Quá trình tiếp cận làm việc với thân chủ khiến NVCTXH gặp phải những căng thẳng trong công việc, cộng thêm những yếu tố khác tác động nên NVCTXH dễ bị stress.. Nếu không có khả năng này,
Trang 1Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM
Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.
Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
HỖ TRỢ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(QUẢN LÝ STRESS)
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
TÀI LIỆU PHÁT 4
Bài 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ STRESS 5
I.KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CĂNG THẲNG
II.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
III.CÁC YẾU TỐ GÂY NÊN STRESS
Người ta có thể xem xét nguyên nhân của stress từ các góc độ sau đây:
Hoặc cũng có người nhìn nhận các yếu tố nguồn gốc của stress như sau:
IV.CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS
V.ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS
Bài 2: STRESS VÀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 15
I.ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nghề CTXH là một nghề mới ở nước ta, do đó chưa được xã hội biết đến nhiều Tuy nhiên, nó có nền móng khoa học, có sứ mạng, quan điểm, giá trị, có nguyên tắc làm việc, phương pháp làm việc, tiến trình giải quyết vấn đề, … và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, để giải quyết các vấn đề xã hội
Nhóm đối tượng của nghề CTXH là khá đa dạng như những người dễ bị tổn thương, những người nghèo, những người đứng bên lề xã hội… Người thực thi nghề CTXH phải tuân thủ Quy điều đạo đức nghề nghiệp và các nguyên tắc chuyên môn NVCTXH là những người trong các nghề giúp đỡ Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của nghề CTXH
Do tính chất đặc điểm của nghề CTXH nên NVCTXH làm việc với nhiều thân chủ có rất nhiều vấn đề khác nhau Quá trình tiếp cận làm việc với thân chủ khiến NVCTXH gặp phải những căng thẳng trong công việc, cộng thêm những yếu tố khác tác động nên NVCTXH dễ bị stress Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vấn đề này
II.STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC
Bài 3: CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS 20
I.KHÁI NIỆM CHUNG: 20
II.TỰ NHẬN THỨC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 20
Tự nhận thức là một trong những thuộc tính của trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) Nó là cách thức chúng ta khám phá tính cách cá nhân, hệ thống giá trị, niềm tin, khuynh hướng tự nhiên của mình Thông thường, tự nhận thức là khởi điểm cho việc làm chủ bản thân và tạo ra những gì ta muốn
Vì không ai giống ai trong cách tìm hiểu, và tổng hợp thông tin,
phản ứng và tương tác với sự vật, sự việc nên mọi người thỉnh
thoảng cần dành thời gian nhìn lại để có được một cái nhìn sâu sắc
hơn về bản thân Khi hiểu biết tốt hơn về bản thân mình, chúng ta
Trang 3mới có thể làm chủ cảm xúc, hành vi, tích cách của mình mà ứng
xử, hành động phù hợp với hoàn cảnh, tạo nên những thay đổi tích
cực cho chính bản thân Đồng thời, tự nhận thức cho phép ta hiểu
rõ người khác, cách thức họ cảm nhận về bản thân ta, từ đó giúp
ta nâng cao kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm Theo Shebib Bob (2003), NVCTXH cần có năng lực tự nhận thức ở
mức độ cao Nếu không có khả năng này, NVCTXH sẽ không thể
khách quan đủ khi làm việc với thân chủ và sẽ áp đặt những ý
muốn của mình lên thân chủ Một cách cụ thể, tự nhận thức là: III.MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ 22
NVCTXH thường ứng phó với stress như thế nào? Một cuộc khảo
sát do NASW thực hiện năm 2008 trên 3.653 NVCTXH cho thấy,
NVCTXH Hoa kỳ sử dụng các chiến lược giảm stress như tập thể
dục, thiền, đi trị liệu, uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, tập
yoga, uống rượu và nghỉ việc không lý do Sau đây là một số chiến lược đơn giản và hữu hiệu NVCTXH có thể
áp dụng Các chiến lược này không tách rời nhau nhưng ngược lại
lồng ghép và bổ sung cho nhau Việc cùng lúc áp dụng những
chiến lược khác nhau này sẽ đem lại hiệu quả cao cho việc loại bỏ
tác nhân hoặc giảm thiểu những tác hại của stress TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 4TÀI LIỆU PHÁT
Trang 5Bài 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ STRESS
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CĂNG THẲNG
1 Từ góc độ sinh học
- Theo Cannon (1927), stress được hiểu là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể
trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó.Ông mô tả phản ứng đối với nhân tố gây hại (sự đe dọa) là phản ứng “chốnghoặc chạy” (fight or flight) Cannon là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cáchkhái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặcchạy” (fight or flight)
- Stress - Một đáp ứng sinh học Cannon cho rằng khi một sinh vật đương đầu
với một sự đe dọa cho sự sống còn của mình, thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ratheo một mô hình đã được “cài đặt” sẵn
Có sự gia tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp
Máu được phân bố đến các cơ bắp
Quá trình tiêu hóa bị ngưng lại
Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện đượcnhững hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe dọa: hoặc chống trả,hoặc “cao chạy xa bay”
- Sự khuấy động ấy là một khả năng hoạt hóa đã được cài đặt sẵn bên trong cơthể sinh vật, tạo nên cơ may sống còn của nó dưới những trường hợp, hoàncảnh bị đe dọa Tất cả chúng ta đều từng trải qua sự kích hoạt này Ngay saukhi thoát khỏi một tai nạn gần kề, bạn thấy ngay tim đập thình thịch, cảm giácnôn nao và lòng bàn tay ẩm mồ hôi
- Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ thể sinh vật ấy thực hiện đượcnhững hành động mạnh mẽ nhằm đáp ứng với sự đe dọa: hoặc chống trả, hoặc
“cao chạy xa bay” Sự khuấy động này là một khả năng hoạt hóa đã được càiđặt sẵn bên trong cơ thể sinh vật, tạo nên cơ may sống còn của nó trong trườnghợp bị đe dọa nguy hiểm Tất cả chúng ta đều từng trải qua sự kích hoạt nàyngay sau khi thoát khỏi một tai nạn gần kề: tim đập mạnh, thở hổn hển, lạnhbuốt tay chân…
2 Từ góc độ môi trường
Holroyd, (1979) định nghĩa Stress như đòi hỏi cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không bình thường với một sự kiện từ môi trường Theo quan điểm này, sự kiện gây nên stress xuất phát xảy ra trong môi trường hơn là bên
trong cá nhân
3 Từ góc độ nhận thức - hành vi
- Lazarus (1966); Lazarus, Folkman, (1984): xem stress là một quá trình tươngtác giữa con người và môi trường, trong đó cá nhân xem xét sự kiện trong môitrường có tính đe dọa và có hại Vì vậy, họ cố gắng sử dụng các tiềm năng củamình để thích ứng
- Trong quan niệm này, stress không chỉ từ các sự kiện của môi trường mà cảtrong nhận thức - hành vi của cá nhân Những đáp ứng mang tính nhận thức
Trang 6-hành vi của cá nhân nhằm điều hòa hai yếu tố môi trường và đáp ứng Cáchnhìn này, nhấn mạnh vào khía cạnh nhận thức - hành vi (thuộc về tâm lý) và
đã bổ sung thêm những thiếu sót của các mô hình stress “sinh học” và stress
“môi trường” đề cập ở trên
4 Stress dưới góc độ hệ thống
Một cách tiếp cận stress mang tính tổng thể khi họ cho rằng, stress liên quan đến
nhiều thông số như sinh lý, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi trường Quan điểmnày cho rằng, nhiều yếu tố gây nên stress và có nhiều cách thức đáp ứng của conngười với tình huống gây stress, chúng đều có ý nghĩa cả về sinh lý, tâm lý xã hội của
cá nhân (nhận thức, cảm xúc, hành vi)
Ví dụ minh h ọa :
Chị Ng Th H là cán bộ tham vấn tại trung tâm tư vấn X, hiện chị 50 tuổi, chịđang gặp rất nhiều khó khăn khi có nhiều ca rất phức tạp, trong khi đó, ở gia đìnhchồng chị lại hay rầy la về sự về muộn hay vắng mặt của chị ở nhà Từ đó, anhcũng hay về muộn và vắng mặt trong những bữa cơm Cứ vậy, chị trở nên căngthẳng và có những phản ứng như sau:
Cho rằng chồng, con không thông cảm
Cho rằng chồng gia trưởng…
Cho rằng mình đã ngu ngốc chọn việc đầy khó khăn
- Cảm xúc,hành vi:
Buồn, chán
Hay cáu gắt với nhân viên
Hay mắng con
Hành vi giận dỗi chồng (không nói chuyện, không giao tiếp…)
Khi giao tiếp với thân chủ không tỏ ra vui vẻ, mặt hay cau có…
- Những sự kiện gây nên sự căng thẳng của chị đó là:
Công việc bề bộn chưa giải quyết được
Gia đình có những phản ứng không thông cảm chia sẻ với chị
Chị cũng vào độ tuổi đang có thay đổi hooc-môn ở tuổi tiền mãn kinh
- Những sự kiện đó đã gây nên trạng thái tâm lý bức xúc, nhận thức sai lệch vềchồng hay con, có hành vi phản ứng mang tính tiêu cực với người xung quanh(chồng, con, thậm chí với thân chủ…) Những phản ứng đó cũng có thể khác ởngười NVCTXH, chị Ng Th B có những suy nghĩ khác Cũng có thể các sựkiện đó gây cho chị B và có những phản ứng sinh học:
Mất ngủ
Trang 7 Chán ăn
- Nhưng nhận thức của chị lại là:
Mình đi vắng nhiều, chồng con không có bữa ăn ngon
Mình hay về muộn, mọi người phải chờ cơm mình
- Hành vi phản ứng:
Cố gắng dọn dẹp công việc không quá gấp sang một bên, hoặc giao quyềncho người khác giải quyết (sử dụng kỹ năng ủy quyền…)
Thứ bảy hay ngày chủ nhật tạo bữa ăn ngon cho gia đình…
Rõ ràng, cùng một sự kiện, lúc đầu có những phản ứng sinh học giống nhau,nhưng mỗi người có cách suy nghĩ khác, và có những hành vi khác Điều này chothấy, stress không chỉ là những ứng phó sinh học đơn thuần liên quan tới sự kiệntrong môi trường, mà nó gắn chặt với nhận thức, từ đó có những cảm xúc và hành viđối phó khác nhau ở mỗi cá nhân khác nhau
II MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
Đây là một khái niệm cũng thường thấy trong nhiều tài liệu Nó được sử dụng mộtcách hoán đổi với từ stress Thực chất từ stress xuất phát từ tiếng nước ngoài TạiViệt Nam người ta dùng là stress hay căng thẳng Căng thẳng là tình huống có cácyếu tố gây lên trạng thái này ở họ như tình huống nhiều công việc, môi trường ồn àogây tâm lý căng thẳng, áp lực gia đình lớn khiến họ cảm thấy bức xúc, khó chịu… và
từ đó, họ cũng có những phản ứng về sinh lý, tâm lý nhằm đối phó với các tìnhhuống gây căng thẳng đó
- Chúng ta có thể bị căng thẳng trong gia đình, công việc, hoặc con cái Nếukhông xử lý đúng cách, nó có thể gây rối với tâm trí và sức khỏe của chúng ta
- Khi bị stress, hay căng thẳng chúng ta có cảm giác lo âu, bức bối Ví dụ,NVCTXH là người thường xuyên tiếp xúc với những thân chủ có vấn đề, họluôn có cảm giác một gánh nặng khi vừa phải đặt mình vào vai trò vị trí củathân chủ để thể hiện thấu hiểu, vừa phải đầu tư thời gian nhằm làm tốt côngviệc chuyên môn, những bất đồng trong quan điểm khi làm công tác biện hộcho quyền lợi của thân chủ (ví dụ một trẻ em có HIV cần được tới trường…),cùng với trách nhiệm công việc chăm sóc con cái, gia đình… Khiến họ luôntrong tình trạng lo lắng về trách nhiệm công việc cơ quan, về trách nhiệm vớigia đình
- Đôi khi, con người có quá nhiều nghĩa vụ cần phải thực hiện, mà vượt quá khảnăng của mình, khi đó xuất hiện những lo lắng mà họ không kiểm soát được.Những yêu cầu từ công việc, từ gia đình, từ thân chủ khiến cho NVCTXH trởnên bị quá tải, cảm thấy mình không thể điều tiết được công việc Mối quan
hệ và từ đó họ trở nên bị stress, cảm giác căng thẳng trong cuộc sống
- Không đạt được những giá trị cho cuộc sống của riêng cá nhân cũng là mộttrong những lý do gây ra căng thẳng ở cá nhân Ví dụ, những mâu thuẫn tronggiá trị của cá nhân, giá trị nghề nghiệp của CTXH cũng dễ làm cho NVCTXHtrở nên căng thẳng trong cuộc sống…
Nói chung: Căng thẳng liên quan đến cả hai yếu tố bên ngoài và nội lực
- Các yếu tố bên ngoài bao gồm:
Trang 8 Sinh học môi trường vật lý của bạn
Công việc của bạn, mối quan hệ với những người khác, gia đình của bạn,
và tất cả các tình huống, những thách thức, khó khăn
Nội lực của bạn
- Yếu tố nội lực: xác định khả năng đáp ứng và đối phó của cơ thể với các yếu
tố gây căng thẳng bên ngoài Các yếu tố nội lực ảnh hưởng đến khả năng xử
lý căng thẳng của bạn, bao gồm, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe tổng thể vàmức độ tập thể dục, cảm xúc tốt Khả năng của bạn để kiểm soát căng thẳngthông qua các kỹ thuật thư giãn, số lượng của giấc ngủ và nghỉ ngơi bạn nhậnđược hoặc các chiến lược khác
Trầm cảm: trong tiếng Anh là depression Theo tổ chức Y tế thế giới, trầm cảm là
sự rối nhiễu tâm lý phổ biến đi cùng với cảm xúc bị trầm uất, mất hứng thú hay niềmvui, cảm giác tội lỗi hay thấp kém, kém ăn, kém ngủ, kém năng lượng, kém khả năngtập trung Những dấu hiệu này có thể là tạm thời hay trở nên lâu dài, mãn tính.Trường hợp xấu nhất trầm cảm có thể dẫn đến tự sát Trầm cảm có thể tìm thấy ởmọi lứa tuổi và mọi giới, mọi thành phần Khi con người ở trạng thái bị stress quálâu, họ duy trì những phản ứng tiêu cực và nếu không có can thiệp họ dễ mắc chứngtrầm cảm
- Cạn kiệt là một khái niệm tâm lý học chỉ cảm giác kéo dài sự quá sức, sự mấthết hứng thú, và nó được liệt kê vào như là những vấn đề liên quan tới khókhăn của cá nhân trong quản lý hay điều tiết cuộc sống của cá nhân
- Đây là quá trình mà stress tích luỹ từ từ, cá nhân luôn cố gắng để ứng phó vớicác yếu tố gây stress đến khi họ bị kiệt sức, hết năng lượng cả về thể chất vàtinh thần Các dấu hiệu có thể là: trầm cảm, hoài nghi, chán chường, mất đam
mê (Maslach, 1982)
- Maslach và đồng nghiệp (1970) đã đưa ra công cụ đo luờng ảnh hưởng của sựcạn kiệt ở 3 khía cạnh:
Sự kiệt quệ (exhaustion);
Sự hoài nghi/yếm thế (cynicism),
Và kém hiệu quả (inefficacy)
4 Chấn thương thứ cấp (STS)
- Những cảm xúc và hành vi ứng phó với biến cố đau buồn của con ngườiđược nhớ lại, hồi tưởng lại khi họ gặp trường hợp tương tự (nghe thấy, nhìnthấy về những biến cố đó) Đây là một cảm xúc rất tự nhiên của con người,mỗi khi họ gặp hay có cơ hội nghe lại về biến cố đó, họ sẽ có cảm giác căngthẳng, họ sẽ nhớ lại những biến cố, những hình ảnh về biến cố luôn lặp đilặp lại trong họ
- Với NVCTXH khi giúp đỡ những thân chủ, những người có vấn đề tương tựnhư vấn đề hay sự kiện mà NVCTXH đã trải qua, thì họ luôn có cảm giác đaubuồn, hình ảnh đau khổ được hồi tưởng lại Những trạng thái này có thểkhông mang tính bùng phát, mà nó cứ dai dẳng tích lũy lại, khiến cho đến mộtlúc nào đó NVCTXH cảm thấy khó khăn vượt qua nó Lúc đầu, họ né tránhbằng cách tránh những cảm xúc hay nói chuyện về nó, tránh những tình huống
Trang 9làm gợi lại sự cố đó Cũng có trường hợp lại quên đi những gì được xem làquan trọng liên quan tới biến cố hoặc mất hứng thú, khả năng tập trung, trởnên lãnh cảm, tách biệt, tránh giao tiếp với mọi người Những người có triệuchứng stress sau chấn thương thứ cấp này còn có các biểu hiện như mất ngủ,mất tập trung, giận dữ…
5 Chứng Rối Loạn Do Căng Thẳng Sau Chấn Thương (PTSD: Post-Traumatic Stress Disorder)
- Chứng rối loạn do căng thẳng sau chấn thương (PTSD) liên quan tới các rốiloạn về cảm xúc, hành vi và tâm lý đôi khi có thể phát sinh sau khi gặp phảimột biến cố gây chấn động nặng Ví dụ, các biến cố gây chấn động baogồm, hãm hiếp hoặc lạm dụng tình dục, hành hung, chứng kiến cảnh giếtngười, hoặc bị thương tích nghiêm trọng, hoặc gặp sự tàn phá trên diện rộng
do thiên tai hoặc chiến tranh Những người là nạn nhân hoặc đã chứng kiếnnhững biến cố gây chấn thương nặng nề như vậy sẽ có nguy cơ mắc bệnhPTSD
- Không phải tất cả mọi người đã gặp hoặc chứng kiến một biến cố gây chấnthương sẽ mắc bệnh PTSD Một số người phục hồi mà không cần chữa trị,còn những người khác có thể không phát triển PTSD cho tới nhiều năm saukhi xảy ra biến cố đó Tuy nhiên, nếu không được chữa trị, bệnh có thể làmảnh hưởng xấu tới công việc, học tập và giao tiếp xã hội của người đó
III CÁC YẾU TỐ GÂY NÊN STRESS
Người ta có thể xem xét nguyên nhân của stress từ các góc độ sau đây:
- Yếu tố từ môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi, và sự
ô nhiễm
- Yếu tố từ môi trường xã hội
Vấn đề quan hệ trong gia đình: con cái lấy vợ chồng, mâu thuẫn trong giađình, nuôi dạy con, mất mát của người thân, tài chính trong gia đình…
Quan hệ xã hội (ngoài gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)
- Yếu tố từ công việc: vấn đề liên quan tới ngành nghề, công việc, áp lực thời gian
công việc, quan hệ cấp trên - dưới, môi trường làm việc không phù hợp, khôngnghề nghiệp…
- Yếu tố từ bản thân cá nhân chủ thể:
Thể chất: Thay đổi cơ thể (tuổi về hưu, tuổi tiền mãn kinh, dậy thì…),không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật…
Đặc điểm cá nhân: Tính cách cá nhân, cách suy nghĩ hay giải thích nhữngđiều đã hoặc sẽ xảy ra Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực Ví dụ: nếutrượt đại học thì tương lai thật mù mịt; nếu không hoàn thành công việc thì
sẽ bị sa thải…
Hoặc cũng có người nhìn nhận các yếu tố nguồn gốc của stress như sau:
- Stress liên quan tới yếu tố thời gian: Nó được xem như sự căng thẳng xuất phát từ
tình huống mâu thuẫn giữa thời gian quá ít, mà khối lượng công việc, con ngườicần phải làm quá nhiều Điều này, khiến cho họ trở nên cảm thấy rối bời và mệt
mỏi Ví dụ : NVCTXH do tính chất công việc liên tục, phức tạp, có nhiều ca, mỗi
Trang 10ca lại có rất nhiều công việc liên quan cần giải quyết, trong khi đó họ lại có thờigian rất hạn chế Nhiều khi NVCTXH phải làm quá thời gian theo quy định nhưngcông việc vẫn chưa giải quyết hết Tình trạng này khiến cho NVCTXH trở nên mệtmỏi kéo dài.
- Stress liên quan tới yếu tố tương quan: mâu thuẫn trong tương tác giữa các cá
nhân Đây là loại stress tạo bởi từ những tương tác xã hội của con người Ví dụnhư, những căng thẳng trong mâu thuẫn gia đình, vợ chồng, con cái, trong công sởlãnh đạo với nhân viên, nhân viên với nhân viên Trong quá trình làm việc mâuthuẫn có thể phát sinh từ những giao tiếp giữa người thực thi nhiệm vụ với người
có nhu cầu trợ giúp Ví dụ NVCTXH có thể gặp những khó khăn trong tương táclàm việc với những thân chủ khó tính
- Stress liên quan tới yếu tố tình huống: đây là loại stress tạo bởi những vấn đề nảy
sinh từ điều kiện làm việc, ví dụ như, văn phòng làm việc không có không gian và
vị trí địa lý không phù hợp làm ảnh hưởng tới quá trình làm việc, văn phòng thamvấn lại quá chật chội không có không gian riêng để làm việc kín đáo với thân chủkhiến cho những nguyên tắc nghề nghiệp bị vi phạm Điều này tạo nên sự ức chế
về tâm lý và chức năng nghề nghiệp của NVCTXH Sự thay đổi nhiều lần nơi làmviệc, phải di chuyển nhiều cũng là yếu tố tạo nên sự mệt mỏi căng thẳng với ngườilàm việc, nhất là với NVCTXH Họ luôn phải đi lại như vãng gia, thăm và trao đổivới các đối tác
- Stress liên quan tới yếu tố suy diễn (anticipatory): Đây là một yếu tố mang tính
rất chủ quan, chính vì vậy có người dễ bị stress, có người khó bị stress trong cùngmột hoàn cảnh
- Stress liên quan tới nghị lực cá nhân: Kinh nghiệm cá nhân và sự kiên định của
cá nhân cũng tác động rất lớn tới khả năng, mức độ bị stress của cá nhân Yếu tốnày cũng mang tính chủ quan và giải thích tại sao sự khác biệt về khả năng ứngphó với stress khác nhau ở những người khác nhau
IV CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS
1 Các biểu hiện cơ thể
- Mệt mỏi, cảm thấy suy kiệt về sức lực (kiệt sức)
- Run chân tay
- Hay đau bụng, thậm chí tiêu chảy, táo bón
- Đau bàng quang với nước tiểu trong, hay mót tiểu
- Hay có cảm giác chán ăn, xuất hiện các triệu chứng về dạ dày
- Sút cân, rụng tóc
- Luôn cảm thấy mệt mỏi
- Đau đầu, đau lưng, đau nhức khắp cơ thể
2 Rối loạn về tinh thần
Trang 11- Cảm xúc
Tinh thần không thoải mái
Cảm thấy bồi hồi
Cảm giác bất an
Cảm xúc lẫn lộn
Không có hứng thú với những sở thích và các hoạt động thường ngày
Thường xuyên cảm thấy buồn phiền vì những điều nhỏ nhặt nhất
Không muốn làm việc gì, có tâm trạng buông xuôi
Âu lo thường xuyên
Có khó khăn khi suy nghĩ vấn đề cách lôgíc
Khó thu nạp thông tin
Hay nhớ lại những sự kiện gây khó khăn
Khó tập trung vào công việc
Khó đưa ra quyết định ngay cả quyết định đơn giản
Luôn cảm thấy tự ti, tự trách mình, mất niềm tin vào tương lai
Đa nghi, nghĩ rằng mình mắc bệnh nặng mặc dù đã đi kiểm tra sức khỏe
Luôn cảm thấy bồn chồn, khó ngồi yên một chỗ, hoặc ngược lại đờ đẫn
Hay kêu ca phàn nàn
Dễ có hành vi tức giận
Không muốn ra ngoài giao tiếp
Không nuốn tiếp xúc gặp gỡ (ngay cả người thân)
Hay có hành vi/lời nói chống đối, hoặc tự ti
Vệ sinh thân thể kém, trang phục luộm thuộm
Hay sử dụng rượu bia, chất kích thích
Không quan tâm sinh hoạt văn nghệ thể thao
Hành vi tự làm tổn thương
Đôi khi kích động đập phá đồ đạc, hành hung người khác
Hành vi và lời nói không nhất quánCác rối loạn hành vi này làm cho người bị stress dễ có hành vi lạm dụng rượu, sửdụng hoặc nghiện thuốc lá cũng như các chất gây nghiện khác Sử dụng rượu và cácchất gây nghiện lúc đầu làm giảm lo âu và trầm cảm, nhưng về sau bản thân chúng
Trang 12lại là các chất gây lo âu và đối tượng bắt buộc phải tăng lượng sử dụng, do đó ảnhhưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội.
V ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS
- Tăng cường hoạt động của cơ bắp, con tim và não giúp ta thêm năng lượng, và
sự tập trung cao độ để hoàn thành tốt công việc, có lợi cho hệ miễn dịch.Stress có thể giúp cơ thể trở nên mạnh mẽ, sôi nổi và thậm chí là khỏe mạnhhơn, từ đó giúp tăng cường hoạt động cơ bắp, trái tim, não giúp tăng thêmnăng lượng, tăng sự tập trung để hoàn thành tốt công việc được giao
- Dấu hiệu của stress có thể là những cảnh báo nhằm tránh nguy hiểm đang rìnhrập bởi stress giúp con người tỉnh táo hơn và cảnh giác hơn
- Stress rèn luyện khả năng bền bỉ, tăng cường ý chí nghị lực của cá nhân Stresscũng giúp tăng cường sự sáng tạo của cá nhân Trong tình huống căng thẳngnhững thách thức sẽ giúp cho chúng ta suy nghĩ, tập trung, sẵn sàng đối phóvượt qua thách thức để thành công
- Tăng cường khả năng đối phó với các sự kiện, thay đổi trong môi trường sống:Stress và lo âu ở mức độ vừa phải có thể giúp bạn có thêm năng lượng, sự tậptrung và động lực để phấn đấu Nhiều nghiên cứu cho thấy, con người cảmthấy hạnh phúc nhất khi họ hiểu rõ cảm xúc của bản thân và đối mặt với nó,vượt qua nó
- Tăng cường khả năng thích nghi của cá nhân với môi trường sống khác nhau.Kiểm soát thành công stress do sự thay đổi môi trường là cách tốt nhất để xâydựng sự tự tin trong công việc, cũng như trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộcsống Khả năng thích nghi của cá nhân càng được tăng cường thì giúp cho cánhân càng có nhiều kĩ năng đối phó khi gặp các sự thay đổi Đây là cơ hội cho
sự thăng tiến và phát triển
2 Ảnh Ảnh hưởng tiêu cực
- Các chuyên gia đã cho thấy, mắt xích giữa stress và những tác động không tốtlên cơ thể con người Cơ thể trải qua ba giai đoạn phản ứng khi gặp stress.Đầu tiên, "hệ thống báo nguy" hoạt động khi cơ thể chuẩn bị "chống lại hoặclẩn trốn" Kế tiếp, cơ thể sẽ tạo sức đề kháng chống lại stress theo từng giaiđoạn, nó bị ép buộc phải theo kịp những đòi hỏi mà stress tạo ra, kéo theo làthiếu ngủ Tình trạng này kéo dài và cơ thể sẽ chạm đến mức thứ ba, đó là kiệtsức Tất cả tự thích nghi với stress nhưng chỉ tại một thời điểm nào đó, cơ thể
sẽ bảo rằng, đã đến lúc phải cắt bớt hoặc nó sẽ dẫn đến suy nhược cơ thể Mức
độ ảnh hưởng tiêu cực phụ thuộc vào bản tính cá nhân của mỗi người
- Stress có thể ảnh hưởng đến bản thân họ về mặt thể chất, tinh thần/cảm xúc,đến các quan hệ xã hội, cũng như công việc, lao động học tập của họ Có thểđược phân tích chi tiết sau đây:
a Ảnh hưởng tới bản thân
- Về thể chất: tăng nguy cơ các bệnh liên quan tới cơ thể
Tăng nguy cơ bị các bệnh như huyết áp, tim mạch, tiểu đường…
Tóc: Một người bị stress lên đến cao độ, tóc sẽ rụng và có nguy cơ hói đầu
Não bộ: stress gây nên các bệnh liên quan đến thần kinh như mất ngủ, đauđầu, thay đổi tính cách, lo lắng, khó chịu và trầm cảm Sự căng thẳng thầnkinh là hậu quả khi mà trán, mặt, cổ, da đầu và hai cơ vai căng thẳng đến
Trang 13mức không thể chùng xuống được Mất ngủ thường xuyên do stress gây ra
là nguyên nhân khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm chí cónguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng
Răng, miệng: ung nhọt nổi ở miệng và hiện tượng miệng khô đắng là dostress gây ra Khi tinh thần suy sụp, căng thẳng, hoạt động của hệ miễndịch trở nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi là đẹn) ở vòmmiệng, nướu, lợi, lưỡi… sẽ rất cao
Cơ bắp: những cơn đau bất chợt ở cổ và vai, nhức cơ và đau thắt lưng cùngvới những cơn co thắt cơ bắp và co giật thần kinh là hậu quả của stress
Tim: các bệnh về tim mạch và tăng huyết áp thường được cho là các bệnhliên quan đến stress Khi bị stress, cơ thể thường giải phóng một lượng lớnhormone cortisol, góp phần làm xuất hiện bệnh cao huyết áp, béo phì vàtiểu đường Ngoài ra, stress còn là nguyên nhân khiến tinh thần ủ rũ, lườivận động
Phổi: stress ở mức độ cao ảnh hưởng trầm trọng đến tình trạng hen suyễn.Ngoài chất cortisol, stress còn kích thích tuyến thượng thận giải phónghormone adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao có tác động làm chohơi thở trở nên gấp gáp, không sâu Điều này giải thích tại sao các nhà tâm
lý khuyên mọi người nên giữ bình tĩnh mỗi khi gặp căng thẳng, hay lo âubằng cách cố gắng hít thở thật sâu và đều đặn
Mắt: dễ dàng nhận thấy mệt mỏi, căng thẳng luôn là nguyên nhân hàngđầu dẫn đến chứng mất ngủ Khi mất ngủ, bên cạnh một số biểu hiệnthường thấy như thần sắc kém tươi tỉnh, cơ thể suy nhược… thì tình trạngmắt mệt mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ cũng rất dễ xảy ra Mất ngủ lâungày, thậm chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều cănbệnh nguy hiểm khác về mắt
Bộ máy tiêu hóa: stress có thể làm cho nặng thêm hoặc gây ra những bệnhđường tiêu hóa như viêm dạ dày, đau bao tử, viêm loét tá tràng, viêm loétthành ruột kết Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng cườnglưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sứcvận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó
có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi và chướng bụng
Cơ quan sinh sản: stress ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản gây ra những xáotrộn chu kỳ kinh nguyệt và nhiễm trùng âm đạo ở nữ Đối với nam giới,stress có thể tạo nên bệnh liệt dương và xuất tinh sớm, giảm khả năng tìnhdục, khó có thai…
Da: một trong những tác hại chính của stress đối với da là kích thích cáctuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lãohóa và dễ nổi mụn, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác nhưchàm bội nhiễm (bệnh eczema),… Vết thương trên da cũng lành chậm hơnkhi bị stress Có trường hợp stress làm cho phát ban: da đỏ, hoặc gây rangứa Việc cau mày, nhăn mặt thường xuyên sẽ làm hình thành các vếtnhăn nhưng mọi người thường không để ý đến điều này
Suy yếu miễn dịch: ảnh hưởng của stress cũng thể hiện rất rõ trên sứckhỏe, stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và cácchức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng của cơ thể nhằm chống lạibệnh tật cũng như sự xâm nhập của vi rút Ngoài ra, stress mãn tính còn cóthể làm nặng thêm các bệnh lý cơ thể hoặc tâm thần sẵn có Stress gây tổn
Trang 14hại cho bạch cầu (kháng thể chống lại những virus có hại xâm nhập), khảnăng miễn dịch giảm dần
Gây xáo trộn cuộc sống hàng ngày: ảnh hưởng stress làm cho con ngườikhông còn chủ động trong hoạt động hằng ngày Những nề nếp trong cuộcsống được thực hiện ổn định trước đây, sau khi bị stress bị xáo trộn rất lànhiều, thậm chí có trường hợp bỏ mặc tới đâu hay tới đó
Cảm xúc buồn rầu, chán nản không muốn làm việc: khi con người bị mắcmột chứng bệnh, ví dụ bệnh đau bao tử, bệnh tác động lên hệ sống thầnkinh làm cho chán nản, không có hưng phấn để làm việc Stress cũng tácđộng như vậy thậm chí còn tác động mạnh hơn, gây ra cảm xúc buồn rầu,chán nản, không muốn tham gia vào bất kì hoạt động nào kể cả công ănviệc làm ổn định
Trí nhớ và sự tập trung kém: Sau một thời gian, stress sẽ làm cho sự tậptrung giảm dần Một phần não bộ chịu trách nhiệm về bộ nhớ cũng già cỗinhanh chóng khi chịu đựng stress quá lâu
Tăng nguy cơ tự sát: Khi bị stress nặng, bản thân con người không còn tựchủ mình nữa, một số người suy nghĩ vu vơ trong đó có quyết định tìm đếncái chết để không còn phải đối phó sự tác động nghiệt ngã của stress
b Ảnh hưởng về quan hệ xã hội
- Chất lượng tư duy kém khi bị stress Nếu không có biện pháp chế ngự kịp thời,stress sẽ từng bước làm giảm khả năng tư duy, trí nhớ, khả năng tự kiểm soát,phán đoán… của người bệnh
- Khi bị stress kéo dài con người có thể dễ mất đi niềm tin trong cuộc sống, mấtnghị lực và ý chí vươn lên
- Ảnh hưởng đến giao tiếp hàng ngày: với người bình thường việc giao tiếptrong đời sống hằng ngày là rất quan trọng và là một nhu cầu không thể thiếutrong quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, và cá nhân với xã hội.Khi gặp stress, đặc biệt là stress gây tác động lớn đến thể chất và tinh thần thìcon người không muốn giao tiếp với ai, thậm chí có trường hợp là chỉ muốnsống một mình, vì vậy lại làm cho họ trở nên stress trầm trọng hơn
c Ảnh hưởng tới công việc, lao động học tập
- Hạn chế tốc độ và chất lượng công việc: Những tác động tiêu cực về thể chất,tinh thần/cảm xúc của stress làm cho con người giảm sự năng động, sự tíchcực trong công việc, thậm chí có trường hợp không còn ý chí để làm bất cứnhững hoạt động, những công việc nào, ngay cả những hoạt động, công việcphục vụ cho chính bản thân họ
- Quan hệ công việc bị giảm chất lượng (quan hệ với đồng nghiệp và với kháchhàng…) Khi bị stress, do tác động về thể chất và tinh thần, người bị stress bịhạn chế nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong quan hệ với người thân, với bạn bè,với đồng nghiệp, với khách hàng Những trường hợp nặng, người bị stressthậm chí tự thu mình sống một mình và không muốn quan hệ với bất cứ ai
- Khả năng ra quyết định hạn chế: Khả năng suy xét để đưa ra quyết định giảiquyết các vấn đề bị suy giảm, thiếu chính xác và không nhanh chóng Khi bịstress thì cá nhân có thể gặp khó khăn đưa ra một quyết định dù là đơn giản
Trang 15Bài 2: STRESS VÀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
I ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nghề CTXH là một nghề mới ở nước ta, do đó chưa được xã hội biết đến nhiều Tuynhiên, nó có nền móng khoa học, có sứ mạng, quan điểm, giá trị, có nguyên tắc làm việc,phương pháp làm việc, tiến trình giải quyết vấn đề, … và áp dụng vào nhiều lĩnh vựckhác nhau, để giải quyết các vấn đề xã hội
Nhóm đối tượng của nghề CTXH là khá đa dạng như những người dễ bị tổn thương,những người nghèo, những người đứng bên lề xã hội… Người thực thi nghề CTXH phảituân thủ Quy điều đạo đức nghề nghiệp và các nguyên tắc chuyên môn NVCTXH lànhững người trong các nghề giúp đỡ Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của nghềCTXH
Do tính chất đặc điểm của nghề CTXH nên NVCTXH làm việc với nhiều thân chủ córất nhiều vấn đề khác nhau Quá trình tiếp cận làm việc với thân chủ khiến NVCTXH gặpphải những căng thẳng trong công việc, cộng thêm những yếu tố khác tác động nênNVCTXH dễ bị stress Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng nhiều công trìnhnghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vấn đề này
II STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC
1 Hoa Kỳ
Martin & Schinke (1989) đã khảo sát 200 nhân viên làm việc với gia đình và trẻ
em và chuyên viên tâm lý lâm sàng của 7 trung tâm dịch vụ xã hội trong khu vực đôthị New York Qua khảo sát thấy rằng, 57% nhóm chuyên viên tâm lý lâm sàng và71% nhân viên làm việc với gia đình/ trẻ em xác định rằng, họ bị gần như kiệt sứchoặc là kiệt sức nghiêm trọng
Năm 2008, Hiệp hội NVCTXH Mỹ tiến hành nghiên cứu 3.653 hội viên về lĩnhvực hoạt động của họ có liên quan gì đến stress hay không Kết quả nghiên cứu chothấy, NVCTXH làm việc ở các lĩnh vực hoạt động như sức khỏe tâm thần, sức khỏe,
an sinh nhi đồng gặp stress ở những mức độ khác nhau (xem bảng sau)1
Lý do bị stress Lĩnh vực hoạt động Tỷ lệ bị stress (%)
Thiếu thời gian Sức khỏe tâm thần 35
An sinh trẻ em và Gia đình 12
Công việc nặng nhọc Sức khỏe tâm thần 30
Trang 16Lý do bị stress Lĩnh vực hoạt động Tỷ lệ bị stress (%)
a Nội dung tính chất công việc rất khó khăn và phức tạp
- Bị áp lực công việc: Công việc của NVCTXH chủ yếu là giải quyết vấn đề
cho thân chủ, như đã đề cập ở trên nghề CTXH là nghề giúp đỡ (helpingprofession) Lý tưởng, trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp giúpNVCTXH thực hiện chu toàn công việc của mình nhưng cũng tạo áp lực lên
họ khá lớn
- Công việc quá tải: NVCTXH thường triển khai công việc chuyên môn theo
các phương pháp và tiến trình quy định của nghề Mỗi thân chủ có vấn đề vàhoàn cảnh khác nhau cho nên NVCTXH phải áp dụng các nguyên tắc, kỹnăng phù hợp Số lượng thân chủ mà NVCTXH được phân công có khi vượtkhả năng theo dõi giúp đỡ của họ khiến họ lâm vào tình trạng quá tải
- Không đủ thời gian: NVCTXH, nhất là nhân viên quản lý ca (case managers)
có khi được phân công quản lý nhiều thân chủ cùng một thời điểm nên bị áplực về mặt thời gian Họ không đủ thời gian để giải quyết hết mọi việc chothân chủ nên lo lắng cao độ (bị thân chủ kêu ca phàn nàn, bị cấp trên khiểntrách…) trong khi họ còn nhiệm vụ với gia đình con cái
làm việc trong hệ thống an sinh xã hội (bao gồm lĩnh vực công và tư); diệntiếp xúc rộng bao gồm trường học, bệnh viện, tòa án, gia đình và trẻ em,
2 Nhóm này gồm các anh chị nòng cốt của CLB trong hội thảo 10/6/2011ở ĐH Mở TPHCM như : Nguyễn Thị Hải, Trần Thị Nên, Trần Thị Nhiễu, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Trần Thị Ái Mỹ, Trương Thị Dừa, Lê Thị Mỹ Hiền, Trần Công Bình, Lê Chí
Trang 17nghiện ngập, tội phạm, mại dâm, sức khỏe tâm thần, người nhiễm HIV/AIDS,người cao tuổi, người khuyết tật… Do đó, có trường hợp NVCTXH gặp rủi ronghề nghiệp, thí dụ bệnh nhân tâm thần tấn công, người có H đe dọa…
- Kỳ vọng về sự thay đổi nơi thân chủ: Một trong những áp lực đối với
NVCTXH là khi giúp đỡ thân chủ là sự mong mỏi thân chủ của mình mauthay đổi Do kỳ vọng đặt vào thân chủ lớn lao như vậy nên khi thấy thân chủchậm thay đổi, hoặc không thay đổi, tất yếu NVCTXH bắt đầu thất vọng vềthân chủ, về bản thân mình, từ từ dẫn đến bị áp lực
- Áp lực tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề của thân chủ: Thông thường
NVCTXH có khả năng tìm ra giải pháp cho vấn đề của thân chủ trên cơ sởnhận diện vấn đề, phân tích đánh giá chẩn đoán vấn đề, từ đó cùng thân chủđưa ra giải pháp Nhưng cũng có trường hợp thân chủ thiếu sự hợp tác, thamgia, nên áp lực tìm ra giải pháp giúp thân chủ giải quyết vấn đề tăng sức ép lênNVCTXH Họ lo lắng, băn khoăn nên dễ nóng nảy với người xung quanh kể
cả thân chủ
trường hợp mà NVCTXH gặp phải là vấn đề của thân chủ phức tạp, nan giải,vượt khỏi tầm giải quyết của mình Điều đó, cũng nên được nhìn nhận là bìnhthường, vì NVCTXH cũng là con người có những hạn chế, không thể giảiquyết hết mọi vấn đề của xã hội Nhưng NVCTXH có ý thức trách nhiệmnghề nghiệp cao, có sự thôi thúc của đạo đức nghề nghiệp thì họ lại bị áp lực,
bị stress Họ cảm thấy bị tự ái nghề nghiệp nên dẫn đến những suy nghĩ, dằnvặt thậm chí coi đó là thất bại trong nghề nghiệp của mình
- Thiếu sự thông cảm chia sẻ của bạn bè, gia đình: Trong khi công việc
chuyên môn đòi hỏi nhiều phấn đấu của bản thân thì phía gia đình, bạn bè và
xã hội lại tạo áp lực khác lên NVCTXH Bạn bè cho rằng NVCTXH làmkhông tiếng tăm, thu nhập thấp, lại vất vả Gia đình và người thân củaNVCTXH trực tiếp hoặc gián tiếp chê bai/phê phán việc làm của NVCTXH làlàm việc bao đồng, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng Làm việc tắt mặt tối mũi
mà đồng lương quá thấp, thời gian đầu tư vào công việc nhiều nên không còn
để lo cho gia đình, do đó NVCTXH bị nghe nhiều điều tiếng Chính sự thiếucảm thông chia sẻ của những người thân và bạn bè khiến NVCTXH càng lâmvào cảnh đơn côi trong gia đình mình, trong xã hội mình
b Môi trường tác nghiệp
Môi trường tác nghiệp nhấn mạnh tới bối cảnh chung của xã hội và bối cảnh
cơ sở xã hội nơi NVCTXH làm việc, những nơi này có thể có những tác độnggây ra stress cho NVCTXH bởi các yếu tố nguyên nhân sau:
- Vị trí vai trò, trách nhiệm, quyền hạn chưa rõ ràng: Vị trí của NVCTXH ở
nước ta chưa có, dù mới đây nhà nước có ban hành thông tư quy định chứcdanh, nhưng trong bộ máy tổ chức của các cơ sở xã hội thì vị trí vai trò của họchưa có hoặc chưa rõ ràng Từ đó trách nhiệm, quyền hạn cũng không đượcxác định mà chỉ được giao công việc chung chung, không quyền hạn, khôngtrách nhiệm vì không có bảng mô tả công việc (job description)
giao trách nhiệm chuyên môn thì giải quyết công việc chưa tốt Một phần do
họ thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chuyên nghiệp, một phần do môi trường làmviệc thiếu tính chuyên nghiệp, không thực hành nghề nghiệp chuyên môn côngCTXH nên khó phát triển tay nghề
Trang 18- Thiếu hệ thống giám sát, hệ thống an sinh xã hội chưa đồng bộ: Một môi
trường tác nghiệp lý tưởng trong nghề CTXH là phải có đội ngũ NVCTXHhội đồng bộ, có hệ thống kiểm huấn/giám sát đầy đủ, giúp nhân viên các cấphoàn thành công việc và tăng năng lực Môi trường làm việc của NVCTXHhiện nay ở nước ta cần cải thiện và tăng cường tính chuyên nghiệp khiếnNVCTXH cảm thấy kiến thức chuyên môn đã học không hữu ích vì không ápdụng Họ rơi vào tình trạng hoang mang, không còn tin vào năng lực của mìnhnữa và ngày càng thui chột kỹ năng, cảm thấy mình vô dụng Trong khi đó hệthống an sinh xã hội chưa đồng bộ, thiếu thốn, tính đáp ứng của hệ thống chưacao, chưa lấy con người làm trọng tâm của sự giúp đỡ nên ảnh hưởng đếnthành quả giải quyết vấn đề xã hội của thân chủ, làm NVCTXH cảm thấymình lạc lõng thiếu sự hỗ trợ và hợp tác
- Thiếu sự hỗ trợ liên ngành và bộ máy thực thi chính sách: Tính chất công
việc của NVCTXH phần lớn tập trung vận động nguồn lực cộng đồng hỗ trợthân chủ giải quyết vấn đề theo nguyên tắc “tự giúp” (self-help) Do đó, việcchuyển tuyến/chuyển gởi là việc làm thường xuyên, nhưng để làm được việcnày đòi hỏi cần có sự hợp tác và phối hợp từ các ngành liên quan và các đơn vịtrong bộ máy thực thi chính sách xã hội Sự hợp tác liên ngành giữa CTXH vàcác ngành cần được đặt ra từ lâu, như tâm lý học, tham vấn, xã hội học, tâmthần học… Tuy nhiên, trong thực tế việc hợp tác liên ngành này gặp nhiều hạnchế, khiến NVCTXH thiếu nguồn lực hỗ trợ cho công việc của mình Đó làchưa kể NVCTXH gặp phải hệ thống hành chánh quan liêu, gây ách tắc trongtiến trình giải quyết vấn đề cho thân chủ
- Thiếu tài nguyên, khi có tài nguyên thì có thể bị chi phối bởi nhà tài trợ: Tài
nguyên trong xã hội ngày càng khan hiếm nên trong ngành CTXH cũng chịuđựng sự hạn chế này Việc thiếu tài nguyên là chuyện cần nhận thức nhưng khi
có tài nguyên thì có nơi lãng phí hoặc sử dụng không đúng mục đích Đặc biệt,trong tình hình cần sự tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước thì chúng tagặp tình trạng phải tuân thủ sự chi phối của họ Điều này khiến cơ sở xã hội vàNVCTXH không thể độc lập trong hoạch định chính sách, thủ tục, phươngpháp hoạt động của cơ sở mình
- Có nhiều nguy hiểm (tai nạn nghề nghiệp): Nghề CTXH thường ẩn chứa
nhiều rủi ro, bất trắc và nguy hiểm NVCTXH tuy thực thi nghề nghiệp theoquy điều đạo đức nhưng trong họ vẫn băn khoăn về những nguy cơ tai nạnnghề nghiệp Tuy có chính sách, chế độ cho những người chăm sóc những đốitượng đặc biệt nhưng sự an toàn bản thân vẫn phải đặt hàng đầu
- Gặp khó khăn trong giải quyết các thủ tục hành chính: Như trên đã đề cập,
thủ tục hành chánh của bộ máy hành chánh tạo ra những rào cản khiếnNVCTXH gặp khó khăn trong khi giải quyết vấn đề cho thân chủ Còn thânchủ nếu gặp tình trạng hành chánh giấy tờ thì họ không thể và không muốntiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội Từ các rào cản này khiến NVCTXHphải mất thời gian, công sức… để tác động, biện hộ với các nhân viên hệthống hành chánh nên dễ bị stress
- Nơi làm việc và điều kiện làm việc khó khăn: NVCTXH làm việc ở nhiều
môi trường khác nhau từ thành thị cho đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, hảiđảo, miền núi… cho nên gặp nhiều khó khăn trong khi triển khai công việc.Tuy rằng khi vào nghề ai cũng biết và chấp nhận sự gian khổ này nhưng thực
tế không ít người than thở và lo âu Có người làm ở các cơ sở giáo dục dạynghề cho thanh niên nghiện ma túy đóng ở địa bàn miền núi, xa cách khu dân
cư, thiếu thốn đủ bề Họ cố gắng hòa nhập nhưng vẫn có người bị stress phải
bỏ việc hoặc xin chuyển qua phần việc khác NVCTXH làm việc với người có