Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng sư phạm đối với việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI NGỌC QUÂN
BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN
ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI NGỌC QUÂN
BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN
ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN PHÒNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS
TS Trần Văn Phòng
Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Bùi Ngọc Quân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ 7
1.1 Tư duy phản biện 7
1.1.1 Một số vấn đề chung về tư duy 7
1.1.2 Khái niệm tư duy phản biện 11
1.2 Thực chất của việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị 25 1.2.1 Tư duy phản biện của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị 25
1.2.2 Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị 32
1.2.3 Những nhân tố tác động đến việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị 36
1.3 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị 40
1.3.1 Bồi dưỡng tư duy phản biện góp phần phát huy tính tích cực, chủ động trong tư duy của học viên 40
1.3.2 Bồi dưỡng tư duy phản biện giúp học viên sử dụng toàn bộ kiến thức và trí tuệ để có một cái nhìn tổng hợp và chính xác về những vấn đề quan tâm 41
1.3.3 Bồi dưỡng tư duy phản biện là nền tảng để học viên phát triển tư duy sáng tạo của mình 43
Trang 5Chương 2 BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO
GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG ĐẠI
HỌC CHÍNH TRỊ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 47
2.1 Thực trạng bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay và nguyên nhân 47
2.1.1 Thực trạng bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay 47
2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay 59
2.2 Một số giải pháp cơ bản bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay 63
2.2.1 Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng sư phạm đối với việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay 63
2.2.2 Xây dựng môi trường giáo dục tích cực cho trau dồi tư duy phản biện của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị hiện nay……… ………66
2.2.3 Phát huy tính tích cực của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị trong việc tự bồi dưỡng, tự rèn luyện tư duy phản biện 80
KẾT LUẬN ….86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 6BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
KHXH&NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo giáo viên là nhiệm vụ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi quan điểm coi giáo dục - đào tạo là quốc sách của Đảng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI đã xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [10, tr 130]
Quán triệt quan điểm đó, đội ngũ nhà giáo quân đội đã được chú trọng đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu “chuẩn hoá” ngay sau khi các Nghị quyết
93, 94 và 86 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân uỷ Trung ương) ban hành Gần đây, Quân uỷ Trung ương tiếp tục triển khai nhiều chủ trương, biện pháp nhằm bảo đảm cho đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý; chuẩn hoá, hiện đại hoá về nội dung, chương trình, phương thức đào tạo; hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới
Cùng với nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, từ khi tái lập đến nay, Trường Đại học Chính trị (ĐHCT) còn có chức năng đào tạo giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) cho các nhà trường trong toàn quân Chất lượng đội ngũ giảng viên KHXH&NV Nhà trường đào tạo sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo của quân đội
Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường hiện nay, ngoài việc trang bị cho học viên tri thức khoa học, thì cần thiết phải nâng cao năng lực tư duy, trong đó có tư duy phản biện (TDPB) Đây là vấn đề rất quan trọng nhằm
giúp họ học tập, tiếp thu và tích lũy tri thức có hiệu quả cao; đồng thời giúp họ
có khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra Đặc biệt đối với đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV thì TDPB ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến khả năng lĩnh hội tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện tay nghề sư phạm của họ
Trang 82
Thực tiễn đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT những năm qua cho thấy, cùng với quá trình đổi mới toàn diện mọi mặt trong công tác giáo dục - đào tạo về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, Nhà trường đã quan tâm, coi trọng phát triển TDPB cho học viên và đã đạt được những kết quả nhất định Đối với đội ngũ giảng viên, đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học viên Đối với học viên, đã biết phát hiện vấn đề, tích cực, sáng tạo trong tranh luận, trao đổi để nắm được bản chất của vấn đề Những kết quả bước đầu đó đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường
Tuy vậy, thực trạng giáo dục đào tạo của Nhà trường hiện nay, nhìn chung sự phát triển năng lực tư duy, trong đó có TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV vẫn còn hạn chế Điểm yếu của học viên trong quá trình đào tạo tại trường đó chính là thái độ thụ động trong học tập; khả năng phát hiện, xử lý vấn đề thiếu tính linh hoạt, sáng tạo Mặt khác, về kỹ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa của học viên còn kém; các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp… vận dụng chưa thuần thục
Về phía giáo viên, việc nhận thức tầm quan trọng cũng như khả năng trang bị phương pháp rèn luyện TDPB cho học viên chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường Tâm lý e ngại, sợ học viên không hiểu bài là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng diễn giảng, thuyết trình nhiều trong các giờ học,… Những hạn chế trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tuy nhiên cần nhận thấy rằng phương pháp giảng dạy “thầy đọc - trò ghi” đã trở nên lạc hậu, chưa tạo ra được “môi trường mở” cho học viên bộc lộ mình trong tranh luận học tập và nghiên cứu khoa học Từ đó, quá trình dạy học sẽ mất đi tính chủ động, tích cực và không phát huy được khả năng tư duy, đặc biệt là TDPB của học viên; tiềm năng và kết quả học tập, rèn luyện của học viên chưa được khai thác tốt và quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở góc độ hiệu quả theo đó cũng bị hạn chế Do vậy, có thể nói bồi dưỡng TDPB cho học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT là một vấn đề cấp thiết hiện nay
Trang 93
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề tư duy và nâng cao năng lực tư duy sáng tạo (TDST) đã được sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học trong và ngoài quân đội Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, vấn đề tư duy đã được các tác giả đề cập ở
nhiều góc độ khác nhau; tiêu biểu là: Hội nghị bàn tròn về “Đổi mới tư duy” Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 12 năm 1987 và số 8, tháng 9 năm 1988 Lê Thi “Thực trạng tư duy của cán bộ, đảng viên và căn nguyên của nó”, Tạp chí Triết học, số 1/1998 “Bàn về năng lực tư duy” (Hồ Bá Thâm - Tạp chí Triết học, số 2 năm 1994), “Rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy khoa học cho sinh viên, học sinh”
(Vũ Văn Viên - Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 2 năm 1992),
“Phát triển năng lực tư duy lý luận cho sinh viên thông qua việc giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin ở nước ta hiện nay” (Trần Viết Quang - Luận văn Thạc sĩ
khoa học Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội năm 1996)
Trong lĩnh vực quân sự cũng có nhiều nhà khoa học bàn về vấn đề này:
“Đặc điểm quá trình phát triển tư duy biện chứng duy vật của đội ngũ sĩ quan phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”, Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Bá Dương, Hà Nội 2000 “Phát triển tư duy lý luận của CBCT cấp Trung đoàn Quân đội nhân Việt Nam”, Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Dũng, Hà Nội 2001 “Nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ quân sự của Đào Văn Tiến, Hà Nội 1998
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có những bài viết đề
cập đến TDPB: “Tư duy phản biện trong học tập đại học” (GS Huỳnh Hữu Tuệ, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 232, năm 2010); “Hình thành tư duy phê phán cho sinh viên trong quá trình dạy học ở đại học”, Trần Thị
Tuyết Oanh, Tạp chí Giáo dục, số 213, năm 2009…
Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo đội ngũ học viên trong các nhà trường quân sự nói chung, đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT nói
Trang 10luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng; Đại tá, PGS TS Đặng Đức Thắng
(2005),“Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự trong giai đoạn hiện nay”; Nguyễn Văn Tháp (2007) “Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân văn ở các trường đào tạo sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quân sự; TS Nguyễn Xuân Trường (2007) “Bồi dưỡng năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên trẻ KHXH & NVQS ở Học viện Chính trị hiện nay”, Đề tài cấp học viện, Học viện Chính trị
Các công trình khoa học trên chủ yếu đề cập đến công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên nói chung và đội ngũ giảng viên KHXH&NV nói riêng và luận bàn về đổi mới phương pháp dạy học; về xây dựng chương trình nội dung; về nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên KHXH&NV Đồng thời, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề cập tương đối toàn diện và có hệ thống về các khái niệm, năng lực và phong cách
tư duy, năng lực tư duy biện chứng, TDST của sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam Đây thực sự là những tài liệu quan trọng để tác giả luận văn kế thừa, nghiên cứu phát triển những vấn đề có liên quan
Tuy nhiên, về TDPB thì hầu như chưa được đề cập, nhất là về bồi dưỡng
TDPB cho học viên đào tạo giảng viên, do vậy tác giả chọn đề tài “Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Trường Đại học Chính trị hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 115
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng bồi dưỡng TDPB cho học
viên đào tạo giảng viên Trường ĐHCT, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bồi dưỡng TDPB có hiệu quả cho đội ngũ học viên này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng: Bồi dưỡng TDPB cho học viên đào tạo giảng viên
KHXH&NV ở Trường ĐHCT
* Phạm vi: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng TDPB cho
học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Quân uỷ Trung ương về giáo dục đào tạo, về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo trong các nhà trường quân đội
* Cơ sở thực tiễn: Quá trình công tác của tác giả ở Trường ĐHCT; qua
điều tra, khảo sát thực tế về TDPB của đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV cũng như các vấn đề có liên quan đến đề tài
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp để nghiên cứu
Trang 126
6 Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về TDPB
và vai trò, thực trạng và giải pháp bồi dưỡng TDPB cho học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT hiện nay
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học,
giảng dạy và công tác xây dựng đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 137
Chương 1
TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ
1.1 Tư duy phản biện
1.1.1 Một số vấn đề chung về tư duy
* Khái niệm tư duy
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [22, tr 1371]
Theo Từ điển Giáo dục học: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh được bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con người không nhận biết được bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tượng” [14]
Trong Từ điển triết học (M.M Rodental chủ biên) có viết: “Tư duy - sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại” [23, tr 634]
Như vậy, tư duy là hình thức cao của sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo của con người Có thể nói, tư duy là “tài nguyên” riêng có, là năng lực đặc trưng cơ bản nhất của con người (Edward De Bono)
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể khái quát: Tư duy
là một quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con người, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan bằng khái niệm, phán đoán, suy luận
Trang 148
Tư duy bao hàm những quá trình phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề, Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát trong các khái niệm, phán đoán và suy luận Khái niệm, phán đoán, suy luận là những hình thức cơ bản của tư duy, nhờ đó tư duy có thể đi sâu phân tích và khám phá bản chất của thế giới khách quan Kết quả của tư duy bao giờ cũng là những tri thức về sự vật, hiện tượng nào đó hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra Tư duy là sản phẩm không chỉ của hoạt động xã hội mà còn là của quá trình tâm lý, nhờ đó con người tiếp thu được những tri thức khái quát và tiếp tục nhận thức, sáng tạo tri thức mới
Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất khi phân loại tư duy Tuy nhiên, người ta có thể chia thành: Tư duy lôgíc và tư duy phi lôgíc; Tư duy biện chứng và tư duy siêu hình; Tư duy lệ thuộc và tư duy độc lập; TDST và
tư duy không sáng tạo; TDPB;
* Đặc điểm của tư duy
Thứ nhất, tính khái quát cao
Tư duy phản ánh khái quát các thuộc tính của sự vật, hiện tượng để tìm các thuộc tính chung, bản chất của sự vật, hiện tượng Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những liên hệ, quan hệ chung nhất định Nói cách khác, khái quát hoá là quá trình tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng Nhờ khả năng khái quát hoá mà tư duy con người phản ánh được mối liên hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Do đó, quá trình tư duy là quá trình nhận thức và phản ánh cái chung của các sự vật, hiện tượng Cái chung này được phản ánh bằng tư duy, chứ không thể bằng nhận thức cảm tính
Muốn vạch ra được dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng phải thông qua các thao tác tư duy và do quá trình khái quát hoá của tư duy đem lại Cho nên không có khái quát thì không có quá trình hình thành khái niệm, không
Trang 159
thể xây dựng được các lý thuyết khoa học nói chung, không có hoạt động nhận thức sáng tạo Hoạt động khái quát hoá của tư duy chỉ có thể xảy ra và được thực hiện trên cơ sở một số thuộc tính quan trọng đã được tư duy trừu tượng tách ra khỏi những thuộc tính khác Từ những thuộc tính đã được trừu tượng hoá này, tư duy đi tới bao quát cái chung, cái bản chất, cái có tính quy luật Về điểm này, V.I.Lênin đã nhận xét: “Sự khái quát đơn giản nhất, sự hình thành đầu tiên và đơn giản nhất của những khái niệm (những phán đoán, suy lý…) có nghĩa là con người nhận thức ngày càng sâu sắc về các mối liên
hệ khách quan, về các tính quy luật của thế giới” [18, tr 189]
Thứ hai, tính trừu tượng hoá cao
Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để nhận thức, phản ánh Cho nên, để cái chung có thể tồn tại trong tư duy như một khái niệm tách rời cái riêng thì dứt khoát phải có hoạt động trừu tượng hoá tách cái chung ra khỏi cái riêng Đồng thời, sự trừu tượng hóa của tư duy có khả năng khu biệt hoá bất kỳ thuộc tính nào của sự vật ra khỏi những thuộc tính khác hoặc tách sự vật đó ra khỏi mối liên hệ của
nó với những sự vật khác Nhờ có trừu tượng hoá mà con người có khả năng nhận thức sự vật ở dạng thuần nhất, độc lập tương đối với tất cả những yếu tố
có liên quan đến nó Với quá trình trừu tượng hoá, chủ thể nghiên cứu nắm bắt tốt hơn các thuộc tính hoặc sự vật được tách ra, tập trung chú ý vào chúng, biến chúng thành khách thể của sự phân tích chuyên ngành; thông qua đó sẽ làm tăng thêm hiệu quả của quá trình nhận thức
Thứ ba, tư duy phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp và gắn liền với ngôn ngữ
Tư duy không nhận thức một cách trực tiếp các thuộc tính của sự vật như nhận thức cảm tính, mà nó phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp Thông qua các tri thức cảm tính thu được một cách trực tiếp, qua các thao tác
Trang 1610
của tư duy để xây dựng nên các khái niệm về sự vật Khái niệm về sự vật được diễn đạt qua một từ hay một cụm từ Do đó, tư duy và ngôn ngữ không tách rời nhau mà có mối liên hệ thống nhất với nhau (nhưng không đồng nhất) Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện cho mình Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không thể diễn
ra được, đồng thời, các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận Vì vậy, ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nó là cái
vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, diễn đạt các khái niệm, phán đoán, suy luận, lý thuyết đã có tính chất khái quát gián tiếp, bao hàm cái chung Nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm với nhau,
mà còn nhận thức được tình huống có vấn đề, phản ánh đúng đắn cái bản chất
và các mối quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng, tổng kết các hoạt động của con người cũng như của các thế hệ người trong lịch sử
Quá trình nhận thức chân lý, chủ thể tư duy bên cạnh việc đặt ra các vấn
đề mới, còn phải biết cách giải quyết chúng bằng những phương pháp phù hợp
Từ đó, chủ thể tư duy sử dụng một cách sáng tạo vốn tri thức phong phú đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp; huy động tri thức lý luận, sự am hiểu cần thiết, cụ thể về những lĩnh vực “có vấn đề” Ngoài ra, trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ lý luận khoa học cao còn có sự tham gia
Trang 1711
tích cực của tưởng tượng và trực giác Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học do tư duy sáng tạo ra cũng như bản thân tư duy có sự biến đổi, phát triển nhưng xét đến cùng là do thực tiễn lịch sử - xã hội quyết định
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm cơ bản của tư duy, chúng ta có
thể thấy: tư duy là giai đoạn cao của quá trình con người nhận thức thế giới khách quan; là sự phản ánh khái quát, trừu tượng và gián tiếp về sự vật, hiện tượng bằng các khái niệm, phán đoán, suy luận; cho phép con người thu nhận những tri thức mới về các sự vật, hiện tượng, các mối liên hệ bản chất, các thuộc tính và quy luật của khách thể nhận thức
1.1.2 Khái niệm tư duy phản biện
* Một số quan niệm về tư duy phản biện
Sự hình thành TDPB từ những tư tưởng sơ khai đến khi định hình với
tư cách là một phương pháp tư duy, đã có chiều dài hàng nghìn năm trong lịch sử tư tưởng nhân loại với hàng trăm nhà tư tưởng đã đóng góp cho sự phát triển của nó
Khởi đầu tư tưởng về TDPB là sự tiếp cận của triết gia cổ đại Socrates (469 - 399 B.C) Khoảng 2500 năm trước, Socrates đã chỉ ra tầm quan trọng của việc đặt những câu hỏi để điều tra một cách sâu sắc những suy nghĩ trước khi chúng ta chấp nhận ý kiến Ông rất coi trọng việc tìm kiếm các bằng chứng, nghiên cứu tỉ mỉ các lập luận và các giả định, phân tích nội dung cơ bản và vạch ra những định hướng cho việc nói và làm như thế nào
Phương pháp hỏi của ông ngày nay gọi là “câu hỏi Socrates”, đó là cách thức tốt nhất cho việc rèn luyện TDPB Phương pháp dạy của Socrates dựa trên
cơ sở: sử dụng hệ thống câu hỏi để thẩm tra biện chứng, thông qua kiểm tra chéo
để phát hiện các mâu thuẫn, sự không nhất quán của sự việc; dạy bằng cách nêu câu hỏi theo các tiêu chí: sáng tỏ, độ tin cậy, sự đúng đắn, độ chính xác, hợp lý, không thiên vị Trong mẫu câu hỏi của ông đã nêu bật sự cần thiết trong tư duy:
rõ ràng và lôgíc Theo đó, Socrates đã đặt cơ sở cho TDPB
Trang 1812
Sau Socrates, Platon cũng yêu cầu người học phải suy nghĩ, tự tìm kiếm thông tin cho mình, tìm tòi những ý tưởng mới và tranh luận trong môi trường học tập Triết học của Platon được ghi nhận là đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy lý luận nói chung và TDPB nói riêng Platon, Aristoteles, Greek đã phát triển phương pháp của Socrates và đưa ra phương pháp tư duy để đánh giá bản chất của sự vật chứ không phải chỉ dừng lại ở điều cảm nhận được từ bề ngoài Như vậy, các nhà triết học thời cổ đại Hy Lạp đã rất chú trọng việc dạy kỹ năng phản biện cho người học
Vào thời Phục Hưng và cận đại (thế kỷ XV và XVI), một số trí thức ở Châu Âu (như Colet, Erasmus và More) đã cho rằng hầu hết các lĩnh vực của
xã hội loài người đều cần phải nghiên cứu, phân tích và phản biện Cuốn sách
“Sự tiến bộ trong học tập” (The advancement of learning) của Francis Bacon
được coi là một trong những cuốn sách sớm nhất về TDPB Trong cuốn sách
đó, ông đã bàn về quá trình thu thập thông tin Những luận điểm của ông đã chứa đựng những vấn đề truyền thống của TDPB
Ở Pháp, Descartes có cuốn sách “Những quy tắc định hướng suy nghĩ” (Rules for the direction of the mind) được coi là cuốn sách thứ hai về TDPB
Trong cuốn sách đó, Descartes đã bàn đến việc phải có sự rèn luyện có hệ thống đặc biệt của trí óc để định hướng suy nghĩ Theo ông, cần phải có tư duy rõ ràng, sáng sủa Ông đã phát triển phương pháp suy nghĩ phản biện dựa trên nguyên tắc nghi ngờ một cách có hệ thống và nhấn mạnh sự cần thiết phải suy nghĩ dựa trên các giả định cơ sở Với Descartes, tư duy phải bao gồm việc đặt câu hỏi, nghi ngờ và kiểm tra
Đến thế kỷ XVI - XVII, Hobbes và Locke cũng có quan điểm như vậy về TDPB, mở ra triển vọng mới của việc học tập Hobbes chấp nhận quan điểm về thế giới tự nhiên mà trong đó mọi thứ đều phải được giải thích bằng những chứng cứ và lập luận Locke ủng hộ sự phân tích phán
Trang 1913
đoán trong cuộc sống và suy nghĩ hàng ngày Ông đã đặt cơ sở lý thuyết cho TDPB về quyền cơ bản của con người Sau đó, những học giả người Pháp như Beyer, Montesquieu, Voltaire và Diderot cũng đã có những đóng góp có ý nghĩa quan trọng khác cho TDPB Họ bắt đầu với giả thuyết rằng trí tuệ loài người khi được rèn luyện bởi lập luận sẽ có khả năng tốt hơn để nhận ra bản chất của thế giới
Trong thế kỷ XVIII, người ta đã mở rộng khái niệm về TDPB và những công cụ của nó áp dụng vào lĩnh vực kinh tế, chính trị và lý luận Ở thế kỷ XIX, TDPB được mở rộng hơn trong các lĩnh vực cuộc sống xã hội loài người bởi Comte và Spencer Nhờ TDPB, C Marx đã nghiên cứu phần kinh tế xã hội của chủ nghĩa tư bản; Charles Darwin đã đề ra học thuyết Darwin Đến thế kỷ XX, sự hiểu biết về năng lực và bản chất của TDPB được trình bày một cách tường minh hơn
Để có cái nhìn tổng quát hơn về TDPB, có thể tham khảo một vài quan niệm của một số tác giả khác về TDPB như sau:
John Dewey - nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học người Mỹ đưa
ra một quan niệm: “TDPB là sự suy xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét đến những lý lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến” Ông gọi TDPB là “reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) [11] Định nghĩa này đã nhấn mạnh đến tính chủ động của TDPB, tức là khi một người có TDPB, họ sẽ tự nảy ra câu hỏi, tự đi tìm các thông tin liên quan, hơn là học hỏi thụ động từ người khác J Dewey cũng nhấn mạnh đến tính liên tục của TDPB, theo đó TDPB đòi hỏi phải xem xét mọi vấn đề, mọi thông tin liên quan trước khi
đi đến kết luận hoặc ra quyết định Mặt khác, ông cho rằng niềm tin của chúng ta bị chi phối bởi sự suy luận và suy luận có vai trò rất quan trọng, khả năng suy luận là yếu tố then chốt trong TDPB
Trang 2014
Edward Glaser, đồng tác giả của một trắc nghiệm TDPB được sử dụng rộng rãi nhất thế giới là Watson - Glaser Critical Thinking Appraisal cho rằng: TDPB “là thái độ sẵn lòng quan tâm suy nghĩ chu đáo về những vấn đề
và chủ đề xuất hiện trong cuộc sống cá nhân; là sự hiểu biết về phương pháp điều tra và suy luận có lý; và là một số kỹ năng trong việc áp dụng các phương pháp đó TDPB đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ để khảo sát niềm tin hay giả thuyết bất kỳ, có xem xét đến các bằng chứng, khẳng định nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến” E Glaser nhìn nhận rằng kỹ năng tư duy là một thành phần tất yếu của TDPB [11]
Phát biểu về TDPB từ một góc nhìn khác biệt so với các tác giả trước, Richard Paul cho rằng: “TDPB là một mô hình tư duy - về một chủ
đề, một vấn đề, một nội dung bất kỳ - trong đó, chủ thể tư duy cải tiến chất lượng tư duy của mình bằng việc điều khiển một cách thành thạo các cấu trúc nền tảng có sẵn của tư duy và áp đặt các tiêu chuẩn của hành động trí tuệ lên quá trình tư duy của mình” [11] Nói ngắn gọn, thì TDPB là tư duy
về tư duy của bạn trong khi bạn suy nghĩ một cách có thứ tự để đưa ra suy nghĩ tốt hơn Ở đây, theo Richard Paul có hai điểm cốt yếu: TDPB không chỉ là suy nghĩ mà là suy nghĩ nhằm tự cải thiện; những cải thiện này có từ những kỹ năng trong việc dùng những tiêu chuẩn bởi một cách đánh giá tư duy thích hợp; hay nói cách khác đó là sự tiến bộ (trong suy nghĩ) qua chuẩn (đó là đánh giá suy nghĩ)
Quan niệm này đưa đến một đặc điểm của TDPB được các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực đồng ý Đó là: Cách thức có ý nghĩa thực tế duy nhất để phát triển khả năng TDPB của một ai đó là thông qua “tư duy về tư duy của chính họ” thường được gọi là “siêu nhận thức” (metacognition), với mục tiêu được quan tâm là cải tiến nó bằng cách tham khảo một số mô hình tư duy thành công trong cùng lĩnh vực
Trang 2115
Mô hình của Paul về TDPB (The Critical Thinking Community) có thể
được thể hiện dưới dạng bảng biểu như sau: Người suy nghĩ thường xuyên áp dụng các tiêu chuẩn trí tuệ đối với các yếu tố của suy nghĩ để phát triển những phẩm chất trí tuệ
TIÊU CHUẨN TRÍ TUỆ
Rõ ràng Chính xác Chính xác Quan trọng Phù hợp Hoàn chỉnh
Rộng rãi Sâu săc
YẾU TỐ SUY NGHĨ Mục đích Suy luận Câu hỏi Khái niệm Quan điểm Hàm ý Thông tin Giả định
PHẨM CHẤT TRÍ TUỆ
Sự khiêm nhường Tính kiên nhẫn Tính tự chủ Sự tin tưởng vào lập luận Tinh thần chính trực Sự đồng cảm
Lòng dũng cảm Tính công bằng
Sơ đồ 1.1 Mô hình của Richard Paul về tư duy phản biện
Richard Paul cũng cho rằng: người có TDPB là người có tư tưởng công bằng Ông đã đối lập người có TDPB với hai loại người khác: những người suy nghĩ thiếu sự phê phán có đôi chút kỹ năng và dễ dàng bị lôi kéo và kiểm soát bởi người khác, ông gọi những người đó là người có nghị lực yếu; hoặc là người có tư duy ích kỷ, chỉ theo đuổi những thú vui cho bản thân và vận động, lôi kéo người khác Ngoài ra, Richard Paul và Michael Scriven cũng nhận định người có TDPB là người: biết đề xuất những câu hỏi và vấn đề quan trọng, công thức hóa chúng một cách rõ ràng và chính xác; biết thu thập và đánh giá những thông tin liên quan; giao tiếp hiệu quả với người khác và đưa
ra những cách giải quyết để hoàn thành vấn đề
Phải được
áp dụng đối với
Trang 2216
J B Baron và R J Stemberg cho rằng: Khi TDPB, điều quan trọng là tìm ra cái gì ẩn ở đằng sau các quan điểm và đưa nó ra thảo luận [1] và về hình thức tư duy, TDPB bao gồm dạng ý thức và dạng năng lực
Như vậy, với tư cách là một loại (kiểu) tư duy, TDPB đã được hình thành rất lâu đời ngay trong nền triết học Hy Lạp cổ đại và nó liên tục được bổ sung, phát triển như một nhu cầu tất yếu của nền văn minh phương Tây Ngày nay, TDPB đã được giảng dạy ở hầu hết các trường đại học ở Mỹ và châu Âu, châu Á (Đại học Hồng Kông và Đại học Unitar, Malaysia) Hiệp hội TDPB thế giới (trụ
sở tại Long Beach, California, Mỹ) hàng năm cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo trao đổi toàn thế giới về vấn đề phát triển TDPB Tóm lại, công cụ và vốn kiến thức của con người về TDPB được tăng lên không ngừng trong lịch sử
Ở nước ta, TDPB chưa được đề cập nhiều Cách dạy học có sử dụng
TDPB đã được nói đến trong một số tài liệu bàn về các phương pháp dạy học, tuy nhiên thuật ngữ này chưa được dùng phổ biến ở trong các tài liệu Sau đây
là một số quan niệm của các tác giả trong nước khi nghiên cứu về TDPB:
Khi nói về TDPB, các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê đã nêu: người có tư duy độc lập trước một sự việc, quan sát, phân tích, tổng hợp để
có phán xét đúng sự việc đó tốt hay xấu; tốt, xấu ở chỗ nào Người như vậy là người có TDPB Các ông đã xếp TDPB là bậc thứ ba trong bốn bậc của tư duy nếu xét theo mức độ độc lập: tư duy lệ thuộc; tư duy độc lập; TDPB; TDST
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và các cộng sự đã nhiều lần đồng nhất TDPB với tư duy tốt Các ông đã khẳng định: “Trong các năng lực của con người, năng lực tư duy đóng vai trò số một Bởi vì tư duy tốt (tư duy có phê phán) hay tư duy không tốt sẽ có ảnh hưởng quyết định đến đời sống của con người về thể chất, tinh thần, về quan hệ đến cộng đồng, đến sự giàu có, hạnh phúc của một gia đình, đến hưng thịnh, hùng cường của một quốc gia” “Năng lực tư duy là tiêu chuẩn đánh giá đối với người lao động ở thế kỷ trí tuệ này
Tư duy phản biện (tư duy tốt) không những chỉ giúp người học học tập tốt ở trường học mà còn giúp trở thành người công dân tốt trong việc ra những
Trang 23Khi nghiên cứu về vai trò của TDPB trong học tập ở bậc đại học, tác giả Huỳnh Hữu Tuệ đã khẳng định: “Phương pháp tư duy duy phản biện chính là công cụ giúp ta sử dụng toàn bộ kiến thức và trí tuệ để có một cái nhìn tổng hợp và chính xác về những vấn đề hay luận cứ ta quan tâm” [35]
Bàn về khái niệm TDPB, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng: “Tư duy phê phán (Critical thinking) là khả năng đánh giá của con người, thể hiện
sự tương tác tích cực của con người với thế giới xung quanh Tư duy phê phán là một trong những con đường mở ra những tiềm năng trí tuệ của con người, nó có tác động như nội lực bên trong, là cơ sở cho hoạt động sáng tạo đưa đến việc khám phá những tri thức mới” [21] Theo Đỗ Kiên Trung khẳng định: “Tư duy phản biện (critical thinking) là môn học tìm hiểu sự vận động, những đặc điểm cũng như những hạn chế mang tính quy luật của tư duy, qua
đó cung cấp cho người học nhận thức về thực chất của quá trình tư duy và trang bị những phương pháp khoa học giúp chủ thể đưa ra được những nhận định, phán đoán hợp lý cho hoạt động thực tiễn” [32]
Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Huy Thịnh (2004) cũng thể hiện sự quan tâm đến phát triển TDPB cho học sinh, sinh viên: đổi mới giáo dục ở Việt Nam đòi hỏi phải có tính cá nhân hóa cao hay nói cách khác phải dạy cho người
Trang 2418
học cách tư duy phản biện Thật vậy, trong thời kỳ đổi mới hiện nay đòi hỏi giáo dục phải trang bị kỹ năng tư duy cho người học và một trong những kỹ năng tư duy đang được quan tâm nhất hiện nay là kỹ năng TDPB
* Khái niệm tư duy phản biện
Thuật ngữ “critical thinking” thường được dịch là “tư duy phê phán” Theo Từ điển Tiếng Việt: “phê phán là vạch ra cái sai trái để tỏ thái độ không đồng tình hoặc lên án” [22, tr 999] Hay đó là từ chỉ hành động, chỉ ra cái chưa tốt, cái sai lầm, từ này không bao hàm ý nghĩa “đánh giá” Bởi đánh giá là phải nhìn nhận các giá trị, các kết quả đạt được bên cạnh những thiếu sót và tồn tại
“Quan điểm phê phán” vốn được hiểu là đứng trên lập trường của một hệ phái
và phủ định các lý thuyết khác biệt với tư tưởng chính thống, không chấp nhận khả năng tiếp cận vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, có thể nhận thấy thuật ngữ “critical thinking” có nội hàm rộng hơn cách hiểu “phê phán” theo ý nghĩa nêu trên, do đó cần phải tìm một cách dịch khác
Khái niệm TDPB có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại Từ “critical” có nguồn gốc từ hai từ gốc Hy Lạp là “kriticos” (nghĩa là sự đánh giá sáng suốt)
và “kriterion” (nghĩa là tiêu chuẩn) Như vậy, “critical” hàm ý “đánh giá sáng suốt trên cơ sở chuẩn”
Theo từ điển Oxford Advanced Learn’s Dictionary thì “critical” là tính
từ dùng để diễn tả: nghĩa là không tốt, chê bai, bất đồng, không tán thành, phản đối; cực kỳ quan trọng, sẽ có nhiều ảnh hưởng trong tương lai; nghiêm trọng, nguy hiểm; đưa ra phán đoán cẩn thận, công bằng về chất lượng tốt hay kém; phê bình (nghệ thuật, âm nhạc, văn học) Cách giải thích này cho thấy từ
“critical” trong thuật ngữ “critical thinking” không được dùng với ý nghĩa phê phán, mà mang ý nghĩa đưa ra phán đoán Vì vậy, nên sử dụng cách dịch khác
là “Tư duy phản biện” để phù hợp hơn với nội dung vấn đề được đề cập Tất nhiên, phản biện không đồng nhất với sự phê phán nhưng sự phê phán sẽ trở nên hiệu quả, tích cực khi nó được xuất phát và được tiến hành bằng TDPB
Trang 2519
Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, nói đến TDPB là nói đến tư duy nhằm chỉ ra những điều sai trái để tỏ thái độ không đồng tình hoặc lên án Đây chỉ là một mặt của TDPB, nhưng không phải TDPB chỉ có như vậy Có lẽ, do một số người hiểu TDPB là “phê phán” Do vậy, cần hiểu đúng TDPB bao gồm khả năng nhìn nhận vấn đề ở các góc độ, nắm bắt được các mặt khác nhau của vấn
đề, tìm ra lập luận sai hoặc dẫn chứng không xác đáng để nhận biết độ xác thực của thông tin, lý giải sự kiện dựa trên kiến thức đã biết và đưa ra một số phương án giải quyết vấn đề [15] Có thể hiểu: TDPB là quá trình đánh giá, phân tích, lập luận, giải quyết các vấn đề hoặc đưa ra các phán đoán trên cơ sở thu thập và đánh giá những thông tin, những ý kiến khác nhau dựa trên những tiêu chuẩn nhất định nhằm đưa ra cách giải quyết tốt nhất TDPB đôi khi còn gọi là tư duy có định hướng vì nó tập trung vào những vấn đề được nêu ra
Từ việc nghiên cứu những định nghĩa khái niệm TDPB trên của các tác
giả trong và ngoài nước, tác giả quan niệm: Tư duy phản biện là tư duy có suy xét, phân tích, đánh giá và tìm hiểu thông tin với thái độ hoài nghi tích cực, sau đó lập luận và chứng minh lập luận đó bằng những thông tin kiểm chứng được để đưa ra một kết luận cuối cùng mang tính thuyết phục, phù hợp với thực tiễn và quy luật lôgíc nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra
* Một số đặc điểm của tư duy phản biện
Trang 2620
Một phán đoán tốt là kết quả của sự xem xét đến tất cả mọi vấn đề liên quan, bao gồm cả chính phán đoán đó, đồng thời nó phải là sản phẩm của một tiến trình tư duy thuần thục về kỹ năng và có sử dụng các thủ thuật, công cụ hỗ trợ thích hợp TDPB là loại tư duy ứng dụng, nó không chỉ hướng đến việc đạt được sự hiểu biết mà còn vận dụng kiến thức để tạo ra những thay đổi tích cực Theo đó, có thể nói sản phẩm tối thiểu của TDPB là các phán đoán và sản phẩm tối đa của nó là sự ứng dụng thực tiễn của các phán đoán đó
Thứ hai, TDPB là tư duy dựa vào tiêu chuẩn
Có một mối quan hệ lôgíc giữa các khái niệm TDPB, tiêu chuẩn và phán đoán, đó là: TDPB được nhận định như là một loại tư duy đáng tin cậy, thuần thục về kỹ năng và khả năng đánh giá, do vậy, không thể hiểu TDPB nếu thiếu quan tâm đến tiêu chuẩn
Thứ ba, TDPB là tư duy tự điều chỉnh
Tư duy phản biện giúp chúng ta điều chỉnh suy nghĩ, tự tranh luận với mình xem đúng hay sai Chúng ta thường suy nghĩ một cách chung chung, từ việc này liên tưởng đến việc khác, nhưng không quan tâm đầy đủ đến vấn đề chân lý hay giá trị, thậm chí ít quan tâm đến khả năng có thể mắc sai sót TDPB
sẽ giúp chúng ta điều chỉnh hành động của mình, tránh được ý nghĩ chủ quan Vì thế, việc phát hiện ra những mâu thuẫn, thiếu căn cứ, nhầm lẫn trong tiến trình tư duy của mình và sửa chữa tất cả các lỗi là một mục tiêu của TDPB
Thứ tư, TDPB thể hiện sự nhạy cảm trước bối cảnh
Tư duy phản biện nhạy cảm với bối cảnh có nghĩa là phải: Nhận thức được các tình huống ngoại lệ hay khác thường; nhận thức được các giới hạn, đặc biệt, các biến cố, các rào cản của suy luận có lý (những thành kiến, định kiến); nhận thức được tính tổng thể và nhạy cảm với những cái đặc biệt và đơn nhất; nhận thức được các dấu hiệu không điển hình; nhận thức được rằng
có một số thuật ngữ có thể có sự thay đổi về nghĩa khi chuyển sang bối cảnh khác hay lĩnh vực khác, có một số thuật ngữ không có từ tương đương trong ngôn ngữ khác, hay chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh đặc biệt
Trang 2721
* Những yêu cầu của TDPB
Một là, tư duy phải sáng tỏ (Clarity) TDPB không chấp nhận bất cứ
nhận định hay phán xét nào mà không có luận chứng Hơn nữa, nó cũng đòi hỏi trong ngôn ngữ không được dùng những từ ngữ đa nghĩa, mập mờ, mà phải rõ nghĩa, rành mạch TDPB vận dụng không chỉ tri thức về lôgíc mà còn những tiêu chí trí tuệ khác như sự rõ ràng, đáng tin cậy, sự xác đáng Điều này rất có giá trị đối với sự phát triển tư duy người Việt Nam chúng ta, những thói quen
tư duy mập mờ, chủ yếu dựa vào sự khéo léo của ngôn từ, mà không dựa vào chứng cứ xác thực có kiểm chứng, tất cả đều sẽ bị lột trần qua TDPB
Hai là, tư duy phải dựa trên lập luận (Argument) Điều này đòi hỏi bất
cứ quan điểm nào được đưa ra phải có lập luận và chứng minh cho nó Những tri thức không đầy đủ thường là xuất phát điểm cho những kết luận sai lệch Do vậy, yêu cầu cơ bản của TDPB là phải có căn cứ đầy đủ trong các lập luận, không nên chấp nhận những khái quát không có suy luận, không có cơ sở như cách tư duy theo kiểu “điều này đúng vì truyền thống như thế”, “hàng năm vẫn như thế nên năm nay cũng sẽ như thế”, hay “thông lệ là như thế nên không cần làm khác”,… mà lập luận phải rõ ràng Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy,
nên ngôn ngữ có rõ ràng, sáng tỏ trong lập luận, thì tư duy cũng sẽ rõ ràng
Ba là, lập luận phải có luận chứng (Evidence) Lập luận đưa ra phải có
tính thuyết phục, ở đây chính là luận chứng (bằng chứng) cho nó Đây là một trong các nguyên tắc quan trọng nhất nhưng cũng đồng thời khó thực hiện nhất trong TDPB Việc thu thập đủ tất cả những cơ sở lập luận, các chứng cứ sẵn có cho một vấn đề phải được nghiên cứu kĩ lưỡng Những luận chứng phải thuyết phục, có thể kiểm chứng, tường minh, tuyệt đối không chấp nhận những kiểu luận chứng đại loại như “vì nhiều người nói đúng nên nó đúng”,
“vì lãnh tụ nói nên điều này đúng”,… bởi lẽ, chân lý là khách quan, chân lý không phụ thuộc vào đám đông, cũng như không phụ thuộc uy tín cá nhân
Trang 2822
Bốn là, tư duy phải công bằng (Fairness) Người có TDPB phải là
người ham tìm hiểu, cởi mở với quan điểm của người khác, biết lắng nghe và
có thể chấp nhận ý kiến trái ngược với mình Đồng thời, họ phải có tư duy công bằng, đề cao giá trị công bằng (tức là không có chuyện tôi luôn đúng và anh luôn sai hoặc ngược lại), phải tôn trọng bằng chứng và lý lẽ, thích sự rõ ràng, chính xác, biết xem xét các quan điểm khác nhau và sẽ thay đổi quan điểm khi sự suy luận cho thấy phải làm như vậy Điều đó cũng có nghĩa là cần tránh những định kiến (là nếp suy nghĩ đã có sẵn trong tiềm thức mỗi người) chi phối tư duy chúng ta, mặc dù những định kiến này không dễ vượt qua Khi tiếp cận một vấn đề hay khi tranh luận chúng ta nên bình tĩnh, khách quan, không nên vội “phán xét” mang tính chủ quan
Để có được TDPB không phải là dễ dàng vì mỗi người có những rào
cản khác nhau Do vậy, chúng ta cần phải nhận thấy một số rào cản chính đối với TDPB như sau:
Một là, hiểu sai ý nghĩa của phê phán
Hiện nay, trên thực tế tồn tại rất nhiều cách hiểu khác nhau về TDPB, trong đó cũng tồn tại những cách hiểu sai, dẫn đến những thái độ thiếu tích cực khi nhắc đến TDPB Do vậy, cần thấy rằng:
- Tư duy phản biện không phải là đấu tố Có một cách hiểu rất lệch lạc: phản biện có nghĩa là phê phán, chỉ trích, phản đối một ai đó hay một quan điểm nào đó Theo cách hiểu đó, người ta chỉ đưa ra những nhận xét tiêu cực, những mặt tiêu cực khi phân tích; đó là do hiểu lầm thuật ngữ Về định nghĩa (đã phân tích bên trên), TDPB không có ý nghĩa “phản đối” hay “tiêu cực” mà nó chỉ ra những sai lầm, thiếu sót trong quá trình tư duy và đòi hỏi quá trình tư duy phải dựa trên cơ sở vững chắc của lập luận và luận chứng một cách sáng tỏ
- Tư duy phản biện không phải là mục tiêu mà là phương tiện
Đề cao vai trò của TDPB không có nghĩa là biến nó thành mục tiêu tối quan trọng mà tất cả chúng ta phải đạt đến Giống như các hình thức tư duy
Trang 2923
khác như TDST, tư duy tích cực,… TDPB là một trong những hình thức, phương pháp, công cụ để cá nhân và cộng đồng trang bị, tiến đến hình thành một phong cách tư duy, phong cách sống và làm việc khoa học, hiệu quả; từ
đó hướng tới mục tiêu chung là sự phát triển bền vững và thịnh vượng
Nếu xem TDPB và việc trang bị TDPB là mục đích để đạt tới thì không những chúng ta nhầm lẫm mục tiêu với phương tiện, mà chúng ta còn khiến TDPB mất đi đối tượng nó hướng tới - đó là sự phát triển năng lực tư duy của con người
- Muốn có TDPB phải được học và được hành
Tư duy phản biện sẽ trở thành lạc hậu nếu như người được trang bị nó không ứng dụng trong cuộc sống Người học khác cần phải phát huy tinh thần phản biện khoa học khi tiếp nhận kiến thức của các môn học và cần vận dụng
nó trong thực tiễn, tránh các biểu hiện sai lệch về TDPB
Hai là, rào cản ngụy biện
Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thường gặp những suy luận nhìn bề ngoài thì có vẻ đúng, có vẻ hợp lý, nhưng nếu xem xét kỹ thì thấy những suy luận đó vi phạm các quy tắc lôgíc Người ta gọi những sai lầm không cố ý trong suy luận là sự ngộ biện, còn những sai lầm cố ý thì được gọi là sự ngụy biện Nếu chỉ xét về mặt lôgíc thì ngụy biện cũng là sai lầm lôgíc
Ngụy biện là sự cố ý vi phạm các quy tắc lôgíc trong suy luận nhằm mục đích đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho người khác nhầm tưởng cái sai là đúng và cái đúng là sai Hay nói cách khác, ngụy biện là sự lập luận mà lôgíc mang tính chủ quan, giả dối nhằm làm cho người khác tin vào những kết luận, những quan điểm sai trái hoặc không chắc chắn Ngụy biện nêu ra nét giống nhau bề ngoài của các hiện tượng mà không quan tâm đến sự liên hệ bên trong của các hiện tượng, đem quy luật của một loại hiện tượng này, hoàn cảnh này áp dụng vào một loại hiện tượng khác, hoàn cảnh
Trang 30Về bản chất, cảm xúc phát sinh ngoài ý thức nhưng nó lại định hướng cho hành vi của con người Phần lớn các suy nghĩ của chúng ta đều bị ảnh hưởng rất lớn từ cảm xúc Nếu như được nhận ra và sử dụng hợp lý, cảm xúc
có thể đóng góp một phần đáng kể cho TDPB của chúng ta Trong quá trình
tư duy nhằm đưa ra quyết định, có sự tham gia của những cảm xúc nhất định Những cảm xúc tiêu cực như thành kiến hay rập khuôn cũng cần được sớm nhận ra nhằm loại bỏ ngay khi có thể Do vậy, chúng ta cần thừa nhận cảm xúc của mình để kiểm soát nó, điều này sẽ đóng một vai trò tích cực trong quá trình rèn luyện kỹ năng TDPB
Đặc biệt, đối với người học khi lo lắng về những gì đang học, phản ứng cảm xúc có thể sẽ giúp họ tập trung suy nghĩ, nhưng thông thường nó hạn chế khả năng suy nghĩ rõ ràng Những nội dung mang tính cảm xúc có thể tăng sức mạnh cho luận cứ hoặc nó cũng có thể làm suy giảm luận cứ, đặc biệt là khi cảm xúc có vẻ đang thay thế lập luận và dẫn chứng cho việc thuyết phục người khác Do đó, người học cần có kỹ năng quản lý cảm xúc để phản biện
có hiệu quả cao nhất
Ngoài ra, còn một số rào cản TDPB khác có thể nhận thấy như: định kiến, thói quen suy nghĩ lối mòn, suy nghĩ một chiều, thói quen không đặt câu hỏi…
Trang 31Hiện nay, đối tượng học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT gồm các khoá giáo viên từ khoá 8 đến khoá 12 Thành phần chủ yếu của đối tượng này là những hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, học sinh phổ thông có tuổi đời từ 20 - 25 tuổi, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, qua thi tuyển và được đào tạo trở thành những giảng viên giảng dạy các môn KHXH&NV trong các nhà trường quân sự Sau khi ra trường, họ có trình độ
cử nhân đại học nhóm ngành KHXH&NV theo chuyên ngành đào tạo, sẽ trở thành những người giảng viên KHXH&NV có hệ thống phẩm chất, năng lực, kiến thức, kỹ năng sư phạm, có phương pháp nghiên cứu khoa học, là nguồn
bổ sung cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo của các nhà trường quân sự và khi cần thiết có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nguồn đầu vào và trình độ nhận thức của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT cơ bản đồng đều, có chất lượng khá tốt Đối tượng học viên này có nhiều chuyên ngành khác nhau: Triết học, Kinh tế học chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng, Tâm lý học Sự phong phú, đa dạng của chương trình đào tạo và các chuyên ngành là phù hợp với tình hình và nhu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là sự phát triển của hệ thống nhà trường quân đội hiện nay
Trang 3226
Nhìn chung, học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT
có đặc điểm nổi bật là năng lực nhận thức tốt, nhạy bén với cái mới, ham học hỏi, trung thực, giản dị, nhiệt tình với tập thể Phần lớn học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV đều cần cù, chịu khó trong học tập, rèn luyện, có quyết tâm trở thành người sĩ quan, người giảng viên phục vụ lâu dài trong quân đội Tuy nhiên, đội ngũ học viên này có tuổi đời còn trẻ, những phẩm chất trên định hình chưa vững chắc, nhân cách đang ở giai đoạn hình thành, dễ bị tác động
và bị chi phối bởi những ảnh hưởng của các tác động tiêu cực từ xã hội và môi trường giáo dục - đào tạo trong quân đội Do đó, trong quá trình học tập,
họ cần được lĩnh hội, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và hình thành, phát triển các phẩm chất cần thiết để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo giảng viên KHXH&NV của Nhà trường Thực tế, qua học tập, rèn luyện, họ
sẽ được trang bị hệ thống tri thức toàn diện, đặc biệt là tri thức KHXH&NV, hiểu biết sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng; hình thành, phát triển hệ thống tri thức, kỹ xảo, kỹ năng, phẩm chất cấu thành nhân cách, chuẩn bị các yếu tố đáp ứng yêu cầu là giảng viên KHXH&NV trong các nhà trường quân đội
Quá trình đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT là sự thống nhất, sự kết hợp giữa ba mục tiêu trong một
Một là, đào tạo sĩ quan cấp phân đội
Trường ĐHCT là một trung tâm đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội cho toàn quân Vì vậy, mục tiêu đầu tiên mà mỗi học viên đào tạo cần phấn đấu
là trở thành sĩ quan cấp phân đội Chương trình, nội dung, phương pháp, quy trình, cách thức đào tạo giảng viên KHXH&NV của Nhà trường trước hết cũng phải nhằm thực hiện mục tiêu đó Đây là điều khác biệt với tất cả các nhà trường đào tạo giảng viên ngoài quân đội, đòi hỏi mỗi học viên đào tạo giảng viên ở đây phải có nhận thức đúng tính đặc thù đó
Trang 3327
Hai là, đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội
Đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT có sự thống nhất, sự giao thoa với đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội Đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT là một bộ phận của công tác đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội trong toàn quân Mặt khác, quá trình ấy cùng được tổ chức, thực hiện ở một cơ sở đào tạo là Trường ĐHCT; chất lượng nguồn đầu vào cơ bản như nhau, có cùng một số yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, rèn luyện kỷ luật, lễ tiết tác phong; cùng môi trường sư phạm và chủ thể sư phạm Những yếu tố ấy đã quy định quá trình đào tạo giảng viên KHXH&NV và đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội ở Trường ĐHCT có sự thống nhất, sự giao thoa, sự tác động biện chứng với nhau là hoàn toàn khách quan Đồng thời, mục tiêu đào tạo quy định học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT phải có các phẩm chất cơ bản của người cán bộ chính trị cấp phân đội
Ba là, đào tạo giảng viên KHXH&NV cấp phân đội
Mô hình đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT là giảng viên KHXH&NV cấp phân đội Sau khi ra trường, họ được điều động, phân công làm giảng viên giảng dạy các bộ môn thuộc chuyên ngành KHXH&NV
ở các trường sĩ quan, trường quân chính quân khu, quân đoàn, trường quân sự các tỉnh, thành trong cả nước Đây là mục tiêu cơ bản, quy định sự khác biệt với đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội nói chung Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng, chi phối đến toàn bộ quá trình đào tạo giảng viên KHXH&NV của Trường ĐHCT, trực tiếp là chi phối đến việc xây dựng nội dung, chương trình và lựa chọn phương thức đào tạo cụ thể
Như vậy, ba mục tiêu trong một là đặc thù đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT Mục tiêu đó làm cho quá trình đào tạo giảng viên ở đây khác biệt so với tất cả các cơ sở đào tạo giảng viên khác trong cả
Trang 34là dựa vào chất lượng nắm tri thức, tính nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo và phương pháp giải quyết các vấn đề mâu thuẫn trong học tập, trong thực tiễn đặt
ra Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV ở Trường ĐHCT hiện nay, bên cạnh việc trang bị cho học viên tri thức khoa học,
thì cần thiết phải phát triển tư duy cho họ, đặc biệt là TDPB TDPB sẽ giúp họ
học tập, tiếp thu và tích lũy tri thức có hiệu quả cao; đồng thời nâng cao khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra Ngoài ra, TDPB có ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến khả năng lĩnh hội tri thức,
kỹ năng nghề nghiệp, cũng như rèn luyện năng lực sư phạm của họ
Từ những cơ sở lý luận phân tích trên chúng ta có thể quan niệm:
TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT là tổng hòa những tri thức, tình cảm, bản lĩnh, phương pháp tư duy và tư chất cá nhân của học viên được huy động để phân tích, đánh giá và tìm hiểu thông tin theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra, sau đó lập luận và chứng minh lập luận đó để đưa ra kết luận nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chân thực của vấn đề
Như vậy, TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường
ĐHCT là tổng hợp các yếu tố tạo nên TDPB của họ Nó không chỉ biểu hiện trong quá trình nhận thức đúng, mà còn biểu hiện ở phương pháp và cách thức tiến hành, ở cả quá trình xử lý thông tin cũng như kết quả hoạt động thực tiễn
Trang 3529
Để có TDPB cần sự tương tác giữa các yếu tố: vốn kiến thức, tư chất, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất nhân cách… tạo cơ sở cho sự hình thành và phát
triển TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT đáp
ứng khả năng nhận thức ở trình độ lý luận, từ đó vận dụng tri thức lý luận vào quá trình học tập mang lại hiệu quả cao
TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản sau:
Một là, trình độ tri thức (trong đó có kiến thức về TDPB)
Tri thức của nhân loại hết sức phong phú và đa dạng bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau Nói đến trình độ tri thức là nói đến số lượng và chất lượng thông tin mà chủ thể thu nhận và tích luỹ được trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn Chỉ khi nào người học đạt tới mức độ hiểu sâu sắc về bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, thì khi đó mới có
đủ cơ sở để nhận thức và hoạt động sáng tạo Tri thức thực tiễn, tri thức lý luận, tri thức nghề nghiệp là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong năng
lực tư duy của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT, thiếu
những tri thức đó tư duy dễ xa rời thực tiễn, phi thực tiễn, tư duy giáo điều máy móc Theo đó, trình độ tri thức (trong đó có kiến thức về TDPB) là cơ sở, nền tảng để hình thành và phát triển TDPB của đội ngũ học viên này
Hai là, trải nghiệm, cảm xúc, tình cảm, ý chí, bản lĩnh và thái độ, tinh thần phản biện
Sự trải nghiệm trong cuộc sống và hoạt động thực tiễn là nền tảng để con người đúc rút kinh nghiệm và khái quát thành tri thức, dự báo xu hướng vận động của sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực, nó là nguồn gốc tạo
ra cảm xúc, tình cảm
Còn cảm xúc, tình cảm là hình thức phản ánh hiện thực khách quan, thông qua trải nghiệm đối với các sự vật, hiện tượng liên quan đến thỏa mãn nhu cầu của cá nhân Đó là cái biểu hiện thái độ của người học viên đối với hiện thực
Trang 3630
khách quan, nảy sinh trong quá trình học tập và có vai trò kích thích họ hứng thú, say mê tìm tòi sáng tạo, đồng thời nó là động lực của mọi năng lực tư duy, trong đó có TDPB Với TDPB đòi hỏi người học phải có khả năng làm chủ được cảm xúc của bản thân và hiểu cảm xúc của người khác, có khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình
Ngoài ra, ý chí và bản lĩnh là một trong những phẩm chất quan trọng nói lên lòng quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để đạt được mục đích trong hoạt động của học viên Nhờ có ý chí, nghị lực mà họ tích cực trong hoạt động, điều khiển hành vi, hoạt động của mình cho phù hợp và đạt được mục đích Vì vậy, muốn có TDPB cần có ý chí, bản lĩnh và lòng dũng cảm để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua chính mình trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái
cũ, giữa cái tiến bộ, hợp quy luật với cái lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ Có bản lĩnh và ý chí vững vàng sẽ giúp người học xác định động cơ, thái độ học tập đúng đắn, thôi thúc họ tích cực tìm tòi sáng tạo trên tinh thần phản biện, tích luỹ kinh nghiệm, cập nhật thông tin, luôn luôn suy nghĩ mài sắc năng lực tư duy, có bản lĩnh tìm chân lý, bảo vệ chân lý, lòng say mê hứng thú với nghề nghiệp “Có chí làm thì quyết tìm được việc làm và quyết làm được việc” [20, tr 186] Như vậy, có bản lĩnh, ý chí vững vàng và thái độ, tinh thần phản biện trong học tập là
cơ sở, nền tảng để hình thành và củng cố phát triển TDPB của học viên Ngược lại, nếu ý chí, bản lĩnh thiếu vững vàng, không có thái độ, tinh thần phản biện trong học tập, thì họ sẽ dễ nản chí khi gặp khó khăn, rơi vào trạng thái thụ động, tạo sức ỳ lớn trong tư duy nên không thể nào có được TDPB
Ba là, phương pháp tư duy, kỹ năng TDPB
Phương pháp tư duy có vai trò quan trọng đối với nhận thức, đó là cách thức, con đường tiếp cận, nghiên cứu đối tượng, có ảnh hưởng to lớn đến kết quả tư duy Phương pháp tư duy khoa học tiên tiến thường đem lại kết quả tư duy đúng đắn và ngược lại Bởi vì, phương pháp tư duy là biểu hiện năng lực
tư duy, nếu phương pháp tư duy lạc hậu, không khoa học thì sẽ không thể có khả năng phản biện trong tư duy Nói cách khác, TDPB không thể phát triển
Trang 3731
được nếu không có phương pháp tư duy khoa học tiên tiến Bên cạnh đó, với
kỹ năng TDPB, học viên sẽ biết suy nghĩ, lập luận một cách hệ thống, lôgíc, sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức tại trường
Bốn là, tư chất cá nhân
Tư chất cá nhân là phẩm chất tâm sinh lý của mỗi cá nhân, là tổng hợp hữu cơ các yếu tố bẩm sinh, tự nhiên di truyền như mã gen, khí chất, ngưỡng tâm lý, sự thông minh, linh hoạt, nhanh nhạy, năng khiếu Tư chất cá nhân là nền tảng vật chất tự nhiên của các yếu tố chủ quan, cái rất cần thiết cho sự phát triển TDPB của học viên đào tạo giảng viên Chính yếu tố này làm cho mỗi cá nhân có tốc độ phát triển TDPB khác nhau Tuy nhiên, tư chất cá nhân chỉ có thể phát huy tác dụng trên cơ sở nền tảng của tri thức; dưới sự thúc đẩy của ý chí, bản lĩnh, cảm xúc, tình cảm; thông qua quá trình học tập rèn luyện
Các yếu tố trên có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Tuy nhiên, mỗi yếu tố có vai trò không ngang bằng nhau Trong đó, trình độ tri thức là yếu tố giữ vai trò quyết định, chi phối đến sự phát triển của các yếu tố khác; bản lĩnh, ý chí, cảm xúc, tình cảm được xem như là động cơ thúc đẩy sự phát triển của các yếu tố; tư chất
cá nhân là nền tảng vật chất; phương pháp tư duy là cái biểu hiện của TDPB
Tư duy phản biện của người học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV
Trường ĐHCT được biểu hiện trên những nội dung cơ bản sau:
- Biết suy xét cẩn thận, cân nhắc hợp lý các tiền đề và mối quan hệ với các kết quả khi tìm hiểu một vấn đề hoặc thực hiện một nhiệm vụ
- Biết đề xuất những câu hỏi và vấn đề quan trọng khi cần thiết, diễn đạt chúng một cách rõ ràng và chính xác
- Sẵn sàng xem xét các thông tin khác nhau và cân nhắc chúng một cách thận trọng với thái độ hoài nghi tích cực Có khả năng lựa chọn các thông tin đã có, chế biến các thông tin mới để đánh giá tính hợp lý của cách phát hiện vấn đề, cách giải quyết vấn đề
Trang 3832
- Có khả năng đánh giá các quan điểm và sẵn sàng tranh luận Có khả năng xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng chúng để đánh giá các ý tưởng, các giải pháp Chỉ thực hiện đánh giá khi mà tất cả các thông tin đã được thu thập một cách đầy đủ và được cân nhắc kĩ lưỡng
- Biết thu thập và đánh giá những thông tin liên quan, tóm tắt những ý tưởng để giải thích chúng một cách có hiệu quả Đưa ra những kết luận và những cách giải quyết tốt, kiểm tra xem chúng có phù hợp với những chuẩn
đã có hay không; biết đánh giá tính tối ưu của cách giải quyết vấn đề
- Có khả năng loại bỏ những thông tin sai lệch và không có liên quan Liên hệ một cách hiệu quả với những cách giải quyết khác cho những vấn đề phức tạp
- Có khả năng điều chỉnh ý kiến và hoạt động khi những sự việc mới được tìm ra
1.2.2 Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Chính trị
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa bồi dưỡng là: “Làm cho khoẻ thêm, mạnh thêm Làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [7, tr 191] Như vậy, bồi dưỡng theo nghĩa chung nhất là những hoạt động tác động của chủ thể vào đối tượng, làm cho đối tượng có phẩm chất, năng lực tốt hơn, giỏi hơn Có thể hiểu bồi dưỡng là hoạt động có mục đích nhằm bổ sung, phát triển, hoàn thiện những năng lực và phẩm chất cần có của đối tượng bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội Nội dung bồi dưỡng bao gồm cả về phẩm chất, năng lực và phương pháp, hình thức bồi dưỡng rất đa dạng, phong phú
Từ khái niệm TDPB của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV
Trường ĐHCT và khái niệm bồi dưỡng đã trình bày ở trên, chúng ta có thể quan niệm: Bồi dưỡng TDPB cho học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT là tổng hợp các cách thức, biện pháp của các lực lượng giáo dục trong Nhà trường nhằm bổ sung, phát triển, nâng cao TDPB để họ hoàn
thành tốt nhiệm vụ học tập
Trang 3933
Quan niệm trên đây chỉ rõ:
Mục đích bồi dưỡng TDPB của đội ngũ học viên đào tạo giảng viên
KHXH&NV Trường ĐHCT là phát triển ở họ tính tự giác, tích cực, năng lực
tư duy độc lập, TDPB và TDST trong học tập lên một trình độ mới cao hơn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
Chủ thể bồi dưỡng bao gồm: Lãnh đạo, chỉ huy các cấp; các cơ quan
chức năng, các tổ chức có liên quan; giảng viên KHXH&NV và chính bản thân đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Mỗi chủ thể có vai trò,
vị trí riêng, nhưng suy cho cùng, bản thân người học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV là chủ thể chủ yếu và trực tiếp quyết định
Chủ thể lãnh đạo là hệ thống tổ chức đảng ở Trường ĐHCT, từ Đảng
uỷ Nhà trường đến chi uỷ, chi bộ các cơ quan đơn vị, các khoa giáo viên trong Nhà trường Chủ thể lãnh đạo có vai trò quyết định đến chất lượng hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng TDPB cho học viên của Nhà trường nói chung và học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV nói riêng Thông qua đó có tác động tích cực, mạnh mẽ đến nhận thức, trách nhiệm và hoạt động của các chủ thể khác trong quá trình bồi dưỡng
Chủ thể chỉ huy, quản lý là hệ thống tổ chức chỉ huy, quản lý các cấp
ở Trường ĐHCT, từ Ban Giám hiệu đến Thủ trưởng các cơ quan chức năng liên quan và chỉ huy các khoa, các bộ môn Chủ thể quản lý có vai trò xác lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, điều hành toàn bộ quá trình học tập của học viên tạo ra sự thống nhất, nhịp nhàng giữa các chủ thể, giữa các khâu, các bước nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy quá trình đó đạt hiệu quả cao Nếu chủ thể chỉ huy, quản lý có trình độ năng lực quản lý, phương pháp quản lý khoa học phù hợp với học viên sẽ khích lệ họ tích cực học tập, tìm tòi sáng tạo Ngược lại, nếu phương pháp quản lý không khoa học, không phù hợp với đặc điểm tâm lý của đối tượng học viên sẽ làm mất đi tính tích cực học tập, mất đi sự thi đua tích cực trong hoạt động của học viên, từ đó làm hạn chế khả năng tư duy, TDPB của họ
Trang 4034
Các khoa giáo viên là lực lượng trực tiếp trong xây dựng, hướng dẫn bồi dưỡng TDPB cho học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, giảng viên các khoa chuyên ngành có tác động quan trọng đến quá trình bồi dưỡng này Người giảng viên có trình độ vững vàng khả năng sư phạm tốt, có tư duy tốt, có nghệ thuật sư phạm sẽ giúp học viên phát huy được tính tích cực học tập và phát triển TDPB của mình Tuy nhiên, nếu giảng viên không tích cực, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đủ trình độ khơi dậy tinh thần phản biện của học viên thì sẽ tạo ra sự bị động, làm mất đi sự hào hứng, sáng tạo, mạnh dạn trong tư duy của họ
Chủ thể của hoạt động tự bồi dưỡng TDPB là đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Trường ĐHCT Trong quá trình tự bồi dưỡng TDPB, mỗi học viên vừa với tư cách là đối tượng được tiếp nhận những tác động của các chủ thể khác, vừa với tư cách là một chủ thể đặc biệt - chủ thể tự bồi dưỡng để chuyển hoá những tác động của các chủ thể khác thành động lực bên trong thúc đẩy TDPB của mình Họ là chủ thể chủ yếu, trực tiếp có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình bồi dưỡng TDPB
Đối tượng bồi dưỡng là đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV
Trường ĐHCT Trong quá trình bồi dưỡng, đội ngũ học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV vừa là đối tượng trực tiếp nhận sự bồi dưỡng, vừa là chủ thể của hoạt động tự bồi dưỡng
Nội dung bồi dưỡng:
- Kiến thức về TDPB: Giúp học viên hiểu thêm về nguồn gốc văn hóa, tâm lý và sinh lý của quá trình TDPB
- Thái độ, tinh thần phản biện: TDPB đòi hỏi học viên biết hoài nghi khoa học, biết đặt câu hỏi, kiểm chứng những quan điểm, niềm tin của bản thân đối với những vấn đề trong học tập, cũng như trong cuộc sống Thái độ này thể hiện tính độc lập, tự chủ trong tư duy của họ
- Kỹ năng về TDPB: Giúp học viên biết suy nghĩ, lập luận một cách hệ thống, lôgíc, sáng tạo