1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam

228 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội SPI của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu..

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học:

1 PGS.TS Đào Văn Hùng

2 PGS.TS Lê Thanh Tâm

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, kháchquan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nghiên cứu nào khác ngoài các bàibáo/bài viết hội thảo của tôi hoặc các bài báo/bài viết hội thảo của tôi và đồng tácgiả được nêu trong danh mục công trình khoa học có liên quan đến luận án Cácthông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận án được thu thập từ thực tế, có nguồn gốctrích dẫn rõ ràng, được xử lý trung thực và khách quan

Hà Nội, Ngày tháng Năm 2020

Tác giả luận án

Nguyễn Bích Ngọc

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 32 1.1 Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô 32

1.1.1 Khái niệm và vai trò của tổ chức tài chính vi mô 32

1.1.2 Sản phẩm, dịch vụ của tổ chức tài chính vi mô 37

1.2 Cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô 45

1.2.1 Khái niệm 45

1.2.2 Biến đại diện cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô 46

1.3 Mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô 48

1.3.1 Khái niệm 48

1.3.2 Biến đại diện mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô 49

1.4 Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô 52

1.4.1 Khái niệm 52

1.4.2 Biến đại diện hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô 54

1.5 Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội 68

1.5.1 Lý thuyết M&M 68

1.5.2 Lý thuyết đánh đổi 70

1.5.3 Lý thuyết trật tự phân hạng 72

1.5.4 Đặc tính cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô 75

Trang 3

1.5.5 Cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội 76

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 80

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN, MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 81

2.1 Quá trình hình thành các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 81

2.2 Môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam 81

2.3 Các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 84

2.4 Cấu trúc vốn của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 87

2.4.1 Thực trạng cấu trúc vốn của các TCTCVM được cấp phép tại Việt Nam 90

2.4.2 Thực trạng cấu trúc vốn của các TCTCVM có đăng kí tại Việt Nam 96

2.5 Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 99

2.5.1 Thực trạng về mức độ bền vững của các TCTCVM được cấp phép tại Việt Nam .99

2.5.2 Thực trạng về mức độ bền vững của các TCTCVM có đăng kí tại Việt Nam .100

2.6 Hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 102

2.6.1 Mức độ tiếp cận (A) 103

2.6.2 Tỉ lệ dư nợ bình quân trên thu nhập bình quân (B) 104

2.6.3 Chi phí trên một khách hàng vay (C) 104

2.6.4 Tỉ lệ khách hàng nữ (D) 105

2.6.5 Số lượng chi nhánh (E) 107

2.6.6 Tỉ lệ nợ rủi ro (G) và tỉ lệ xóa nợ (H) 107

2.6.7 Chỉ số SPI 110

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 112

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 113

3.1 Tổng quan mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 113

Trang 5

3.1.2 Mô hình tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội 115

3.2 Đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng 120

3.2.1 Mô tả mô hình và dữ liệu sử dụng trong mô hình 120

3.2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 122

3.3 Số liệu và kết quả nghiên cứu 129

3.3.1 Mô tả số liệu thống kê 130

3.3.2 Kết quả nghiên cứu mô hình đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 132

3.3.3 Kết quả nghiên cứu mô hình đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 137

3.4 Kết luận 142

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 145

CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ VỀ CẤU TRÚC VỐN NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 146

4.1 Định hướng, chiến lược hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2025 146

4.2 Khuyến nghị đối với các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 147

4.2.1 Khuyến nghị đối với các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép 148

4.2.2 Khuy bảo an toàn hoạt động khuy bảo an toàn hoạt động có đăng kí 156

4.3 Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 161

4.3.1 Khuyến nghị đối với Chính Phủ 161

4.3.2 Khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 164

4.3.3 Khuyến nghị đối với Ủy ban nhân dân các cấp 166

4.3.4 Khuyến nghị đối với Trung tâm Tư vấn Nguồn lực Tài chính vi mô Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa 167

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 170

KẾT LUẬN 171 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

CEP Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho

người lao động nghèo tự tạo việc làmCGAP Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất

FEM Mô hình tác động cố định

GMM Mô hình moment tổng quát

M7MFI Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7

MFI Tổ chức tài chính vi mô

NGO Tổ chức Phi Chính Phủ

NHNN Ngân hàng Nhà nước

REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

TCTCVM Tổ chức tài chính vi mô

TYM Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương

VMFWG Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền

vững của tổ chức tài chính vi mô 15

Bảng 2 Thống kê các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của tổ chức TCVM 23

Bảng 1.1: Sản phẩm tín dụng vi mô 39

Bảng 1.2: Một số dịch vụ phi tài chính do các tổ chức, chương trình vi mô trên thế giới cung cấp 44

Bảng 1.3: Ý nghĩa từng cấu phần của chỉ số SPI 57

Bảng 1.4: Danh sách tổ chức tiêu biểu xây dựng bộ công cụ đo lường hiệu quả xã hội .61

Bảng 1.5: Cách thức đo lường và ý nghĩa của từng cấu phần trong đo lường SPI 67

Bảng 2.1 Thống kê số lượng tổ chức TCVM được nghiên cứu trong luận án 84

Bảng 2.2 Các nguồn vốn hỗ trợ tổ chức TCVM 88

Bảng 2.3 Sản phẩm tiết kiệm tại TYM và M7-MFI 93

Bảng 2.4: Mức độ bền vững của MFIs được cấp phép giai đoạn 2011-2019 99

Bảng 2.5: Tổng hợp so sánh các cấu phần đánh giá SPI của MFIs được cấp phép và có đăng kí 109

Bảng 3.1 Thống kê số lượng tổ chức TCVM được nghiên cứu trong luận án 121 Bảng 3.2 Giả thuyết tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc 125

Bảng 3.3 Giả thuyết tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc 128

Bảng 3.4: Kết quả thống kê mô tả 130

Bảng 3.5: Kết quả kiểm định Hausman Test 132

Bảng 3.6: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy theo REM 133

Bảng 3.7: Kết quả mô hình 1 rút gọn 134

Bảng 3.8: So sánh giữa giả thuyết và kết quả nghiên cứu mô hình 1 134

Bảng 3.9: Kết quả mô hình hồi quy theo GMM 138

Bảng 3.10: So sánh giữa giả thuyết và kết quả nghiên cứu mô hình 2 139

Bảng 3.11: Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 143

Bảng 4.1: Gợi ý nhu cầu khách hàng đối với sản phẩm huy động 151

Bảng 4.2: Nội dung và lưu ý chuyển đổi 159

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô 33

Hình 1.2: Phân loại các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam 34

Hình 1.3: Phân loại khách hàng tài chính vi mô 36

Hình 1.4: Vai trò của tổ chức tài chính vi mô đối với kinh tế - xã hội 37

Hình 1.5: Nhu cầu bảo hiểm của người nghèo 41

Hình 3.1: Mô hình cho chuỗi dữ liệu tại nhiều quốc gia 113

Hình 3.2: Mô hình cho chuỗi dữ liệu tại một quốc gia 114

Hình 3.3: Mô hình cấu trúc vốn và mức độ bền vững 115

Hình 3.4: Mô hình chỉ sử dụng nhóm yếu tố vi mô 116

Hình 3.5: Mô hình sử dụng cả nhóm yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô 117

Hình 4.1: Cơ sở đề xuất khuyến nghị 147

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Nhu cầu về dịch vụ tài chính vi mô của người nghèo 38

Biểu đồ 1.2: Tần suất được sử dụng của các tiêu chí đo lường hiệu quả xã hội 63

Biểu đồ 1.3 Cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả

xã hội của tổ chức tài chính vi mô 78

Biểu đồ 2.1: Hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động của MFIs Việt Nam 82Biểu đồ 2.2 Cấu trúc nguồn vốn của hệ thống TCTCVM Việt Nam (tháng 7/2016) 87

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu vốn của các nhóm tổ chức tài chính vi mô 89

Biểu đồ 2.4 Cấu trúc vốn của MFIs được cấp phép 2011 – 2019 90

Biểu đồ 2.5 Sự thay đổi của tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn củaMFIs được cấp phép (2011 – 2019) 91

Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng vốn huy động từ tiền gửi trên tổng nguồn vốn của MFIs

được cấp phép (2011 – 2019) 92Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng vốn vay trên tổng nguồn vốn của MFIs được cấp phép giai đoạn

2011 – 2019 95Biểu đồ 2.8 Tỷ trọng nợ khác trên tổng nguồn vốn tại MFIs được cấp phép giaiđoạn 2011 – 2019 96

Biểu đồ 2.9: Cấu trúc nguồn vốn của MFIs có đăng kí tại Việt Nam 2011 – 2019 97Biểu đồ 2.10: Chỉ số OSS của MFIs có đăng kí giai đoạn 2011 – 2019 100Biểu đồ 2.11: Giá trị OSS lớn nhất và nhỏ nhất của MFIs có đăng kí giai đoạn

2011 – 2019 101Biểu đồ 2.12: Số lượng MFIs có đăng kí có OSS 120 giai

Biểu đồ 2.13: Số lượng khách hàng đang vay vốn bình quân tại MFIs trong giaiđoạn 2011 - 2019 103Biểu đồ 2.14: Dư nợ bình quân/GNI bình quân đầu người của MFIs tại Việt Namgiai đoạn 2011 - 2019 104Biểu đồ 2.15: Chi phí trên một khách hàng vay bình quân của MFIs tại Việt Namgiai đoạn 2011 – 2019 105

Trang 10

Biểu đồ 2.16: Tỉ lệ khách hàng nữ của MFIs tại Việt Nam trong giai đoạn 2011– 2019 106Biểu đồ 2.17: Tỷ lệ nợ rủi ro của MFIs tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2019 107Biểu đồ 2.18: Tỷ lệ xóa nợ của MFIs tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2019 108Biểu đồ 2.19: Chỉ số SPI của MFIs tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2019 110Biểu đồ 3.1 Khung phân tích 119

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Yêu cầu nghiên cứu lý luận

Tại các quốc gia trên thế giới và đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nhưViệt Nam, tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội nói chung (Agnello và cộng sự, 2012) và xóa đói giảm nghèo, đảmbảo an sinh xã hội nói riêng (Ledgerwood, 2013) Tuy nhiên, nếu như mức độ tiếpcận các dịch vụ tài chính cũng như phạm vi dịch vụ bị hạn chế thì lại có thể kìmhãm sự phát triển của cá nhân, doanh nghiệp Tỉ lệ người nghèo trong xã hội cũng

vì thế mà tăng lên Chính vì vậy phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đápứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tếnào cũng muốn hướng tới

Trong xu hướng đó, đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp nhậnđược sự quan tâm nhiều hơn cả, bởi còn nhiều rào cản như trình độ, mức độ rủi rohay giới tính… hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính từ khu vực chính thứccủa những đối tượng này Chính vì vậy, vào khoảng thế kỷ thứ 17, tài chính vi mô

đã được ra đời nhằm giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tàichính Mô hình này sau đó đã nhanh chóng phát triển và lan rộng ra nhiều quốc giatrên thế giới

Cụ thể, qua quá trình hoạt động, số liệu thống kê của MicrofinanceBarometer cho thấy các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới đã cung ứng dịch vụcho khoảng 136 triệu khách hàng thu nhập thấp vào năm 2016 và 139 triệu kháchhàng vào năm 2017 Cũng theo thống kê này, tỉ lệ tăng trưởng về số lượng kháchhàng của MFIs cho hai năm 2016 và 2017 lần lượt là 9.6 và 5.6 Như vậy, có thểthấy mặc dù số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ từ các tổ chức tài chính vi môtrên thế giới vẫn đang trên đà tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lạidần Quan trọng hơn, khi so sánh giữa quy mô khách hàng hiện nay của tổ chức tàichính vi mô với tỉ lệ 10.9 người trên thế giới đang phải sống dưới mức thu nhập $2/ngày theo thống kê của tỉ lệ người nghèo trên thế giới vào năm 2018, rõ ràng đối

Trang 12

tượng người nghèo được tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô vẫn còn rất nhỏ so vớinhu cầu.

Chính vì vậy, duy trì hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô trong dài hạn

để có thể phục vụ nhiều hơn nữa khách hàng có thu nhập thấp trong tương lai là vấn

đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong đó Peter (2007); Daher

và Le Saout (2013) và Quayes (2015) đều nhấn mạnh đạt được bền vững chính làchìa khóa của vấn đề bởi chỉ khi các tổ chức tài chính vi mô hoạt động bền vững, họmới có thể phục vụ khách hàng trong một thời gian dài (Rhyne, 1998; Meyer, 2002)

và giúp cho khách hàng của họ thoát nghèo một cách bền vững Quan điểm nàycũng hoàn toàn đồng nhất với kết luận được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trongnước như Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) khi các tác giả khẳng định đạt được

sự bền vững chính là cơ sở nền tảng để các tổ chức tài chính vi mô có thể phục vụthêm được nhiều khách hàng hơn nữa trong tương lai

Tuy nhiên, Ndanyenbah (2017) trong nghiên cứu về sự biến đổi, sụp đổ vàbền vững tài chính của MFIs đã chỉ ra rằng từ những năm 1990 khi mà các nhà tàitrợ và Chính Phủ nhận thấy không còn đủ nguồn để tài trợ cho người nghèo thôngqua hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, thì cấu trúc vốn đã thực sự trở thànhthách thức đối với các tổ chức tài chính vi mô trên con đường đạt được sự bền vững.Điều này đã dẫn tới nhu cầu tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụ chohoạt động của MFIs Tuy nhiên, cũng trên con đường thương mại hóa, vấn đề đảmbảo hiệu quả xã hội của MFIs cũng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm, bởiquan điểm hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đang chịu ảnh hưởng rất lớn từđộng lực và mục tiêu của các nhà tài trợ khác nhau (Jasmina Devinck, 2013) Do đó,

sự thay đổi trong cấu trúc vốn của MFIs hẳn nhiên có những tác động nhất định đếnđịnh hướng phát triển cả về bền vững tài chính và hiệu quả xã hội của các tổ chứctài chính vi mô trong tương lai

1.2 Yêu cầu nghiên cứu thực tiễn

Được hình thành từ khá sớm vào giai đoạn những năm 1980, hoạt động tàichính vi mô tại Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với những

Trang 13

thành quả đáng ghi nhận như giá trị tổng tài sản không ngừng tăng lên, số lượngkhách hàng được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và phi tài chính tại các tổ chứctài chính vi mô liên tục tăng trưởng qua các năm (Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Hải,2016), công tác triển khai các sản phẩm, dịch vụ như tín dụng, huy động tiết kiệmcũng nhận được đánh giá ngày càng cao từ phía khách hàng (VMFWG, 2017).

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, hoạt động của tổ chính tài chính vi môtại Việt Nam trong những năm gần đây cũng vấp phải những khó khăn nhất định

Cụ thể, thời điểm năm 2010 khi nước ta được cấp phép bước vào hàng ngũ các nước

có thu nhập trung bình, thì nguồn vốn ưu đãi của tổ chức Phi Chính Phủ nước ngoàivào Việt Nam có xu hướng thu hẹp dần Do đó, việc tìm kiếm các nguồn vốn để duytrì hoạt động của các tổ chức, chương trình, dự án tài chính vi mô bắt đầu trở nênkhó khăn hơn Điều này đã tạo nên thách thức cho các tổ chức trong việc phải nhanhchóng thích nghi, và tìm kiếm các nguồn vốn mới thay thế nhằm duy trì hoạt độngtrong dài hạn Tuy nhiên, để tiếp cận với các nguồn vốn từ thị trường, các tổ chứcphải đảm bảo tuân thủ các quy định về hoạt động và chế độ tài chính theo yêu cầucủa pháp luật – những điều kiện mà không phải trong thời gian ngắn các tổ chức cóthể đáp ứng được Bên cạnh đó, đa phần các tổ chức tài chính vi mô đều chưa cóđịnh hướng cụ thể về phát triển nguồn vốn trong tương lai Chính vì vậy, công tácquản lý và phát triển nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của tổ chức tài chính vi môtại Việt Nam thực sự là một thách thức đối với lãnh đạo của MFIs

Hơn thế nữa, trong bối cảnh nguồn vốn gặp khó khăn, các nhà quản lý của các

tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam còn phải đối mặt với áp lực đảm bảo cân bằnggiữa bền vững tài chính và hiệu quả xã hội bởi đây chính là nguồn gốc sức mạnh của ýtưởng về tài chính vi mô (Sinha, 2006) Cụ thể, trong khoảng thời gian từ 2010 trở vềđây, số liệu thu thập được từ Danh bạ tài chính vi mô của Nhóm công tác tài chính vi

mô Việt Nam cho thấy khả năng bù đắp các chi phí hoạt động từ thu nhập hoạt độngcủa các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam đang có xu hướng giảm dần Bên cạnh đó,chỉ số hiệu quả xã hội theo tính toán của tác giả cũng có chiều hướng đi xuống Xuấtphát từ thực tiễn đó, việc tiến hành nghiên cứu tác động

Trang 14

của từng nguồn vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính

vi mô để đưa ra những định hướng, khuyến nghị phù hợp cho tổ chức tài chính vi

mô trong việc lựa chọn và phát triển nguồn vốn là điều cần thiết Do đó, tác giả đã

quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” làm đề tài

nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu, khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu

Cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi

mô trong những năm qua đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhànghiên cứu cả trong và ngoài nước Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây đa phầnmới chỉ nghiên cứu riêng rẽ tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững hoặctác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs, mà chưa có nghiên cứunào đi phân tích tác động của cấu trúc vốn đến đồng thời cả hai yếu tố này Chính vìvậy, trong phần tiếp theo các nghiên cứu tiêu biểu về tác động của cấu trúc vốn đếnmức độ bền vững và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs sẽ lầnlượt được phân tích

2.1 Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô

2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Thực hiện kiểm chứng lý thuyết vòng đời trong tài trợ MFIs, Bogan (2012)tập trung vào phân tích mức độ bền vững của MFIs qua các giai đoạn phát triển(mới, trẻ và trưởng thành) thông qua hai mô hình hồi quy Trong đó, mô hình 1phân tích các yếu tố tác động tới mức độ bền vững của MFIs, mô hình

2 tập trung đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn, đặc tính và điều kiện kinh tế vĩ

mô của quốc gia đến khả năng đạt được độ bền vững của tổ chức Kết quả các môhình cho thấy quy mô và cấu trúc vốn có tác động rõ nét đến mức độ bền vững củaMFIs Cụ thể, Bogan (2012) chỉ ra rằng việc quá phụ thuộc vào các khoản tài trợtrong tổng nguồn vốn sẽ khiến cho MFIs ngày càng xa rời mục tiêu bền vững Do

đó, thoát dần khỏi các nguồn tài trợ, và hoạt động theo định hướng

Trang 15

thương mại sẽ là bước đi cần thiết trong tương lai để MFIs có thể đa dạng hóanguồn vốn, cũng như thu hút được tiền gửi tiết kiệm cho tổ chức Trên cơ sở đó các

tổ chức tài chính vi mô mới có thể mở rộng danh mục tín dụng vi mô, giảm thiểu lãisuất cho vay, nâng cao khả năng tiếp cận, và đặc biệt là mức độ bền vững của tổchức Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rủi ro tín dụng (tỉ lệ danh mục rủi ro trên 30ngày), số lượng người vay và người gửi tiết kiệm đều có tác động đến mức độ bềnvững của MFIs Trái lại, điều kiện kinh tế vĩ mô của từng quốc gia lại cho thấydường như không có mối liên kết với mức độ bền vững

Kế thừa mô hình của Bogan (2012), Tehulu (2013) thực hiện nghiên cứu vềcác yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững tài chính của 23 MFIs tại khu vực châuPhi trong giai đoạn 2004 – 2009 Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn

mà cụ thể là chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu với mức độ bền vững của các TCTCVM

là nghịch chiều với độ tin cậy là 95% Giải thích cho kết quả này Tehulu cho rằngtại Châu Phi, thay vì trả cổ tức cho chủ đầu tư thì MFIs lại cung cấp cho họ cáckhoản vay ưu đãi Chính vì lẽ đó chi phí vốn chủ sở hữu trở nên rẻ hơn trong mốitương quan với chi phí vốn vay, và tất yếu sử dụng nhiều nợ hơn hay hệ số nợ trênvốn chủ sở hữu càng cao thì mức độ bền vững của các TCTCVM càng thấp Ngoài

ra, theo Tehulu (2013) sự tác động của tỉ lệ vốn huy động từ tiết kiệm trên tổng tàisản đến mức độ bền vững của MFIs là thuận chiều Tuy nhiên, sự tác động nàykhông có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích tác động của cácyếu tố như quy mô, tổng danh mục cho vay, hiệu quả quản lý (tỉ lệ chi phí hoạt độngtrên tổng tài sản), rủi ro tín dụng (tỉ lệ khoản vay quá hạn trên 30 ngày) đến mức độbền vững của MFIs Trong đó, 2 nhóm yếu tố đầu có tác động thuận chiều đến mức

độ bền vững, còn các nhóm yếu tố sau có tác động nghịch chiều

Thực hiện nghiên cứu về mức độ bền vững của TCTCVM ở các nước ChâuPhi dựa trên nền tảng lý thuyết vòng đời như Tehulu (2013); tuy nhiên,Nyamsogoro (2010); Kinde (2012) và Sekabira (2013) chỉ tập trung vào nghiên cứuMFIs trong phạm vi một quốc gia Chính vì vậy, yếu tố kinh tế vĩ mô trong mô hình

Trang 16

bị loại bỏ và chỉ tập trung vào phân tích tác động của cấu trúc vốn cũng như đặc tínhcủa MFIs đến mức độ bền vững Cụ thể, Nyamsogoro (2010) chỉ ra rằng phần vốnchủ sở hữu giúp cải thiện đáng kể mức độ bền vững tài chính của TCTCVM ở mức

ý nghĩa 5% Bên cạnh đó các yếu tố như lãi suất, dư nợ trung bình, số lượng kháchhàng nữ hay giá trị khoản vay cũng có tác động thuận chiều đến mức độ bền vữngcủa MFIs Trái lại, tác động nghịch chiều lại được chứng minh tại các biến như chiphí trên một khách hàng vay, chi phí nhân viên trên một đồng vốn cho vay ra, thờigian hoạt động của MFIs và số lượng khách hàng vay Ngoài ra, sự tác động của cácyếu tố liên quan đến kĩ thuật cho vay của MFI như số lượng các khoản trả góp, giátrị khoản vay tối thiểu và điều kiện về thời hạn đến mức độ bền vững là không đồngnhất giữa khoản vay cá nhân và khoản vay theo tổ, nhóm

Ủng hộ cho kết luận của Nyamsogoro (2010), Sekabira (2013) trong nghiêncứu tại Uganda đã chỉ ra rằng sử dụng nguồn vốn vay làm giảm mức độ bền vữngtài chính của MFIs Nguyên nhân đứng đằng sau mối quan hệ nghịch chiều này,theo Sekabira là do sự khác biệt về chi phí vốn Cụ thể, lãi suất khác nhau mà MFIsphải trả cho chủ nợ có thể đe doạ đến hoạt động hoặc mức độ bền vững của các tổchức này Một ví dụ điển hình đó là các khoản vay của MFIs có thể đến từ cácnguồn không chính thống – nguồn đòi hỏi mức lãi suất cao, nhưng phải được trả lạitrong thời gian ngắn Hệ quả là chi phí tài chính tăng lên còn mức độ bền vững tàichính của TCTCVM lại suy giảm (Sekabira, 2013) Bên cạnh đó, mức độ rủi ro và

số lượng người gửi tiền tiết kiệm tại tổ chức cũng có tác động nghịch chiều đến mức

độ bền vững của tổ chức Kết quả này, theo Sekabira là do sự gia tăng trong sốlượng người tiết kiệm sẽ kéo theo sự gia tăng về chi phí trả lãi cho người gửi tiền

Do đó, làm giảm lợi nhuận của MFIs cũng như khả năng đạt được mức độ bềnvững Đặc biệt, trong tình huống của nghiên cứu khi số lượng người gửi tiền nhiềuhơn số lượng người vay thì tác động này lại càng rõ nét Trái lại, sự gia tăng trong

số lượng người vay vốn giúp cải thiện mức độ bền vững của tổ chức

Áp dụng mô hình tương đồng Nyamsogoro (2010) và Sekabira (2013) cho

Trang 17

nghiên cứu tại Ethiopia; Kinde (2012) trái lại đưa ra kết quả có phần khác biệt khichỉ ra rằng tác động của cấu trúc đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mômặc dù là nghịch chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê Do đó, theo tác giả sự kếthợp của các nguồn vốn khác nhau không làm cải thiện khả năng đạt được mức độbền vững của các tổ chức tài chính vi mô Trong khi đó, số lượng khách hàng vay

và giá trị khoản vay bình quân được chứng minh giúp cải thiện khả năng đạt đượcmức độ bền vững tài chính của MFIs Cụ thể, sự tăng lên trong số lượng người vay

sẽ là tiền đề giúp cho các tổ chức tài chính vi mô gia tăng khối lượng sản phẩm cungcấp, lợi nhuận và cuối cùng là gia tăng mức độ bền vững

Kết quả này cũng hoàn toàn trùng khớp với nhận định của Ali (2013) trongnghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ bền vững tài chính và mức độ tiếp cận củaMFIs tại Kenya Sử dụng mô hình hồi quy OLS trên dữ liệu của 30 tổ chức tài chính

vi mô, Ali chỉ ra rằng khách hàng đang vay vốn sẽ hỗ trợ thu hút thêm các kháchhàng mới thông qua việc truyền miệng, giới thiệu về các dịch vụ họ đươc trảinghiệm tại MFIs Qua đó, ngày càng nhiều người biết đến danh tiếng của tổ chức,lợi nhuận và hiệu quả tài chính của MFIs cũng vì thế mà tăng theo Ngoài ra, tỉ lệkhách hàng nữ cũng được chứng minh có tác động mạnh mẽ đến mức độ bền vữngcủa tổ chức tài chính vi mô thông qua nâng cao mức độ tiếp cận cũng như tỉ lệ hoàntrả nợ vay

Kế thừa mô hình được xây dựng bởi Miyajima và cộng sự (2004) trong đánh giá

sự tác động của cấu trúc vốn và đặc tính của tổ chức đối với hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp tại Nhật Bản, Kyereboah-Coleman (2007) đưa ra kết luận có phần khácbiệt với Bogan (2012); Tehulu (2013); Nyamsogoro (2010) và Sekabira (2013) khi chỉ

ra rằng đòn bẩy tài chính có tác động thuận chiều đến mức độ bền vững của tổ chức.Kết quả này theo như Kyereboah-Coleman là do việc sử dụng nợ vay đã tạo áp lực thúcđẩy các TCTCVM trong tìm kiếm khách hàng, mở rộng phạm vi tiếp cận và quyết tâmhơn trong việc thu hồi các khoản nợ của mình Chính vì vậy, thu nhập, lợi nhuận vàmức độ bền vững của MFIs sẽ tăng lên Mặt khác, các yếu tố như mức độ rủi ro, thờigian hoạt động hay quy mô của MFIs lại có tác động nghịch

Trang 18

chiều lên mức độ bền vững của MFIs Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tăngtrưởng về quy mô của tổ chức đi cùng với sự tăng trưởng về bộ máy tổ chức, cơ cấuquản lý của MFIs Vì vậy, các tổ chức dễ dàng giải quyết các vấn đề liên quan rủi rođạo đức của khách hàng cũng như lựa chọn đối nghịch Bên cạnh đó, khi quy môcủa MFIs tăng lên thì mức độ tiếp cận của các tổ chức có xu hướng giảm; tuy nhiên,

sự tác động này là không rõ nét hay không có ý nghĩa thống kê

Ủng hộ cho kết luận của Kyereboah-Coleman (2007), Iezza (2010) trongnghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững của 687 TCTCVM ở

63 quốc gia trên thế giới trong năm 2008, đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn giữ vai tròquan trọng trong việc cải thiện độ mức độ bền vững của TCTCVM Cụ thể, MFI sẽ

có lợi thế đáng kể về thuế từ việc sử dụng các khoản nợ thay vì vốn cổ phần Do đó,MFIs nên được tài trợ bằng các khoản nợ để tăng khả năng sinh lời của tổ

chức Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vốnhuy động trong nâng cao hiệu quả hoạt động của MFIs bởi đây được coi là nguồnvốn với chi phí thấp Ngoài ra, lãi suất, tỉ lệ nợ rủi ro và tỉ lệ tài sản không sinh lờinhưng có tính thanh khoản cao cũng có tác động rõ nét đến mức độ bền vững củaMFIs Cụ thể, tổ chức với tỉ lệ nợ rủi ro trên 30 ngày thấp hay khả năng thu hồi nợcủa MFIs cao thì thường có mức độ bền vững cao hơn các tổ chức khác Tương tự,MFIs có tỉ lệ tài sản không sinh lời càng thấp và lãi suất càng cao thì khả năng đạtđược mức độ bền vững cũng càng cao Cuối cùng, ở các quốc gia có duy trì tỉ lệ lạmphát và lãi suất cơ bản ở mức tương đối thấp, thì MFIs thường có điều kiện pháttriển ổn định và đạt được mức độ bền vững cao hơn Đặc biệt, nghiên cứu sâu hơn

về độ phát triển của MFIs tại các khu vực địa lý khác nhau, Iezza còn chỉ ra rằngMFIs tại khu vực Đông Nam Á và trung tâm Thái Bình Dương có mức độ thể hiệntốt hơn MFIs tại các khu vực khác

Đồng nhất với kết luận của Iezza; Muriu (2011) và Mwangi và cộng sự(2015) đều cho rằng vốn huy động từ tiền gửi được xem như một nguồn vốn giá rẻ,

và do đó sẽ giúp giảm chi phí hoạt động cũng như có tác động tích cực đến mức độbền vững của TCTCVM Chính vì vậy, các TCTCVM nên đưa ra các chiến lược để

Trang 19

giành được lòng tin của người gửi tiền, cũng như đa dạng hóa các sản phẩm tiếtkiệm của mình để có thể thu hút thêm khách hàng (Cull và cộng sự, 2011).

Sử dụng mô hình nghiên cứu tương đồng với Mwangi và cộng sự (2015);song, kết luận của Mwizarubi và cộng sự (2016) và Mwongeli và Ariemba (2018 )

về tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững tài chính của tổ chức tài chính vi

mô lại không đồng nhất Cụ thể, nghiên cứu về mức độ bền vững của tổ chức tàichính vi mô hàng đầu ở Tanzania, Mwizarubi và cộng sự (2016) chỉ ra rằng mặc dùcác khoản vay thương mại có tác động tích cực tới mức độ bền vững; song sự tácđộng này không có ý nghĩa về thống kê Kết luận này được ủng hộ bởi Hossain vàAsam (2016) khi các tác giả chỉ ra rằng tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tác động không

rõ nét lên mức độ bền vững tài chính của 29 MFIs tại Bangladesh trong giai đoạn

2008 – 2012 Bên cạnh đó, các yếu tố như quy mô, thời gian hoạt động, tỉ lệ kháchhàng nữ hay số lượng khách hàng vay trên một nhân viên ngân hàng cũng không cóảnh hưởng đáng kể đến mức độ bền vững tài chính của MFIs tại Bangladesh trongkhoảng thời gian nghiên cứu

Trái lại, tập trung vào phân tích tác động của cấu trúc vốn tới mức độ bềnvững tài chính của các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép nhận tiền gửi tạiKenya, Mwongeli và Ariemba (2018) khẳng định vai trò của đòn bẩy tài chính trongviệc nâng cao mức độ bền vững tài chính của MFIs Do đó, MFIs cần nắm bắt bất

cứ cơ hội vay nợ nào để cải thiện độ mức độ bền vững tài chính của mình Ngoài ra,lợi nhuận giữ lại và vốn cổ phần ưu đãi cũng cho thấy có tác động tích cực và rõ nétlên mức độ bền vững tài chính của MFIs Tuy nhiên, vốn cổ phần thông thường lại

có tác động nghịch chiều và không được khuyến khích sử dụng

Có phần khác biệt với các nghiên cứu trước đó khi cân nhắc tới sự tác độngcủa cấu trúc quản trị lên mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô, Mutua và Ali(2017) đã chỉ ra rằng nguồn tài trợ và chất lượng quản trị của MFIs có tác độngmạnh tới mức độ bền vững của tổ chức Cụ thể, một bộ máy quản trị tốt sẽ hỗ trợcho sự tồn tại và thc đẩy sự phát triển, gia tăng mức độ bền vững của tổ chức tàichính vi mô Trái lại, bộ máy quản trị yếu kém sẽ làm suy giảm hoạt động của

Trang 20

MFIs Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng các tổ chức tài chính vi mônên tận dụng tất cả các nguồn lực tài chính bao gồm vốn nhận viện trợ và vốn huyđộng tiết kiệm để nâng cao mức độ bền vững của họ Cuối cùng, Mutua và Ali nhấnmạnh: bằng việc huy động tiền gửi từ khách hàng cũng như có cơ chế bảo vệ ngườigửi tiền một cách hiệu quả, các tổ chức tài chính vi mô sẽ không chỉ đạt được độbền vững mà còn có thể mở rộng mức độ tiếp cận của mình.

Sử dụng mô hình và phương pháp nghiên cứu gần như tương đồng với Mutua

và Ali (2017), song với quy mô mẫu rộng hơn gồm 33 tổ chức tại Kenya, Kioko(2012) cũng đưa ra nhận định tương tự Cụ thể, Kioko khẳng định các tổ chức tàichính vi mô cần chú trọng hơn tới tăng cường cơ cấu quản trị, cũng như đa dạng hóacác dịch vụ tài chính nhằm nâng cao mức độ bền vững của tổ chức Ngoài ra, tác giảcũng không quên nhấn mạnh vai trò của đòn bẩy tài chính, và đặc biệt là nguồn tàitrợ đến hoạt động của MFIs Điều này có thể được giải thích một phần bởi các tổchức tài chính vi mô tại Kenya đang phần lớn dựa trên nguồn tài trợ để tồn tại vàphát triển

2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Kế thừa mô hình nghiên cứu mối liên hệ giữa sự bền vững tài chính và mức

độ tiếp cận của TCTCVM tại Kenya của Ali (2013), Nguyễn Quỳnh Phương (2017)trong luận án tiến sĩ về phát triển hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại ViệtNam đã đánh giá tác động của cấu trúc vốn và mức độ tiếp cận lên sự bền vững củaMFIs trong giai đoạn 2011 – 2015 Kết quả mô hình cho thấy trong khi tổng sốkhách hàng, tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, giá trị dư nợ tín dụng bình quântrên cán bộ tín dụng và tỷ lệ khách hàng là nữ giới có tác động thuận chiều lên mức

độ bền vững của MFIs tại Việt Nam, thì giá trị khoản vay trung bình trên GDP bìnhquân lại cho thấy tác động nghịch chiều Tuy nhiên, trong các nhân tố trên chỉ cóyếu tố tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, giá trị dư nợ tín dụng bình quân trêncán bộ tín dụng và tỷ lệ khách hàng là nữ giới là có ý nghĩa thống kê, và làm cơ sởquan trọng để đưa ra giải pháp cho luận án

Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Phương (2017), sau đó đã được sử

Trang 21

dụng kết hợp với mô hình của Vanroose và D‟Espallier (2009) và Njuguna (2013)

để xây dựng khung phân tích cho luận án tiến sĩ về hiệu quả tài chính của các tổchức tài chính vi mô được cấp phép tại Việt Nam của Phan Thị Hồng Thảo (2019)

Cụ thể, tác giả đã cân nhắc tới tác động của các yếu tố như môi trường kinh tế vĩ

mô, mức độ thâm nhập của ngân hàng, sự thay đổi của các quy định pháp lý về hoạtđộng của MFIs được cấp phép, mức độ tiếp cận của tổ chức tài chính vi mô, cấutrúc vốn của tổ chức tài chính vi mô, hiệu suất cán bộ của MFIs và các biến đặc tínhnhư thời gian, quy mô và hình thức pháp lý của MFIs đến hiệu quả tài chính củaMFIs bao gồm cả mức độ bền vững tài chính Kết quả mô hình cho thấy mức độtiếp cận của MFIs càng sâu hay MFIs càng phục vụ khách hàng có mức thu nhập ởphân khúc thấp thì mức độ bền vững càng cao Trái lại, việc chuyển đổi thành tổchức được cấp phép lại có tác động tiêu cực đến mức độ bền vững của MFIs Điềunày có thể lý giải bởi chi phí gia tăng từ việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cũng như đápứng các quy định của pháp luật sẽ khiến cho chi phí hoạt động của MFIs tăng và lợinhuận giảm xuống Kết quả cuối cùng là mức độ bền vững sẽ bị ảnh hưởng Cũng

có tác động tiêu cực tới mức độ bền vững của MFIs là tỉ trọng nợ vay trong tổngnguồn vốn; tuy nhiên, tác động này không có ý nghĩa thống kê

Thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững củaMFIs bằng cả phương pháp định tính và định lượng, Đào Lan Phương (2019) pháttriển mô hình phân tích từ mô hình của Marakkath (2013); trong đó, cân nhắc tới sựtác động của các yếu tố như cấu trúc vốn, đặc điểm của tổ chức tài chính vi mô(tuổi, phạm vi hoạt động, tổng danh mục cho vay, tỷ lệ rủi ro của danh mục đầu tư,

số tiền vay bình quân trên một khách hàng và hình thức pháp lý của tổ chức tàichính vi mô) Kết quả phân tích dữ liệu của 34 tổ chức là thành viên của nhóm côngtác tài chính vi mô tại Việt Nam và có công bố số liệu trên MIX market giai đoạn

2011 – 2015 cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tổng dư nợ có tác độngtích cực và rõ nét lên mức độ bền vững của MFIs tại Việt Nam Cụ thể, tỉ trọng vốnchủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì chi phí hoạt động của tổ chức sẽ càng thấp

Trang 22

do chi phí sử dụng vốn sở hữu là thấp hơn tương đối so với vốn đi vay Do đó, sựgia tăng của tỉ lệ vốn chủ sở hữu sẽ giúp cải thiện mức độ bền vững của MFIs.Ngoài ra, giá trị tổng dư nợ cho vay cũng có tác động cùng chiều với mức độ bềnvững Điều này xuất phát từ thực tế sự gia tăng trong dư nợ sẽ giúp cho MFIs có thểgia tăng doanh thu, lợi nhuận cũng như mức độ bền vững Trái lại, tỷ lệ rủi ro củadanh mục đầu tư PAR30 lại có tương quan nghịch chiều với mức độ bền vững Tỉ lệnày tăng lên đồng nghĩa với việc chất lượng danh mục đầu tư bị suy giảm Do đóMFIs sẽ phải gia tăng chi phí dự phòng rủi ro, lợi nhuận bị suy giảm và tác độngtiêu cực đến mức độ bền vững của tổ chức Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũngchỉ ra rằng các tổ chức tài chính vi mô có phạm vi hoạt động ở cấp tỉnh hay có hìnhthức pháp lý là các quỹ xã hội đang hoạt động hiệu quả hơn so với các tổ chức tàichính vi mô khác Giải thích cho kết quả này, theo tác giả là do tổ chức được cấpphép phải đối mặt với nhiều khó khăn từ sự chuyển đổi như phải tuân thủ các quyđịnh về hoạt động như các tổ chức tín dụng khác, chịu áp lực từ việc mở rộng mạnglưới chi nhánh, phát triển sản phẩm mới do phải cạnh tranh bình đẳng với các ngânhàng thương mại Chính vì vậy, trong giai đoạn nghiên cứu của luận án các tổ chứctài chính vi mô là các quỹ xã hội đạt được mức độ bền vững tốt hơn.

Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam cũng là trọngtâm nghiên cứu trong luận án “Tiếp cận tài chính vi mô tại Trung Quốc, Bangladesh

và Phillipines – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của Đặng Thu Thủy (2017).Dựa trên nền tảng mô hình được xây dựng bởi Christen và cộng sự (1995), luận án

đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững hoạt độngcủa MFIs tại Việt Nam với các nhân tố độc lập gồm: thời gian hoạt động, số lượngkhách hàng, giá trị khoản vay trung bình trên một khách hàng, tốc độ tăng trưởngcủa tổng dư nợ, tỉ lệ chi phí hoạt động, tiền gửi trên tổng dư nợ và danh mục đầu tưrủi ro lớn hơn 30 ngày Thông qua phân tích dữ liệu 34 tổ chức tài chính vi mô ViệtNam trong giai đoạn 2010 – 2014, tác giả chỉ ra rằng các yếu tố đều có tác độngnhất định đến mức độ bền vững của MFIs

Mở rộng nhóm yếu tố tác động tới mức độ bền vững của MFIs Việt Nam

Trang 23

theo cả hai hướng gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài, Nguyễn Kim Anh vàcộng sự (2013) khẳng định mức độ bền vững của các tổ chức là không đồng nhất, vàđặc biệt còn tổ chức vẫn chưa đạt được mức độ bền vững Nguyên nhân của nhữnghạn chế này xuất phát cả từ phía các tổ chức tài chính vi mô và từ môi trường hoạtđộng của các tổ chức Cụ thể, từ phía các tổ chức vi mô, nhóm tác giả nhận địnhMFIs tại Việt Nam chưa có chiến lược và kế hoạch rõ ràng, năng lực quản trị vàđiều hành nhìn chung còn thấp, việc quản lý nguồn thu – chi còn chưa tốt, chưaminh bạch hóa thông tin, sản phẩm và dịch vụ kém đa dạng, nguồn vốn hoạt độnghạn chế, chất lượng dịch vụ và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp Đối với nguyênnhân từ môi trường, các yếu tố về môi trường pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội –

tự nhiên và môi trường hoạt động nói chung của MFIs đã được nhóm tác giả phântích cũng như chỉ ra các điểm còn bất cập và có ảnh hưởng tiêu cực đến tổ chức vàkhách hàng tài chính vi mô

Đưa ra quan điểm tương đồng với Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013), LêVăn Luyện và Nguyễn Đức Hải (2016) trong nghiên cứu về phát triển bền vững cácTCTCVM Việt Nam cũng chỉ ra bốn vấn đề trong phát triển bền vững củaTCTCVM Việt Nam Cụ thể, thứ nhất là vấn đề hạn chế về quy mô tài sản và vốnchủ sở hữu của TCTCVM tại Việt Nam; thứ hai là số lượng khách hàng củaTCTCVM có đăng kí tại Việt Nam còn hạn chế và chưa đa dạng; thứ ba là năng lựchoạt động còn khiêm tốn của TCTCVM; cuối cùng là sự hạn chế về nguồn lực tàichính đầu tư cho khu vực TCVM có đăng kí Như vậy, có thể thấy yếu tố về vốn đãđược các tác giả nhận định là vấn đề còn tồn tại và có tác động quan trọng tới sựphát triển bền vững của MFIs

Nghiên cứu sâu hơn về bền vững tài chính dưới giác độ mức độ phụ thuộc trợcấp tại hai tổ chức tài chính vi mô tiêu biểu cho nhóm tổ chức tài chính vi mô được cấpphép – TYM và tổ chức tài chính vi mô phi được cấp phép – CEP, Nguyễn ThanhHuyền (2017) chỉ ra rằng TYM mặc dù thuận lợi hơn trong việc huy động vốn cũngnhư nhận được vốn ưu đãi từ phía Chính Phủ; song, mức độ bền vững về mặt tài chínhlại có phần thấp hơn so với CEP Như vậy, rõ ràng sự gia tăng trong vốn huy động

Trang 24

không cùng chiều với sự gia tăng về mức độ bền vững của MFIs.

Bên cạnh các nghiên cứu tập trung về nhân tố ảnh hưởng tới mức độ bềnvững của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam, sự phát triển hay hoạt động củaMFIs nói chung cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trongnước Cụ thể, Nguyễn Đức Hải (2012) trong luận án về phát triển tài chính vi mô tạiViệt Nam đã chỉ ra hai nhóm yếu tố khách quan và chủ quan có tác động đến sựphát triển của MFIs Cụ thể, các nhóm yếu tố khách quan bao gồm khuôn khổ pháp

lý, môi trường kinh tế, điều kiện phát triển của hạ tầng cơ sở và tình trạng đóinghèo; các nhóm yếu tố chủ quan bao gồm: hình thức cung ứng sản phẩm và dịch

vụ, mô hình tổ chức và quản lý, hệ thống công nghệ thông tin

Chung định hướng với Nguyễn Đức Hải (2012) về nghiên cứu sự phát triểncủa hoạt động tài chính vi mô, nhưng tập trung vào đối tượng là các tổ chức tíndụng, Phạm Bích Liên (2016) cũng nhận định nhóm yếu tố môi trường bên ngoài vànhóm yếu tố bên trong tổ chức đều có tác động mạnh tới sự phát triển hoạt động của

tổ chức tín dụng trong lĩnh vực tài chính vi mô Cụ thể, đánh giá sự phát triển hoạtđộng của MFIs thông qua hai nhóm chỉ tiêu là nhóm chỉ tiêu bền vững tài chính vànhóm chỉ tiêu mức độ tiếp cận, hai mô hình nghiên cứu được tác giả xây dựng.Trong đó, mô hình 1 phân tích sự tác động của các nhân tố như thời gian hoạt động,

sự bền vững, độ rộng tiếp cận, năng suất lao động, tỷ lệ nợ xấu lên giá trị khoản vaytrung bình Mô hình 2 tập trung phân tích mối quan hệ phụ thuộc giữa giá trị khoảnvay với các yếu tố sự thuận tiện, chất lượng dịch vụ, thương hiệu, giá cả, khuyếnmại của tổ chức tín dụng Kết quả phân tích mô hình cho thấy về cơ bản các biếnđộc lập đều có tác động đến sự phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chứctín dụng

Qua các nghiên cứu ở trên có thể thấy đề tài về cấu trúc vốn trong mối liên

hệ với mức độ bền vững của MFIs đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhànghiên cứu cả trong và ngoài nước Cụ thể, các nghiên cứu được thống kê lại trongbảng sau:

Trang 25

Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến mức

độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô Biến tác động Chiều tác động Cơ sở trích dẫn

Bogan (2009); Phan ThịHồng Thảo (2019);

Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản - Sekabira (2013);

Kyereboah – Coleman(2007)

Tỷ lệ vốn huy động/tổng tài - Bogan (2009)

Đào Lan Phương (2019);+

Nguyễn Quỳnh Phương(2017)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Qua bảng thống kê các nghiên cứu trước đây tác giả nhận thấy có một sốđiểm chính sau:

- Thứ nhất, đa phần kết quả của các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằngnhóm biến cấu trúc vốn có tác động mạnh đến mức độ bền vững của các tổ chức tàichính vi mô Tuy nhiên, chiều tác động của các biến đại diện cho cấu trúc vốn là

Trang 26

không tương đồng cũng như không có sự thống nhất hoàn toàn trong kết quả củacác nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau Điều này xuất phát từ thực tế khác biệttrong điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, cũng như đặc điểm hoạt động của

tổ chức tài chính vi mô tại mỗi nước Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu tácđộng của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô cócùng môi trường hoạt động sẽ giúp nhận diện chính xác hơn chiều hướng tác độngcủa cấu trúc vốn đến mức độ bền vững

- Thứ hai, các nghiên cứu ngoài nước đa phần thực hiện nghiên cứu ở phạm

vi rộng, nhiều quốc gia với mỗi quốc gia có những quy định và điều kiện hoạt độngtài chính vi mô khác nhau Chính vì vậy, các nghiên cứu chưa đưa ra được các giảipháp, cũng như khuyến nghị phù hợp nhằm cải thiện mức độ bền vững dựa trênnhóm biến về cấu trúc vốn Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước hiện tại chưanghiên cứu nào tập trung vào khai thác sâu tác động của cấu trúc vốn đến mức độbền vững của tổ chức tài chính vi mô Do đó, việc đưa ra các khuyến nghị phù hợpnhằm thúc đẩy mức độ bền vững dựa trên cấu trúc vốn của tổ chức còn khá hạn chế

Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tập trung khai thác tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam là điều cần thiết

2.2 Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô

Được biết tới là tổ chức hoạt động với mục tiêu kép bao gồm cả bền vững vàhiệu quả xã hội (Fersi và Boujelbéne, 2017); song so với các nghiên cứu về mức độbền vững thì các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính

vi mô có phần yếu thế hơn Đặc biệt, các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của MFIsmới chỉ thực sự nhận được sự chú ý từ các nhà nghiên cứu trong khoảng thời gian

từ 2010 trở lại đây (Hermes và Hudon, 2018) Chính vì vậy, số lượng các nghiêncứu về khía cạnh này trên thế giới chưa nhiều và ở tại Việt Nam còn rất hạn chế Cụthể, các nghiên cứu được trình bày trong phần tiếp sau

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và sự phát triển của tổ chứctài chính vi mô, Bérengère Basset và Julien Lefilleur (2009) nhận định thu hútnguồn vốn từ các nhà đầu tư tư nhân là cần thiết đối với sự phát triển của tổ

Trang 27

chức tài chính vi mô Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý sự can thiệp của khu vực tưnhân đôi khi gây ra những bất lợi trong việc thực hiện sứ mệnh xã hội của MFI.Ủng hộ cho quan điểm của Bérengère Basset và Julien Lefilleur, Nair (2010) nhậnđịnh sự thay đổi về cơ cấu sở hữu của MFIs đặt trong bối cảnh số lượng các nhà đầu

tư tìm kiếm lợi nhuận trong lĩnh vực tài chính vi mô tại Ấn Độ ngày càng tăng cao

sẽ dẫn đến sự suy yếu trong vai trò tạo ra giá trị xã hội của các tổ chức tài chính vi

mô trong tương lai

Cũng thực hiện phân tích về mối quan hệ giữa nguồn vốn tài trợ đến hiệu quả

xã hội của MFIs, song lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại Ghana thay vì Ấn Độ nhưNair (2010), Annim (2012) nhấn mạnh các tổ chức tài chính vi mô hoạt động chủyếu dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu thường có xu hướng chuyển sang phục vụkhách hàng ở phân khúc có thu nhập cao hơn Do đó, hiệu quả xã hội của tổ chức sẽ

bị giảm sút

Tiến hành phân tích hoạt động của 114 tổ chức tài chính vi mô hoạt động tại

62 quốc gia, Hartarska và Nadolnyak (2007) cho thấy tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổngtài sản dường như không có tác động tới hiệu quả xã hội của tổ chức Thay vào đó,vai trò của vốn huy động được nhấn mạnh trong việc gia tăng số lượng khách hàngvay, và mở rộng mức độ tiếp cận Ngoài ra, thời gian hoạt động và quy mô của tổchức cũng có tác động tích cực đến khả năng tiếp cận cũng như hiệu quả xã hội của

tổ chức tài chính vi mô

Đồng tình với quan điểm của Hartarska và Nadolnyak (2007), Khachatryan

và cộng sự (2017) khẳng định các tổ chức tài chính vi mô nên tăng cường hoạt độnghuy động vốn để đáp ứng nhu cầu của người nghèo cũng như giảm thiểu chi phí vốncủa tổ chức Ngoài ra, các tác giả cũng nhấn mạnh các khoản vay thương mại, haycác khoản vay từ các ngân hàng có thể có tác động nghịch chiều đến hiệu quả xã hộinói chung và độ rộng tiếp cận nói riêng của MFIs Minh chứng cho điều này, Hoque

và cộng sự (2011) trong nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động củacác tổ chức tài chính vi mô trong giai đoạn 2003 – 2008, đã chỉ ra rằng việc sử dụngđòn bẩy tài chính sẽ dẫn đến áp lực tăng chi phí lãi vay Hệ quả là rủi ro tín dụngtăng cao, và quan trọng hơn hết mục tiêu xã hội của tổ chức không được đảm bảokhi khả năng tiếp cận khách hàng có xu hướng bị suy giảm

Trang 28

Điều đặc biệt là mặc dù khẳng định nợ vay thương mại có tác động nghịchchiều lên hiệu quả xã hội của MFIs, Khachatryan và cộng sự (2017) lại chứng minhcác khoản cho vay ưu đãi có tác động tích cực đến khả năng tiếp cận các dịch vụ tàichính của đối tượng nghèo trong xã hội Bên cạnh đó, các khoản vốn nhận đượcthông qua tài trợ sẽ có xu hướng chảy vào các hoạt động giúp nâng cao mức độ tiếpcận dịch vụ tài chính vi mô và hiệu quả xã hội về chiều sâu.

Kết luận này cũng hoàn toàn trùng khớp với nhận định của nhiều nghiên cứutrước đó về mối quan hệ giữa hiệu quả xã hội và các khoản tài trợ Cụ thể, Cull vàcộng sự (2009) khẳng định nhiều tổ chức tài chính vi mô khi nhận được tiền tài trợ

đã thể hiện mạnh mẽ vai trò của mình trong thúc đẩy các hoạt động xã hội, cũngnhư phục vụ các khách hàng nghèo nhất Do đó, các khoản tiền viện trợ là cần thiết

để thúc đẩy mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của phân khúc khách hàng nghèocũng như nâng cao hiệu quả xã hội của tổ chức Bổ trợ cho quan điểm của Cull vàcộng sự (2009), Mersland và Urgeghe (2013) khẳng định tác động tích cực của cáckhoản vay trợ cấp đến hiệu quả xã hội của tổ chức Đặc biệt, theo như D‟Espallier

và cộng sự (2013), hiệu quả xã hội thậm chí còn bị giảm sút nếu như các tổ chức tàichính vi mô không nhận nguồn vốn viện trợ

Minh chứng cho lập luận của các nghiên cứu trên về tác động của nguồn vốnviện trợ tới hiệu quả xã hội của MFIs, Lebovics và cộng sự (2016) đã thực hiệnnghiên cứu thực nghiệm về trường hợp tại Việt Nam Kết quả phân tích cho thấycác tổ chức tài chính vi mô được nghiên cứu vẫn đang hưởng lợi rất lớn từ cáckhoản viện trợ ngầm của nhiều tổ chức trong và ngoài nước Điều này khiến cơ cấuchi phí của các tổ chức tài chính vi mô được giảm bớt gánh nặng, tạo điều kiện chocác tổ chức nâng cao hiệu quả tài chính, và đặc biệt là theo đuổi được mục tiêu xãhội đề ra Bên cạnh đó, Lebovics và cộng sự (2016) còn chỉ ra rằng các biến năngsuất và chi phí trên một khách hàng vay cũng có tác động rõ nét đến mức độ tiếpcận nói riêng và hiệu quả xã hội nói chung của MFIs Cụ thể, năng suất của nhânviên thể hiện qua biến tỉ lệ khách hàng hiện tại trên tổng số nhân viên có cùng chiềubiến thiên với mức độ tiếp cận Trái lại, mối quan hệ nghịch chiều được chứng minhtại biến chi phí trên một khách hàng vay

Thực hiện kiểm chứng lý thuyết vòng đời trong mối quan hệ giữa cấu trúc

Trang 29

vốn và hiệu quả xã hội của MFIs, Bogan (2012) đưa ra nhận định có phần khác biệtvới các nghiên cứu trên khi chỉ ra rằng các khoản tài trợ có tác động nghịch chiềulên mức độ tiếp cận theo chiều rộng nói riêng và hiệu quả xã hội nói chung của tổchức tài chính vi mô Tuy nhiên, sự tác động này không có ý nghĩa thống kê Do đó,theo như tác giả không có mối quan hệ giữa nguồn vốn viện trợ và hiệu quả xã hội.Ngoài ra, khi cân nhắc tới sự tác động của các biến phản ánh đặc tính của tổ chứctài chính vi mô, Bogan (2012) nhận định quy mô tổ chức tăng lên sẽ giúp gia tăng

cơ hội cho nhiều khách hàng nghèo được tiếp cận với các dịch vụ tài chính vi môhơn

Không chỉ dừng lại đánh giá hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô ởmột khía cạnh chiều sâu hay chiều rộng, Bibi và cộng sự (2018) đã kế thừa và pháttriển mô hình của Hartarska và Nadolnyak (2007) để phân tích hiệu quả xã hội củacác tổ chức tài chính vi mô thuộc khu vực Nam Á trên cả hai chiều tiếp cận Kết quảphân tích chỉ ra rằng tác động của các yếu tố như cấu trúc vốn, quy mô, thời gianhoạt động, mức độ rủi ro hay chi phí hoạt động lên độ sâu và độ rộng tiếp cận làkhông đồng nhất Cụ thể, trong khi vốn chủ sở hữu có tác động thuận chiều lên độrộng tiếp cận, thì lại tác động tiêu cực lên độ sâu tiếp cận Tuy nhiên, cả hai tácđộng này đều không có ý nghĩa thống kê Trái lại, các yếu tố như chi phí hoạt độnghay đặc điểm của tổ chức tài chính vi mô đều có tác động mạnh và rõ nét lên hiệuquả xã hội của tổ chức

Cũng thực hiện đánh giá hiệu quả xã hội của MFIs trên cả chiều sâu và chiềurộng, Abdulai và Tewari (2017) đồng nhất với kết luận của Bibi và cộng sự (2018)khi chỉ ra rằng sự tác động của các yếu tố lên hai chiều tác động là ngược chiềunhau Cụ thể, trong khi sự gia tăng trong chi phí hoạt động sẽ làm giảm khả năngtiếp cận với các dịch vụ tài chính của khách hàng nghèo, thì ở khía cạnh khác lạilàm gia tăng số lượng khách hàng nữ được phục vụ bởi tổ chức Điều này theo tácgiả là do việc mở rộng mức độ tiếp cận với khách hàng nữ sẽ làm tăng chi phí hoạtđộng của các tổ chức tài chính vi mô Ngoài ra, có một số biến như dư nợ rủi ro haynăng suất nhân viên chỉ tác động lên một chiều tiếp cận là độ sâu hoặc độ rộng tiếpcận mà không tác động lên chiều còn lại

Mở rộng mô hình nghiên cứu về các biến tác động lên hiệu quả xã hội của tổ

Trang 30

chức tài chính vi mô tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi trong giai đoạn từ năm

1998 đến năm 2011, Adair và Berguiga (2013) còn cân nhắc tới vai trò của cả cácbiến kinh tế vĩ mô Cụ thể, yếu tố môi trường chính trị và điều kiện kinh tế vĩ mô(tổng thu nhập quốc dân) được đưa vào đánh giá trong mô hình; tuy nhiên, sự tácđộng này là không rõ nét Trái lại, các yếu tố như khu vực hoạt động hay phươngthức cho vay lại có tác động tích cực và rõ ràng lên độ sâu tiếp cận Theo các tácgiả, các tổ chức tài chính vi mô càng hoạt động mạnh ở khu vực nông thôn thì họcàng tiếp cận và phục vụ được nhiều khách hàng nghèo hơn, và do đó có tác độngtích cực lên hiệu quả xã hội của tổ chức Ngoài ra, phương thức cấp tín dụng theo tổnhóm cũng sẽ làm gia tăng cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ tài chính của ngườinghèo, và do đó cũng làm gia tăng hiệu quả xã hội của MFIs Tuy nhiên, đối vớibiến thời gian hoạt động, kết quả phân tích của Adair và Berguiga (2013) có phầntrái ngược với Hartarska và Nadolnyak (2007) khi nhận định mối quan hệ giữa thờigian hoạt động và mức độ tiếp cận trong dài hạn là phi tuyến; còn trong ngắn hạnthời gian hoạt động lại có tác động nghịch chiều lên mức độ tiếp cận

Tiếp cận hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô theo một phương pháphoàn toàn khác, Marr và Awaworyi (2012) đã sử dụng một nhóm tám yếu tố gồmmức độ tiếp cận, chi phí trên một khách hàng vay, tỉ lệ dư nợ bình quân trên thunhập bình quân đầu người, số lượng nhân viên, mức độ tự vững hoạt động, tỉ lệkhách hàng nữ, tỉ lệ nợ rủi ro trên 90 ngày và tỉ lệ xóa nợ để đánh giá hiệu quả xãhội của MFI một cách tổng quát hơn Cụ thể, các thông tin về các chỉ số này sau khiđược thu thập từ dữ liệu trên MIX Market sẽ được lượng hóa và quy đổi lại giá trịsao cho tuân theo nguyên tắc phân phối chuẩn Sau đó, các giá trị đã được điềuchỉnh của tám yếu tố trên sẽ được cộng lại với nhau, và giá trị tổng chính là biến đạidiện cho chỉ số về hiệu quả xã hội của mỗi tổ chức theo từng năm Dựa trên chỉ sốnày, Marr và Awaworyi (2012) đã tiến hành phân tích tác động của thời gian hoạtđộng, tình trạng lợi nhuận, tình trạng pháp lý, quy mô và giá trị khoản vay trên mộtnhân viên tới hiệu quả xã hội của MFIs Kết quả phân tích hồi quy cho thấy sự tácđộng của biến giá trị khoản vay trung bình trên một cán bộ tín dụng lên hiệu quả xãhội của tổ chức tài chính vi mô tại tất cả các khu vực trên thế giới luôn luôn là thuậnchiều và có ý nghĩa thống kê Ngoài ra, biến quy mô cũng là một yếu tố quan trọng,

Trang 31

có tác động tích cực tới hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô thuộc khuvực Đông Á và Thái Bình Dương, châu Phi Mỹ La-tinh và Caribe và Nam Á Tráilại, các tổ chức tài chính vi mô bị quản lý lại có xu hướng xa rời mục tiêu xã hộihơn là các tổ chức tài chính vi mô không bị quản lý.

Thay vì phải tự tính toán chỉ số hiệu quả xã hội như Marr và Awaworyi(2012), Shulthoni và cộng sự (2018) sử dụng bộ dữ liệu sẵn có về hiệu quả xã hộicủa ngân hàng tại Indonesia trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2017 Kết quảnghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn không có tác động rõ nét đến hiệu quả xã hội củangân hàng truyền thống và ngân hàng hồi giáo, cũng như không có ảnh hưởng đáng

kể đến sự khác biệt về chỉ số hiệu quả xã hội của hai nhóm ngân hàng này tạiIndonesia

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp bên cạnh việcthúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng không ngừng thể hiện trách nhiệmcủa mình đối với xã hội Đặc biệt, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa khi số lượng cáccông ty đa quốc gia gia nhập vào Việt Nam càng nhiều, thì xu hướng này lại càngđược thúc đẩy mạnh mẽ Tuy nhiên, có phần khác biệt với các quốc gia khác khihiệu quả xã hội của tổ chức được quan tâm đánh giá trên cả bốn phương diện gồmcải thiện mức độ tiếp cận, chất lượng phục vụ, mang lại lợi ích cho khách hàng vàcải thiện trách nhiệm xã hội, thì đa phần các nghiên cứu tại Việt Nam về mảng xãhội của doanh nghiệp mới chỉ trọng tậm vào nội dung về trách nhiệm xã hội Còntrong lĩnh vực tài chính vi mô, các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của MFIs cũngchưa nhiều Trong phần tiếp theo, các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của doanhnghiệp nói chung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng sẽ lần lượt được phân tích

Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam từ giác độcủa người lao động, cổ đông và người tiêu dùng, Phạm Long Châu (2014) nhận địnhhiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về trách nhiệm xã hội còn rất mơ hồ, cũngnhư các doanh nghiệp chưa chủ động thực hiện các hoạt động vì lợi ích cộng đồng.Chính vì vậy, tác giả đã đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp trong việc

Trang 32

thực hiện trách nhiệm với người lao động, cổ đông và người tiêu dùng.

Phân tích các nhân tố tác động đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội củaSMEs tại Việt Nam, Nguyễn Thị Lành và Phạm Thị Ngọc Trâm (2016) chỉ ra rằngtrong 4 nhân tố được kiểm định là nhân lực, vốn, thể chế bắt buộc từ Nhà nước vàkiến thức về trách nhiệm xã hội, thì chỉ có 2 nhân tố là vốn và nhân lực có tác động

rõ nét đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Cũng nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tráchnhiệm xã hội trong các doanh nghiệp, nhưng tập trung vào doanh nghiệp thuộc tậpđoàn dệt may, Vương Thị Thanh Trì và cộng sự (2016) đưa ra kết quả có phần khácbiệt với Nguyễn Thị Lành và Phạm Thị Ngọc Trâm khi chỉ ra rằng thể chế chính trị

có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội

Ngoài ra, Châu Thị Lệ Duyên và Nguyễn Minh Cảnh (2013) thực hiện phântích những nhân tố thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của SMEs tại địa bànthành phố Cần Thơ, đã chỉ ra rằng đạo đức kinh doanh mới là nhân tố có tác độngmạnh nhất tới thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của SMEs

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại ViệtNam trong giai đoạn 2010 - 2015, Nguyễn Quỳnh Phương (2017) nhận định quy mô

và thời gian hoạt động có tác động tích cực lên hiệu quả xã hội Cụ thể, các tổ chức

có thời gian hoạt động càng lâu và quy mô càng lớn, thì mức độ tiếp cận theo chiềurộng hay tỷ lệ tăng trưởng về số lượng khách hàng và giá trị dư nợ tín dụng lại càngcao

Phân tích hiệu quả xã hội từ khía cạnh độ sâu tiếp cận, Phạm Bích Liên(2016) nhận định thời gian hoạt động của tổ chức có ảnh hưởng ngược chiều với độsâu tiếp cận Cụ thể, tổ chức tài chính vi mô có thời gian hoạt động càng dài thì giátrị khoản vay trung bình cấp cho khách hàng càng lớn; và do đó, độ sâu tiếp cận sẽ

bị suy giảm Trái lại, năng suất lao động (số lượng khách hàng vay trên một cán bộtín dụng) và rủi ro tín dụng (tỉ lệ nợ xấu) có tác động tích cực lên độ sâu tiếp cậncủa tổ chức tài chính vi mô Theo tác giả, năng suất lao động tăng đồng nghĩa vớiviệc số lượng khách hàng tại tổ chức tài chính vi mô tăng lên; do đó, giá trị khoảnvay trung bình trên một khách hàng giảm xuống và mức tiếp cận của tổ chức tàichính vi mô đối với khách hàng sẽ được sâu hơn Ngoài ra, đối với các tổ chức có

Trang 33

mức độ rủi ro lớn, họ sẽ xu hướng cho vay các khoản nhỏ hơn trong tương lai đểgiảm thiểu rủi ro Chính vì vậy mức độ rủi ro sẽ đi cùng với mức độ tiếp cận theochiều sâu của MFIs.

Như vậy, có thể thấy đề tài về hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô

đã nhận được sự quan tâm nhất định từ phía các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước Trong đó, có nhiều quan điểm khác nhau về cách thức đánh giá hiệu quả xãhội cũng như các nhân tố tác động đến yếu tố này tại các tổ chức tài chính vi mô Cụthể, điểm chính trong các nghiên cứu kể trên được tóm tắt lại qua bảng sau:

Bảng 2 Thống kê các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn

đến hiệu quả xã hội của tổ chức TCVM Biến tác động Chiều tác động Cơ sở trích dẫn Cấu Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản + Hartarska và Nadolnyak

vốn Tỷ lệ vốn huy động/tổng tài Hartarska và Nadolnyak

Hartarska và Grigoryan(2017); Bogan (2012)

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng - Hartarska và Nadolnyak

Nguồn: Thống kê của tác giả

Qua bảng thống kê các nghiên cứu trước đây tác giả nhận thấy có một sốđiểm chính sau:

Thứ nhất, các quan điểm về khái niệm và cách thức đo lường hiệu quả xã

Trang 34

hội của tổ chức tài chính vi mô là khá đa dạng với hai phương pháp đo lường tiếpcận phổ biến là thông qua độ rộng hoặc độ sâu tiếp cận và thông qua bộ chỉ số đánhgiá hiệu quả xã hội của tổ chức Tuy nhiên, mỗi phương pháp tiếp cận đều có những

ưu và nhược điểm riêng; do đó, tùy theo điều kiện về sự phù hợp của dữ liệu mà cácnhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp đánh giá cho phù hợp Tại Việt Nam, cácnghiên cứu về đánh giá hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô chưa nhiều;quan trọng hơn, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại đánh giá hiệu quả xã hội của MFIsthông qua mức độ tiếp cận nên mức độ khái quát hóa chưa cao

Thứ hai, trong các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô,

số lượng các nghiên cứu chứng minh tác động rõ nét của cấu trúc vốn lên hiệu quả

xã hội của MFIs là tương đối nhiều; qua đó, có thể thấy cấu trúc vốn là một trongcác biến quan trọng có tác động đến hiệu quả xã hội của MFIs Tuy nhiên, hầu nhưchưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về tác động này tại Việt Nam

2.3 Khoảng trống nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu cả trong và ngoài nước, cũng nhưnhận diện những điểm chính về sự tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững

và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô, tác giảrút ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, bổ sung khung lý thuyết về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi

mô Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả xã hội của doanh

nghiệp nói chung, và tổ chức tài chính vi mô nói riêng; song, đến thời điểm hiện tại,quan niệm về hiệu quả xã hội của MFIs vẫn chưa có sự thống nhất Vì vậy, cần tiếptục nghiên cứu để làm rõ khái niệm hiệu quả xã hội của MFIs

Thứ hai, xây dựng chỉ tiêu đo lường hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi

mô Sự không thống nhất trong khái niệm về hiệu quả xã hội cũng dẫn đến sự không

đồng nhất trong cách thức đo lường tiêu chí này Một số công trình nghiên cứu tậptrung đánh giá hiệu quả xã hội dựa trên mức độ tiếp cận theo chiều rộng, chiều sâuhoặc cả hai Tuy nhiên, cách thức đo lường này mới chỉ phản ánh được một khía cạnh,

mà chưa đánh giá được bao quát, tổng thể hiệu quả xã hội của MFIs Một số nghiêncứu khác có sử dụng kết quả đo lường từ các báo cáo thống kê hoặc thông qua công cụSPI4 Tuy nhiên, việc thu thập dữ liệu đầu vào cho công cụ này

Trang 35

tương đối khó khăn Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng chỉ tiêu đo lườnghiệu quả xã hội một cách tổng quát hơn, nhưng cũng không quá phức tạp.

Thứ ba, bổ sung nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn lên đồng thời cả mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của MFIs Theo thời gian, các tổ chức tài chính

vi mô đã trở nên dần thương mại hóa với các cơ hội rộng mở trong đa dạng hóanguồn vốn hoạt động của tổ chức; song các nghiên cứu nhấn mạnh về tác động củacác nguồn vốn khác nhau đến hoạt động của MFIs còn chưa nhiều (Hermes vàHudon, 2018) Chính vì vậy, nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến đồng thời

cả mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của MFIs là cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tập trung đưa ra các khuyến nghị phù hợp

về cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam để nâng cao mức độ bềnvững và hiệu quả xã hội của các tổ chức này

- Mục tiêu cụ thể:

(i) Hoàn thiện khung lý thuyết về cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả

xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam;

(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam dựa trên bộ tiêu chí;

(iii) Đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xãhội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam qua mô hình kinh tế lượng;

(iv) Đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

4 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung phân tích để trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính như sau:Câu hỏi 1 (Q1): Cấu trúc vốn tác động thế nào đến mức độ bền vững của tổchức tài chính vi mô tại Việt Nam?

Câu hỏi 2 (Q2): Cấu trúc vốn tác động thế nào đến hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam?

Câu hỏi 3 (Q3) Các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam nên thay đổi cấu trúc vốn theo hướng như thế nào để đảm bảo được mức độ bền vững và hiệu quả xã hội?

Trang 36

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi

mô tại Việt Nam

- Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổchức TCVM được cấp phép theo giấy phép của Ngân hàng Nhà nước và các quỹ xãhội hoạt động tài chính vi mô, chương trình tài chính vi mô chuyên trách nhưngchưa đăng kí thành lập tổ chức tài chính vi mô

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các tổ chức tài chính vi môđược cấp phép theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các quỹ xã hộihoạt động tài chính vi mô, chương trình tài chính vi mô chuyên trách nhưng chưađăng kí thành lập tổ chức tài chính vi mô

- Về thời gian:

+ Nghiên cứu thực trạng cập nhật cho giai đoạn 2011 – 2019

+ Đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xãhội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 Dữ liệu của

đề tài chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cấp được công bố trong ấn phẩm Danh bạ các tổchức tài chính vi mô được xuất bản bởi Nhóm công tác tài chính vi mô tại ViệtNam Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu ấn phẩm mới chỉ công bố dữ liệu đếnnăm 2017 Chính vì vậy, số liệu sử dụng trong mô hình phân tích tác động của cấutrúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tạiViệt Nam chỉ mới cập nhật tới 2017

+ Đề xuất khuyến nghị đến năm 2025

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Thiết kế nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững vàhiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam được cụ thể hóa gồmcác bước như sau:

27

Trang 37

Khoảng trống nghiên cứu

Xác định chủ đề nghiên cứu

“Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI)

của MFIs tại Việt Nam”

Nghiên cứu lý thuyết

- Thu thập tài liệu về chủ đề nghiên cứu qua sách, báo, hội thảo

- Phân loại, sắp xếp tài liệu theo từng chủ đề

- Tổng hợp thông tin để hình thành khung lý thuyết của luận án

Xây dựng khung lý thuyết của luận án Lực chọn, thiết kế mô hình nghiên cứu phù hợp

Thu thập dữ liệu thứ cấp (VMFWG, The Mix) Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với chuyên gia và lãnh đạo của MFIs

tại Việt Nam

ảnh hưởng bằng mô hình FEM

Nghiên

cứu thực

tiễn

Hoàn thiện nghiên

Trang 38

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Luận án tập trung khai thác dữ liệu từ hai nguồn chính gồm dữ liệu thứ cấp

về MFIs Việt Nam được cung cấp bởi các tổ chức có uy tín, và dữ liệu sơ cấp đượcthu thập từ quá trình tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với đại diện của các tổchức tài chính vi mô, cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi mô tạiViệt Nam

Thứ nhất, đối với nguồn dữ liệu thứ cấp, căn cứ vào các nghiên cứu về tài

chính vi mô trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy hai nguồn dữ liệu chính đượccác nhà nghiên cứu tin dùng là Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam đượcphát hành bởi Trung tâm Tư vấn nguồn lực Tài chính vi mô Doanh nghiệp Nhỏ vàVừa (tiền thân là Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam – VMFWG) và MIXmarket – chuyên trang cung cấp dữ liệu về các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới.Tuy nhiên, trong thời gian luận án được thực hiện, trang MIX Market đã có sựchuyển đổi trong quản lý dữ liệu về tài chính vi mô sang cho Ngân hàng thế giới.Quan trọng hơn, hiện bộ dữ liệu vẫn chưa được công bố trên trang web của WorldBank Do đó, nguồn dữ liệu thứ cấp chính được sử dụng trong nghiên cứu này đượcthu thập từ Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam (danh sách các tổ chứcđược nghiên cứu trong luận án này được thể hiện trong phụ lục 1)

Thứ hai, đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả đã tiến hành phỏng vấn chuyên

sâu với đại diện của các tổ chức tài chính vi mô cũng như các chuyên gia trong lĩnhvực tài chính vi mô tại Việt Nam để luận án có được góc nhìn bao quát nhất về hoatđộng của các tổ chức dưới cả giác độ chuyên gia, nhà quản lý và các tổ chức hoạtđộng thực tiễn Qua đó, góp phần củng cố thêm cho việc phân tích thực trạng hoạtđộng của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam Cụ thể, tác giả đã thực hiện cả hìnhthức phỏng vấn trực tiếp và gửi bảng khảo sát qua email tới các tổ chức tài chính vi

mô để thu thập các thông tin liên quan đến cấu trúc vốn; hoạt động của tổ chức tàichính vi mô; những vướng mắc, kiến nghị của tổ chức trong quá trình hoạt động vàkết quả hoạt động của tổ chức trong giai đoạn 2018 – 2019 (nội dung câu hỏi cụ thểđược thể hiện trong phụ lục 7)

Trang 39

6.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã tiến hành sử dụng đồngthời cả phương pháp phân tích định tính và phương pháp định lượng Cụ thể nhưsau:

- Phương pháp nghiên cứu định tính:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Trong luận án, tác giả đã tiếnhành nghiên cứu các sách, báo, tài liệu nghiên cứu khác nhau về cấu trúc vốn, mức

độ bền vững và hiệu quả xã hội của doanh nghiệp nói chung và tổ chức tài chính vi

mô nói riêng; qua đó, tác giả hình thành nên cơ sở lý thuyết cho luận án tại chương

1 Đặc biệt các nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm tác động của cấu trúc vốnđến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội cũng được tác giả tổng hợp và phân tích cụthể để lựa chọn ra mô hình nghiên cứu phù hợp cũng như xây dựng khung phân tích

và hình thành các giả thuyết khoa học cho luận án

+ Phương pháp so sánh, phân tích chỉ số: Dựa trên bộ dữ liệu thứ cấp thuthập được từ danh bạ các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam, và dữ liệu từ cáccuộc phỏng vấn chuyên sâu với lãnh đạo tại các tổ chức tài chính vi mô, tác giả đã

sử dụng phương pháp so sánh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉtiêu về cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi

mô rtong khoảng thời gian từ 2011 đến 2019 tại chương 2

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng mô hình hồi quytuyến tính thông thường (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tácđộng ngẫu nhiên (REM) để xử lý dữ liệu bảng bao gồm dữ liệu chéo là các tổ chứctài chính vi mô tại Việt Nam và dữ liệu chuỗi thời gian từ 2011 đến 2017 Bên cạnh

đó, luận án cũng sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp để phântích tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội tại chương3

7 Đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước hiện có về cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô, luận án có

Trang 40

những đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, trong nội dung cơ sở lý thuyết, luận án đã làm rõ được khái niệm

cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô

Thứ hai, luận án đã xây dựng mô hình mô phỏng cơ chế tác động của cấu

trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô Lýthuyết M&M, lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng là các lý thuyếtthường được sử dụng trong các nghiên cứu về cấu trúc vốn tại doanh nghiệp nóichung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng Tuy nhiên, cơ chế tác động của cấu trúcvốn đến hiệu quả hoạt động của tổ chức tài chính vi mô có khác biệt so với doanhnghiệp, và vấn đề này chưa được đề cập tại các công trình nghiên cứu khác Luận án

đã đi sâu làm rõ những điểm nổi bật trong cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tài chính vi

mô Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục phân tích và đặc biệt là xây dựng môhình mô phỏng tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả hoạtđộng tại các tổ chức tài chính vi mô

Thứ ba, luận án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ danh bạ các tổ chức tài

chính vi mô Việt Nam kết hợp cùng dữ liệu thu thập được từ quá trình phỏng vấnvới chuyên gia và các nhà quản lý tổ chức tài chính vi mô để đánh giá thực trạngcấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của MFIs tại Việt Nam Các khíacạnh trên được luận án so sánh và phân tích giữa hai nhóm tài chính vi mô được cấpphép và tổ chức tài chính vi mô có đăng kí Qua đây có thể thấy, mức độ bền vững

và hiệu quả xã hội của cả hai nhóm tổ chức đều có xu hướng giảm dần

Thứ tư, luận án phát triển mô hình đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến

mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Namdựa trên lý thuyết, quá trình khảo lược các nghiên cứu trước đây, và đặc biệt là thựctrạng hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Thứ năm, luận án đã đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ bền

vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam theo 2 hướng làkhuyến nghị đối với các tổ chức tài chính vi mô và khuyến nghị đối với các cơ quanquản lý Nhà nước Trong đó dựa trên kết quả của mô hình nghiên cứu, khuyến nghị

Ngày đăng: 13/03/2021, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w