1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quang học: Chế tạo bột huỳnh quanh ZnAl2O4 pha tạp Cu,Mn. ứng dụng trong Led phát xạ ánh sáng trắng

45 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này, các tác giả lựa chọn vật liệu nền kẽm aluminate (ZnAl2O4) pha tạp, đồng pha tạp các ion kim loại chuyển tiếp như Cu2+, Mn4+ nhằm tạo ra dải phát xạ ánh sáng trắng có hiệu suất cao, hệ số trả màu cao và giá thành rẻ. Các kết quả nghiên cứu cũng được định hướng ứng dụng trong chế tạo các LED chiếu sáng chuyên dụng trong nông nghiệp công nghệ cao.

Trang 1

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Họ và tên học viên: NGUYỄN THỊ HẰNG

Trang 2

2

Lời cảm ơn

Thực tế luôn cho thấy, sự thành công nào cũng gắn liền với sự hỗ trợ giúp

đỡ của những người xung quanh Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm luận văn đến nay, em đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè

Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô của trường Đại Học Khoa Học – Đại Học Thái Nguyên, các thầy cô trong khoa Vật Lý đã tâm huyết truyền đạt cho chúng tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt hai năm học Thạc Sỹ tại trường

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Đỗ Quang Trung,

TS Lê Tiến Hà, những người thầy đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở GD - ĐT Hải Phòng, Trường THPT Hải

An, Hải Phòng,gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn nằm trong khuôn khổ thực hiện đề tài NAFOSTED mã số: 103.03.2017.39

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Hằng

Trang 3

3

Nội Dung

Lời cảm ơn 1

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU KẼM ALUMINATE 8

1.1 Cơ sở khoa học về vật liệu nano 8

1.1.1 Giới thiệu 8

1.1.1.1 Vật liệu nano 8

1.1.1.2 Hiệu ứng giam giữ lượng tử 9

1.1.1.3 Hiệu ứng bề mặt 12

1.2 Tình hình nghiên cứu về điốt phát quang ánh sáng trắng 14

1.3 Khoáng chất Gahnite tự nhiên (Kẽm aluminate spinel (ZnAl2O4)) 15

Chương 2 THỰC NGHIỆM 22

2.1 Quy trình công nghệ chế tạo vật liệu 22

2.2 Các phương pháp khảo sát đặc trưng cấu trúc và tính chất quang của vật liệu sau chế tạo 23

* Phân tích hình thái bề mặt bằng thiết bị hiển vi điện tử quét phát xạ trường (FESEM) 24

* Phương pháp đo phân bố kích thước hạt 25

* Phương pháp nhiễu xạ tia X 27

* Phương pháp phân tích thành phần hóa học bằng phổ tán sắc năng lượng tia X 30

* Phương pháp đo phổ huỳnh quang, phổ kích thích huỳnh quang 30

Chương 3 NHỮNG KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 32

3.1 Kết quả khảo sát hình thái bề mặt vật liệu 32

3.2 Kết quả khảo sát kích thước hạt 33

3.3 Kết quả khảo sát đặc trưng cấu trúc của vật liệu 35

3.4 Kết quả phân tích tính chất quang của vật liệu 36

KẾT LUẬN 41

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 4

4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Các loại vật liệu nano: (0D) hạt nano hình cầu, cụm nano; (1D) dây, thanh nano; (2D) màng, đĩa và lưới nano; (3D) vật liệu khối 8Hình 1.2 Mật độ trạng thái của nano tinh thể bán dẫn Mật độ trạng thái bị gián đoạn ở vùng bờ Khoảng cách HOMO-LUMO tăng ở nano tinh thể bán dẫn khi kích thước nhỏ đi 11Hình 1.3 Sơ đồ nguyên lý tạo ra ánh sáng trắng kích thích bằng nguồn LED tử ngoại kết hợp với 3 loại bột RGB (1) và sử dụng nguồn LED xanh lam kích thích bột màu vàng (2) 14Hình 1.4 Ảnh khoáng chất gahnite tự nhiên 15Hình 1.5 Cấu trúc tinh thể của ZnAl2O4 17Hình 1.6 Cơ chế phát quang của bột ZnAl2O4 được chế tạo bởi các muối (S1)Al2(SO4)3∙18H2O, (S2) AlCl3∙6H2O, và (S3) Al(NO3)3∙9H2O 18Hình 1.7 Phổ kích thích huỳnh quang (a) và phổ huỳnh quang của tinh thể ZnAl2O4: Cr3+ tổng hợp tại 200oC (b) [21] 19Hình 1.8 Phổ kích thích huỳnh quang và phổ huỳnh quang của bột ZnAl2O4:Mn2+ 20Hình 1.9 Phổ huỳnh quang và phổ kích thích huỳnh quang của ion Mn4+ trong mạng nền Sr2MgAl22O36 và CaAl22O19 20Hình 1.10 Phổ huỳnh quang và phổ kích thích huỳnh quang của ion Mn4+ trong mạng nền K2SiF6 21Hình 2.1 Quy trình tổng hợp bột ZnAl2O4 đồng pha tạp Cu2+ và Mn4+ bằng phương pháp đồng kết tủa 22Hình 2.2 Ảnh thiết bị đo ảnh FESEM được tích hợp với đầu đo EDS 24Hình 2.3: Các tín hiệu và sóng điện từ phát xạ từ mẫu do tán xạ 25Hình 2.4: Sơ đồ kính hiển vi điện tử quét (a); Đường đi của tia điện tử trong SEM (b) 25Hình 2.5 Thiết bị đo phân bố kích thước hạt nano SZ-100 26

Trang 5

5

Hình 2.6 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của thiết bị đo phân bố kích thước hạt nano SZ-100 26Hình 2.7 Hệ thiết bị phân tích cấu trúc bằng phương pháp nhiễu xạ tia X 28Hình 2.8 Hiện tượng nhiễu xạ trên tinh thể 29Hình 2.9 Hệ đo hệ đo phổ huỳnh quang, kích thích huỳnh quang (NanoLog spectrofluorometer, HORIBA Jobin Yvon) 31Hình 3.1 Ảnh FESEM bột ZnAl2O4: 0.5 % Cu2+, 0.5% Mn4+ ủ tại 800oC trong thời gian 5 giờ với các độ phân giải khác nhau (a, b); Ảnh FESEM và phổ EDS (c, d) 32Hình 3.2 Phổ phân bố kích thước hạt của bột ZnAl2O4: (0.5 % Cu2+, 0.5%

Mn4+) ủ tại 800oC (a); 1000oC (b); 1200oC (c) trong thời gian 5 giờ 34Hình 3.3 Phổ nhiễu xạ tia X của bột huỳnh quang ZnAl2O4: 0.5% Cu2+, 0.5%

Mn4+ ủ tại các nhiệt độ từ 800-1200oC trong thời gian 5 giờ 35Hình 3.4 Phổ huỳnh quang và phổ kích thích huỳnh quang của bột ZnAl2O4:

Cu2+, Mn4+ 36Hình 3.5 Phổ PL của bột ZnAl2O4: 0.5%Cu2+, 0.5%Mn4+ ủ ở nhiệt độ từ 800-

1200oC (a), Phổ PL của bột ZnAl2O4 với các nồng độ khác nhau ủ nhiệt ở nhiệt

độ 1200oC (b) 38Hình 3.7 Ảnh chụp LED phủ bôt ZnAl2O4: Cu, Mn được kích thích bởi LED tử ngoại gần 395-400 nm 40

Trang 6

6

MỞ ĐẦU

Nghiên cứu vật liệu có kích thước nano hiện đang là lĩnh vực thu hút được

sự quan tâm của cộng đồng khoa học và công nghệ trong và ngoài nước.Trong những năm gần đây, các tinh thể nano với hình thái học độc đáo, các tính chất quang học mới, đầy hứa hẹn đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu dotiềm năng ứng dụng của chúng trong nhiều loại thiết bị quang điện tử Vật liệu Spinel

là vật liệu bán dẫn vùng cấm rộng có khả năng chịu nhiệt và độ bền hóa học cao, tính năng xúc tác mạnh phù hợp làm mạng nền cho các ứng dụng như chế tạo các bột huỳnh quang hoặc sử dụng trong chế tạo các thiết bị quang điện tử

Vật liệu huỳnh quang đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong chế tạo các thiết bị quang điện tử như các loại bóng đèn huỳnh quang, huỳnh quang compact, các thiết bị hiển thị như màn hình phát xạ CRT, màn hình LED…vv Các loại vật liệu huỳnh quang cổ điển nhất là các khoáng chất sẵn có trong tự nhiên như ZnS, ZnO, SnO2…vv Với quá trình tiến hóa của các thiết bị chiếu sáng nói chung thì hiện nay thế giới đang tiếp tục phát triển công nghệ chiếu sáng LED (dựa trên công nghệ chiếu sáng rắn) nhằm thay thế các nguồn sáng truyền thống cách đây vài thập kỷ như đèn sợi đốt, đèn halogen, đèn metal highlight và gần đây nhất là đèn huỳnh quang, huỳnh quang compact Trước đây, đèn huỳnh quang, huỳnh quang compact hiệu suất cao sử dụng các bột ba phổ như đỏ, xanh lục, xanh lam để phối trộn tạo ra ánh sáng trắng có hiệu suất tương đối cao và tiết kiệm được khá nhiều năng lượng dành cho chiếu sáng Tuy nhiên các loại bột huỳnh quang này sử dụng chủ yếu là các ion đất hiếm trên nền các hợp chất oxit do vậy về mặt giá thành thì các loại bột này khá cao và không thân thiện với môi trường Mặt khác nữa là khi sử dụng trong đèn huỳnh quang

và huỳnh quang compact vẫn còn một lượng dư tia tử ngoại ở bước sóng 185nm

và 254nm (do phát xạ của hơi Hg) nên rất ảnh hưởng tới sức khỏe người sử dụng cũng như môi trường xung quanh

Khi công nghệ chiếu sáng LED phát triển nhất là với các khám phá ra điốt phát quang ánh sáng xanh lam (các tác giả nhận giải Nobel Vật lý năm 2014) thì

Trang 7

7

công nghệ chiếu sáng LED phát triển với tốc độ rất nhanh Thay vì sử dụng nguồn kích thích tử ngoại năng lượng cao, nguy hiểm thì các LED hiện nay sử dụng ánh sáng kích thích trong vùng tử ngoại gần (NUV) hoặc xanh lam và thậm chí cả vùng ánh sáng xanh lục và cho hiệu suất phát xạ cao Các bột huỳnh quang sử dụng cho LED thường là bột YAG:Ce nên giá thành cũng khá cao và trong thành phần vẫn thiếu vùng ánh sáng đỏ nên hệ số trả màu (Ra) còn tương đối thấp nên hình ảnh dưới ánh sáng của loại LED này không được trung thực Các nỗ lực nghiên cứu gần đây nhằm giảm giá thành LED, sử dụng các loại vật liệu rẻ tiền hơn tạo ra các LED có chất lượng cao hơn cũng đang được thực hiện Trong đó việc thay thế các vật liệu nền rẻ tiền hơn, nguồn tạp chất rẻ hơn

là một xu thế lựa chọn tất yếu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn vật liệu nền kẽm aluminate (ZnAl2O4) pha tạp, đồng pha tạp các ion kim loại chuyển tiếp như Cu2+, Mn4+nhằm tạo ra dải phát xạ ánh sáng trắng có hiệu suất cao, hệ số trả màu cao và giá thành rẻ Các kết quả nghiên cứu cũng được định hướng ứng dụng trong chế tạo các LED chiếu sáng chuyên dụng trong nông nghiệp công nghệ cao

Đề tài nghiên cứu được bố cục:

Trang 8

8

Chương 1.TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU KẼM ALUMINATE

1.1 Cơ sở khoa học về vậtliệu nano

1.1.1.1 Vật liệu nano

Vật liệu nano là loại vật liệu với ít nhất một chiều có kích thước nanomet (1

- 100 nm), bao gồm các đai nano, dây và ống nano, hạt nano Ở kích thước nano, vật liệu sẽ có những tính chất đặc biệt, độc đáo (thể hiện những tính chất lý hóa khác hẳn so với vật liệu khối cùng loại) do sự thu nhỏ kích thước và tăng diện tích bề mặt Dựa vào hình dạng, có thể phân thành các loại vật liệu nano sau (hình 1.1):

Hình 1.1 Các loại vật liệu nano: (0D) hạt nano hình cầu, cụm nano; (1D) dây, thanh

nano; (2D) màng, đĩa và lưới nano; (3D) vật liệu khối

Trang 9

9

- Vật liệu nano không chiều (0D): vật liệu có cả 3 chiều ở kích thước

nanomet, không có chiều tự do nào cho điện tử, ví dụ như đám nano (nanocluster), hạt nano…

- Vật liệu nano một chiều (1D): vật liệu có hai chiều ở kích thước nanomet,

điện tử chuyển động tự do trong một chiều, ví dụ như dây nano, ống nano…

- Vật liệu nano hai chiều (2D): vật liệu có một chiều ở kích thước nanomet,

điện tử có thể chuyển động tự do trong hai chiều, ví dụ như: màng nano, tấm nano…

- Vật liệu khối (3D): là vật liệu không có giới hạn về kích thước, điện tử

chuyển động gần tự do

Trong thực tế, có những loại vật liệu có cấu trúc hỗn hợp, trong đó chỉ có một phần vật liệu có kích thước nano hoặc cấu trúc của nó là sự tổ hợp của vật liệu nano không chiều, một chiều, hai chiều

1.1.1.2 Hiệu ứng giam giữ lượng tử

Khi kích thước hạt giảm xuống xấp xỉ bán kính Bohr của exciton thì xảy ra hiệu ứng giam giữ lượng tử (Quantum confinement effect), khi đó các trạng thái điện tử cũng như các trạng thái dao động của các hạt tải trong hạt nano bị lượng

tử hóa Sự thay đổi cấu trúc điện tử dẫn đến sự thay đổi, mở rộng bề rộng vùng cấm của các chất bán dẫn khi kích thước hạt cỡ nanomet, dẫn tới các hiện tượng dịch chuyển về phía năng lượng cao (Blue shift) trong phổ hấp thụ khi kích thước hạt giảm và dịch chuyển về phía năng lượng thấp (red shift) khi kích thước hạt tăng Các trạng thái bị lượng tử hóa ở cấu trúc nano sẽ quyết định tính chất điện, quang của cấu trúc đó Hiệu ứng giam giữ lượng tử có thể được mô tả một cách sơ lược như sau: trong vật liệu bán dẫn khối, các điện tử trong vùng dẫn (và các lỗ trống trong vùng hoá trị) chuyển động tự do trong khắp tinh thể,

do lưỡng tính sóng-hạt, chuyển động của các hạt tải điện có thể được mô tả bằng

tổ hợp tuyến tính của các sóng phẳng có bước sóng vào cỡ nanomet Nếu kích thước của khối bán dẫn giảm xuống, xấp xỉ giá trị của các bước sóng này, thì hạt

Trang 10

10

tải điện bị giam trong khối này sẽ thể hiện tính chất giống như một hạt chuyển động trong một hộp thế (potential box) Nghiệm của phương trình Schrodinger trong trường hợp này là các sóng dừng bị giam trong giếng thế và năng lượng tương ứng với hai hàm sóng riêng biệt, khác nhau và gián đoạn Sự chuyển dời của hạt tải điện giữa hai mức năng lượng gián đoạn nêu trên sẽ gây ra quang phổ vạch Hệ hạt khi đó được gọi là hệ bị giam giữ lượng tử

Trong phân tử điện tử tồn tại ở các trạng thái định xứ gián đoạn Trong khi

đó ở bán dẫn khối, số lớn của quỹ đạo phân tử tạo nên một vùng trạng thái điện

tử liên tục Ở trạng thái điện tử cơ bản của vùng hóa trị (VB), số điện tử chuyển động lên trên và xuống dưới là cân bằng do đó không hình thành dòng dẫn Để cho bán dẫn dẫn điện, các điện tử phải được kích thích từ VB đến các trạng thái kích thích ở vùng dẫn (CB) Trong các chất bán dẫn, vùng dẫn và vùng hóa trị của bán dẫn được phân tách bởi vùng cấm Khe năng lượng giữa đỉnh vùng hóa trị hoặc quĩ đạo phân tử bị chiếm giữ cao nhất (HOMO) và đáy của vùng dẫn hay quĩ đạo phân tử không bị chiếm giữ thấp nhất (LUMO) được gọi là vùng cấm Sự kích thích quang hoặc nhiệt có thể kích thích điện tử lên vùng dẫn và tạo ra lỗ trống ở vùng hóa trị Trong điều kiện kích thích nhất định, có thể hình thành nên các dòng chuyển dời một chiều của điện tử và như vậy có thể tạo ra dòng điện dẫn

Năng lượng vùng cấm là một đại lượng hết sức quan trọng bởi vì giá trị của

nó quyết định độ dẫn điện và năng lượng hấp thụ quang học của vật liệu [49] Các hạt nano bán dẫn được xem như nằm ở giữa giới hạn mật độ gián đoạn của nguyên tử/phân tử và mật độ liên tục của tinh thể khối (hình 1.2), khe HOMO-LUMO tăng trong các nano tinh thể bán dẫn có thước nhỏ hơn, dẫn tới độ rộng hiệu dụng của vùng cấm và khả năng ôxy hóa khử tăng khi kích thước giảm như

là hệ quả của hiệu ứng kích thước lượng tử Sự tăng độ rộng vùng cấm đã được Wang và Herron giải thích chi tiết Trong bán dẫn khối, điện tử và lỗ trống liên kết với nhau thông qua tương tác Coulomb và hình thành nên một exciton được gọi là Mott-Wannier exciton

Trang 11

(1.1)

Trong đó Eg (∞) là năng lượng vùng cấm của chất bán dẫn (với ZnS, Eg~3,6 eV), me và mh là khối lượng hiệu dụng của điện tử và lỗ trống, ε là hằng số điện môi của bán dẫn khối Khi R nhỏ, thừa số 1/R2có giá trị đáng kể và do đó độ rộng vùng cấm tăng lên khi kích thước giảm Hiệu ứng kích thước lượng tử được thể hiện rõ ràng hơn khi kích thước (R) nhỏ hơn giá trị bán kính Bohr exciton (aB) được tính bởi công thức:

m q

Trang 12

Giam giữ mạnh: R < aB,e , aB,h

Giam giữ trung bình (trung gian): aB,h < R < aB,e

Giam giữ yếu: R > aB,e , aB,h

Sự giam giữ yếu: Trong trường hợp R > aB,e, aB,h Khi đó năng lượng liên kết của exciton lớn hơn năng lượng giam giữ riêng rẽ của điện tử và lỗ trống Rõ ràng, đây là trường hợp đối với vật liệu khối và vật liệu có kích thước nano lớn

Sự giam giữ trung bình: Trong trường hợp aB,h< R < aB,e Khi đó bán kính của vật liệu nhỏ hơn bán kính Bohr của lỗ trống nhưng lớn hơn bán kính Bohr của điện tử Bởi vì khối lượng hiệu dụng của điện tử nhỏ hơn khối lượng hiệu

dụng của lỗ trống (me < mh)

Sự giam giữ mạnh: Trường hợp này xảy ra khi vật liệu có kích thước nano

rất nhỏ, nhỏ hơn cả hai giá trị bán kính Bohr của điện tử và lỗ trống, R < aB,e ,

aB,h Ở trạng thái này, tính chất quang của vật liệu bị ảnh hưởng mạnh bởi hiệu ứng giam giữ lượng tử của điện tử và lỗ trống

Trang 13

13

trong đó me là khối lượng điện tử, ΔE và μ là năng lượng chuyển tiếp và mômen

lưỡng cực chuyển tiếp, │U(0)│2 là hệ số chồng chập giữa hàm sóng của điện tử

và lỗ trống Sự giam giữ điện tử và lỗ trống trong các hạt nano làm tăng sự chồng chập không gian giữa hàm sóng của chúng do đó làm tăng năng lượng liên kết, và lực dao động Tiết diện hấp thụ của một hạt nano được xác định bởi

tỷ số giữa độ lớn của lực dao động và thể tích (fnp/V), với V là thể tích của hạt nano bán dẫn, fnp lực dao động của các hạt nano bán dẫn Khi R>> aB,│U(0)│2phụ thuộc vào kích thước và lực dao động được xác định bởi mômen lưỡng cực

chuyển tiếp Ở trạng thái giam giữ lượng tử mạnh (R < aB), lực dao động f vẫn

ít phụ thuộc vào kích thước hạt, bởi vì mặc dù sự chồng chập │U(0)│2 giữa điện

tử và lỗ trống tăng khi kích thước hạt nano giảm, trong khi hệ số μ thì ngược lại Tuy nhiên, ở trạng thái này sự hấp thụ exciton trở nên mạnh hơn vì tỉ số fnp/V tăng khi kích thước hạt giảm và thay đổi theo tỉ lệ aB /R3 [185] Đối với hạt có kích cỡ nano, tỉ lệ phần trăm của nguyên tử ở trên hoặc ở gần bề mặt là lớn, chẳng hạn một hạt có kích thước 1 nm thì 99 % nguyên tử ở bề mặt (bảng 1.1)

Sự tồn tại của mặt phân cách rất lớn giữa các hạt nano và môi trường xung quanh, có thể gây nên những ảnh hưởng rõ rệt đến tính chất của hạt Bề mặt không hoàn hảo của các hạt nano là nơi tồn tại nhiều liên kết đứt/gãy (dangling bond) và sai hỏng có thể tạo ra các bẫy đối với điện tử và lỗ trống dưới tác động của ánh sáng kích thích Do có mật độ trạng thái cao, các trạng thái bẫy ở bề mặt

có thể tạo nên những mức năng lượng nằm trong vùng cấm và như vậy sự tồn tại của các bẫy điện tử và lỗ trống này có thể làm thay đổi tính chất quang của nano tinh thể

Bảng 1.1 Mối liên hệ giữa kích thước và số nguyên tử ở tại bề mặt

Kích thước (nm) Số nguyên tử Tỷ số nguyên tử trên bề mặt (%)

Trang 14

14

Hơn nữa sự tồn tạo của điện tử và lỗ trống ở các trạng thái bề mặt cũng có thể dẫn đến các phản ứng quang hóa mạnh (đây chính là lý do tại sao các nano tinh thể lại được nghiên cứu nhiều trong các ứng dụng làm vật liệu quang xúc tác)

Ví dụ, sự hiện diện của cặp điện tử và lỗ trống bị bẫy ở bề mặt có thể làm giảm lực dao động exciton, do đó có thể làm thay đổi sự hấp thụ và huỳnh quang của exciton Nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy sự hấp thụ exciton đã bị khử (biến mất) khi cặp điện tử - lỗ trống bị bẫy và hồi phục khi cặp điện tử – lỗ trống phân

rã Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một cặp điện tử – lỗ trống bị bẫy có thể khử hoàn toàn sự hấp thụ exciton của cả một đám hạt (clusters) Do đó, sự tồn tại đương nhiên của một tương tác mạnh giữa cặp điện tử-lỗ trống bị bẫy và exciton chính là nguyên nhân gây ra tổn hao lực dao động exciton Hoạt động của trạng thái bề mặt nằm ở bên trong vùng cấm, cũng giống như các mức tạp ở trong vùng cấm của vật liệu khối, sẽ ảnh hưởng mạnh đến tính chất vật lý của vật liệu

1.2 Tình hình nghiên cứu về điốt phát quang ánh sáng trắng

Hình 1.3 Sơ đồ nguyên lý tạo ra ánh sáng trắng kích thích bằng nguồn LED tử ngoại kết hợp với 3 loại bột RGB (1) và sử dụng nguồn LED xanh lam kích thích bột màu vàng (2)

Trong những năm gần đây, điốt phát quang ánh sáng trắng (WLED) với hiệu suất phát quang ngày càng cao và giá thành ngày càng rẻ đang dần thay thế các đèn sợi đốt truyền thống, đèn huỳnh quang và huỳnh quang compact bởi nhiều ưu điểm như kích thước nhỏ gọn, độ ổn định và tuổi thọ cao

Trang 15

15

Các WLED hiện nay chủ yếu được chế tạo bằng cách sử dụng chip LED xanh lam (Blue-InGaN) kết hợp với bột huỳnh quang màu vàng Y3Al5O12: Ce3+(YAG: Ce) (hình 1.3 (2)) hoặc sử dụng các chip LED tử ngoại gần kích thích các hỗn hợp các bột huỳnh quang đơn sắc đỏ - xanh lục - xanh lam (RGB) (hình 1.3 (1)) [1-8] Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, hầu hết tất cả các loại bột huỳnh quang đang được sử dụng được phát triển trên cơ sở các vật liệu nền pha tạp đất hiếm (Eu, Ce, Tb…vv) dẫn tới giá thành rất cao Chính vì vậy, gần đây, một xu hướng mới trong nghiên cứu các loại bột huỳnh quang đã được đặt ra, đó

là nghiên cứu các loại bột huỳnh quang không pha tạp đất hiếm sử dụng trong WLED nhằm thay thế các loại bột huỳnh quang pha tạp đất hiếm

1.3 Khoáng chất Gahnite tự nhiên (Kẽm aluminate spinel (ZnAl 2 O 4 ))

Gahnite, ZnAl2O4, là một khoáng vật quý hiếm thuộc nhóm spinel (hình 1.4) Nó tạo thành các tinh thể hình bát giác có thể có màu xanh lục, xanh lam, vàng, nâu hoặc xám Nó thường hình thành như một sản phẩm thay đổi của sphalerit trong các mỏ sunfua thay đổi lớn như tại Broken Hill , Australia Nó được mô tả lần đầu tiên vào năm 1807 cho một sự xuất hiện trong mỏ Falu, Pháp, Dalarna, Thụy Điển, và được đặt tên theo nhà hóa học người Thụy Điển, Johan Gottlieb Gahn (1745–1818), người phát hiện ra nguyên tố mangan Đôi khi nó được gọi là spinel kẽm

Hình 1.4 Ảnh khoáng chất gahnite tự nhiên

Trang 16

16

 Công thức hóa học ZnAl2O4

 Cấu trúc tinh thể: Lập phương

 Nhóm tinh thể: Hexoctahedral (m3m); H-M symbol: (4/m 3 2/m)

Để lộ ra vị trí định xứ ở cấp độ nguyên tử, công thức cấu trúc của các nhóm 2-3 spinel thuộc loại M12 + M22 3 + O4 (trong đó 2-3 tham chiếu đến các ngưỡng của cation M1 và M2) có thể được viết là (M11- M2) [M1M22-]O4, trong đó dấu ngoặc đơn và dấu ngoặc vuông bao quanh cation hoặc là tứ diện (A) hoặc bát diện [B] phối hợp với anion oxy, tương ứng  được gọi là góc nghịch đảo được coi là phần của (A) các vị trí bị chiếm đóng bởi cation hóa trị ba Hợp chất spinel với  =0 được ký hiệu là spinels bình thường, trong khi những hợp chất

có =1/4 được gọi là spinel nghịch đảo hoàn toàn Giá trị của rd =2/3 tương ứng với sự phân bố ngẫu nhiên các cation trên các vị trí (A) và [B ] Cũng phải thừa nhận rằng các đặc tính hóa lý của spinel được xác định bởi phần lớn theo mức

độ nghịch đảo của chúng Như vậy, một sự hiểu biết chi tiết về các hàm chức năng của spinel dựa trên đặc tính phân bố cation của chúng

Trang 17

17

Hình 1.5 Cấu trúc tinh thể của ZnAl 2 O 4

Trong trạng thái cân bằng của kẽm aluminat (ZnAl2O4, gahnite) có cấu trúc của một spinel bình thường (c =0) với công thức hóa học tinh thể sau đây: (Zn)[Al2]O4 ZnAl2O4 thu hút được sự chú ý đáng kể bởi một số ứng dụng đa chức năng của chúng như chất xúc tác, trợ xúc tác, màng dẫn trong suốt với tia

UV, cảm biến, vật liệu cách điện, vật liệu phát quang

Kẽm aluminate (ZnAl2O4) spinel là bán dẫn vùng cấm rộng, đã được sử dụng rộng rãi như là chất xúc tác hoặc hỗ trợ trong nhiều phản ứng xúc tác do độ

ổn định nhiệt cao, nồng độ axit bề mặt thấp và kỵ nước [9-11] Với độ rộng vùng cấm 3.8 eV, vật liệu này cũng đã được ứng dụng trong các thiết bị quang điện tử như màng dẫn điện trong suốt, màng mỏng hiện thị điện quang (electroluminescence thin film displays), màn hình hiển thị phẳng và cảm biến [12, 13] Cụ thể, các nghiên cứu trước đây về họ mạng nền spinel AB2O4 (A=Zn, Mg; B = Al, Ga) pha tạp ion kim loại chuyển tiếp Al, Cu, Mn và đất hiếm Eu, Tb, Ce, Dy đã cho thấy tiềm năng ứng dụng của loại vật liệu này trong công nghệ chiếu sáng rắn [14-20]

Năm 2015, trên tạp chí Scientific Reports 5, Wang và các đồng nghiệp đã chế tạo thành công vật liệu nano huỳnh quang ZnAl2O4 bằng phương pháp sol-

Trang 18

18

gel sử dụng các loại muối nhôm khác nhau như: AlCl3∙6H2O, Al2(SO4)3∙18H2O

hạt, hình thái bề mặt và tính chất quang của vật liệu chế tạo được phụ thuộc vào các loại muối nhôm sử dụng Kết quả cũng cho thấy giá trị độ rộng vùng

Hình 1.6 Cơ chế phát quang của bột ZnAl 2 O 4 được chế tạo bởi các muối

(S1) Al 2 (SO 4 ) 3 ∙18H 2 O, (S2) AlCl 3 ∙6H 2 O, và (S3) Al(NO 3 ) 3 ∙9H 2 O.

Gần đây (trên tạp chí Materials and Design 115 (2017)), Zhang và các đồng nghiệp đã công bố chế tạo được bột huỳnh quang ZnAl2O4: Cr3+ cho phát xạ mạnh trong dải bước sóng từ 650-750 nm khi được kích thích trong một dải kích thích rất rộng từ 389-546 nm (hình 1.7) [22] Kết quả này có thể được xem như

là một kết quả mở hướng mới cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng cả bước sóng tử ngoại và xanh lam để kích thích ZnAl2O4 cho phát xạ trong vùng nhìn thấy Điểm quan trọng ở đây là ở chỗ, dải phát xạ của ZnAl2O4 nằm trong khoảng bước sóng 650-750 nm, chính là vùng bước sóng còn thiếu của bột huỳnh quang thương mại YAG Do đó, theo dự đoán của chúng tôi sự kết hợp của hai loại bột huỳnh quang YAG và ZnAl2O4 khi pha tạp các kim loại chuyển

Trang 19

19

tiếp, có thể tạo ra một loại bột huỳnh quang mới có thể kích thích tốt bằng cả nguồn kích tử ngoại và xanh lam (UV-blue) cho phổ phát xạ rộng và có hệ số trả màu CRI cao

Hình 1.7 Phổ kích thích huỳnh quang (a) và phổ huỳnh quang của tinh thể ZnAl 2 O 4 : Cr 3+

tổng hợp tại 200 o C (b) [ 21 ]

Trong các ion kim loại chuyển tiếp được nghiên cứu rộng rãi nhất thì Cu,

Mn là hai loại ion được sử dụng làm các tâm phát quang trong nhiều mạng nền khác nhau như: ZnS, ZnO, YAG, MgAl2O4, BAM, K2Ge4O9, K2SiF6, Ca3Si2O7…vv Ion Cu2+ trong các mạng nền khác nhau thường cho phát xạ màu xanh lục (từ 500-560nm) đặc trưng liên quan đến các chuyển mức năng lượng của ion Cu2+ trong các mạng nền đó Đối với tạp Mn, trong hầu hết các mạng nền ion

Mn2+ cho phát xạ màu xanh lục ~ 520nm (xem hình 1.6) (trong nền ZnS pha tạp

Trang 20

20

Mn2+ cho phát xạ vàng cam 570-580nm), tuy nhiên với ion Mn4+ trong các mạng nền như YAG, MgAl2O4, BAM, K2Ge4O9, K2SiF6, Ca3Si2O7 cho phát xạ đỏ - đỏ xa với hiệu suất quang rất cao và có thể hấp thụ kích thích dải rộng từ vùng tử ngoại gần (NUV) đến vùng ánh sáng khả kiến (xanh lam –blue; xanh lục – green) (xem hình 1.8-1.10) Do vậy việc kết hợp hai loại tạp chất Cu2+ và Mn4+ có thể nhận được một dải phát xạ từ xanh lục đến vùng hồng ngoại gần

Hình 1.8 Phổ kích thích huỳnh quang và phổ huỳnh quang của bột ZnAl 2 O 4 :Mn 2+

Hình 1.9 Phổ huỳnh quang và phổ kích thích huỳnh quang của ion Mn 4+ trong mạng nền

Sr 2 MgAl 22 O 36 và CaAl 22 O 19

Trang 22

22

Chương 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Quy trình công nghệ chế tạo vật liệu

Để chế tạo bột huỳnh quang ZnAl2O4 đồng pha tạp Cu2+, Mn4+ chúng tôi

* Quy trình công nghệ chế tạo mẫu

Hình 2.1 Quy trình tổng hợp bột ZnAl 2 O 4 đồng pha tạp Cu 2+ và Mn 4+ bằng phương pháp

đồng kết tủa

Ngày đăng: 13/03/2021, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] S. Nishiura, S. Tanabe, K. Fujioka, and Y. Fujimoto, “Properties of transparent Ce:YAG ceramic phosphors for white LED,” Opt. Mater. 33(5), 688–691 (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Properties of transparent Ce:YAG ceramic phosphors for white LED
[1] Z. Xia, Q. Liu, Progress in discovery and structural design of color conversion phosphors for LEDs, Progress in Materials Science, (2016). 84, P. 59–117 Khác
[2] George, N.C., K.A. Denault, and R. Seshadri, Phosphors for Solid-State White Lighting. Annu. Rev. Mater. Res., (2013). 43: p. 481-501 Khác
[3] Meyer, J. and F. Tappe, Photoluminescent Materials for Solid-State Lighting: State of the Art and Future Challenges. Advanced Optical Materials, 2015. 3(4): p. 424-430 Khác
[6] V. Bachmann, C. Ronda and A. Meijerink, Temperature Quenching of Yellow Ce 3+ Luminescence in YAG:Ce, Chem. Mater., 2009, 21 (10), pp 2077–2084 Khác
[7] G. Gu, W. Xiang, C. Yang and X. Liang, Synthesis and luminescence properties of a H 2 annealed Mn-doped Y 3 Al 5 O 12 :Ce 3+ single crystal for WLEDs, CrystEngComm, 2015, 17, 4554-4561 Khác
[9] S.F. Wang, G.Z. Sun, L.M. Fang, L. Lei, X. Xiang &amp; X.T. Zu, A comparative study of ZnAl2O4 nanoparticles synthesized from different aluminum salts for use as fluorescence materials, Scientific Reports 5, Article number: 12849 (2015), pp. 1-12 Khác
[11] H. Zhao, Y. Dong, P. Jiang, G. Wang, J. Zhang, C. Zhang, ZnAl 2 O 4 as a novel high-surface-area ozonation catalyst: One-step green synthesis, catalytic performance and mechanism, Chemical Engineering Journal 260 (2015) 623–630 Khác
[12] L. Corrnu, M. Gaudon, V. Jubera, ZnAl 2 O 4 as a potential sensor: variation of luminescence with history, J. Mater. Chem. C, 2013, 1, 5419, pp. 5419- 5428 Khác
[13] M.G. Brik, J. Papan, D.J. Jovanović, M.D. Dramićanin, Luminescence of Cr 3+ ions in ZnAl 2 O 4 and MgAl 2 O 4 spinels: correlation between experimental spectroscopic studies and crystal field calculations, Journal of Luminescence 177 (2016) 145–151 Khác
[14] S. S. Pitale, V. Kumar, I.M. Nagpure, O.M. Ntwaeaborwa, H.C. Swart, Luminescence characterization and electron beam induced chemical changes on the surface of ZnAl 2 O 4 :Mn nanocrystalline phosphor, Applied Surface Science 257 (2011) 3298–3306 Khác
[15] S.V. Motloung, F.B. Dejene, L.F. Koao, O.M. Ntwaeaborwa, H.C. Swart, T.E. Motaung, O.M. Ndwandwe, Structural and optical studies of ZnAl 2 O 4 :x% Cu 2+ (0 &lt; x 1:25) nanophosphors synthesized via citrate sol- gel route, Optical Materials 64 (2017) 26-32 Khác
[16] Q. Bai, P. Li, Z. Wang, T. Li, S. Xu, Z. Yang, Using Ca 2+ ions to induce the long afterglow and bluish white emission of red emitting phosphor Zn 3 Al 2 Ge 2 O 10 :Cr 3+ , Materials and Design 91 (2016) 28–36 Khác
[18] Megan E. Foley, Robert W. Meulenberg, James R. McBride, and Geoffrey F. Strouse, Eu 3+ -Doped ZnB 2 O 4 (B = Al 3+ , Ga 3+ ) Nanospinels: An Efficient Red Phosphor, Chem. Mater., 2015, 27 (24), pp 8362–8374 Khác
[19] K.G. Tshabalala, S.-H. Cho, J.-K. Park, Shreyas S. Pitale, I.M. Nagpure, R.E. Kroon, H.C. Swart, O.M. Ntwaeaborw, Luminescent properties and X- ray photoelectron spectroscopy study of ZnAl 2 O 4 :Ce 3+, Tb 3+ phosphor, Journal of Alloys and Compounds 509 (2011) 10115–10120 Khác
[20] L. Cornu, M. Duttine, M. Gaudon and V. Jubera, Luminescence switch of Mn-Doped ZnAl 2 O 4 powder with temperature, J. Mater. Chem. C, 2014, 2, 9512–9522 Khác
[21] Shi-Fa Wang, , Guang-Zhuang Sun, Lei-Ming Fang, Li Lei, Xia Xiang &amp; Xiao-Tao Zu, A comparative study of ZnAl2O4nanoparticles synthesized from different aluminum salts for use as fluorescence materials, Scientific Reports volume5, Article number: 12849 (2015) Khác
[22] D. Zhang, Y.H. Qiu, Y.R. Xie, X.C. Zhou, Q.R. Wang, Q. Shi, S.H. Li, W.J.Wang, The improvement of structure and photoluminescence properties of ZnAl2O4:Cr3+ ceramics synthesized by using solvothermal method, Materials and Design 115 (2017) 37–45 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w