang ở đây người ta sử dụng KT thứ cấp (secondary antibody) được gắn với enzyme thông qua các liên kết đồng hóa trị giữa các phân tử sinh học Trên bề mặt Biochip các vùng phản ứng có thể được gắn các (KN) hoặc kháng thể (KT)
II CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÍ HOẠT ĐỘNG CỦA Biochip
1 Cấu tạo
Dưới đây là mô hình cấu tạo của Biochip và sự phóng đại của 1 Biochip với các KT được gắn trên vùng phản ứng ở trên bề mặt của Biochip
Hình 1 Mô hình cấu tạo của Biochip và sự phóng đại của 1 Biochip
Trang 3Hình 2 Hình ảnh thực tế của Biochip
Biochip là một tập hợp các xét nghiệm thu
nhỏ sắp xếp trên một bề của 1 Biochip với diện tích
khoảng 9mm2, cho phép nhiều xét nghiệm chuyên
biệt có thể được thực hiện cùng một lúc Trên bề
mặt của Biochip, tại vùng diễn ra phản ứng có gắn
các chất đồng hoá trị được sắp xếp định vị theo thứ
tự dãy hàng Dựa trên kĩ thuật ELISA giúp xác định
sự có mặt hay không cũng như nồng độ KN có trong
mẫu cần phân tích Trong công nghệ này người ta sử
dụng phương pháp ELISA phát quang, làm tăng tính
đặc hiệu và độ chính xác Ánh sáng sẽ được phát ra
từ phức hợp chứa KN-KT Sự hiện diện của phức
hợp KN-KT sẽ quyết định cường độ sáng phát ra
Trên bề mặt của các Biochip có phân bố thành nhiều
vùng phản ứng, mỗi vùng sẽ phân tích một thông số
2 Nguyên lí
Trong quá trình phân tích các chất sẽ diễn ra
phản ứng, xuất hiện sự gắn kết KN-KT- một phản
ứng phát quang diễn ra sẽ phát ra ánh sáng Ánh
sáng được thu nhận bởi một thiết bị quan trọng là
CCD (charge-coupled device CCD camera) có độ
phân giải và nhạy cảm cao có thể phát hiện chính
xác các các vùng phản ứng và đo được cường độ tín
hiệu ánh sáng của các phản ứng phát quang có mức
độ rất thấp Các tín hiệu phát quang từ mỗi khu vực
thử nghiệm (khi thu nhận) được phân tích bằng phần
mềm và được xử lí nhanh chóng để cho kết quả dựa
trên việc xác định cường độ ánh sáng tại các vùng tương ứng dựa trên đường cong chuẩn Và nồng độ chất cần phân tích (KN) trong mẫu đã hoàn thành (là tỉ lệ thuận với đường chuẩn nếu là phản ứng kiểu sandwich và tỉ lệ nghịch nếu phản ứng kiểu cạnh tranh - nghĩa là lượng KN gốc càng cao, tín hiệu sản sinh càng yếu) Các hình ảnh và dữ liệu được lưu trữ cùng với đường chuẩn và các mẫu kiểm tra (QC)
III ƯU ĐIỂM VÀ ỨNG DỤNG CỦA Biochip
1 Ưu điểm của kĩ thuật
- Nhiều xét nghiệm (bộ xét nghiệm) hóa sinh chuyên biệt được thực hiện cùng một thời điểm có thể hỗ trợ rất tốt cho chẩn đoán bệnh
- Sử dụng mẫu xét nghiệm với thể tích rất nhỏ (từ 07 - 100 µl)
- Độ chính xác cao
- Giảm chi phí cho mỗi xét nghiệm
- Có thể làm cơ sở cho công nghệ phát triển các máy xét nghiệm trong thời gian tới
2 Ứng dụng
Đến nay việc ứng dụng Biochip trong xét nghiệm hóa sinh có thể giúp ích định lượng một số chất gây nghiện, các cytokin, các chỉ điểm sinh học
và các chỉ điểm ung thư… Dưới đây là danh sách các có thể phân tích được bằng công nghệ Biochip
Trang 4Các chất gây nghiện Amphetamine, methamphetamine, cocaine, barbiturate, cannabinoid, opiate, methadone, benzodiazepine
Các Cytokine
Interleukin 1 alpha (IL-1α) Interleukin 1 beta (IL-1β) Interleukin 2 (IL-2) Interleukin 4 (IL-4) Interleukin 6 (IL-6) Interleukin 8 (IL- 8) Interleukin 10 (IL-10) Interleukin 12 (IL-12) Tumour necrosis factor –alpha (TNFα) Interferon gamma (IFN γ)
Epidermal growth factor (EGF) Monocyte chemotactic protein -1 (MCP-1) Các hocmon sinh sản
(Fertility hocmon) Follicle stimulating hormone (FSH); Prolactin; Lutenising hormon (LH); Oestradiol; progesterone; testosterone Các tumour marker Carcinoembryonic antigen (CEA); α-fetoprotein (AFP); Human
chorionic gonadotrophin (hCG);
Gastrointestinal tumour antigen; Ovarian tumour antigen; Breast cancer antigen; total prostate specific antigen (tPSA); Free prostate specific antigen (fPSA) Các hocmon tuyến giáp Total tri-iodothyronine (TT3); Total thyroxine (TT4); Free tri-iodothyronine
(FT3); free thyroxine (FT4); Thyroid stimulating hormone (TSH) Các chỉ điểm sinh học tim mạch Troponin I; Myoglobin; CK-MB
Các phân tử kết dính
(adhesion molecules) I-CAM ; V-CAM
VI KẾT LUẬN
Biochip là một thành tựu khoa học - kĩ thuật của
thế giới trong việc ứng dụng công nghệ nano vào lĩnh
vực chẩn đoán y khoa Nó thể hiện và mang tính đa
ngành, cho ta thấy các ngành không còn mang tính tách
biệt riêng rẽ như trước mà chúng có sự đan xen vào
nhau Việc áp dụng Biochip trong phòng xét nghiệm
sinh y là bước tiến mới đánh dấu sự phát triển và tích
hợp các chuyên ngành khoa học với nhau Biochip có
thể giúp phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị bệnh và có thể nghiên cứu đề ra các phương pháp mới trong chẩn đoán
và điều trị bệnh Các cấu trúc nano nhân tạo trong tương lai có thể sẽ có vai trò trong việc thay thế hoặc chỉnh lí cấu trúc một số tổ chức và có thể giúp tái tạo những bộ phận nội tạng phức tạp Một trong những thành tựu ứng dụng của công nghệ nano đã triển khai và được áp dụng trong phòng xét nghiệm đó là Biochip - một phòng xét nghiệm thu nhỏ, một hướng mới giúp ích trong y học
1 Đào Khắc An (2009): “Công nghệ micro
và nano điện tử”, trang 603-626, NXB giáo dục
Việt Nam
2 Randox Biochip Array Technology
revolutionizes clinical testing
3 h t t p : / / w w w b i v d a c o u k / N e w s /
PressReleases/tabid/73/articleType/ArticleView/
articleId/202/Default.aspx
4 http://www.prlog.org/10020879-third-award-of-the-year-for-randox-laboratories.html
5 http://www.belfasttelegraph.co.uk/business/ top-100-companies/company-list/60 randox-laboratories-14273462.html
6 http://www.mediafire.com/?w9k2qp92fdrlzil
7 http://www.laboratorytalk.com/news/ran/ ran164.html
TÀI LIỆU THAM KHẢO