1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng trong truyện kiều của nguyễn du

115 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi các biểu tượng nghệ thuật ấy có vị trí to lớn trong việc giúp người nghiên cứu dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, dễ dàng nắm bắt thế giới nghệ thuật của nhà văn, và tất nhiên cũng sẽ dễ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THÙY LINH

BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ THÙY LINH

BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Nho Thìn

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy - cô giáo Khoa Văn học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi

vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy - cô giáo

Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Trần Nho Thìn, thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở thầy một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi đến thầy sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất

Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên

và ủng hộ Cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp những người luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 Khái lược về biểu tượng 8

1.1.1 Khái niệm biểu tượng 8

1.1.2 Một số quan niệm về biểu tượng 10

1.1.3 Đặc trưng của biểu tượng 14

1.1.4 Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình đặc biệt 16

1.2 Cuộc đời và thời đại Nguyễn Du 27

1.2.1 Cuộc đời 27

1.2.2 Thời đại 28

1.3 Khái quát về Truyện Kiều 30

1.3.1 Nguồn gốc Truyện Kiều 30

1.3.2 Hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều 31

1.3.3 Đặc trưng thể loại 32

1.3.4 Đặc trưng bút pháp trung đại 33

Tiểu kết chương 1: 33

Chương 2: CÁC LOẠI BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 35

2.1 Biểu tượng diễn tả thân phận của con người trong xã hội phong kiến 35

2.1.1 Biểu tượng “bèo”, “cánh bèo”, “bèo bọt”, “bèo mây” 36

2.1.2 Biểu tượng dây cát, sắn bìm, cát đằng , đằng la 39

2.1.3 Biểu tượng con ong, cái kiến, thân lươn 40

2.1.4 Biểu tượng “hoa” 43

2.2 Các biểu tượng diễn tả xã hội 49

2.2.1 Biểu tượng nắng mưa 50

2.2.2 Biểu tượng gió mưa 53

Trang 5

2.2.3 Biểu tượng sông nước 54

2.2.4 Biểu tượng biển(bể) 58

2.2.5 Biểu tượng sóng 60

2.2.6 Biểu tượng cát 61

2.2.7 Biểu tượng tuyết sương 62

2.2.8 Biểu tượng nghệ thuật bụi, bụi hồng, bụi trần, hồng trần; phong trần 63

2.2.9 Biểu tượng miệng hùm nọc rắn 67

2.2.10 Biểu tượng địa ngục 68

Tiểu kết chương 2: 70

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 73

3.1 Phân loại các nhóm chất liệu tạo biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 73

3.2 Tính hệ thống của biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 74

3.2.1 Mối quan hệ trong quan sát thực tế và nghĩa biểu tượng và Mối quan hệ giữa các biểu tượngtrong Truyện Kiều của Nguyễn Du 74

3.3 Sự vận động của hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 77

3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 81

3.4.1 Biểu tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hệ thống ngôn ngữ độc đáo 81

3.4.2 Xây dựng các biểu tượng nghệ thuật trên cơ sở ẩn dụ 84

Tiểu kết chương 3: 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 98

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu biểu tượng ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nghiên cứu biểu tượng văn học chiếm một phần quan trọng Khi nghiên cứu thơ ca người ta không thể bỏ qua nghiên cứu về hệ thống biểu tượng trong tác phẩm Bởi các biểu tượng nghệ thuật ấy có vị trí to lớn trong việc giúp người nghiên cứu dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, dễ dàng nắm bắt thế giới nghệ thuật của nhà văn, và tất nhiên cũng sẽ dễ dàng hiểu một cách hoàn chỉnh nhất về thông điệp mà tác giả muốn gửi đến Từ đó, người nghiên cứu còn hiểu thêm về phong cách của tác giả, về nét văn hóa đặc trưng của đất nước, của dân tộc Chính vì vậy, để nhìn nhận đúng đắn và có cơ sở khoa học về giá trị của tác phẩm và vai trò của nhà văn trong nền văn học dân tộc rất cần sự khảo sát, đánh giá, phân tích cấu trúc biểu tượng trong các tác phẩm thơ ca Và trong những năm gần đây, vấn đề biểu tượng nghệ thuật, cấu trúc biểu tượng trong tác phẩm văn chương

đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Với tư cách là một tín hiệu của thời gian, biểu tượng nghệ thuật mang truyền thống văn hóa của dân tộc, nối kết nhân loại và gắn liền với phong cách nhà văn Trong văn học biểu tượng xuất hiện như một tất yếu của tư duy sáng tạo, thủ pháp nghệ thuật và khơi gợi những ý nghĩa sâu xa Tuy ở Việt Nam công việc nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca chỉ mới bắt đầu nhưng đã hứa hẹn nhiều triển vọng

1 Trong nền thơ ca Việt Nam thế kỉ XVIII, Nguyễn Du là nhà thơ tiêu biểu và có nhiều đóng góp đáng kể Khó mà mô tả đầy đủ những đóng góp của Nguyễn Du trên phương diện nghệ thuật đối với nền văn học dân tộc Vì

ở mỗi góc nhìn lại có thể chỉ ra điểm này điểm khác Nếu ta coi yếu tố nghệ

Trang 7

thuật gắn liền với quan niệm về thế giới, về con người thì có thể tập trung vào hai vấn đề chính yếu: đó là yếu tố trữ tình, với những khám phá, biểu hiện nội

tâm, cảm xúc mới mẻ trong thơ chữ Hán, còn với Truyện Kiều, đó là mô hình

tự sự của thơ Nôm nhấn mạnh chủ nghĩa trữ tình, xu hướng khám phá phép

biện chứng của tâm hồn Trong Truyện Kiều, chúng ta thấy có những hình ảnh

xuất hiện nhiều lần, mang giá trị tượng trưng và trở thành chìa khóa mã hóa thế giới nghệ thuật của nhà thơ Những hình ảnh thực đó của đời sống con người đã được hiện lên với tất cả các nét chân mộc và “điêu huyền” của nó, phù hợp với cảm xúc, quan niệm thẩm mỹ, góp phần đem lại nét riêng, độc đáo của phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Du

2 Nguyễn Du là một nhà thơ lớn và có nhiều đóng góp cho văn học dân tộc Thơ của Nguyễn Du thu hút được sự quan tâm, đánh giá, phê bình của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu văn học trong và ngoài nước Vì thế, từ trước đến nay đã có nhiều bài trên các sách, báo, tạp chí, trang website điện tử viết về sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Du Đa số các bài viết đều làm nổi bật nên những đặc sắc, thành công cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện, đồng thời cũng chỉ ra được vị trí mỗi thể loại thơ chữ Hán, chữ Nôm của Nguyễn Du Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về sự nghiệp thơ văn của ông đã có rất nhiều và mang tính chuyên sâu Song việc

nghiên cứu Biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thì vẫn còn là một

đề tài mới, đáng được quan tâm Chúng tôi, muốn giải mã các hình ảnh biểu tượng để có được chìa khóa đi vào tác phẩm, khám phá được những mạch ngầm tư tưởng, những cách tân nghệ thuật mới mẻ của Nguyễn Du Từ đó, khẳng định đóng góp quan trọng của ông đối với nền văn học nước nhà trong lĩnh vực thơ ca

3 Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo vĩ đại, là tác giả có tài năng nghệ thuật xuất sắc Có nhiều cách tiếp cận các giá trị này, trong đó có cách đọc từ

Trang 8

góc nhìn ký hiệu học, nghiên cứu biểu tượng Mục đích của nghiên cứu biểu tượng là để nhận chân giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Tìm

hiểu Biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với việc khảo sát, thống

kê, giải mã những hình ảnh biểu tượng xuất hiện trong Truyện Kiều sẽ giúp

chúng ta có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về giá trị tư tưởng nhân văn, nhất là về cái nhìn về thân phận con người nói chung và người phụ nữ nói riêng Hy vọng, đây sẽ là một hướng đi mới, có triển vọng, đem lại kết quả nghiên cứu khả quan và có giá trị

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu

Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã biểu tượng nghệ thuật

trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, luận văn hướng tới các mục đích sau:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những biểu tượng trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du, thấy được vai trò của các biểu tượng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng nghệ thuật của Truyện Kiều trong bối cảnh xã hội

Việt Nam trong thời kỳ phong kiến

- Trên cơ sở đó, góp phần lí giải và phân tích các yếu tố tạo nên sự độc

đáo, sức hấp dẫn và phần đóng góp có giá trị trong Truyện Kiều của Nguyễn

Du Từ đó khẳng định được tài năng, vị trí của nhà thơ đối với Văn học trung đại Việt Nam

- Với đề tài Biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chúng tôi hướng

tới khảo sát, khái quát một số biểu tượng diễn tả thân phận con người trong xã hội phong kiến và biểu tượng diễn tả xã hội phong kiến được tác giả sử dụng

trong Truyện Kiều

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung, vấn đề lịch sử nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều đã được

nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Càng ngày nó càng được sáng tỏ và ngày càng có nhiều các khuynh hướng nghiên cứu khác nhau

Trang 9

Trong xu hướng nghiên cứu về biểu tượng hiện nay, một số khóa luận và luận văn bắt đầu nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn và thơ ca của các tác giả như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Chế Lan Viên, Tế Hanh,

Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ Bàn về Biểu tượng trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du được coi là một vấn đề mới và hầu như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đã làm Có chăng chỉ có một số các bài báo, bài nghiên cứu có bàn luận về vấn đề này như:

Nhà nghiên cứu GS TS Trần Nho Thìn là người mà cho đến nay có

nhiều bài viết nhất về Biểu tượng trong truyện Kiều của Nguyễn Du Bài viết

về Hoa trong Truyện Kiều đăng trên website: vanhoanghean.com.vn, ông đã

đưa ra những cách hình dung và ý nghĩa biểu tượng của “hoa” như: biểu

tượng cho quan hệ tình cảm nam nữ mang tính chất dục tính (Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng/ Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang) Ông cũng có đề cập

đến những biểu tượng diễn tả thân phận nhỏ bé, mong manh của con người như con ong, cái kiến, thân lươn, dây leo, cánh bèo,hạt cát… hay biểu tượng

về xã hội thù địch với con người, con người bị ném vào vòng xoáy cuộc đời

mà mọi sợi dây liên hệ của con người bị đứt tung (chân trời góc bể, mặt nước cánh bèo, đất khách quê người…) , biểu tượng về xã hội phong kiến như

miệng hùm, nọc rắn…trong cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX Những bài viết của ông đã có tính chất gợi mở để chúng tôi thực hiện luận văn này Bên cạnh đó phải kể đến cuốn Thi pháp truyện Kiều của

Trần Đình Sử Trong cuốn sách này ông đã chỉ ra những biểu tượng, những mẫu gốc mà Nguyễn Du dùng để diễn tả không gian lưu lạc và thân phận con người trong không gian ấy Ngoài ra, cũng bàn về “hoa” và các ý nghĩa biểu tượng của nó, Thạc sĩ Ngôn ngữ học Phan Thị Huyền Trang trong bài viết

Khả năng liên tưởng nghĩa từ “hoa” trong Truyện Kiều được đăng tải trên

website: ngonngu.net, năm 2008 Tác giả bài viết đã thống kê thấy “hoa”

Trang 10

trong Truyện Kiều xuất hiện tới 133 lần, với các ý nghĩa biểu tượng như:

“hoa” - hiện thân cho sự sống, “hoa” - thiên đường nơi mặt đất, “hoa” - phút giây thoáng chốc, “hoa” - thực thể thụ động, “hoa” - bộ phận cơ thể con người Như vậy, đứng từ quan điểm của nhà ngôn ngữ tác giả đã có những phát hiện đầy lan tỏa của từ “hoa” dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa

Trong luận văn Thạc sĩ Một số biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa, tác giả Lê Thị Sâm có thống kê ra được một số biểu

tượng dùng hình tượng thiên nhiên như: trời, trăng, gió, nước, cây hoa; một số biểu tượng trong đời sống như: đồng tiền, ngọn đèn, căn buồng, nước mắt Đây được coi là đề tài khá thú vị, tuy nhiên, do hạn chế về sự hiểu biết hay vì

lí do gì đó mà tác giả của luận văn chưa triển khai được hết giá trị của đề tài Như vậy, khai thác về biểu tượng trong Truyện Kiều đã ít nhiều nhận

được sự quan tâm và chia sẻ của các tác giả Tuy nhiên, để nghiên cứu chi tiết

và cụ thể biểu tượng trong Truyện Kiều mang tính chất hệ thống và toàn diện

thì chưa có một công trình nghiên cứu nào Nhận thấy tầm quan trọng của vấn

đề, chúng tôi cũng muốn góp phần mang đến một hướng nghiên cứu về biểu

tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ mục tiêu của luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Đây là phương pháp đầu tiên và quan trong mà chúng tôi đề cập tới, được sử dụng xuyên suốt trong luận văn Sử dụng phương pháp này chúng tôi

đã thống kê số lần xuất hiện của biểu tượng trong tác phẩm

4.2 Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học

Với việc tìm hiểu về cuộc đời và thời đại Nguyễn Du, nguồn gốc và

hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều, đặc trưng của bút pháp trung đại sẽ cho thấy

Trang 11

ảnh hưởng của những yếu tố đó đến việc ra đời kiệt tác Truyện Kiều, cụ thể là dẫn đến việc sử dụng biểu tượng trong Truyện Kiều

4.3 Phương pháp hệ thống

Sử dụng phương pháp này tức là đặt biểu tượng trong Truyện Kiều trong

mối quan hệ so sánh với các biểu tượng trong văn học dân gian và văn học bác học

4.4 Phương pháp ký hiệu học

Đây là phương pháp cơ bản, cũng là phương pháp chính yếu quan trọng nhất của luận văn này Thông qua các ký hiệu ngôn ngữ, tức là thông qua hình thức để phát hiện, giải mã nội dung mà tác giả muốn biểu đạt

5 Đóng góp của luận văn

Giải quyết vấn đề Biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, luận

văn có một số đóng góp như sau:

- Xác định vị trí của biểu tượng ngôn từ nghệ thuật trong hệ thống biểu

tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều

- Xác định được các phạm trù nghĩa biểu trưng đặc thù của các hệ biểu

tượng trong Truyện Kiều đồng thời thấy được sự luân chuyển, thay đổi nghĩa

của các biểu tượng do sự tác động của từng hoàn cảnh cụ thể Chúng tôi, đưa

ra lí giải biểu tượng không phải là một yếu tố bất biến, một hằng thể, chứa đựng một hoặc một số ý nghĩa đã quá quen thuộc mà như là một yếu tố khả biến trong quan hệ giữa những hướng nghĩa biểu trưng mang tính khái quát và

sự triển khai các biến thể ý nghĩa của các biểu tượng

-Về mặt lí luận, hướng nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu về

Biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng có thể vận dụng hướng

nghiên cứu này để tìm hiểu các hệ biểu tượng nghệ thuật và biểu tượng thơ ca nói chung

Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị thực tiễn trong việc giảng dạy,

Trang 12

tìm hiểu Truyện Kiều của Nguyễn Du trên phương diện tích hợp (nội dung,

nghệ thuật, văn hóa, ngôn ngữ, văn học)

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn bao gồm trang và được chia thành 3 chương chính:

Chương 1: Khái lược về biểu tượng và cuộc đời sự nghiệp Nguyễn Du Chương 2: Các loại biểu tượng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Trang 13

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái lược về biểu tượng

1.1.1 Khái niệm biểu tượng

Khoa học nghiên cứu về biểu tượng đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các ngành, các lĩnh vực khác nhau Theo

Đinh Hồng Hải trong bài viết về Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng

từ ký hiệu học đến nhân học biểu tượng (phần 1): “Khoa học xã hội nói chung

và khoa học nghiên cứu biểu tượng nói riêng đã được du nhập vào Việt Nam

từ hơn 100 năm qua theo hướng tiếp cận hàn lâm của phương Tây Cho đến nay các nhà nghiên cứu khoa học xã hội trên bình diện văn bản học (như văn học, sử học, triết học, ngôn ngữ học…) đã đạt được khá nhiều thành tựu, trong khi nghiên cứu biểu tượng như (ký hiệu học, nhân học biểu tượng…) dường như vẫn đang là mảnh đất còn bỏ trống với số lượng các công trình nghiên cứu đếm trên đầu ngón tay” [37, 1] Để hiểu rõ hơn về khái niệm biểu tượng chúng tôi xin mượn lời của thạc sĩ Đoàn thị Hồng Sương :

“Biểu tượng là một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần nhân loại Ngày nay, nghiên cứu biểu tượng đã và đang trở thành lĩnh vực được nhiều nhà khoa học ở nhiều ngành khác nhau đặc biệt quan tâm Thế giới biểu tượng nói chung góp phần không nhỏ trong quá trình hình thành

và phát triển của một cộng đồng, một dân tộc Biểu tượng mang lại những đặc sắc về văn hóa cho mỗi quốc gia Mỗi một nền văn hóa trên thế giới này đều

là sự tổng hòa của các hệ thống biểu tượng Jean Chevalier, tác giả của Từ

điển Biểu tượng văn hóa thế giới từng nhận xét rằng: “Nói chúng ta sống

trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” Như thế, vai trò của biểu tượng đã được đánh giá

khá chính xác với những gì chúng đóng góp trong đời sống của con người

Trang 14

Việc đi sâu vào thế giới biểu tượng và mối quan hệ của biểu tượng với đời sống con người là một trong những phương thức giúp con người nhận ra giá trị của chính mình trong vũ trụ Thế giới biểu tượng vẫn còn là một thế giới đầy kì ảo, mê hoặc và luôn có sức hấp dẫn đặc biệt Tiếp cận và lý giải nó là mong muốn của nhân loại trên con đường đi đến tương lai” [98, 12]

Vậy Biểu tượng là gì? “Biểu tượng, theo tiếng Hán, biểu là bày ra, trình bày; tượng là hình ảnh, hình dạng Biểu tượng là một hình ảnh cụ thể được bày ra, được thể hiện để nhằm biểu thị một ý nghĩa trừu tượng Thuật ngữ chỉ biểu tượng trong tiếng Anh là symbol có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là symbollon (có nghĩa là kí hiệu, dấu hiệu để nhận ra nhau là một)

Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với những nội hàm khác nhau Từ xa xưa, biểu tượng đã được dùng để chỉ một vật được cắt, tách ra làm đôi (thường là mảnh sứ, gỗ hoặc kim loại) Mỗi mảnh này được giữ bởi hai người (chủ - tớ, người cho vay - người vay, tình nhân, chồng - vợ, …) Sau này, khi hai mảnh vỡ ấy có cơ hội ráp lại với nhau thì họ sẽ nhận ra mối quan hệ cũ Như vậy biểu tượng chia ra và kết lại với nhau chứa đựng hai ý tưởng phân li và tái hợp Điều này cũng đồng nghĩa rằng mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ [98, 12] Như vậy mọi biểu tượng luôn hàm chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp, chính điều này tạo nên tính biến ảo trong ý nghĩa của biểu tượng, khiến cho tư duy của ta luôn phải vận động truy tìm, liên tưởng để thấy được ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong lòng nó Sau này, khi khoa học về biểu tượng được hình thành và phát triển hơn thì có rất nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra nhằm lí giải về ý nghĩa của biểu tượng, mối quan hệ và vai trò của biểu tượng trong đời sống của con người Sau đây, xin dẫn một vài ý kiến, nhận định của các nhà nghiên cứu:

Theo Từ điển Larousse cho rằng: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, bằng con vật sống động hay bằng đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu tượng,

Trang 15

nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó” Còn trong Dịch thuyết cương lĩnh của Chu Hy, nhà triết học đời Tống thì giải thích về khái niệm biểu tượng như sau: “Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia”, tức là dùng cái “có thể hiểu biết” để nói lên điều “khó có thể hiểu biết”, hay dùng

cái cụ thể để nói cái trừu tượng, dùng cái tĩnh để nói cái động, dùng cái hữu hình để nói cái vô hình

Theo phân tâm học Freud, biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng …

Tóm lại, các ý kiến trên ít nhiều đều có sự khác nhau, song về cơ bản, tất

cả đều chỉ ra rằng, biểu tượng nằm ở lớp bên trong, đằng sau, bên ngoài đối tượng mà ta nói đến Hay là cách thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa

nọ, hay là dùng một hình ảnh cụ thể để biểu đạt một ý niệm trừu tượng Như vậy biểu tượng phải có một ý nghĩa rộng lớn hơn, ý nghĩa tượng trưng, bên ngoài chính bản thân nó Nói cụ thể hơn biểu tượng là sự thống nhất của hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt có thể là một sự vật, một hiện tượng, một hình ảnh,… cụ thể trong hiện thực khách quan hoặc trong tưởng tượng của con người Cái biểu đạt nhằm mục đích thể hiện cái được biểu đạt, tức là thể hiện những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của con người về cuộc sống, xã hội, thế giới (có thể đang xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng còn ăn sâu trong đời sống tâm hồn con người)

1.1.2 Một số quan niệm về biểu tượng

1.1.2.1 Biểu tượng dưới góc độ triết học

Theo Từ điển triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các

Trang 16

hiện tượng đến giác quan” [113, 98]

Nhà triết học người Đức Friedch Hegel, khi bàn về biểu tượng đã cho

rằng: “Biểu tượng là sự vật bên ngoài, một dẫn liệu trực tiếp nói thẳng với trực giác chúng ta Tuy vậy, sự vật này không phải được lựa chọn và chấp nhận như nó tồn tại trong thực tế, vì bản thân nó Trái lại, nó được chấp nhận với một ý nghĩa rộng lớn hơn và khái quát hơn nhiều Do đó, phải phân biệt trong biểu tượng hai yếu tố: “ý nghĩa và biểu hiện Ý nghĩa là sự gắn liền với một biểu tượng hay một số sự vật cho dù nội dung của biểu hiện này hay sự vật này là cái gì Còn sự biểu hiện là một tồn tại cảm quan hay một hình ảnh nào đó” [43, 46]

Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong đầu óc con người Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình Vì thế, mỗi người sẽ có thế giới biểu tượng của riêng mình Thế giới biểu tượng ấy có phong phú hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống, năng lực hoạt động cá nhân trong việc chiếm lĩnh, thâm nhập vào thế giới xung quanh

1.1.2.2 Biểu tượng từ góc độ tâm lí học

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lí do một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức” [90, 67] Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lí, biểu tượng chỉ có thể

xuất hiện khi có những sự vật, sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan

của con người và nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan: “Biểu tượng là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn lưu giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật

Trang 17

vào giác quan ta đã chấm dứt” [90, 64] Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người: “Biểu tượng của tưởng tượng là một hình ảnh mới, được xây dựng từ những biểu tượng của trí nhớ,

nó là biểu tượng của biểu tượng” [43,12]; và nó có thể chuyển hóa thành biểu

tượng trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là ở thể loại thơ ca

1.1.2.3 Biểu tượng từ góc độ văn hóa

Mỗi một nền văn hóa được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và một

trong những yếu tố đó chính là biểu tượng Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều tác giả cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo ” Với cách hiểu

như vậy, biểu tượng chính là một trong những cơ sở để xác định đặc trưng của một nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa với nhau

Ngoài những đặc điểm trên đây, ta thấy mỗi nền văn hóa khác nhau thì

hệ thống biểu tượng cũng khác nhau, do đó biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa còn mang tính ổn định tương đối Như ta đã biết, cấp độ đầu tiên của biểu tượng là “mẫu gốc” Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau như trong thần thoại, truyền thuyết, lễ nghi, phong tục tập quán Vì vậy, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa luôn mang đậm hơi thở của dân tộc, của thời đại

1.1.2.4 Biểu tượng từ góc độ ngôn ngữ

Theo các nhà ngôn ngữ học thì “Biểu tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng chung” (Theo S X Pocxo, Dẫn theo Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam) F Saussure cho rằng: “Biểu tượng không hoàn toàn võ đoán, nó không phải cái trống rỗng”, đồng thời ông cũng thừa nhận biểu tượng thuộc vào

năng lực cá nhân nhưng luôn luôn chứa đựng một nội dung nhất định được

Trang 18

khái quát và chưng cất từ thực tiễn Do vậy, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng

1.1.2.5 Biểu tượng từ góc độ văn học

Nhìn từ góc độ văn học, có rất nhiều cách hiểu về biểu tượng, tựu chung lại có những cách hiểu như sau:

Văn học là nghệ thuật ngôn từ mà đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ phản ánh hiện thực đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm của con người thông qua hình tượng nghệ thuật Muốn làm được như vậy, nhà văn phải mã hóa ngôn

từ, tạo ra một hình thức “lạ hóa” nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật có giá trị Những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật này ra đời có sức sống

sẽ vượt lên ý nghĩa biểu đạt và làm thành biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa trong văn học Quan niệm này đề cập đến vấn đề biểu tượng gắn với những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần chú ý đến tính đa nghĩa của biểu tượng trong văn học vì đối lập với tư duy suy lý đơn nghĩa là một đặc trưng của tư duy nghệ thuật, nó còn phản ánh những mối quan hệ phong phú và sinh động của văn học hiện thực

Các nhà nghiên cứu lí luận văn học cho rằng: “Biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt” có tính đa nghĩa trong tác phẩm văn học Trong lĩnh

vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện biểu đạt có hiệu quả M Bakhin đã coi biểu tượng chính là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất

của các tác phẩm trữ tình với tiểu thuyết: “Chính sự vận động của biểu tượng thi ca sẽ giả định phải có một ngôn ngữ thống nhất, tương hợp trực tiếp với đối tượng của mình” [81, 54]

Trang 19

Như vậy, trong văn học dù được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò, giá trị khái quát

và tượng trưng của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm văn học

1.1.3 Đặc trưng của biểu tượng

Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu nhiều cách hiểu nhiều khía cạnh khác nhau

về biểu tượng Trong giới hạn luận văn, chúng tôi tiếp thu cách hiểu của TS

Nguyễn Thị Ngân Hoa: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm biểu tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không

bị rút gọn những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu trưng)

[48, 15] Căn cứ vào khái niệm này, chúng ta có thể xác định được một số đặc trưng cơ bản về biểu tượng như sau:

Thứ nhất, là mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng của

biểu tượng “mang tính lí do, tính tất yếu” Chẳng hạn “dòng sông” là một biểu

tượng thuộc hệ biểu tượng nước trong văn hóa nhân loại bởi những đặc điểm bản thể mang tính vật chất của thực thể này như nguồn nước, dòng chảy liên tục Và các ý nghĩa mà con người có thể liên tưởng từ thực thể thiên nhiên này như dòng chảy của thời gian, dòng chảy của cuộc đời, nguồn sống, nguồn chết, sức mạnh thanh tẩy, khả năng tái sinh có một mối quan hệ nội tại, tất yếu Như vậy, ở biểu tượng, giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn tồn tại mối quan hệ với bản chất Chính mối quan hệ mang tính có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng là điểm chú yếu để phân biệt biểu tượng với các tín hiệu

quy ước thuần túy đúng như J Chevailler đã chỉ ra rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một năng lực năng động tổ chức” [62, 420]

Trang 20

Thứ hai là, khác với các dấu hiệu, kí hiệu thông thường luôn mang tính đơn trị thì biểu tượng lại luôn mang tính đa trị bởi trong mối quan hệ giữa hai

mặt của biểu tượng, cái được biểu trưng “không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này” [62, 413] Nếu như các kí hiệu, dấu hiệu

thông thường, tỉ lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là 1:1 (một cái biểu đạt, một cái được biểu đạt) thì dung lượng giữa cái biểu trưng và cái được

biểu trưng trong biểu tượng không phải là tỉ lệ 1:1, “chỉ một cái biểu đạt giúp

ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc giản đơn hơn cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [62, 414], hay nói cách khác, trong biểu tượng

có sự “không thích hợp giữa tồn tại và hình thức sự ứ tràn của nội dung ra ngoài hình thức biểu đạt của nó” [62, 417]

Thứ ba là, theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa, biểu tượng còn có một đặc

trưng nữa là tính sản sinh: “Biểu tượng khác cơ bản với các dấu hiệu, kí hiệu khác (kể cả ngôn ngữ tự nhiên) ở chỗ, ngoài chức năng thay thế, chức năng biểu hiện, chức năng giao tiếp, chức năng quan trọng nhất của biểu tượng là chức năng thẩm mỹ: sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật” [48, 17] Con

đường sản sinh của biểu tượng ngôn ngữ bắt đầu từ “mẫu gốc” hay còn gọi là

“nguyên mẫu”, “nguyên hình huyền thoại”, “nguyên sơ tượng” hay “siêu mẫu” Trong thực tế cuộc sống “bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm to lớn của các thế hệ tổ tiên” có thể đi vào đời sống văn hóa và đời sống nghệ thuật Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng văn hóa khác nhau mà “dấu vết của nó có thể được tìm thấy trong các thần thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục” [48, 20] Còn khi đi vào nghệ thuật, từ một mẫu gốc, một biểu tượng gốc sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình Văn học là nghệ thuật ngôn từ nên cũng không nằm ngoài quy luật đó Chẳng hạn như biểu tượng “nước” nhưng khi đi vào trong các tác phẩm thơ nó sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình như: dòng sông, biển, suối,

Trang 21

mưa, sương, sóng, thác Trong các loại hình nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng bắt buộc phải rời xa đời sống, nguyên khởi của nó để khoác lấy cái vỏ âm thanh ngôn ngữ Để giải mã một biểu tượng nghệ thuật, hoặc cảm thụ một tác phẩm giàu tính biểu tượng, chúng ta cần hiểu rõ: tư duy biểu tượng luôn đối nghịch với tư duy khoa học, không vận hành “theo lối rút gọn từ cái bội đến cái đơn mà bằng lối bùng nổ từ cái đơn đến cái bội” [48, 19] Vì vậy, con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học sẽ phải đi từ cái cụ thể như ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật để tìm ra những cái hàm ẩn đằng sau những biểu tượng ngôn từ

Như vậy, từ những đặc trưng cơ bản của biểu tượng ta thấy giải mã biểu tượng chính là con đường để tiếp cận những giá trị đích thực của một tác phẩm văn học

1.1.4 Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình đặc biệt 1.1.4.1 Tính thống nhất giữa các biểu tượng và hình tượng

Văn học là hình thức nghệ thuật bằng ngôn từ, nó phản ánh hiện thực cuộc sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người thông qua các hình tượng nghệ thuật Bên cạnh đó, sức sống của tác phẩm văn học, tính đa nghĩa của một tác phẩm văn học một phần là nhờ các biểu tượng nghệ thuật Vậy hình tượng và biểu tượng khác nhau và có mối quan hệ với nhau ra sao?

Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc sống một cách sáng tạo, bằng những hình thức sinh động, cảm tính,

cụ thể như bản thân đời sống, thông qua đó nhằm lí giải, khái quát về đời sống, gắn liền với một ý nghĩa tư tưởng, cảm xúc nhất định, xuất phát từ lí tưởng thẩm mỹ của người nghệ sĩ Mỗi hình tượng nghệ thuật là một tế bào làm nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng nội dung cuộc sống, những thông tin về đời sống, những quan niệm, cảm xúc của tác giả Còn biểu tượng,

theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm biểu

Trang 22

tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng)

và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự vật tồn tại này (cái được biểu trưng)” [48, 15]

Để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa hình tượng và biểu tượng chúng tôi xin

đưa ra ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Văn Hậu trong bài viết về Tính hình tượng

và tính biểu tượng trong tác phẩm văn hóa- nghệ thuật: “Biểu tượng và hình

tượng là hai mặt biểu hiện tồn tại trong cùng một tác phẩm thuộc phạm trù nghệ thuật Chúng có mối tương quan và gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật Dưới góc độ nghệ thuật thì biểu tượng được xem là một dạng chuyển nghĩa trong ngôn từ nghệ thuật và

là một phạm trù thẩm mỹ Nó được xác lập bởi hai yếu tố cơ bản: một bên là hình tượng nghệ thuật (kí hiệu biểu thị), một bên thuộc về nghĩa bóng (kí hiệu ẩn dụ) Biểu tượng là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu và phải là một kí hiệu hàm nghĩa (đa nghĩa) Như vậy, mọi biểu tượng trước hết phải là hình tượng (kí hiệu biểu thị), và mọi hình tượng đều có thể trở thành biểu tượng (kí hiệu hàm nghĩa) Phạm trù biểu tượng nhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính bản thân nó (kí hiệu hiển ngôn) và luôn hàm chứa những ý nghĩa mang giá trị trừu tượng (kí hiệu mật ngôn)” [42, 3] Trong bài viết này tác giả đã dẫn giải những ý kiến của các nhà nghiên cứu khác để làm

rõ nhận định của mình Như C G Jung cho rằng: “Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải là một kí hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh” Henry Corbin cũng nhận định như sau: “Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác nhau với cái hiển nhiên lí tính; nó là “mật mã” của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói ra được cái không thể nắm bắt bằng cách

Trang 23

nào khác, nó không bao giờ có thể cắt nghĩa được một lần là xong mà cứ phải

“giải mã” lại mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần

là xong, mà đòi hỏi mỗi lần biểu diễn đều phải phát hiện ra cái mới” Theo

TS Nguyễn Thị Ngân Hoa: “Biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng nghệ thuật thơ ca trong những tác phẩm nhất định, phải được tổ chức lại thành các hình tượng với chất liệu đặc trưng cho từng ngành nghệ thuật” [48, 17] Và cuối cùng, qua tất cả những phân tích và dẫn giải trên,TS

Nguyễn Văn Hậu đã đưa ra những kết luận về mối liên hệ giữa tính hình tượng và tính biểu tượng của một tác phẩm nghệ thuật như sau: “Tóm lại, sự thống nhất giữa hai bình diện của một tác phẩm nghệ thuật - hình tượng nghệ thuật và hàm nghĩa của nó - có thể hoặc là đương nhiên, sẽ dẫn đến sự hình thành biểu tượng (hoặc là ẩn kín, hoặc là bộc lộ) Ở mức giới hạn của quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật như: ẩn dụ, phóng dụ, tỉ dụ, ngụ ngôn, các chi tiết nghệ thuật, hình tượng nhân vật, ngôn từ đều trở thành biểu tượng Song, quá trình biểu tượng hóa có được thực hiện hay không là còn tùy thuộc vào các điều kiện sau như: độ đậm đặc mang tính khái quát cao trong tác phẩm nghệ thuật; ý đồ của tác giả có muốn hướng tới sự biểu tượng hóa trong tác phẩm hay không; văn cảnh tác phẩm, khí nghĩa hàm của các hình tượng tự bộc lộ, không theo ý định của tác giả mà điều này còn bị quy định bởi logic tâm lí của tuyến nhân vật và sự phát triển

về mặt tình huống trong tác phẩm; văn cảnh văn học - nghệ thuật được quy định bởi thời đại và văn hóa, tức là lịch sử và tính nghệ thuật trong tác phẩm

Có thể nói, biểu tượng là hình ảnh tượng trưng mang tính chất thông điệp được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ngoài nó Biểu tượng có hai mặt: “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” Hai mặt này được kết hợp theo sự liên tưởng và theo một quan hệ ước lệ nào đó Biểu tượng bao giờ

Trang 24

cũng có: tính chất biểu hiện một cái gì bằng sự vật có hình ảnh; đại diện cho một cái gì đó, nhằm gợi lên một cái gì theo liên tưởng; tính ước lệ; mã (kí hiệu) và biểu hiện những giá trị mang tính nhân văn

Về mặt chức năng, biểu tượng còn mang tính thay thế (vật môi giới) Biểu tượng không những thay thế cho các đối tượng hiện thực, mà còn thay thế tất cả quá trình, cả hình tượng, ý niệm của con người Chức năng thay thế

là một trong những đặc điểm của biểu tượng Bên cạnh đó, nó còn có những thuộc tính và chức năng khác như: chức năng giáo dục, liên kết, dự báo, giao tiếp, thông tin Quá trình thay thế trong lĩnh vực nghệ thuật thường diễn ra một cách ước lệ và ẩn dụ, để nói lên một giá trị, một tư tưởng nào đó của con người Cũng như hình tượng nghệ thuật, biểu tượng cũng mang tính khái quát cao về các hiện tượng của đời sống Điều đó đã dẫn đến sự gần gũi với hình tượng nghệ thuật” [42, 3] Dựa trên tất cả những phân tích rất sâu sắc của TS Nguyễn Văn Hậu ta đưa ra kết luận: “Biểu tượng và hình tượng có mối quan

hệ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành một tác phẩm nghệ thuật mọi biểu tượng trước hết phải là hình tượng (kí hiệu biểu thị), và mọi hình tượng đều có thể trở thành biểu tượng (kí hiệu hàm nghĩa) Biểu tượng là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu và phải là một kí hiệu hàm nghĩa (đa nghĩa)” [42, 3]

1.1.4.2 Những yếu tố khác biệt giữa hình tượng và biểu tượng

Ở trên ta đã xem xét tính hình tượng và tính biểu tượng trên phương diện

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thì sau đây ta sẽ đi xem xét tính hình tượng

và biểu ở những yếu tố khác biệt TS Nguyễn Văn Hậu trong bài viết như ta

đã đề cập ở phần trên cũng đã có những phân tích rất sâu sắc và rõ nét về sự khác biệt giữa hình tượng và biểu tượng trong tác phẩm nghệ thuật : “Xét bên ngoài hình tượng và biểu tượng ít có sự khác biệt Biểu tượng tuy có sự tác động tương tác với hình tượng nhưng không đồng nhất hoàn toàn với hình

Trang 25

tượng và không phải mọi hình tượng đều trở thành biểu tượng Có thể nói hình tượng là một kí hiệu thông thường, còn biểu tượng lại là một loại siêu kí hiệu Nhìn chung, hình tượng và “nghĩa hàm” (đa nghĩa) là hai cực không tách rời nhau của một biểu tượng Bởi lẽ, tách khỏi hình tượng thì ý nghĩa sẽ mất tính biểu hiện, mà tách khỏi ý nghĩa thì hình tượng sẽ bị phân rã trở thành hình tượng thông thường, không còn là biểu tượng” [42, 5]

Do vậy, một hình tượng nghệ thuật chỉ dừng lại ở tính đơn nghĩa, chưa

có sự hàm nghĩa để trở thành một biểu tượng, thì đó chỉ là một hình tượng đơn thuần nghèo nàn về nội dung, kém về tính thẩm mỹ Nó có thể gây xúc động trong lòng người cảm thụ và sẽ mai một, không tồn tại lâu dài mãi với thời gian Chẳng hạn, hình tượng Chí Phèo và Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nếu thiếu “bát cháo hành” thì tác phẩm sẽ thiếu đi mất tính biểu tượng (giá trị nhân văn), mà chỉ còn lại tính biểu tượng (giá trị nghệ thuật) Hai nhân vật nói trên là hai hình tượng điển hình của tác phẩm, mang tính chất đơn nghĩa

Biểu tượng khác với hình tượng, bởi hình tượng chỉ mang tính đơn nghĩa, nó chỉ đại diện cho một đối tượng cụ thể, duy nhất, không thể nào khác được Tính đa nghĩa sẽ có hại cho hoạt động chức năng của hình tượng nghệ thuật (ký hiệu biểu thị)

Ngược lại với hình tượng, biểu tượng luôn mang tính đa nghĩa và nó bao hàm rộng hơn cái ý nghĩa mà người ta gán cho nó Điều đó không thể có được

ở dạng thức kí hiệu biểu thị Bởi lẽ, ở mỗi biểu tượng có một sức vang vọng cốt yếu và tự sinh Cái dư âm đó thúc giục ta liên tưởng tiếp theo để ta tìm ra chuỗi ý nghĩa mới Biểu tượng thực sự có tính cách tân Nó không dừng lại ở chỗ tạo nên những dư âm vang vọng đơn thuần, có sức liên tưởng mà còn thúc đẩy sự biến đổi về chiều sâu của ý nghĩa Thực chất của biểu tượng sẽ mất đi hoàn toàn nếu như khép lại sự bất tận về tính đa nghĩa của nó bằng sự

Trang 26

giải thích theo lối đơn nghĩa Tức là bằng sự giải thích cuối cùng cho một đối tượng” [42, 5 ] Như vậy ở đây một đặc điểm để phân biệt giữa biểu tượng và hình tượng là hình tượng chỉ mang tính đơn nghĩa, nó đại diện cho một đối tượng cụ thể, còn biểu tượng luôn mang tính đa nghĩa và nó bao hàm rộng hơn cái ý nghĩa người ta gán cho nó

Khi xác định sự khác biệt về mối liên hệ giữa hình tượng nghệ thuật và biểu tượng trong tác phẩm, cần nhấn mạnh bản chất hai mặt của biểu tượng Một mặt nó vẫn giữ mối liên hệ với việc thể hiện tính hiện thực (tính hình tượng); mặt khác nó mang tính tượng trưng (tính biểu tượng) biểu đạt về một giá trị, mang tính trừu tượng, phi hiện thực, khó cảm nhận được Hai quá trình này luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau Tính hai mặt của biểu tượng nói lên vai trò của tượng trưng trong nghệ thuật Biểu tượng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực phi lí đồng thời lại là phương tiện để khái quát

về một giá trị, một ý nghĩa nào đó của hiện thực Điều đó nói lên biểu tượng khi thì tách xa, khi lại xích gần với hình tượng nghệ thuật và nhiều khi nó lại

có những nét, những thuộc tính của hình tượng nghệ thuật Và nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, hình tượng nghệ thuật sẽ trở thành biểu tượng

Như vậy, một tác phẩm muốn có được vang vọng, sống mãi với thời gian thì luôn có được sự trùng khớp gữa hình tượng nghệ thuật với biểu tượng và nếu hình tượng nghệ thuật mang lại giá trị thẩm mĩ thì biểu tượng mang lại giá trị nhân văn cho tác phẩm

1.1.4.3 Biểu tượng nghệ thuật trong thơ

Biểu tượng trong thơ là một loại biểu tượng nghệ thuật Nó là dạng biểu tượng được xây dựng bằng ngôn từ, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, được chấp nhận và qui ước bởi một cộng đồng Chính vì vậy mà nó vừa mang những đặc điểm chung của biểu tượng nói chung vừa mang những nét riêng, đặc thù của ngôn từ và thơ ca qui định Biểu tượng xuất hiện trong văn

Trang 27

học dân gian như những hình ảnh ẩn dụ đã được ý thức cộng đồng chấp nhận,

sử dụng rộng rãi, phổ biến mà mang đặc điểm văn hóa truyền thống của cộng đồng Đến văn học viết, biểu tượng trở thành một phương tiện nghệ thuật để các nhà thơ, nhà văn trung đại, hiện đại sử dụng trong tác phẩm của mình để nhằm chuyển tải những quan niệm, những tư tưởng, tình cảm về cuộc sống, con người, xã hội Biểu tượng nghệ thuật trong thơ ở đây có thể được tạo nên chỉ bằng một từ, một cụm từ, một câu, hoặc cả văn bản Căn cứ vào nghĩa của

từ ngữ, người tiếp nhận sẽ khám phá ra các nét nghĩa khác của biểu tượng thông qua tính hàm súc, đa nghĩa của ngôn ngữ văn chương

Biểu tượng trong văn học nói chung, không chỉ riêng trong thơ, là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Theo C.G.Jung: “Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan

hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta” Trong lí luận văn học, mĩ học và ngôn ngữ học, biểu tượng

là một thuật ngữ đa nghĩa, có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, ta có thể xem tác phẩm văn học như là một biểu tượng, một chỉnh thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp của chính tác giả sáng tác Việc giải mã biểu tượng góp phần giúp cho độc giả hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm Từ đó nắm bắt được tư tưởng tác giả Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn được tác giả sử dụng nhiều lần trong tác phẩm của mình Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo Biểu tượng trong thơ cũng không nằm ngoài qui luật đó

Biểu tượng trong thơ đa dạng phong phú bởi mỗi nhà thơ đều muốn khẳng định cái tôi cá nhân và sáng tạo theo cá tính riêng, độc đáo của mình

Trang 28

Trong thơ ca dân gian, những biểu tượng được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh khách quan từ thiên nhiên, cuộc sống lao động sinh hoạt hằng ngày của người lao động Nó được tập thể người lao động tham gia sáng tạo, bổ sung, cải biến Nó là sản phẩm của tập thể nên thiếu hẳn yếu tố cá nhân, phong cách riêng của con người cá thể Ví dụ như câu ca dao sau:

“Anh về cuốc đất trồng cau Cho em trồng ké dây trầu một bên Mai sau trầu nọ lớn lên, Cau kia ra trái lập nên cửa nhà”

(Ca dao)

So sánh biểu tượng trầu - cau trong câu ca dao này với biểu tượng trầu - cau trong thơ Nguyễn Bính, ta sẽ thấy rõ sự khác biệt bởi dấu ấn cá nhân trong sáng tác Trong ca dao, trầu cau không còn được hiểu như chính nó trong thực tại, là một loại quả, lá ăn chung với nhau làm đẹp môi, mà nó đã trở thành hình thức biểu đạt chứa đựng nội dung se duyên, kết tình của nam

nữ Nó đề cập đến tình yêu, tình duyên đôi lứa Nó nói đến việc kết tóc se tơ của nam nữ yêu nhau Và biểu tượng trầu - cau trong ca dao dường như chỉ dừng lại ở đó Trong thơ Nguyễn Bính, biểu tượng trầu - cau cũng có cơ sở ý nghĩa như trong ca dao nhưng bên cạnh đó nó còn mang nhiều nét nghĩa khác

mà chỉ có tư duy, quan niệm sống của chính Nguyễn Bính mới tạo ra được Trong thơ ca dân gian, ta dễ dàng bắt gặp những biểu tượng quen thuộc thể hiện cho tình cảm, tình yêu lứa đôi như: trầu - cau, trúc - mai, mận - đào, thuyền - bến, sen - hồ, liễu - đào, …

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng”

Gặp đây mận mới hỏi đào”

“Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Trang 29

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”

Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

Trong thơ bác học, hình ảnh trúc - mai không còn là biểu tượng của tình cảm trai gái, tình yêu lứa đôi nữa mà trở thành một qui ước mang tính tượng trưng cho phẩm chất của người quân tử, tình bạn thắm thiết, tri kỉ của nhà nho:

Trúc mai bạn cũ hợp nhau quen

(Thuật hứng, Bài I, Nguyễn Trãi)

Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng

(Thơ Nôm, Bài 33, Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Khi nghiên cứu về biểu tượng trong thơ không thể bỏ qua yếu tố truyền thống Chính nó mang lại sức sống, giá trị độc đáo cho biểu tượng Bởi chính yếu tố truyền thống sẽ mang đến giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật cùng với chiều sâu trong quan niệm về thế giới của con người thời đại đó Nó là cơ sở

để tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật Tuy nhiên, bên cạnh những gì kế thừa từ truyền thống, sức sống của biểu tượng trong thơ ca hiện đại phải luôn luôn cách tân, đổi mới, bổ sung thêm cho những ý nghĩa cũ hoặc là phải biết sáng tạo cái hoàn toàn mới Như ở trên đã nói, trong thơ ca dân gian, biểu tượng thuyền - bến/ biển được sử dụng với mục đích thể hiện tình cảm nam nữ, tình yêu lứa đôi Trong đó, thuyền thường là biểu tượng của người con trai, biển là biểu tượng của cô gái Nhưng đến thơ Xuân Quỳnh, thuyền lại gắn với hình ảnh người con gái:

Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió

Trang 30

cô độc, sự chia lìa tan tác, thì trong thơ cách mạng, con tàu lại là biểu tượng của sự ra đi mang tính chất khai phá, mở đường, ra đi trong lời ca tiếng hát, ra

đi trong niềm vui, niềm hạnh phúc

Những ngày nghỉ học tôi hay tới Đón chuyến tàu đi tới những ga Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

(Những ngày nghỉ học - Tế Hanh)

Hình ảnh con tàu trong thơ Tế Hanh vốn là biểu tưởng của nỗi đau chia

xa Con tàu mang nặng nỗi đau của con người và của cả một dân tộc trong những năm tháng nô lệ, mất nước Nhưng con tàu trong thơ Chế Lan Viên lại

là con tàu mang những niềm vui, niềm hi vọng mới Con tàu là biểu tượng của một niềm hứng khởi, tin tưởng vào tương lai cách mạng:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi đất nước bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Biểu tượng trong thơ ca được tạo nên bởi sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân, đổi mới Chính vì vậy, biểu tượng sẽ có giá trị hơn khi vừa đánh thức những quan niệm, cảm xúc truyền thống từ ngàn đời của

Trang 31

dân tộc trong lòng độc giả vừa khơi gợi về những điều mới mẻ, hấp dẫn Tuy nhiên, nhiều lúc dấu ấn cá nhân quá mạnh mẽ, quá đậm khiến cho biểu tượng trở nên khó hiểu, khó khám phá

Thơ là sản phẩm của xã hội được cá thể hóa cao độ Mỗi nhà thơ là một thế giới nghệ thuật khác nhau Cách nhìn nhận, quan sát, tiếp thu, đánh giá thế giới của mỗi nhà thơ khác nhau chi phối cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh để làm biểu tượng cũng khác nhau Và khi đó biểu tượng cũng mang những nét nghĩa không giống nhau Trong thơ Puskin, hoa hồng là tượng trưng cho tình yêu nồng thắm nhưng chóng phôi pha Còn hoa hồng trong thơ Aragon là biểu tượng của tinh thần chiến đấu của những chiến sĩ đã hi sinh cho dân tộc Pháp

chiến thắng (Những đóa hoa hồng Noel)

Biểu tượng trong thơ thông thường có thể được xây dựng theo hai cách Nhà văn, nhà thơ lựa chọn một chi tiết, hình ảnh và sắp xếp sao cho chi tiết, hình ảnh đó chi phối, quán xuyến, ảnh hưởng đến các chi tiết khác và toàn bộ tác phẩm Chi tiết, hình ảnh được lựa chọn trở thành trung tâm của những mối quan hệ Khám phá, lí giải chi tiết, hình ảnh trung tâm đó sẽ nắm bắt được ý nghĩa biểu tượng của chính nó Ngoài ra, sự lặp đi, lặp lại của một hình ảnh, hình tượng đa nghĩa trong nhiều tác phẩm của một tác giả cũng là một cách

tạo thành biểu tượng nghệ thuật Chẳng hạn, trong tập thơ Về Kinh Bắc của

nhà thơ Hoàng Cầm, hình tượng “Đêm” xuất hiện nhiều lần trong các bài

Đêm Hỏa, Đêm Thủy, Đêm Thổ, Đêm Mộc, Đêm Kim, … cùng nhiều tính chất

mơ hồ của “Đêm” như: tàn đêm, đêm tiền sử, đêm đồng lõa, đêm dài, đêm xanh, … Với dụng ý nghệ thuật như thế, Đêm trong tập thơ của Hoàng Cầm trở thành biểu tượng nghệ thuật đầy sức ám gợi, phong phú với nhiều nét nghĩa khác nhau

Nguyễn Du cũng không nằm ngoài xu hướng này Thơ Nguyễn Du luôn mang trong mình một nỗi ám ảnh về thời cuộc, về con người đều được nhà

Trang 32

thơ ghi dấu vào thơ ca của mình thông qua hệ thống biểu tượng nghệ thuật Nguyễn Du đã dụng công xây dựng khá nhiều biểu tượng trong sáng tác thơ của mình từ khi mới bắt đầu sáng tác cho đến những năm cuối đời Kế thừa những giá trị truyền thống và sáng tạo, cách tân để mang lại những nét nghĩa mới cho biểu tượng đã giúp thơ Nguyễn Du sống mãi với thời gian Nghiên cứu, khám phá những nét nghĩa ấy của biểu tượng thơ Nguyễn Du với các biểu tượng diễn tả xã hội phong kiến, diễn tả thân phận của con người nhỏ bé, mong manh sẽ giúp cho người đọc thấy được tấm lòng thương cảm con người

và thái độ lên án xã hội phong kiến của tác giả Bên cạnh đó, nghiên cứu biểu tượng còn là một bước đi giúp thế hệ chúng ta đánh giá đúng vai trò, đóng góp của Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc đặc biệt là về mảng thơ ca Bởi

vì biểu tượng là bộ mặt tâm hồn, tình cảm, ước mơ, khát vọng của cá nhân người nghệ sĩ

1.2 Cuộc đời và thời đại Nguyễn Du

1.2.1 Cuộc đời

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tính ra dương lịch là ngày 3 tháng 1 năm 1766 tại phường Bích Câu, thành Thăng Long Nguyễn Du là người thông minh, học rộng, có kiến thức uyên bác Ông vốn sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc trong

xã hội đương thời Dòng họ ông có nhiều đời làm quan giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình và đây cũng là gia đình có truyền thống văn học lâu đời.Tuy sống trong một gia đình quyền quý nhưng Nguyễn Du lại sớm chịu ảnh hưởng của thời cuộc Ông đã sớm nếm trải cuộc sống lưu lạc, đói khổ từ rất sớm Nguyễn Du phải chịu cảnh đau khổ của một cuộc sống mười năm gió bụi nơi quê vợ và sáu năm sống thiếu thốn bệnh tật quê cha Nhưng trong thời gian này, Nguyễn Du lại được dịp sống gần gũi với quần chúng, có dịp hiểu biết sâu hơn về cuộc sống của quần chúng lao động - ngọn nguồn của

Trang 33

mọi giá trị tinh thần của dân tộc

Sau những năm đói khổ đó, năm 1802, Nguyễn Du được vua Gia Long

cử làm chánh sứ sang Trung Quốc Đây mới thật sự là một mấu chốt quan trọng ảnh hưởng đến thế giới quan cũng như các sáng tác của Nguyễn Du và đặc biệt là tình cảm của ông dành cho thân phận người phụ nữ trong xã hội

phong kiến Nguyễn Du đã có dịp chứng kiến biết bao cảnh lầm than, “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, không chỉ trong nước mà cả nơi nước bạn

Nguyễn Du đã nhỏ lệ khóc than cho bốn mẹ con người ăn xin, cho ông lão hát rong, nhưng Nguyễn Du lại càng đau đớn, xót xa khi ông đọc được những di cảo cuối cùng của nàng Tiểu Thanh, một người phụ nữ tài sắc hơn người nhưng số phận mỏng manh, bất hạnh Nguyễn Du cũng cất lên tiếng nói công bằng cho Dương Quý Phi, một người phụ nữ nhan sắc tuyệt trần nhưng đến chết vẫn để lại tiếng nhơ… Chính lần đi xứ này đã bồi đắp cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú giúp Nguyễn Du nhận ra bộ mặt thật của bọn quyền quý, của xã hội phong kiến Và cũng từ đây, Nguyễn Du đã có dịp thông qua

xã hội phong kiến nhà Thanh mà lớn tiếng ca ngợi những con người trung dũng khí phách, đả kích những phường gian nịnh, tàn bạo, xót thương cho những con người nghèo khổ, đặc biệt là bênh vực, đồng cảm cho những người phụ nữ tài sắc bị vùi dập Và đặc biệt từ lần đi sứ này đã tạo cảm hứng để

Nguyễn Du sáng tác nên một thi phẩm Truyện Kiều sau này.Có thể nói để

hình thành nên thiên tài Nguyễn Du có rất nhiều yếu tố Từ gia đình, quê hương cho đến thời đại Nhưng thời đại là một trong những nhân tố quan trọng nhất hình thành nên tư tưởng và tình cảm nhà thơ

1.2.2 Thời đại

Nguyễn Du đã sống vào thời đại có nhiều biến động nhất trong lịch sử xã

hội Việt Nam Cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du cũng như

các nhà nho khác rơi vào sự bế tắc tuyệt vọng Các nhà nho như Nguyễn Du

Trang 34

đã thật sự bế tắc trong tư tưởng, dao động và hoài nghi trước lý tưởng chính thống Những lý tưởng mà giáo lý phong kiến đã đặt ra cho các nhà nho về lập thân, lập danh, trung quân, ái quốc chỉ còn là sự ảo tưởng mơ hồ, nó không còn cơ sở để thực hiện Mất niềm tin vào triều đình, vào minh chúa phần lớn các nhà nho đã lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết nhân cách của mình Các cuộc khởi nghĩa nhân dân, âm vang của các phong trào đấu tranh vẫn luôn tác động đến các nhà nho làm cho thế giới quan của họ ít nhiều bị rạn nứt, giúp họ có thể li khai một phần nào lập trường, tư tưởng chính thống để tiếp thu những tư tưởng tình cảm lành mạnh của trào lưu tư tưởng nhân văn thời đại Từ đó họ có một cách nhìn mới, cách cảm nhận mới đối với đời sống

và con người Nguyễn Du là một minh chứng cụ thể Ông là một trong những nhà nho tiến bộ đương thời, với mười sáu năm sống lưu lạc tha phương, bao phen sống gió Nguyễn Du đã có dịp tiếp thu được trào lưu nhân văn của thời đại và phát huy nó đúng theo tinh thần thời đại Đó là một việc mà không phải nhà nho nào cũng có thể làm được trong xã hội đương thời

Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX ngoài nhưng biến động về chính trị, kinh tế, sự sụp đổ của ý thức hệ phong kiến mà đại diện là nho giáo còn có sự xuất hiện của tầng lớp thị dân Tầng lớp này được phát sinh do sinh hoạt kinh tế đã li khai phần nào với quan hệ sản xuất phong kiến

Họ là những người đi nhiều, biết nhiều, giao tiếp rộng rãi kể cả giao tiếp với người nước ngoài nên tư tưởng, tình cảm phóng khoáng hơn người nông dân

bị trói buộc vào làng quê, hơn cả tầng lớp nho sĩ vốn bị rập khuôn theo trăm nghìn thể chế, giáo điều chính thống cứng nhắc Tư tưởng tình cảm của họ đã

có những yếu tố phi chính thống, mang màu sắc dân chủ Trong đó đã bắt đầu bộc lộ ý thức về quyền sống cá nhân Vì vậy sự có mặt của tầng lớp này đã tạo ra những làn gió mới lan toả vào đời sống tư tưởng, tình cảm của con người thời đại Nhìn chung, giai đoạn này tình hình trong nước có nhiều biến

Trang 35

động Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả những sự sụp đổ, tan rã toàn diện của bộ máy quan liêu, của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội

Ý thức hệ phong kiến khủng hoảng một cách trầm trọng Các nhà nho rơi vào bế tắc hoang mang Nhưng cũng chính trong thời đại đó đã tạo điều kiện cho sự kết tinh của một truyền thống nhân văn, đã sản sinh ra những thiên tài văn học và Nguyễn Du là một hiện tượng tiêu biểu

1.3 Khái quát về Truyện Kiều

1.3.1 Nguồn gốc Truyện Kiều

Truyện Kiều của Nguyễn Du còn có tên là Đoạn trường tân thanh, là tác phẩm được viết dựa theo một tác phẩm cổ của Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Trong văn học giai đoạn này, việc nhà

văn sáng tác dựa vào một tác phẩm có sẵn của văn học Trung Quốc là điều

thường thấy Nhìn chung cốt truyện Truyện Kiều của Nguyễn Du giống với cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tuy nhiên, cái hay của Nguyễn Du là Kim Vân Kiều truyện chỉ là một tác phẩm bình thường trong văn học cổ Trung Quốc, còn Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là một kiệt

tác không chỉ trong phạm vi nền văn học Việt Nam Như vậy, mặc dù Nguyễn

Du đã dựa khá sát vào tác phẩm văn học Trung Quốc, nhưng Truyện Kiều của

Nguyễn Du không phải là một tác phẩm phỏng tác, lại càng không phải là một

tác phẩm dịch Tuy Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác dựa vào cốt truyện

của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du chỉ giữ lại những tình tiết chính, những biến cố quan trọng chứ không phải mọi tình tiết của tác phẩm đều được giữ lại Nguyễn Du đã bỏ đi những chi tiết dài dòng, những đoạn miêu tả có tính chất tự nhiên chủ nghĩa Đồng thời nhà thơ đã vận dụng tài năng của

mình sáng tạo nên những bức tranh thiên nhiên tuyệt tác trong Truyện Kiều, từ

cảnh mùa xuân êm đềm, cảnh mùa hè gay gắt, cảnh mùa thu mơ màng… Tất

Trang 36

cả là một quá trình lao động, sáng tạo không mệt mỏi của Nguyễn Du để tạo

nên một Truyện Kiều rất độc đáo, rất riêng, mang đậm màu sắc dân tộc

1.3.2 Hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều

Truyện Kiều được Nguyễn Du lấy cảm hứng từ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn

Du lại lựa chọn một tác phẩm bình thường trong một kho tàng văn học Trung Quốc có rất nhiều tác phẩm kinh điển Trước hết, Nguyễn Du đã thấy được

trong xã hội Kim Vân Kiều truyện không chỉ là xã hội Trung Quốc nói riêng

mà nó còn bao trùm cả hình bóng của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu

thế kỉ XIX Chính vì thế, khi sáng tác Truyện Kiều Nguyễn Du đã xây dựng

nên một xã hội phong kiến Việt Nam thật sự chứ không đơn thuần là xã hội

Trung Quốc như trong Kim Vân Kiều truyện Nhưng điều quan trọng nhất khiến cho Truyện Kiều được ra đời đó là sự đồng cảm xót thương của Nguyễn

Du đối với thân phận người phụ nữ

Với một vốn sống dày dặn, từng trải, Nguyễn Du đã tận mắt chứng kiến những người con gái tài hoa, nhan sắc hơn người nhưng lại vô duyên bạc

phận Từ cô Cầm đến cô ca nữ trong Ngộ gia đệ Cựu cơ ca, cô gái liều tuổi xuân trong Văn chiêu hồn, họ đều là những người tài hoa nhưng lại bạc

mệnh Và khi đi sứ sang Trung Quốc, có dịp đi nhiều, hiểu nhiều, chứng kiến những cảnh đời bất hạnh của người phụ nữ, từ nàng Tiểu Thanh đến Dương Quý Phi và đặc biệt là qua số phận đau khổ của nhân vật Thuý Kiều trong

Kim Vân Kiều truyện đã khiến Nguyễn Du thật sự xúc động Đối với Nguyễn

Du, Vương Thuý Kiều không chỉ là một hình tượng văn học, một con người trong xã hội Trung Quốc mà đó là đại diện cho những người phụ nữ tài hoa bất hạnh trong xã hội phong kiến đương thời, nói đúng hơn chính là cái xã hội Việt Nam mà Nguyễn Du đang sống

Nói chung, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã ra đời trên cơ sở của sự cảm

Trang 37

thông, thương tiếc của Nguyễn Du dành cho người phụ nữ Và chính trong tác

phẩm Kim Vân Kiều truyện Nguyễn Du đã thấy được số phận của người phụ

nữ trong xã hội đương thời, họ đang khóc, đang vùng vẫy giữa cái xã hội không dành cho họ

Về thời gian sáng tác Truyện Kiều Cho đến nay vấn đề về hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều vẫn chưa được giải quyết thống nhất, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đồng tình với ý kiến Truyện Kiều được sáng tác sau khi Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc Theo sách Đại nam chính biên liệt truyện, Nguyễn Du soạn thi phẩm Truyện Kiều sau khi đi sứ về (sau năm 1814 -

1820) Cụ Lê Thước cũng cho rằng thuyết này là đúng nhất, bởi vì trong các

sách chép về Nguyễn Du thì sách Đại nam chính biên liệt truyện có phần sát

với đời sống và việc làm của ông hơn hết Lí do thứ hai, ông cho rằng:

“Truyện Kiều là áng văn hay và cũng là pho sách giàu kinh nghiệm thực tế về cuộc sống của người đời Muốn đạt được đỉnh cao của sáng tác mà Nguyễn

Du đã đạt được, tất phải có nhiều từng trải và đã có nếm đủ mùi ngọt bùi cay đắng, hiểu biết thật sâu sắc nhân tình thế thái, thì lời văn mới có được nhiều sức sống như áng văn Truyện Kiều” Nhìn chung, về hoàn cảnh sáng tác Truyện Kiều tuy vẫn còn nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải xác minh lại, nhưng dù ra đời vào khoảng thời gian nào thì giá trị mà Truyện Kiều mang lại cho chúng ta vẫn vô cùng to lớn Truyện Kiều chẳng những đã góp phần làm

cho kho tàng văn học Việt Nam thêm phong phú mà còn khẳng định vị trí, sự tiến bộ của văn học Việt Nam so với nền văn học thế giới

1.3.3 Đặc trưng thể loại

Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ được viết bằng chữ Nôm Đây là thể

loại phổ biến đương thời với những tác phẩm gây chú ý như truyện Hoa tiên,

truyện Phan Trần… nhưng thể loại này phải đợi đến Truyện Kiều mới đạt

được đỉnh cao của nó Đặc trưng của thể loại thơ là dùng nhiều hình ảnh

Trang 38

mang tính ẩn dụ, ngôn ngữ hàm ẩn, súc tích, chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa

Truyện Kiều mang hình thái một cuốn tiểu thuyết bằng văn vần nên không nằm ngoài đặc trưng đó Trong Truyện Kiều sử dụng một hệ thống các hình

ảnh ẩn dụ hay các biểu tượng, mà lớp nghĩa của nó được ẩn sau hệ thống biểu tượng mà đòi hỏi chúng ta phải đi giải mã chúng

1.3.4 Đặc trưng bút pháp trung đại

Văn chương trung đại mang tính ước lệ, quy phạm Trong Truyện Kiều ta

thấy hệ thống các thi liệu của văn học trung đại với những phong, hoa, tuyết, nguyệt…Và ẩn sau những mỹ từ đó chứa nội dung đã được quy định như hoa

là chỉ những người phụ nữ đẹp, yếu đuối,tuyết, sương , gió, mưa… chỉ những gian khó mà xã hội đặt ra cho con người… Bút pháp đó ảnh hưởng đến việc nhà thơ sử dụng chất liệu để tạo biểu tượng Chất liệu tạo biểu tượng trong

Truyện Kiều tuy rất đa dạng với thực vật, động vật, thực thể tự nhiên, hiện

tượng thời tiết, khái niệm tôn giáo nhưng đều là thi liệu mang tính ước lệ của văn học trung đại

Tiểu kết chương 1:

Biểu tượng là một phần quan trọng của cuộc sống con người Biểu tượng thể hiện đời sống tinh thần, văn hóa, văn minh của dân tộc, nhân loại Con người khám phá biểu tượng là đi tìm lại chính mình Nhà thơ Hàn Mặc Tử

từng nói với Quách Tấn rằng: “Nếu Chúa ban phước cho tôi lành mạnh, tôi sẽ đốt tập Thơ Điên ( ) Không nên để cho người đời thấy những bí ẩn của lòng mình” [80] Biểu tượng có sức mạnh phô bày tất cả những gì nằm sâu

trong những ngõ ngách của tâm hồn con người Dù muốn dù không khi nhà thơ làm thơ tức là đang tự nói về những ám ảnh và những khao khát của lòng mình Biểu tượng có hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt Bao giờ cái được biểu đạt cũng tràn ra, vượt ra khỏi cái biểu đạt Nó luôn vận động biến đổi nhưng cũng ổn định ở một mức nào đó Chính điều này làm nên sức sống

Trang 39

của biểu tượng nói chung, biểu tượng nghệ thuật nói riêng Để tạo nên một biểu tượng nghệ thuật đúng nghĩa, nó đòi hỏi một sự sáng tạo nghiêm túc

“Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương rồi Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (Đời thừa - Nam Cao) Nghệ thuật đòi hỏi sự chân

thật nhưng không cứng nhắc, khuôn sáo Nghệ thuật yêu cầu tái hiện thế giới khách quan theo cảm xúc của chủ quan người nghệ sĩ sao cho chân thành và sinh động nhất Tất cả những rung động, những cung bậc tình cảm của con người nghệ thuật đều phải mô tả được Không chỉ mô tả mà còn làm cho nó

có sinh khí, sống động như thật Văn chương nói chung, thơ ca nói riêng, là người ghi chép lịch sử văn minh của loài người một cách trung thành nhất Biểu tượng chính là một người giúp việc không biết nói dối

Nhà thơ dù có đưa ra nhiều lý giải hay phát biểu nhiều quan điểm, nhưng chỉ có thơ ca mới là tiếng nói chân thành nhất Trường hợp Nguyễn Du cũng

như thế Và việc đi vào khám phá biểu tượng nghệ thuật trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du sẽ góp một phần để giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể về

những giá trị Truyện Kiều của Nguyễn Du

Trang 40

Chương 2: CÁC LOẠI BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA

NGUYỄN DU

2.1 Biểu tượng diễn tả thân phận của con người trong xã hội phong kiến

Bàn về thân phận con người vốn không phải là một đề tài mới trong văn học Bởi vì, ngay từ buổi sơ khai của văn học dân gian với những câu ca dao, dân ca chúng ta đã thấy các nghệ nhân văn học dân gian đã mượn những hình

ảnh nhỏ bé như: “con ong”, “cái kiến”, “cánh bèo”, “còn cò”, “con hạc”,

“thân em như con kiến”, “thân em như hạt mưa sa” để nói về thân phận

con người Sống trong thời kì xã hội phong kiến đang trên đà khủng hoảng, nhà thơ Nguyễn Du bằng con mắt nhìn đời, nhìn người ông đã có những phát

hiện ra giá trị thực sự của thời đại đó Truyện Kiều của ông là một ví dụ điển

hình để chúng ta có thể nhìn thấy bộ mặt của xã hội thông qua những kiếp người nhỏ bé như Thúy Kiều Kiều vốn là người con gái đẹp và đạt chuẩn về công - dung - ngôn - hạnh của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến Nhưng trước sự khắc nghiệt của hiện thực xã hội thì thân phận nhỏ bé ấy lại

bị chính xã hội chà đạp và tước đoạt hạnh phúc của nàng

Trong Truyện Kiều, các hình tượng Nguyễn Du sử dụng thể hiện con

người trong tương quan với xã hội rất phong phú Để nói về sự nhỏ bé, vô

nghĩa của thân phận con người, tác giả dùng “con ong, cái kiến”, “cát”, cát đằng, đằng la, “hạt mưa” (hạt mưa sá nghĩ phận hèn), “bèo, cánh bèo, bèo bọt” chiếc lá (chiếc lá lìa rừng); để diễn tả sự nhục nhã của những con người dưới đáy xã hội dùng biểu tượng “con lươn” (thân lươn bao quản lấm đầu) Hay biểu tượng “hoa” được khai thác ở rất nhiều lớp nghĩa biểu tượng nhưng

trong luận văn này chúng tôi chỉ đi khảo sát để thấy khả năng sử dụng ngôn

ngữ tuyệt vời của Nguyễn Du khi dùng “hoa” để diễn tả thân phận người phụ

nữ yếu đuối, bị chà đạp, lợi dụng chỉ là món đồ chơi trong tay bọn đàn ông hay chịu sự trói buộc của cả chế độ nam quyền trọng nam khinh nữ

Ngày đăng: 13/03/2021, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w