Mục đích nghiên cứu của luận văn là hướng tới phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân, xác định căn cứ thực triển về việc phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại chi nhánh để từ đó đưa ra được những hạn chế đồng thời nghiên cứu phương hướng và giải pháp, kiến nghị nhằm đáp ứng yêu cầu hiện nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN ANH ĐỨC
CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM BẮC QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN ANH ĐỨC
CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM BẮC QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Học viên
Phan Anh Đức
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BIC Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng BIDV
2 BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam
3 CBTD Cán bộ tín dụng
4 CTY TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
5 CVTD Cho vay tiêu dùng cá nhân
6 DNCVTD Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân
7 NHNN Ngân hàng nhà nước
8 NHTM Ngân hàng thương mại
9 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
10 NHTW Ngân hàng trung ương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 6
1.1.2 Cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 10
1.2 Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại 21
1.2.1 Khái niệm phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân 21
1.2.2 Sự cần thiết phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân 22
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân 23
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân 29
1.3 Kinh nghiệm về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân ở một số Ngân hàng trong và ngoài nước 35
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển cho vay tiêu dùng cá nhâncủa một số ngân hàng thương mại ở Trung Quốc 35
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển cho vay tiêu dùng cá nhâncủa một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam 37
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với BIDV chi nhánh Bắc Quảng Bình 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CÁ NHÂN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNH CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC QUẢNG BÌNH 42
2.1 Tổng quanvề Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình 42
Trang 62.1.1 Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức,mạng lưới và nhiệm vụ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình 44
2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình trong những năm gần đây 47
2.2 Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng cá nhânđối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình 55
2.2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân 55
2.2.2 Quy chế, quy trình cho vay đối với khách hàng 57
2.2.3 Sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân 59
2.2.4 Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình60 2.3 Đánh giá về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại BIDV chi nhánh Bắc Quảng Bình 77
2.3.1 Những kết quả đạt được 77
2.3.2 Những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của hạn chế 78
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁPVỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN TẠI ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC QUẢNG BÌNH 84
3.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình 84
3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình 84 3.1.2 Định hướng phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình85
Trang 73.2 Các giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng cá nhânđối với khách hàng cá nhân
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam chi nhánh Bắc Quảng Bình 86
3.2.1 Giải pháp về xây dựng chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân86 3.2.2 Giải pháp về phát triển về tăng trưởng và mở rộng thị phần cho vay tiêu dùng cá nhân 87
3.2.3 Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân 91
3.2.4 Giải pháp về qui trình, thủ tục vay vốn 93
3.2.5 Giải pháp hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng cá nhân 94
3.2.6 Giải pháp về nâng cao chất lượngcông nghệ thông tin, trình độ đội ngũ cán bộ 96
3.2.7 Giải pháp tăng cường hoạt động maketting, nâng cao thương hiệu BIDV chi nhánh Bắc Quảng Bình 97
3.3 Kiến nghị 99
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 99
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 100
3.3.3 Kiến nghị đối với BIDV 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại BIDV Bắc Quảng Bình năm 2016-2018 48
Bảng 2.2 Thị phần huy động vốn của BIDV Bắc Quảng Bình trên địa bàn tỉnh năm 2018 49
Bảng 2.3 Tình hình dư nợ cho vay tại BIDV Bắc Quảng Bình giai đoạn
2015-2017 50
Bảng 2.4 Kết quả thu dịch vụ của Chi nhánh giai đoạn 2016-2018 52
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh giai đoạn 2016-2018 54
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân các năm từ 2016 đến năm 2018 60
Bảng 2.7: Số lượng khách hàng vay tiêu dùng các năm từ 2016 đến năm 2018 62
Bảng 2.8: Thị phần cho vay tiêu dùng cá nhân các NHTM trên địa bàn Quảng Bình 64
Bảng 2.9: Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhântheo mục đích vay 66
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhântheo thời hạn cho vay 67
Bảng 2.11: Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhântheo hình thức đảm bảo 68
Bảng 2.12: Nợ quá hạn cho vay tiêu dùng cá nhân các năm từ 2016 đến năm 2018 70
Bảng 2.13: Cơ cấu nợ quá hạn cho vay tiêu dùng cá nhân 72
Bảng 2.14: Nợ xấu cho vay tiêu dùng cá nhân các năm 2016 đến năm 2018 73
Bảng 2.15: Kết quả thu lãi cho vay tiêu dùng cá nhân 76
Bảng 2.16: Lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân các năm từ 2016 đến năm 2018 77
Sơ đồ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của BIDV Bắc Quảng Bình 45
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập kinh tế toàn cầu, thu nhập của người dân ngày càng cải thiện, kết cấu dân số trẻ có thể nhanh chóng tiếp cận các thói quen tiêu dùng mới, giao dịch của người dân với cộng đồng quốc tế ngày càng mở rộng là một trong những điều kiện thuận lợi và cơ hội cho tín dụng tiêu dùng phát triển ở Việt Nam Không chỉ riêng ngân hàng mà các tổ chức tín dụng khác coi đây là một thị trường đầy tiềm năng cần được quan tâm và chú trọng, đặc biệt trong chiến lược kinh doanh đối với thị trường bán lẻ.Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và cụ thể cả lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại là yêu cầu bức thiết hiện nay
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình tập trung chủ yếu ở địa bàn Bắc Quảng Bình Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng trên 90%, mặc dù có số lượng khách hàng hộ gia đình, cá nhân khá cao tuy nhiên dư nợ của đối tượng này chỉ chiếm chưa đến 55% tổng dư nợ toàn chi nhánh và cho vay tiêu dùng cá nhân cũng chỉ chiếm khoảng hơn 9% dư nợ cho vay Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân là phân khúc thị trường tiềm năng mà trong nhiều năm qua BIDV nói chung và BIDV chi nhánh Bắc Quảng Bình luôn hướng tới Việc phát triển sản phẩm này tạo điều kiện cho BIDV mở rộng thị trường tín dụng, đa dạng hóa lĩnh vực cho vay và cung cấp trọn gói các dịch vụ tiện ích, song cơ cấu cho vay tiêu dùng cá nhân trong tổng
dư nợ của chi nhánh là chưa phù hợp với tiềm năng của thị trường; đặc thù SXKD quy mô nhỏ; thu nhập theo thời vụ và nhu cầu phục vụ đời sống thường xuyên của
hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn
Trong xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt và để mở rộng quy mô, tăng trưởng tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng, phân tán rủi ro của các NHTM trên địa bàn, không chỉ có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát
Trang 10triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình mà các tổ chức tín dụng khác cũng đang phát triển cho vay tới hộ gia đình, cá nhân đặc biệt là cho vay tiêu dùng cá nhân Tuy nhiên, do tính phức tạp của phân khúc thị trường này, món cho vay nhỏ lẻ, chi phí nghiệp vụ cao, địa bàn hoạt động rộng, việc chứng minh nguồn thu nhập đặc biệt đối với các đối tượng khách hàng ở khu vực nông thôn rất khó nên không tránh khỏi những rủi ro tiềm ẩn nhất định Điều này làm cho chi phí phát sinh tăng ngoài
dự kiến, giảm lợi nhuận kỳ vọng và hạn chế khả năng cạnh tranh của chi nhánh so với các NHTM khác.Mặt khác, các chính sách cũng như quy chế cho vay của chi nhánh vẫn còn những vướng mắc làm ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng cho vay tiêu dùng cá nhân của Chi nhánh
Nhận thức được những vấn đề nêu trên, xuất phát từ thực tiễn hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình, tác giả chọn đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp: "Cho vay tiêu dùng cá nhânđối với khách hàng cá nhân
tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Bắc Quảng Bình"
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Ngoài các văn bản pháp luật của nhà nước về hoạt động NHTM và hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân, có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại Tuy nhiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện cả lý luận và thực tiễn về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình thì chưa có công trình nào Vì vậy đề tài luận văn thạc sỹ Tài
Chính Ngân hàng: “Cho vay tiêu dùng cá nhânđối với khách hàng cá nhân tại chi
nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Bắc Quảng Bình” là công trình nghiên cứu một cách nghiêm túc của bản thân tác giả
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và được phép công bố
Trang 11Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo một số luận văn sau:
- Luận văn của Phạm Thị Lan Hương (2018), Phát triển dịch vụ Ngân hàng
bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển tỉnh Quảng Bình,Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện hành chính quốc gia, Thừa Thiên Huế
- Luận văn của Vũ Quang Huy (2018), Nâng cao chất lượng cho vay tiêu
dùng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Trung Yên, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội
- Luận văn của Lê Cảnh Thành (2017), Giải pháp mở rộng cho vay cá nhân
tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam - Chi nhánh Long Biên, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội
- Luận văn của Đỗ Thị Thuỳ Trang, (2016), Giải pháp phát triển cho vay
tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đại học Đà
Nẵng, Đà Nẵng
- Luận văn của Bùi Khắc Hoài Phương, (2011),Giải pháp mở rộng tín dụng
tiêu dùng tại chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là hướng tới phát triển cho vay tiêu dùng
cá nhânđối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân, xác định căn cứ thực tiển về việc phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân tại chi nhánh để từ đó đưa ra được những hạn chế đồng thời nghiên cứu phương hướng và giải pháp, kiến nghị nhằm đáp ứng yêu cầu hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:
Trang 12- Hệ thống hoá, bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình, chỉ ra những vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tư duy logic kinh tế, phương pháp phân tích, thống kê
so sánh, đối chiếu để đánh giá, làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó, luận văn còn chú trọng đến việc kết hợp với việc quan sát các hoạt động thực tiễn
Luận văn có sử dụng các tài liệu, số liệu trong và ngoài nước đã công bố có liên quan đến đề tài
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã góp phần vào việc xây dựng khung lý thuyết về hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại, theo đó làm rõ một số khái niệm, vai trò, đặc điểm, phân loại, và các tiêu chí đánh giá sự phát triển cho vay tiêu dùng
cá nhân của Ngân hàng thương mại
Đồng thời tổng hợp những kinh nghiệm của một số ngân hàng trong và ngoài nước và có rút ra những vấn đề nghiên cứu đối với Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, nội dung của luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân của
ngân hàng thương mại
Chương 2:Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách
hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình
Chương 3: Định hướngvà giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng cá nhânđối
với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Quảng Bình
Trang 14Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm
2010 có hiệu lực kể từ 01 tháng 01 năm 2011, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [14, tr.1]
NHTM là một loại hình doanh nghiệp có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống như một doanh nghiệp Hoạt động của NHTM cũng như các doanh
nghiệp đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
Là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Ngân hàng thương mại đóng vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường,
là nơi khai thác, tập trung vốn và điều hòa vốn cho nền kinh tế
1.1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế
Một là, Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong nền kinh tế Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý Để tăng thu nhập quốc dân tức là cần phải mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế và muốn làm được điều đó phải có vốn Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo ra nhiều
Trang 15vốn, điều đó sẽ tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng Ngân hàng thương mại
là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức,
cá nhân, mọi thành phần kinh tế Bằng nguồn vốn huy động được trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất Qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.[8,tr.35]
Hai là, Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoã mãn nhu cầu thị trường Để có thể đáp ứng điều này, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng lao động, cũng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, bên cạnh đó cần phải cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Những hoạt động này đòi hỏi cần lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn trên doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là
chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường.[8,tr.36]
Ba là, Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình, là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại trong
hệ thống, các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung cứng trong lưu thông Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô [8, tr.37]
Trang 16Bốn là, Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng mở rộng, nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới càng trở nên thân thiết và cấp bách, điều này dẫn đến nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong sự hoà nhập nêu trên Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thống ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.[8, tr 37-40]
1.1.1.3 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 nêu rõ: Hoạt động ngân hàng là
việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
Trang 17- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
- Đi vay từ các TCTD khác tại Việt Nam và nước ngoài;
- Vay vốn ngắn hạn của NHNN
Thứ hai, hoạt động tín dụng
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, bảo lãnh chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN Đối với NHTM đây chính là hoạt động sinh lời chủ yếu
Thứ ba, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ
NHTM được phép mở tài khoản cho cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng với nhau, mở tài khoản tại Ngân hàng nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đây lượng dự trữ bắt buộc theo quy định, mở tài khoản tại các TCTD để duy trì tiền gửi và thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động thanh toán, ngân quỹ của NHTM bao gồm:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán;
- Cung cấp dịch vụ thanh toán trong nước và ngoài nước;
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ;
- Thực hiện các dụch vụ thu, chi tiền mặt cho khách hàng;
- Tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế
- Kinh doanh ngoại hối (khi được NHNN cấp phép);
- Uỷ thác và nhận uỷ thác: như quản lý tài sản, uỷ thác ngân hàng khác thu chi hộ;
Trang 18- Tư vấn tài chính;
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
1.1.2 Cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng cá nhân
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (các cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, là hoạt động mang tính truyền thống đem lại nguồn thu lớn nhất nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất của ngân hàng Nếu phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng theo mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng ngân hàng được chia thành các loại: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu, Trong đó, cho vay tiêu dùng cá nhân đã và đang chứng minh được vai trò to lớn trong hoạt động ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế nói chung
Cho vay tiêu dùng cá nhân được hiểu là sự chuyển nhượng một lượng giá trị (tiền tệ hoặc hiện vật) từ các NHTM sang người đi vay (cá nhân và hộ gia đình trong nền kinh tế) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả chỉ tiếp cận cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng cá nhân, chứ không tiếp cận cho vay tiêu dùng cá nhân theo khách hàng là hộ gia đình, cũng để giảm tải ngôn từ trong Luận văn, tác giả xin
phép được dùng cụm từ cho vay tiêu dùng cá nhân để thay thế cho cụm từ cho vay
tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng cá nhân
Cho vay tiêu dùng cá nhân là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cho vay cá nhân và hộ gia đình Đây là nguồn tài
Trang 19trợ quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe
cộ, y tế và các dịch vụ khác.[4]
Cho vay tiêu dùng cá nhân ra đời trước tiên từ thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu, nhưng đối với Việt Nam, hoạt động này mới được quan tâm và đầu tư mở rộng từ những năm 1990, sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đời hình thành hệ thống Ngân hàng 2 cấp và chuyển 4 ngân hàng quốc doanh thành Ngân hàng thương mại Nhà nước Cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại, các hoạt độngcho vay tiêu dùng cá nhân của các Ngân hàng thương mại cung cấp cho đối tượng khách hàng là cá nhân cũng dần được triển khai rộng rãi và đặc biệt phát triển mạnh trong giai đoạn 2007 đến nay
1.1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng cá nhân
Thứ nhất, Quy mô từng món vay nhỏ, nhưng số lượng khách hàng vay lớn
Đối tượng cho vay tiêu dùng cá nhân là các cá nhân, hộ gia đình với nhu cầu nhỏ lẻ, quy mô các khoản vay không lớn Họ thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi mà tích lũy chưa đủ khả năng chi trả Thông thường, các nhu cầu của dân
cư về các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích luỹ trước, còn nhu cầu
về tiêu dùng khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp đều có nhu cầu Do vậy, với mục đích vay này nên các khoản vay thường có quy mô nhỏ so với tài sản Ngân hàng, nhưng số lượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình lớn và nhu cầu chi tiêu đa dạng
Thứ hai,Mục đích vay tiêu dùng là đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cá nhân và
hộ gia đình, không phải mục đích kinh doanh
Với nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn và rất khác nhau do đó các ngân hàng thương mại có thể phát triển rất nhiều sản phẩm vay tiêu dùng mới
Thứ ba,Thời gian vay của các khoản vay tiêu dùng dài, nguồn trả nợ không
ổn định và phụ thuộc nhiều yếu tố
Đối với các khoản vay kinh doanh, nguồn trả nợ thường xuất phát từ kết quả
sử dụng các khoản vay Ngược lại nguồn trả nợ các khoản vay tiêu dùng lại chủ yếu
Trang 20là các khoản thu nhập thường xuyên của khách hàng (tiền lương, tiền thuê cho nhà, cho thuê đất, cho thuê xe ) Ngân hàng căn cứ vào mức thu nhập của khách hàng để quyết định thời hạn vay
Mặt khác, việc xác định và cho vay dựa vào thu nhập của khách hàng kích thích người đi vay có động lực làm việc để trả nợ Đây cũng là biện pháp kích cầu của các xã hội phát triển, xã hội tiêu dùng Tuy nhiên nguồn trả nợ thường không
ổn định, có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng, và kinh nghiệm đối với công việc và đặc biệt việc chứng minh nguồn thu là rất khó
Thứ tư,Cho vay tiêu dùng cá nhân là một hoạt động có mức độ rủi ro cao
Cho vay tiêu dùng cá nhân luôn ở trong trạng thái bị đe doạ bởi cả rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng Bên cạnh ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng Việc xác định thông tin tài chính của khách hàng thường gặp nhiều khó khăn, nguồn trả nợ không ổn định, việc hoàn trả khoản vay lại phụ thuộc vào tư cách đạo đức và ý muốn trả nợ của người vay Ngoài ra các cá nhân, hộ gia đình luôn muốn thủ tục vay phải đơn giản, tiện lợi hơn vay bán buôn, nên đa số các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân đều không có tài sản bảo, vì thế độ rủi ro đối với cho vay tiêu dùng cá nhân rất lớn Hay do số lượng khoản vay tiêu dùng lớn trong khi số lượng cán bộ tín dụng ngân hàng lại có hạn cũng sẽ gây khó khăn trong khâu kiểm tra, giám sát Việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không cũng làm tăng thêm rủi ro cho khoản vay này Một số trường hợp hầu như không thể thu hồi được nợ hoặc là thu hồi rất khó khi khách hàng không còn khả năng trả nợ do các nguyên nhân như: tai nạn lao động, thất nghiệp, bệnh tật, qua đời, ly dị
Thứ năm,Các khoản vay tiêu dùng có chi phí cao hơn so với các khoản
vay khác
Mặc dù quy mô các khoản vay tiêu dùng là tương đối nhỏ nhưng ngân hàng thương mại vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước như đối với các khoản vay thông thường Mặt khác, khách hàng đến với ngân hàng phần lớn là các khách hàng mới,
Trang 21thời gian vay không dài, các thông tin về khách hàng thường là phải thu thập từ đầu, không đầy đủ, cũng khó đảm bảo được các thông tin thu được đáng tin cậy, công khai, minh bạch như của các doanh nghiệp (có các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh được kiểm toán) Điều này khiến ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt cho vay Hơn nữa phần lớn các khoản vay với số lượng lớn và giá trị nhỏ nên ngân hàng cũng phải chịu một chi phí đáng kể
để quản lý hồ sơ khách hàng Vì vậy, cho vay tiêu dùng cá nhân trở thành một trong
những khoản mục có chi phí lớn nhất trong các khoản mục tín dụng ngân hàng
Thứ sáu, Lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân thường cố định và cao hơn các
loại lãi suất cho vay khác
Lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân thường cố định với toàn bộ hợp đồng Một
số trường hợp lãi suất thay đổi nhưng điều này thường được qui định rõ ràng trong hợp đồng và có tính chất định kỳ Lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân cao mới có thể đủ để bù đắp cho những chi phí cũng như rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu, đảm bảo một mức lợi nhuận cần thiết cho ngân hàngdo nguồn trả nợ của khách hàng không ổn định và phụ thuộc nhiều yếu tố khác
Thứ bảy,Cho vay tiêu dùng cá nhân là một trong những khoản mục tín dụng
có khả năng mang lại lợi nhuận cao
Từ việc xác định mức độ rủi ro cao, và chi phí thực hiện lớn, các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân thường được định giá rất cao (bao hàm cả một phần
bù rủi ro lãi suất) Do vậy khoản lợi nhuận từ đó cũng đem lại cao hơn so với
các hình cho vay khác
Thứ tám, Đối tượng vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại là các cá
nhân, hộ gia đình Chính vì vậy, xu hướng tiêu dùng, phong tục tập quán, trình độ dân trí đóng vai trò cực kỳ quan trọng ảnh hưởng tới hành vi vay tiêu dùng của họ
Thứ chín,Cho vay tiêu dùng cá nhân có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế
Hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân rất nhạy cảm với nền kinh tế Những nước có hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân giảm là những nước đang gặp khó khăn về kinh tế và ngược lại
Trang 22Cho vay tiêu dùng cá nhân tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế mở rộng, tốc
độ tăng trưởng cao, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng về khả năng thanh toán của mình và họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng
Cho vay tiêu dùng cá nhân có thể coi “hộp số” của nền kinh tế, nó phản ánh
xu hướng phát triển hay là suy thoái, đồng thời cũng có thể thúc đẩy hoặc kéo lui nền kinh tế
1.1.2.3 Phân loại cho vay tiêu dùng cá nhân
- Căn cứ vào phương thức cho vay
+ Cho vay từng lần: Đây là hình thức cho vay tiêu dùng cá nhân trong đó
tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng bao gồm gốc và lãi một lần khi đến hạn Thường thì các khoản vay tiêu dùng từng lần chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn cho vay không dài
+ Cho vay trả góp:Cho vay tiêu dùng cá nhân trả góp là hình thức cho vay
tiêu dùng cá nhân trong đó người đi vay trả nợ (cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay Cho vay tiêu dùng cá nhân trả góp thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay Ngân hàng thương mại thường sử dụng lãi suất cố định cho hình thức vay này, có hai hình thức tính lãi thường được sử dụng đó là phương pháp lãi đơn và phương pháp gộp
Phương pháp lãi đơn: Phương pháp này được sử dụng giống như các hợp
đồng vay thông thường đó là khách hàng trả gốc đều bằng nhau theo kỳ qui định, tiền lãi trả theo số dư mà khách hàng hiện đang nợ ngân hàng
Phương pháp gộp: Đây là phương pháp mà khách hàng sẽ trả một số tiền
nhất định bằng nhau trong suốt kỳ hạn vay của hợp đồng, số tiền đó được ngân hàng tính bằng cách cộng số gốc vay và tổng số lãi khách hàng phải trả cho toàn bộ khoản vay sau đó chia đều cho số kỳ hạn trả nợ
+ Cho vay tuần hoàn:Cho vay tiêu dùng cá nhân tuần hoàn đó là việc ngân
hàng thương mại cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nào đó, khi đó khách
Trang 23hàng có thể sử dụng thẻ tín dụng, phát hành loại séc hoặc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai của mình Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng
kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng nhất định mà ngân hàng thương mại đã cấp
- Căn cứ vào mục đích tiêu dùng
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân tài trợ các loại sản: là các khoản vay nhằm tài
trợ cho nhu cầu mua sắm các tài sản có thời gian sử dụng lâu dài hoặc mua sắm mới, xây dựng, cải tạo nhà ở cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) Thông thường chính các tài sản này sẽ là tài sản đảm bảo cho chính món vay đó Cũng do thời hạn vay kéo dài nên việc định giá tài sản đảm bảo, khả năng phát mại của tài sản đảm khi rủi ro xảy ra cũng là vấn đề khó khăn đối với ngân hàng thương mại
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân khác: là các khoản vay tiêu dùng nhằm tài trợ
cho một số khác nhu cầu tiêu dùng như đi học, du lịch cho vay phục vụ sinh hoạt tiêu dùng
- Căn cứ vào nguồn hình thành các khoản vay tiêu dùng
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân gián tiếp: Đây là hình thức mà ngân hàng thương
mại không trực tiếp ký hợp đồng với người tiêu dùng, thay vào đó ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng với chính nhà cung cấp, thực chất đây là việc ngân hàng mua lại những khoản nợ từ các công ty bán lẻ, trên cơ sở đó nhà cung cấp sẽ bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng và nhà cung cấp sẽ quy định ra điều kiện bán chịu hàng hóa (đối tượng khách hàng được bán chịu, loại hàng được bán, hạn mức được bán chịu ), thông qua những điều kiện trong hợp đồng mà nhà cung cấp sẽ thoả thuận với khách hàng của mình về việc bán chịu hàng hoá Ngân hàng có thể trực tiếp thu nợ từ khách hàng, hoặc có thể thu nợ thông qua nhà cung cấp hàng hoá, nhà cung cấp hàng hoá có trách nhiệm giúp ngân hàng trong việc thu nợ của khách hàng
Ưu điểm: Theo hình thức này, ngân hàng sẽ có điều kiện tiếp xúc được với
một lượng lớn khách hàng, khắc phục được tâm lý e ngại của khách hàng khi tới ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí trong việc cấp tín dụng vì chỉ
Trang 24phải ký hợp đồng với chính nhà cung cấp Qua đó cũng giúp ngân hàng chia sẻ bớt rủi ro cho nhà cung cấp, ngân hàng có quan hệ tốt với nhà cung cấp hoặc hợp đồng
ký với nhà cung cấp có những điều kiện ràng buộc (được truy đòi) thì khi người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng, ngân hàng có quyền truy đòi nhà cung cấp về khoản nợ trên (có được nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng) Mặt khác, khi
đã có hợp đồng ràng buộc, thì nhà cung cấp cũng phải cân nhắc trước quyết định có bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng hay không (gián tiếp giúp ngân hàng thẩm định khách hàng)
Nhược điểm: Bên cạnh những điều kiện thuận lợi kể trên thì hình thức cho
vay này cũng có một số khó khăn khi triển khai Đó là, ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng đã được nhà cung cấp bán chịu hàng hoá, do đó không thể nắm được thông tin của khách hàng mà ngân hàng tài trợ, ngân hàng cũng phải đối mặt với tình trạng nhà cung cấp chỉ vì muốn bán được hàng mà đã không xem xét
kỹ lưỡng về khả năng trả nợ cho ngân hàng Mặt khác, ngân hàng còn phải chịu rủi
ro khi người tiêu dùng không thanh toán khoản vay cho ngân hàng, trong khi hợp đồng giữa Ngân hàng và nhà cung cấp lại không có điều khoản được truy đòi mặc
dù đây chỉ là hạn hữu bởi chỉ những nhà cung cấp thật sự tin cậy thì ngân hàng mới
ký hợp đồng kiểu này và những khoản nợ được mua theo điều kiện này cũng được lựa chọn rất kỹ càng Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không muốn cho vay tiêu dùng cá nhân gián tiếp, nếu tham gia thì các ngân hàng thương mại đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân trực tiếp: Đây là hình thức trong đó ngân hàng
trực tiếp làm việc với khách hàng của mình, việc thu nợ cũng được ngân hàng trực tiếp thực hiện
Ưu điểm: Với hình thức tài trợ này, ngân hàng có thể trực tiếp tiếp xúc với
khách hàng của mình và chịu trách nhiệm về các quyết định có cho vay hay không Các quyết định của ngân hàng đạt độ chuẩn mực cao hơn nhiều so với những quyết định của nhà cung cấp, bởi những ngân hàng thương mại có chuyên môn và kinh nghiệm hơn trong việc thẩm định, trong khi đối với nhà cung cấp thì những nhân
Trang 25viên của họ lại mạnh về khía cạnh bán hàng mà không mạnh khía cạnh về tín dụng Mặt khác, trong một số tình huống nhà cung cấp chỉ chú trọng vào việc bán hàng nên đôi khi những quyết định của họ có thể vội vàng, dẫn đến đưa ra những quyết định không chính xác có thể có những rủi ro hoặc có thể bỏ qua những khách hàng tốt Với ngân hàng thì điều này được hạn chế một cách tối đa Bên cạnh đó, việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng cũng tạo điều kiện cho ngân hàng có thể xử lý linh hoạt được ngay những tình huống phức tạp như: một vài điều kiện của khách hàng không đúng theo mẫu quy định trước, khách hàng có bổ sung yêu cầu (hạn mức, thời hạn vv), khách hàng yêu cầu về phương thức hoàn trả vv Trong khi, với phương thức gián tiếp thì nhà cung cấp không thể đáp ứng được điều này, tức là với họ mọi quy định trong hợp đồng đã ký giữa ngân hàng thương mại và nhà cung cấp đều phải tuân thủ.Việc khách hàng tiếp xúc trực tiếp với ngân hàng còn giúp cho quan hệ khách hàng với ngân hàng được gần gũi hơn, thông qua tiếp xúc ngân hàng có thể quảng bá hình ảnh của mình, cung cấp một số các sản phẩm, dịch vụ khác mà khách hàng có nhu cầu nhưng chưa biết
Nhược điểm:Tuy nhiên, với hình thức này thì ngân hàng sẽ phải tiếp xúc với
từng khách hàng nhỏ lẻ do vậy chi phí cho một món vay sẽ cao, cũng như việc tăng trưởng số lượng khách hàng chậm Trong hình thức này, ngân hàng sẽ là người duy nhất gánh chịu rủi ro khi nó xảy ra
- Căn cứ vào biện pháp đảm bảo tiền vay
+ Có tài sản đảm bảo:Cho vay tiêu dùng cá nhân có bảo đảm bằng tài sản là
hình thức cho vay trong đó ngân hàng yêu cầu có một khoản đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ phía người đi vay bằng tài sản Ngân hàng thường áp dụng loại hình này vào các khoản vay có giá trị lớn như cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô ngoài việc có một số vốn nhất định để mua chúng Tài sản thế chấp có thể là tài sản mà khách hàng hiện có hoặc là chính tài sản hình thành từ vốn vay
+ Không có tài sản đảm bảo: Cho vay tiêu dùng cá nhân không có bảo đảm
bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó ngân hàng không yêu cầu bất kỳ một khoản đảm bảo bằng tài sản cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ phía người đi vay
Trang 26Thông thường thì các ngân hàng chỉ cấp những khoản cho vay tiêu dùng cá nhânkhông có đảm bảo bằng tài sản cho các cán bộ công nhân viên có thu nhập ổn định, hay các khách hàng truyền thống có giao dịch tại ngân hàng Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với cán bộ công nhân viên và thu nợ từ tiền lương, trợ cấp
và các khoản thu nhập khác là một hình thức phổ biến của loại hình tín dụng này
- Căn cứ vào mục đích của khoản vay
Căn cứ vào mục đích của khoản vay, cho vay tiêu dùng cá nhân được chia thành các khoản vay với mục đích như sau:
+ Cho vay phục vụ nhu cầu về nhà ở;
+ Cho vay mua phương tiện đi lại;
+ Cho vay hỗ trợ du học;
+ Cho vay lao động xuất khẩu;
+ Thấu chi tài khoản tiền gửi;
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân khác
1.1.2.4 Vai trò của cho vay tiêu dùng cá nhân
Cho vay tiêu dùng cá nhân trực tiếp mang lại nguồn thu cho ngân hàng thương mại, tăng cường mức sống cho người dân thông qua đó gián tiếp kích thích sản xuất phát triển Vì vậy, cho vay tiêu dùng cá nhânđóngvai trò vô cùng to lớn đối với ngân hàng thương mại, người tiêu dùng, với nhà sản xuất và đối với nền kinh tế xã hội
- Đối với ngân hàng thương mại
Vai trò của các ngân hàng thương mại đối với xã hội đang dần khẳng định hơn qua sự phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống tài chính nói chung và của các ngân hàng thương mại nói riêng Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại ngày càng chịu sự cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa các tổ chức tín dụng với nhau mà còn cạnh tranh với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ khác như các tổ chức bán lẻ, công ty bảo hiểm, viễn thông đã đang và sẽ cung cấp các dịch vụ và sản phẩm mà các ngân hàng đã và đang cung cấp Chính vì vậy, muốn tồn tại và phát triển thì các ngân hàng phải không ngừng đổi mới, tìm tòi và đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới ngày càng có nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng
Trang 27Song song với nỗ lực huy động vốn, ngân hàng thương mại phải khai thác thị trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách để đảm bảo khả năng đáp ứng và trên cơ sở đó thoả mãn một cách tốt nhất, nhiều nhất các nhu cầu về tín dụng của nền kinh tế Các thị trường tín dụng truyền thống đã có sự cạnh tranh khốc liệt và mỗi ngân hàng thường có chỗ đứng của mình, trong khi đó các khoản tín dụng tiêu dùng tuy có quy mô nhỏ nhưng nhu cầu về chúng lại rất lớn Hơn nữa,
số lượng dân cư cùng với sự tăng trưởng liên tục thì thu nhập của họ sẽ là thị trường tiềm năng cho bất cứ ngân hàng thương mại nào Do vậy, các ngân hàng đã phải hướng mục tiêu của mình vào lĩnh vực này, cho vay tiêu dùng cá nhân trở thành một loại hình sản phẩm phổ biến trong các ngân hàng thương mại và mang lại thu nhập tương đối cao trong tổng doanh thu các ngân hàng
Không chỉ mang về lợi nhuận lớn cho các ngân hàng thương mại mà các khoản vay tiêu dùng góp phần cơ cấu lại các khoản tín dụng của chính ngân hàng; giúp ngân hàng có nhiều thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn từ dân cư Thông qua sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân ngân hàng có thể quảng bá hình ảnh của mình với khách hàng, từ đó thu hút các khách hàng đến
sử dụng các sản phẩm và dịch vụ khác của ngân hàng
Trong khi cấp các khoản tín dụng tiêu dùng thì các ngân hàng cũng góp phần đẩy mạnh tiêu dùng, từ đó tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và ngân hàng có thêm những khoản cho vay mới phục vụ cho các nhà sản xuất Sản xuất phát triển lại cung cấp ra thị trường những sản phẩm mới làm nảy nở nhu cầu tiêu dùng Quá trình này được lặp đi, lặp lại không ngừng tạo thành vòng xoáy kích thích thị trường tín dụng ngày càng phát triển
- Đối với người tiêu dùng
Trên thực tế ta thấy có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình Với thu nhập đều đặn của mình, những nhu cầu này sẽ được thoả mãn trong tương lai Như những nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện đi lại như xe máy, ô tô, chuẩn bị hôn lễ, ma chay, học hành, du lịch Vay tiêu dùng sẽ giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu
Trang 28cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán hiện tại của khách hàng cho phép người tiêu dùng có thể hưởng thụ trước số tiền họ sẽ có trong tương lai, mặc dù họ phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính việc mượn tiền trước của ngân hàng để tiêu dùng khiến chúng ta phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi dòng tiền mà ta sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tương lai
về thời điểm hiện tại
Có thể nói người tiêu dùng là người được hưởng trực tiếp và nhiều lợi ích
mà hình thức cho vay này mang lại đặc biệt là đối với những người có thu nhập thấp và trung bình, những người trẻ tuổi khi thu nhập hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng Mặt khác, việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại sẽ là động lực thúc đẩy người tiêu dùng phấn đấu làm việc để trả nợ càng sớm càng tốt Điều này thúc đẩy việc tăng thu nhập của chính người tiêu dùng trong tương lai Chính vì thế, ngày càng nhiều cá nhân và hộ gia đình sử dụng sản phẩm vay tiêu dùng qua đó thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và nâng cao đời sống.Vay tiêu dùng là xu hướng tất yếu của
xã hội hiện đại
- Đối với nhà sản xuất
Mục tiêu của tất cả các nhà sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận, do đó, dù bằng cách này hay cách khác thì họ đều mong muốn tiêu thụ được càng nhiều hàng hoá càng tốt Tuy nhiên, trong thực tế là không phải lúc nào khách hàng cũng có tiền để thanh toán ngay mà có thể trong vài tuần, vài tháng sau thu nhập của họ mới tích luỹ đủ Đứng trước mục tiêu tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ sản xuất cùng loại hàng hoá trên thị trường, các nhà sản xuất sẳn sàng bán hàng hoá trả góp, thậm chí bán chịu trong một thời gian Để
có tiền quay vòng, nhà sản xuất cần sự tài trợ của ngân hàng thông qua việc mua lại các khoản nợ đó
Như vậy, các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân không tác động trực tiếp tới các nhà sản xuất, mà chủ yếu tác động đến họ thông qua sự tiêu dùng hàng hóa của
cá nhân, hộ gia đình Việc gia tăng tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ làm tăng nhu cầu về sản phẩm dịch vụ đó giúp các nhà sản xuất tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm,
từ đó, đem lại lợi nhuận cao hơn cho họ
Trang 29Hiện nay, các ngân hàng và các doanh nghiệp ngày càng có xu hướng bắt tay nhau trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng và doanh nghiệp liên kết không chỉ tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thêm cơ hội mua sắm, đây còn là kế hoạch nhằm vào thị trường bán lẻ của các ngân hàng.Một số nhà cung cấp sẵn sàng hỗ trợ khách hàng vay tiêu dùng với lãi suất ưu đãi hoặc hoàn toàn không phải trả lãi (lãi suất 0%), lãi suất thấp
- Đối với nền kinh tế
Cho vay tiêu dùng cá nhân kích thích tiêu dùng trong xã hội, thúc đẩy chu chuyển hàng hoá và dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc ngân hàng thực hiện cho vay tiêu dùng cá nhân đối với khách hàng không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống của chính người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sản xuất, tạo ra công ăn việc làm, tăng khả năng cạnh tranh của các hãng sản xuất kinh doanh, tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân, các ngân hàng thương mại đã góp phần kích cầu trong nền kinh tế, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng sức cạnh trạnh của hàng hoá trong nước, từ đó, hỗ trợ nhà nước trong việc đạt được các mục tiêu xã hội như xoá đói, giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
1.2 Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân
Trước thực trạng cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, các Ngân hàng thương mại cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều phải tập trung nguồn lực để hoàn thiện và đa dạng hoá các sản phẩm của mình nhằm thu hút khách hàng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Cho vay tiêu dùng cá nhân không chỉ đem lại lợi ích cho các Ngân hàng thương mại, cho khách hàng mà còn có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.Vì vậy, các ngân hàng thương mại luôn quan tâm chú trọng phát triển cung cấp sản phẩm dịch vụ này
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa “phát triển” như sau:
“Phát triển là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của một sự vật hiện tượng
Trang 30trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô và sự tiến bộ về cơ cấu, chất lượng”
Như vậy, từ định nghĩa về phát triển và các lý luận về cho vay tiêu dùng cá nhâncho thấy:
Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân là gia tăng cả về qui mô và chất lượng khoản vay, tức là: qui mô cho vay mở rộng, số lượng khách hàng vay vốn ngân hàng ngày càng gia tăng, đa dạng hoá đối tượng cho vay, tỷ lệ nợ xấu giảm, đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và cuối cùng mang lại hiệu quả cho ngân hàng đồng thời có thể giữ vững vị thế của ngân hàng trên thương trường
Sự ra đời của hoạt động tiêu dùng là một kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế Nhu cầu vay tiêu dùng đã luôn tồn tại, song sự kém linh hoạt của các cơ chế cho vay và trả nợ trong quá khứ, khi mà các sản phẩm cho vay còn đơn điệu và kém phù hợp, đã khiến cho nhu cầu vay tiêu dùng không được đáp ứng Công nghệ thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ ra đời các sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân, cải thiện đáng kể năng lực của các nhà cung cấp trong việc quản lý các khoản vay, đồng thời cho phép thực thi những cơ chế trả
nợ linh hoạt và phù hợp hơn Cho vay tiêu dùng cá nhân đã phát triển như một xu hướng tất yếu mang tính thời đại
Phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân chính là hướng đi hợp lý của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm tới, phù hợp với mô hình của các ngân hàng hiện đại trên thế giới Mặc dù tiềm ẩn nhiều rủi ro và chi phí phát triển sản phẩm cao nhưng xu hướng phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân vẫn là một tất yếu khách quan của các Ngân hàng thương mại
1.2.2 Sự cần thiết phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống NHTM đã phải tiến hành cải cách với
lý do sức ép cạnh tranh Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn khiến các công
ty lớn giảm việc vay vốn từ ngân hàng và thay vào đó là huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu Ngoài ra ngân hàng còn chịu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các tổ chức tín dụng và các tổ
Trang 31chức tài chính trung gian khác Sự cạnh tranh này khiến thị phần cho vay của ngân hàng bị giảm sút Điều này buộc ngân hàng phải tìm cách chuyển hướng sang hoạt động khác để tăng thu nhập
Những năm gần đây, hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân trên thế giới phát triển mạnh mẽ Cho vay tiêu dùng cá nhân được xem là một trong những hoạt động mang nhiều lợi nhuận nhất cho các ngân hàng thương mại Ở Mỹ và Châu Âu, các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân thường chiếm từ 20- 40% tổng dư nợ cho vay của
hệ thống ngân hàng, có trường hợp tỷ lệ này lên tới trên 60% Bên cạnh đó sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, sự cải thiện đáng kể trong mức sống của dân cư khiến nhu cầu vay tiêu dùng tăng lên mạnh mẽ
Tại Việt Nam, khi môi trường cạnh tranh trên thị trường cho vay ngày càng khốc liệt thì việc các ngân hàng chuyển hướng từ lĩnh vực cho vay truyền thống sang cho vay cá nhân hộ gia đình là một tất yếu Nhiều ngân hàng đã thành lập những phòng cho vay tiêu dùng cá nhân độc lập Sự chuyên môn hoá này giúp các ngân hàng tăng quy mô, giảm thiểu rủi ro và chi phí trong các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân đưa cho vay tiêu dùng cá nhân trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng tiêu dùng đã và đang đóng vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực dịch vụ ngân hàng Cho vay tiêu dùng cá nhân trong tương lai sẽ hướng theo mục tiêu về sự thuận tiện cho khách hàng Ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho khách hàng nhận được những khoản vay nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát khoản vay và an toàn vốn
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân
Để đánh giá sự phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân, có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá, ở đây tác giả xin đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản như sau:
Thứ nhất, các chỉ tiêu định lượng:
- Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân:
Dư nợ là số tiền ngân hàng cho khách hàng vay tại một thời điểm nhất định
Dư nợ kỳ thực hiện được xác định trên cơ sở dư nợ kỳ trước, doanh số cho vay và doanh số thu nợ
Trang 32Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân phản ánh quy mô hoạt động của cho vay tiêu dùng cá nhân Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng càng phát triển về lượng
Mức tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân:
Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân qua các năm, từ đó đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện việc tăng trưởng quy mô đối với cho vay tiêu dùng cá nhân Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng ngày càng tăng trưởng ổn định có hiệu quả, mở rộng được thị phần; ngược lại ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khai thác khách hàng, tăng trưởng dư nợ theo kế hoạch tín dụng
Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân: là phần trăm (%) dư nợ
CVTD chiếm trên tổng dư nợ cho vay được xác định như sau:
Tỷ trọng
Dư nợ CVTD
x 100 Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này đánh giá quy mô của cho vay tiêu dùng cá nhân trong tổng dư
nợ, phản ánh quy mô cũng như chính sách cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng Nếu như chỉ tiêu này lớn sẽ phản ánh được ngân hàng có thế mạnh trong cho vay tiêu dùng cá nhân, ngược lại, nếu như chỉ tiêu này nhỏ thể hiện rằng ngân hàng này không có tiềm lực trong cho vay tiêu dùng cá nhân, hay có thể nói mảng cho vay tiêu dùng cá nhân chưa được quan tâm phát triển
- Số lượng khách hàng:
Đối với bất kỳ ngân hàng nào khách hàng luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh Khi số lượng khách hàng vay tiêu
Trang 33dùng tăng điều đó thường dẫn đến sự gia tăng doanh số cho vay, dư nợ cho vay từ
Chỉ tiêu tăng trưởng số lượng khách hàng cho biết số lượng khách hàng cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng tăng bao nhiêu phần trăm mỗi năm Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ số lượng khách hàng tiêu dùng càng tăng, tức là ngân hàng mở rộng cho vay với đối tượng khách hàng tiêu dùng, tuy nhiên đánh giá chỉ tiêu này cần kết hợp với số tuyệt đối để cho kết quả chính xác
Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân bình quân trên một khách hàng:
DNBQ trên một khách hàng =
Dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân Tổng Số lượng khách hàngvay tiêu dùng Chỉ tiêu này phản ánh số dư nợ cho vay tiêu dùng cá nhân bình quân của một khách hàng.Số dư nợ bình quân càng cao chứng tỏ nhu cầu của khách hàng cũng như khả năng đáp ứng về vốn, quy mô hoạt động kinh doanh của cho vay tiêu dùng
cá nhân tăng lên
- Thị phần cho vay tiêu dùng cá nhân:
Thị phần là một chỉ tiêu chung và quan trọng để đánh giá bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Trong nền kinh tế thị trường thì “khách hàng là thượng đế” vì chính khách hàng mang lại lợi nhuận và sự thành công cho doanh nghiệp, hay nói cách khác hơn thì chính khách hàng trả lương cho người lao động
Đối với lĩnh vực ngân hàng, khi số lượng khách hàng đến với ngân hàng càng nhiều thể hiện ngân hàng đó hoạt động ngày càng thành công, sản phẩm dịch
Trang 34vụ của ngân hàng đáp ứng tốt cho nhu cầu của khách hàng Thị phần tín dụng cho vay tiêu dùng cá nhân được xác định:
Thị phần
cho vay tiêu dùng cá nhân =
Dư nợ CVTD của một NH Tổng dư nợ CVTD của toàn hệ thống NH
- Quy mô hệ thống kênh phân phối:
Kênh phân phối là một cấu thành tất yếu phải có trong quá trình phát triển của Ngân hàng nhằm mục đích đưa Ngân hàng tiếp cận với thị trường và cung cấp sản phẩm dịch vụ tới khách hàng Hệ thống kênh phân phối càng hiệu quả thì việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ra thị trường càng sâu rộng và càng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng do đó việc mở rộng và phát triển kênh phân phối có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng Căn cứ vào thời gian hình thành và kỹ thuật công nghệ, có thể phân chia hệ thống kênh phân phối của Ngân hàng thành 2 loại: kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối hiện đại
Kênh phân phối truyền thống là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ đến khách hàng chủ yếu dựa trên lao động trực tiếp của đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng như chi nhánh trong và ngoài nước, đại lý, các công ty con, văn phòng đại diện Kênh phân phối hiện đại là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng dựa trên ứng dụng công nghệ khoa học, công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng như hệ thống ATM, Internet Banking, Mobilebanking
- Cơ cấu sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân:
Cơ cấu sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân thể hiện sự tập trung vào một sản phẩm hay đa dạng các sản phẩm Tuỳ theo mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ
mà ngân hàng có chiến lược thay đổi cơ cấu sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân phù hợp
- Thu nhập từ cho vay tiêu dùng cá nhân:
Tối đa hóa thu nhập luôn là mục tiêu của bất kỳ ngân hàng nào Lợi nhuận là kết quả tổng hợp về sự phát triển các dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, không
Trang 35chỉ đa dạng kênh phân phối mà còn chính sách giá phù hợp nhằm tối đa các khoản thu từ các dịch vụ mang lại
Chỉ tiêu tỷ trọng thu lãi từ cho vay tiêu dùng cá nhân trên tổng thu lãi vay được xác định:
Tỷ trọng thu lãi
Thu lãi CVTD
x 100 Tổng thu lãi vay
Chỉ tiêu này cho biết hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân đem lại lợi nhuận bao nhiêu và đóng góp bao nhiêu vào tổng thu lãi từ hoạt động cho vay, giúp ngân hàng trong việc xây dựng định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân
- Chất lượng cho vay tiêu dùng cá nhân:
Chất lượng cho vay tiêu dùng cá nhân được đánh giá qua chỉ tiêu nợ quá hạn và
Chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu:
Tăng quy mô tín dụng tiêu dùng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng Các NHTM không thể chỉ mở rộng cho vay mà không quan tâm đến tỷ lệ nợ xấu và điều này cũng đồng nghĩa với việc các NHTM chỉ có thể tiếp tục mở rộng cho vay khi việc mở rộng này không làm tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Theo điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN và thông tư 02/2017/TT- NHNN có hiệu lực từ 01 tháng 6 năm 2017 thì nợ được phân thành 5 nhóm như sau:
+ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
+ Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Trang 36+ Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
+ Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Việc phân loại nợ vào các nhóm nợ khác nhau từ thấp đến cao là nhằm đánh giá chất lượng của các khoản vay, nợ được xếp vào nhóm cao hơn chất lượng càng giảm và độ rủi ro càng cao
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tại một thời điểm là tỉ lệ để đánh giá chất lượng cho vay của NHTM
Tỷ lệ nợ xấu CVTD (%) =
Nợ xấu CVTD Tổng dư nợ CVTD x 100
Thứ hai, các chỉ tiêu định tính:
-Tính đa dạng hoá về sản phẩm:
Mức độ đa dạng hoá sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân phù hợp với nhu cầu thị trường là một chỉ tiêu thể hiện sự tập trung phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân, qua đó phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực này Sự đa dạng hoá sản phẩm cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện
có của ngân hàng nếu không việc triển khai quá nhiều sản phẩm có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả do dàn trải nguồn lực quá mức
- Tính tiện ích của sản phẩm:
Tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng Ngân hàng, chiến lược kinh doanh của từng thời kỳ, từng đối tượng khách hàng mà ngân hàng cung cấp các sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân đảm bảo và phù hợp, tạo sự tiện ích đối với khách hàng trong quá trình sử dụng
Tiện ích sản phẩm là những giá trị dịch vụ gia tăng mà Ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng như sự thuận tiện trong việc sử dụng, cách thức sử dụng đơn giản, sản phẩm có nhiều chức năng Tiện ích sản phẩm còn phản ánh trình độ ứng dụng công nghệ của mỗi ngân hàng do đó tiện ích sản phẩm là tiêu chí quan trọng để khách hàng đánh giá mức độ hiện đại của sản phẩm và lựa chọn sử dụng sản phẩm
Trang 37- Sự cam kết của Ngân hàng đối với khách hàng khi sử dụng;
- Quy trình thủ tục hồ sơ cho vay;
- Chính sách marketing, các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị khuyến mại về sản phẩm tạo ra sự hài lòng đối với khách hàng;
- Trình độ của cán bộ ngân hàng qua chuyên môn nghiệp vụ cũng như trong quá trình làm việc, khả năng tư vấn khách hàng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng
- Trình độ công nghệ thông tin, cơ sở vật chất trang thiết bị đáp ứng với mục tiêu phát triển, đảm bảo khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác;
Và các yếu tố khác
- Quản trị rủi ro:
Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại nhất là đối với cho vay tiêu dùng cá nhân không thể tránh khỏi những yếu tố rủi ro như: rủi ro trong hoạt động, rủi ro mất khả năng thanh toán của người vay, rủi ro do khách hàng gian lận, rủi ro kỹ thuật, rủi ro đạo đức… Chính vì vậy, hàng năm Ngân hàng thương mại phải trích quỹ dự phòng rủi ro căn cứ vào khả năng rủi ro và mức độ rủi ro trong hoạt động Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế cao và ngược lại.Như vậy, hiệu quả kinh doanh trong cho vay tiêu dùng cá nhân tỷ lệ nghịch đối với mức độ rủi ro Do
đó, quản trị rủi ro trong cho vay tiêu dùng cá nhân là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng cho vay, là thước đo sự phát triển của Ngân hàng
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân
1.2.4.1 Nhóm nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan đến sự phát triển ngân hàng trên tất cả các mặt, ảnh hưởng đến hoạt động cho vay
- Chiến lược phát triển của ngân hàng
Các ngân hàng đều xác định cho mình một chiến lược phát triển cụ thể trên
cơ sở phát huy thế mạnh, tiềm lực, khả năng của bản thân mỗi Ngân hàng.Chiến
Trang 38lược phát triển sẽ giúp cho Ngân hàng đi đúng hướng và đạt các mục tiêu đề ra Chiến lược phát triển của ngân hàng được xây dựng theo từng kỳ nhất định, có thể
là chiến lược ngắn hạn, chiến lược dài hạn
Chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân bao gồm chiến lược khách hàng, chiến lược phát triển thị trường, mạng lưới và đào tạo nhân sự, chiến lược dịch vụ, chiến lược doanh lợi.Chiến lược không hợp lý sẽ hạn chế sự phát triển của cho vay tiêu dùng cá nhân
- Năng lực tài chính của Ngân hàng
Vốn và các hoạt động khác của ngân hàng sẽ là một trong những yếu tố được các nhà lãnh đạo ngân hàng xem xét khi đưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân.Vốn của ngân hàng càng lớn thì ngân hàng càng có năng lực mở rộng cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh so với các Ngân hàng khác.Đây là nhân tố cơ bản quyết định đến năng lực kinh doanh của ngân hàng, xây dựng thương hiệu ngân hàng
- Cơ cấu tổ chức - quản lý của ngân hàng
Việc bố trí cơ cấu tổ chức hợp lý từ chi nhánh đến các phòng ban, tổ nghiệp
vụ là điều cần thiết cho hoạt động của NHTM.Bố trí khoa học giúp giải quyết công việc nhanh chóng thông suốt, đảm bảo các mối thông tin trên - dưới, ngang - dọc sẽ phát huy tối đa hiệu quả quản lý.Xây dựng các đầu mối hỗ trợ để đảm bảo giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình vận hành Xây dựng các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của từng đơn vị, tổ chức các bộ phận kiểm tra, giám sát để đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
- Công nghệ ngân hàng
Đối với hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng, công nghệ thông tin là điều kiện cần và không thể thiếu được trong quá trình thực hiện.Hệ thống công nghệ hiện đại sẽ quản lý danh sách các khách hàng một cách dễ dàng hơn, từ đó tiết kiệm được nhân công cũng như chi phí quản lý góp phần giảm giá thành của các sản phẩm dịch vụ.Việc ứng dụng công nghệ thông tin góp phần tiết kiệm nguồn nhân lực, tăng hiệu suất làm việc
Trang 39Công nghệ thông tin là hạ tầng cơ bản cho phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ trong đó có sản phẩm vay tiêu dùng, là cơ sở để các ngân hàng thương mại phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như cung cấp các dịch vụ gia tăng cho khách hàng của mình, đồng thời thông qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên thị trường
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất, là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh Đối với lĩnh vực tín dụng nóichung và hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân nói riêng, đây là hoạt động mang lại nguồn lợi lớn nhất cho Ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi
ro nhất do vậy để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân lực
có trình độ, năng động, sáng tạo mới phát huy hiệu quả cao nhất trong mỗi nghiệp
vụ đồng thời có phẩm chất đạo đức tốt, tận tâm, cẩn thận trong công việc
- Chính sách đối thủ cạnh tranh
Đa số các Ngân hàng thương mại hoạt động trong một môi trường cạnh tranh.Không chỉ có các Ngân hàng thương mại trong nước, các tổ chức tín dụng khác
mà còn có các ngân hàng nước ngoài cũng tham gia hoạt động tạo nên sự cạnh tranh
vô cùng gay gắt.Đối với hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân sự cạnh tranh này càng khốc liệt hơn khi ở Việt Nam hoạt động này của NHTM còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong quản lý và thực hiện Điều này cho thấy để kinh doanh thành công không chỉ
có chiến lược kinh doanh hợp lý, phân tích thị trường, chiến lược khách hàng một cách cẩn thận mà còn phân tích chi tiết các đối thủ cạnh tranh từ đó hỗ trợ quá trình hình thành, triển khai và điều chỉnh chiến lược một cách có hiệu quả
1.2.4.2 Nhóm nhân tố khách quan
- Khách hàng vay vốn
Cho vay tiêu dùng cá nhân dựa vào rất nhiều yếu tố từ khách hàng vay vốn như: nhu cầu vay, thu nhập của cá nhân, hộ gia đình, chi tiêu thường xuyên, lãi suất khoản vay, tài sản hiện có và nhiều yếu tố khác Điều này vừa là yếu tố chi phối đến hành vi và là nhân tố ảnh hưởng tới quyết định vay tiêu dùng làm tăng quy mô phát triển cho vay tiêu dùng cá nhân của mỗi ngân hàng
Trang 40Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ là trung tâm của mọi chiến lược phát triển sản phẩm.Đối tượng sử dụng sản phẩm vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu đa dạng và phong phú Nền kinh tế ngày càng phát triển thì thu nhập của người dân ngày càng tăng khi đó nhu cầu về hàng hóa dịch vụ chất lượng cao ngày càng gia tăng Tuy nhiên, mỗi giai đoạn phát triển sẽ có những nhu cầu được đặt lên hàng đầu là khác nhau.Các ngân hàng thương mại cần phải nghiên cứu, phát hiện được sớm những nhu cầu đó một cách nhanh nhất để đưa ra các sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân phù hợp Nhu cầu của khách hàng là căn cứ để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng
Đối với khách hàng vay vốn, năng lực tài chính, đạo đức là yếu tố quyết định đến hành vi trả nợ của khách hàng trong tương lai Đạo đức của người vay được xác định trên cơ sở năng lực pháp lý và độ tín nhiệm.Khách hàng phải có năng lực pháp lý để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng trong quan hệ vay vốn.Mức tín nhiệm của khách hàng liên quan đến sự sẵn lòng và thiện chí thực hiện đúng hợp đồng.Cả hai yếu tố này các ngân hàng phải đặc biệt quan tâm khi tiến hành cho vay vì nó trực tiếp quyết định tới hiệu quả món vay và ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng
Trên thực tế, nguồn trả nợ cho ngân hàng trong cho vay tiêu dùng cá nhân rất quan trọng Đa số thu nhập thường xuyên trong tương lai của khách hàng là nguồn trả nợ chính, khách hàng có thu nhập càng cao thì việc trả nợ định kỳ càng ít ảnh hưởng tới các chi tiêu khác đặc biệt là các chi tiêu thường xuyên của khách hàng, ít ảnh hưởng tới tình hình tài chính của họ, do đó khoản vay càng an toàn
- Môi trường pháp lý
Luật pháp tạo ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động của ngân hàng dưới các hình thức như Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, quy chế, nghị định… Đó là những quy định buộc các Ngân hàng phải tuân thủ, đồng thời là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong hoạt động của mình
Đối với hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân môi trường pháp lý là một nhân tố có ảnh hưởng sâu rộng, tác động đến tính trật tự, tính ổn định và tạo điều