Tra theo âm Hán-Việt: Các Tự điển Hán ngữ sách có thể sắp xếp thẳng các mục từ chữ Hán theo âm Hán-Việt như Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn, Hán-V
Trang 1Lời nói đầu
Đề cương chi tiết học phần Văn bản Hán văn Việt Nam
Mục lục………
……….1
PHẦN I KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CHỮ HÁN……… ………3
I Qui tắc viết chữ Hán……… ……….………
3 II Kết cấu chữ Hán……… ……….………
……… 3
III Cách tra tự điển……… ……….……… ……….…… 4
IV Tổng quan về chữ Hán ……… ……….……… ……… 6
1 Sơ lược quá trình phát triển……… ……….……… …… 6
2 Lược sử hệ phiên âm Pinyin……… ……….……… …….8
3 Sơ lược chữ giản thể……… ……….……… ………… 10
4 Lược sử chữ giản thể……… ……….……… ………… 16
V 214 bộ thủ chữ Hán ……… ……….……… ……… 20
Trang 2VI Tóm tắt ngữ pháp Hán ngữ cổ đại……… ……….……… ….25
1 Tổng quan……… ……….……… ……….…… 25
2 Cấu trúc cơ bản……… ……….……… ……… 36
PHẦN II PHIÊN ÂM, CHÚ THÍCH, DỊCH NGHĨA CÁC VĂN BẢN HÁN VĂN VIỆT NAM TIÊU BIỂU……… ……….……… ……….… 45
I Văn bản Hán văn tiêu biểu thời Lí – Trần: ……… ……… 45
1 Nam Quốc sơn hà南國山河 – Lí Thường Kiệt 李常傑……… ………51
2 Thuật hoài述懷 – Phạm Ngũ Lão 范五老……… ……….54
3 Thiên đô chiếu遷都詔 – Lí Thái Tổ 李太祖……… ……….55
4 Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn答國王國祚之問 - Đỗ Pháp Thuận 杜法順 ……… 58
5 Cáo tật thị chúng告疾示眾– Thiền sư Mãn Giác 滿覺禪師……… ….58
6 Quy hứng歸興 - Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥……… ……….59
7 Dụ chư tì tướng hịch văn諭諸裨將檄文 – Trần Hưng Đạo 陳國峻……… 61
8 Bạch Đằng giang phú白藤江賦 – Trương Hán Siêu 張漢超……….71
II Văn bản Hán văn tiêu biểu thời Lê: ……… ……….………76
1 Dục Thúy sơn浴翠山 – Nguyễn Trãi 阮廌……… ……… 76
2 Bình Ngô đại cáo平吳大告 – Nguyễn Trãi 阮廌……… ………78
3 Hiền tài là nguyên khí quốc gia 賢材國家之元氣– Thân Nhân Trung 申仁忠.88– 4 Khuê tình閨情 – Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙……… ………92
III Văn bản Hán văn tiêu biểu thời Nguyễn: ……… ……… 94
1 Độc Tiểu Thanh kí讀小青記 – Nguyễn Du 阮攸……… ………94
2 Long Thành cầm giả ca龍城琴者歌 – Nguyễn Du 阮攸……… ……….97
3 Sa hành đoản ca沙行短歌 – Cao Bá Quát 高伯适……… ………100
4 Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm吳時任……… ……… 104
IV Văn bản Hán Văn của Hồ Chí Minh: ……… ………106
1 Mộ 暮 - Hồ Chí Minh……… ……….……… ………… 106
望月 – Hồ Chí Minh……… ……….……….106
Trang 33 Tảo giải早解 – Hồ Chí Minh……… ……….………107
PHẦN III BÀI TẬP……… ……….……… ……….…… 108
PHẦN IV PHỤ LỤC……… ……….……… ……….…… 112
I Tam thiên tự - Soạn giả Đoàn Trung Còn……… ……….112
Trang 4III Cảm hoài感懷 – Đặng Dung 鄧容……… ……… 118
IV Loạn thời亂時 (Trích Chinh phụ ngâm)– Đặng Trần Côn……… … 118
V Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn trong hệ thống thể loại văn họcTrung Quốc ……… ……….……… ………120
VI Chữ Văn và những nét nghĩa……… ……….……… …123
PHẦN V TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….……… 128
Trang 5PHẦN I KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CHỮ HÁN
MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Học xong phần này, Sinh viên có khả năng:
- Nhận ra kết cấu của mọi chữ Hán, viết đúng chữ Hán theo quy tắc bút thuận.
- Biết sử dụng tự điển, từ điển để tra cứu chữ Hán.
- Vẽ sơ đồ và giới thiệu một cách ngắn gọn lịch sử hình thành và phát triển của chữ Hán; giới thiệu hệ phiên âm Pinyin; tóm tắt lịch sử chữ giản thể, nguyên tắc giản hóa và hạn chế của chữ giản thể.
- Nhận ra tên gọi và ý nghĩa 50 bộ thủ thông dụng nhất, biết xác định các bộ thủ trong chữ Hán.
- Nắm được một số điểm ngữ pháp quan trọng trong văn bản Hán văn cổ.
3 Từ trái qua phải: 州 , 划 , 外 , 辦 , 做 , 條 , 附 , 謝
4 Từ trên xuống dưới: 三 , 合 , 念 , 志 , 器 , 意
5 Từ ngoài vào trong: 司 , 向 , 月 , 同 , 風 , 风 , 周
Trang 64 Trái – giữa – phải: 小 , 水 , 辦 , 做 , 條 , 謝 , 批 , 倒
5 Trên – giữa – dưới: 三 , 合 , 克 , 器 , 意 , 菜 , 帶 , 堂
6 Trên – phải trên – phải dưới: 但 , 你 , 程 , 談 , 總 , 治
7 Trên – dưới trái – dưới phải: 蟲 , 最 , 命 , 众 , 義 , 緊
8 Trên trái – trên phải – dưới: 想 , 您 , 資 , 質 , 些 , 型 , 恐
9 Góc dưới trái – góc trên phải: 这 , 还 , 过 , 选 , 遊 , 道
10 Liên thể: 十 , 人 , 刀 , 了, 七 , 九 , 山 , 南 , 之
III CÁCH TRA TỰ ĐIỂN
Các cách tra chữ:
1 Tra theo âm Hán-Việt:
Các Tự điển Hán ngữ (sách) có thể sắp xếp thẳng các mục từ chữ Hán theo âm Hán-Việt
(như Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn, Hán-Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng, v.v ); nếu sắp theo bộ thủ thì cũng có bảng tra theo âm
Việt và âm pinyin (thí dụ Từ điển Việt của Trần Văn Chánh) Trong số các TĐ Việt hiện nay, bộ của Nguyễn Quốc Hùng có ưu điểm là phiên phiết chính xác âm Hán-Việtđồng thời ghi chú thêm cách đọc sai phổ thông
Hán-2 Tra theo bộ thủ (thí dụ Khang Hi tự điển, Từ Hải, Từ Nguyên, v.v ):
Bộ thủ là một yếu tố quan trọng của Hán tự, giúp việc tra cứu Hán tự tương đối dễ dàng
vì nhiều chữ được gom thành nhóm có chung một bộ thủ Từ đời Hán, Hứa Thận 許慎 phânloại chữ Hán thành 540 nhóm hay còn gọi là 540 bộ Thí dụ, những chữ 論 , 謂 , 語 đều liênquan tới ngôn ngữ, lời nói, đàm luận v.v nên được xếp chung vào một bộ, lấy bộ phận
言 (ngôn)làm bộ thủ (cũng gọi là «thiên bàng» 偏旁) Đến đời Minh, Mai Ưng Tộ 梅膺祚 xếp
gọn lại còn 214 bộ thủ và được dùng làm tiêu chuẩn cho đến nay Phần lớn các bộ thủ của 214
bộ đều là chữ tượng hình và hầu như dùng làm bộ phận chỉ ý nghĩa trong các chữ theo cấu tạohình thanh (hay hài thanh) Mỗi chữ hình thanh gồm bộ phận chỉ ý nghĩa (hay nghĩa phù 義
符 ) và bộ phận chỉ âm (hay âm phù 音符 ) Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ
thủ là một điều kiện thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự Hai bước thao tác:
Trang 7(b) Rồi đếm xem số nét còn lại Trong phần bộ thủ ấy, ta dò tìm chỗ có số nét còn lạitương ứng.
VD: chữ 論 thuộc bộ ngôn 言; số nét còn lại là 8; nơi (bộ ngôn + 8 nét) ta sẽ gặp chữ 論.Xác định bộ thủ không phải là việc dễ dàng Từ khi xuất hiện TĐ chữ giản thể thì bộ thủ
trở thành vấn đề rắc rối Thí dụ chữ điện 電 phồn thể thuộc bộ vũ 雨; nhưng chữ giản thể của
nó là 电 thì Tân Hoa Tự Điển cho vào bộ ất 乙, còn Từ Hải (bộ mới) thì cho vào bộ viết 曰,
còn Hiện Đại Hán Ngữ Từ Điển thì cho vào bộ điền 田.
3 Tra theo âm pinyin và tổng số nét bút: Để giải quyết vấn đề rắc rối của bộ thủ, đa
số Tự điển Hán ngữ của Trung Quốc hiện nay sắp các mục từ theo âm pinyin; bên cạnh đó họđính kèm các bảng tra theo tổng số nét và bộ thủ Nếu không biết âm pinyin của chữ cần tra thì
ta có thể tra theo tổng số nét bút Các chữ Hán có cùng tổng số nét bút được xếp vào mộtnhóm Trong nhóm đó chúng lại được sắp theo nét bút đầu tiên Nét bút đầu tiên thuộc về một
trong 5 dạng sau (gọi là ngũ bút): 一 丨丿丶乛.
- Nhóm nét 一 : các chữ có nét đầu tiên là nét ngang, thí dụ: 奉 , 武 , 期 , 恭 , 雨 ,
- Nhóm nét 丨: các chữ có nét đầu tiên là nét sổ, thí dụ: 师 , 曲 , 步 , 非 , 幽 ,
- Nhóm nét 丿 : các chữ có nét đầu tiên là nét phẩy, thí dụ: 拜 , 生 , 香 , 岳 , 程 ,
- Nhóm nét 丶: các chữ có nét đầu tiên là nét chấm, thí dụ: 高 , 立 , 半 , 为 , 州 ,
- Nhóm nét 乛 : các chữ có nét đầu tiên là nét gẫy, thí dụ: 民 , 费 , 弗 , 能 , 群 ,
Đề phòng đếm nhầm tổng số nét của một chữ Hán, ta phải tính sai số ± 1
4 Còn một cách tra chữ Hán nữa, gọi là tứ giác hiệu mã 四 角 號 碼 do Vương Vân Ngũ
王 雲 五 phát minh (thí dụ quyển Từ Vị của Đài Loan có dùng cách tra này) Cách tra chữ này
cũng rất hay, nhưng ngày nay rất ít dùng trong các TĐ Hán ngữ của Trung Quốc
IV TỔNG QUAN VỀ CHỮ HÁN
1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Hán ngữ là một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Hán-Tạng (Sino-Tibetan) Ngữ tộc này còn baogồm hai nhánh lớn: Tạng-Miến (Tibeto-Burman) và Hán Ngữ tộc Hán Tạng còn bao gồm cácngôn ngữ Thái và Nê-pal (Nepalese) Còn có một thuyết khác: Hán ngữ là ngôn ngữ độc lập
Trang 8trong đại ngữ tộc Indo-Sinitic Ngữ tộc này còn bao gồm các ngôn ngữ: Thái, Tây Tạng, MiếnĐiện (Burmese), Mèo (Miao), Lolo, và các ngôn ngữ nhóm Mon-Khmer.
Tuy Hán ngữ nổi tiếng là một trong các ngôn ngữ cao niên nhất, nhưng chưa ai trả lờiđược Hán ngữ được bao nhiêu tuổi, vì câu hỏi lớn hơn về nguồn gốc của dân tộc này vẫn chưagiải đáp nổi
Cứ theo truyền thuyết thì Phục Hi 伏 羲 (một ông vua truyền thuyết) khoảng 3000 nămtrước Công Nguyên (= tcn) vì chứng kiến những ký hiệu huyền bí trên lưng con long mã xuấthiện nơi sông Hoàng Hà nên đã truyền một vị đại quan tên là Thương Hiệt 倉頡 tạo ra chữviết Cũng theo truyền thuyết, Phục Hi vẽ ra bát quái, coi như tiền thân của chữ viết.Còn Thương Hiệt là hữu sử quan của Hoàng Đế (cũng là ông vua truyền thuyết) chứ không
phải của Phục Hi Lại có một thuyết khác, gọi là «Thương Hiệt tác thư» 倉 頡作 書 (Thương
Hiệt sáng tác chữ viết): Thương Hiệt đã quan sát các hiện tượng thiên nhiên và bắt chước cácdấu vết của động vật, cây cỏ, chim chóc, tinh tú mà tạo ra chữ Hán Thông thường người ta chỉ
nhắc đến Thương Hiệt mà bỏ sót Trở Tụng, tả sử quan của Hoàng Đế Từ điển Từ Hải giảng
nơi mục từ Trở Tụng rằng: «Thời của Hoàng Đế, Trở Tụng là quan tả sử, Thương Hiệt là quanhữu sử, cùng tạo ra văn tự; nhưng đời nay nhiều người biết có Thương Hiệt mà ít người biết cóTrở Tụng.» (Hoàng Đế thời Trở Tụng vi tả sử, Thương Hiệt vi hữu sử, đồng tác văn tự; đãnkim thế đa tri hữu Thương Hiệt, tiển tri hữu Trở Tụng 黃 帝 時 沮 誦 為 左 史 , 倉 頡 為 右
史 , 同 作 文 字 ; 但 今 世 多 知 有 倉 頡 , 鮮 知 有 沮 誦 ) Từ điển Từ Hải còn trích dẫn Tứ Thể Thư Thếcủa Vệ Hằng 衛 恆 rằng: «Trở Tụng là sử quan của Hoàng Đế, là người
đầu tiên tạo ra thư khế, quản lý vạn sự.» (Trở Tụng, Hoàng Đế sử, thuỷ tác thư khế, kỷ cươngvạn sự 沮 誦 , 黃 帝 史 , 始 作 書 契 , 紀 綱 萬 事 )
Văn tự Trung Quốc là một thành tựu văn hoá quan trọng đến nỗi tương truyền rằng khi hệvăn tự này hoàn thành thì ban đêm thần sầu quỉ khốc, sấm chớp nổi dậy, và ngũ cốc trên trời
đổ xuống như mưa Tất nhiên ngày nay rất hiếm người tin vào điều đó, nhưng sự thần bí hoáthành tựu này chẳng qua là đề cao tính chất quan trọng của nó Văn tự là thành tựu quan trọng,bởi vì chữ viết và các dụng cụ ghi chép – dao khắc, bút, sơn, mực, lụa, thẻ tre (trúc giản), thẻ
gỗ (mộc giản), giấy – đã giúp con người ghi nhớ sự việc trong lao động và sinh hoạt, nhưngquan trọng hơn cả là họ có thể ghi chép được quá khứ của mình cũng như lưu giữ các kiến
Trang 9thức và kinh nghiệm để truyền lại cho hậu nhân Nhờ đó mà con người có lịch sử thành văn.Những bài học lịch sử và kiến thức cũng như sự minh triết của cổ nhân bao ngàn năm qua đãcải thiện con người hoang dã của hôm qua để thành người văn minh của hôm nay Giả sửkhông có văn tự con người hẳn không biết quá khứ dằng dặc bao ngàn năm của mình Một khisau lưng chỉ là bóng tối, thì trước mặt hẳn không có triển vọng gì.
Các nhà ngữ học Trung Quốc hiện nay đã bác bỏ thuyết «Thương Hiệt tác thư» 倉 頡 作
書 ấy Họ cho rằng Thương Hiệt chẳng qua chỉ là hệ thống lại các chữ Hán có sẵn mà thôi
Những khai quật khảo cổ cho thấy chữ Hán cổ xưa nhất là Giáp Cốt Văn 甲骨文 được khắc trên mai rùa và xương thú (giáp = quy giáp 龜 甲 : mai rùa; cốt = thú cốt 獸 骨 :xương thú),
xuất hiện từ đời Thương 商 (1766-1122 tcn) Đời Chu 周 (1122-221 tcn) sử dụng chữ ĐạiTriện 大 篆 Đời Tần 秦 (221-206 tcn), Tần Thủy Hoàng Đế 秦始皇帝 thống nhất sáu nước,thừa tướng Lý Tư 李 斯 thống nhất văn tự, chữ Tiểu Triện 小 篆 và chữ Lệ 隸 được sử dụng.Các chữ Khải 楷, Hành 行, Thảo 草 được phát triển từ đời Hán 漢 (206 tcn-221 cn) đến đờiTấn 晉 (265-420) Năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Quốc cầm quyền, chủ trương giản hóavăn tự và chữ giản thể được phổ biến cho đến nay tại Hoa Lục
2 LƯỢC SỬ HỆ PHIÊN ÂM PINYIN
Việc phiên âm Hán tự đã có tự bao giờ? Trước hết phải kể từ các thừa sai dòng Tên(Jesuit missionaries) xuất hiện ở Trung Quốc cuối thế kỷ XVI Họ học thông thạo Hán ngữ tạikhu vực hải cảng của Macao với lối phiên âm Latin do chính họ sáng chế Họ rất được trọngvọng ở triều đình Bắc Kinh Người Trung Quốc dẫu có đánh giá cao cách phiên âm Latin ấynhưng cũng khó vận dụng được vì thật sự cách phiên âm này chỉ thích hợp cho người Tâyphương học Hán ngữ Sau đó, các mục sư Tin Lành có nhiều cải tiến hơn trong việc dạy dânchúng vùng duyên hải học Hán ngữ bằng cách phiên âm Latin Nhưng bản thân người TrungQuốc vẫn chưa nỗ lực cải cách các phương thức phiên âm ấy để biến đổi cái văn tự biểu ý(ideographic characters) truyền thống của họ thành một văn tự biểu âm (phonetic script)
Hai thế kỷ sau đó, cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Tây phương đã buộc người Trung Quốcnghĩ đến việc hiện đại hóa, một việc mà Nhật Bản đã tự nguyện tiến hành và đã thành công.Cải cách văn tự càng trở nên bức thiết trước những tiện ích như điện tín, máy đánh chữ, máy inhiện đại, cũng như trước nhu cầu giảng dạy khoa học tự nhiên cho học sinh Trong khi người
Trang 10Trung Quốc lúng túng với văn tự biểu ý của mình thì người Nhật từ lâu đã nghĩ ra cách dùng
hệ thống ký âm gọi là Kana (Giả danh 假名: gồm Phiến giả danh[katakana] 片假名 và Bình giả danh [Hiragana] 平假名 song hành với Kanji 漢字 (tức là những Hán tự vay mượn của
Trung Quốc đọc theo âm Nhật)
Từ năm 1912 đến 1949 người Trung Quốc đã cố gắng hướng về một quốc ngữ với giảnhóa tự Đáng tiếc những nỗ lực ấy đã bị chựng lại vì những người bảo thủ không muốn văn tự
tổ tiên truyền lại bị xuyên tạc cải biên cũng như không muốn tiếng Quan Thoại 官
話 (Mandarin) trở thành Quốc Ngữ 國語 Trong thời kỳ này, hệ thống Chú Âm Phù Hiệu 注音
符號 ra đời, gồm khoảng 40 ký hiệu chế biến từ một số nét Hán tự, nhưng vẫn chỉ là một cáchphiên âm bên cạnh Hán tự truyền thống (tức là chữ phồn thể) chứ không thể đứng độc lậpđược Phong trào giáo dục đại chúng những năm 1920 đã đề ra 1000 Hán tự cơ bản để dạyngười mù chữ Đó có phải là khởi điểm cho những người mù chữ để họ phát triển thành 5000Hán tự sau này, hay đó có phải là một thứ Hán ngữ cơ bản bao quát mọi tình huống viết láchthông thường?
Những nghi tình này dẫn đến phương án Latin hóa Hán tự Năm 1926 Quốc Ngữ La Mã
Tự được khởi thảo và được Bộ Giáo Dục công bố năm 1928 Đặc điểm của Quốc Ngữ La Mã
Tự là không dùng những ký hiệu bên ngoài chữ để biểu thị bốn thanh điệu, mà dùng một vài
mẫu tự Latin nằm ngay trong chữ Đây là một hệ thống phiên âm chính xác nhưng khó họckhó nhớ vì thế nó cũng dừng lại ở chức năng phiên âm mà thôi chứ không thể tiến xa hơn như
là một văn tự riêng biệt
Khoảng năm 1930, tại Liên Xô một thứ Hán ngữ Latin hóa được chế tác cho người Trung
Quốc sống ở Liên Xô Nó được gọi là Latin thoại 拉丁話 và rồi được phổ biến nhanh chóng
tại Trung Quốc, đặc biệt là những khu vực do Cộng Sản kiểm soát Chính quyền Quốc DânĐảng vẫn tiếp tục giảng dạy Hán ngữ phồn thể Tiếng Quan Thoại được chuẩn hóa để trởthành Quốc Ngữ đồng thời Latin thoại được chỉnh lý và cải danh thành Pinyin (Bính Âm) năm
1956 Pinyin được sử dụng khắp nơi như trong trường học, chỗ công cộng, v.v với niềm hyvọng của nhà cầm quyền là nó sẽ trở thành một ngôn ngữ hẳn hoi Đầu năm 1956, Hội đồngChính phủ Bắc Kinh đưa ra một danh sách gồm 515 Hán tự giản thể, coi như bước đầu củamột phương án giản hóa toàn diện Chính quyền Đài Loan hết sức khó chịu thứ giản thể tự này
Trang 11và nghiêm cấm các văn hóa phẩm du nhập từ Trung Quốc vào Đài Loan không chỉ vì lý dochính trị mà còn vì e ngại sự phổ biến giản thể tự.
Xét về mặt ngữ học, tiếng Quan Thoại chỉ là một phương ngữ (a regional speech dialect).Cho dù được chấp nhận làm Quốc Ngữ nhưng nó chưa thể giải quyết những khó khăn lâu đờigiữa khẩu ngữ hằng ngày với ngôn ngữ văn chương Từ khoảng thế kỷ XII một số tác phẩmvăn học chủ yếu là tiểu thuyết và ca kịch đã được viết bằng một văn phong bình dân giản dị.Giới nho sĩ và quan chức thường khinh miệt (hoặc giả vờ khinh miệt) các sản phẩm ấy vì vănngôn 文 言 mới là ngôn ngữ bắt buộc trong giới sĩ phu và quan trường, một ngôn ngữ màngười bình dân ít học không tài nào hiểu được Người ta ngờ rằng việc duy trì sự khu biệt giữakhẩu ngữ bình dân (bạch thoại 白話) với văn ngôn dường như là một phương thức để bảo vệ
giai cấp (a means of class protection) mặc dầu họ chẳng trưng dẫn được chứng cớ gì.
Mãi đến cuối Đệ Nhất Thế Chiến phong trào cách mạng văn học xảy ra, kêu gọi hãy lấytiểu thuyết với văn phong bình dân giản dị làm mực thước và khuyến khích sử dụng bạch thoạitrong việc viết lách Về sau những người Cộng Sản hết sức ủng hộ phong trào này và cải danh
bạch thoại thành phổ thông thoại 普 通 話 với giản thể tự 簡 体 字 và dùng song hành với
Pinyin
Như vậy, Pinyin có một quá trình phát triển khá dài, bắt đầu từ Latin thoại - một hệ thốngđược chế tác và phổ biến ở vùng cực Đông Liên Xô khoảng năm 1930 - rồi khoảng 4 năm sau
được chấp nhận ở Trung Quốc với tên Tân văn tự 新文字 Quốc Dân Đảng phớt lờ Pinyin,
nhưng Pinyin hết sức phổ biến ở vùng Tây Bắc Trung Quốc do Cộng Sản kiểm soát Năm
1952 một ủy ban được thành lập để nghiên cứu cải cách văn tự Đến năm 1958, Pinyin trởthành hệ thống phiên âm chính thức của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc
3 SƠ LƯỢC CHỮ GIẢN THỂ
3.1 Khái quát
Bên cạnh Hán ngữ Latin hóa là Hán ngữ giản hóa (simplified Chinese characters) Sựgiản hóa (simplification) có ưu điểm giúp việc viết chữ mau hơn vì giản lược số nét bút của
những chữ nhiều nét, như chữ long 龍 (16 nét) giản thành 龙 (5 nét), chữ dụ 籲 (32 nét) giản
thành 吁 (6 nét) Tuy nhiên người ta ngờ rằng mục đích của sự giản hóa nhằm vào phương
Trang 12diện chính trị hơn là phương diện ngữ học, bởi vì nhiều vấn đề ngữ học đã nảy sinh từ việcgiản hóa này.
Thực chất sự giản hóa này cũng chẳng mới mẻ gì vì tự ngàn xưa người Trung Quốc đã
biết cách giản lược số nét bút của chữ Hán, và tạo ra một thư thể gọi là thảo thư 草書 bao gồm chương thảo 章草, kim thảo 今草 và cuồng thảo 狂草 với các đại thư gia tiêu biểu như
Trương Chi 張芝, Trương Húc 張旭, Hoài Tố 懷素 , và đặc biệt là thảo thánh nhị vương 草聖
二王 tức cha con Vương Hi Chi 王羲之 và Vương Hiến Chi 王獻之 Thảo thư của nhị Vương
đã trở thành chuẩn mực cho thế nhân nghiên tập kể từ đời Đông Tấn (317–420) đến nay và gọi
là chương thảo 章 草 Trương Húc và Hoài Tố được gọi làcuồng thảo nhị tuyệt 狂 草 二
絕 hay điên Trương túy Tố 顛張醉素 (Trương Húc điên, Hoài Tố say) Nhưng thảo thư chỉ là
một thư thể mang tính cách nghệ thuật và mức độ sử dụng cũng chỉ trong phạm vi giao tiếpthân quen (informal communication) Hầu hết trong công văn chứng từ người ta không được
phép dùng thảo thư, mà phải dùng khải thư 楷書 còn gọi chữ chân 真 Như vậy giản thể tự
hiện đại và chữ thảo truyền thống có những dị biệt như sau:
* Giản thể tự được dùng chính thức và có tính bắt buộc tại Hoa Lục trong mọi giao dịchgiấy tờ, công văn, chứng từ, trong học đường, nơi công cộng, và trên các phương tiện truyềnthông đại chúng Từ xưa đến nay thảo thư không được dùng với cách thức như trên, mà chỉdùng trong thư từ thân mật, các tư liệu cá nhân, và chủ yếu là trong các tác phẩm thư pháp.Hiện nay không phải người Trung Quốc nào cũng đọc được chữ thảo
* Người Trung Quốc kế thừa nguyên tắc của chữ thảo nhưng sáng tạo ra chữ giản thể gầnnhư khác hẳn chữ thảo Tuy vậy ta có thể thấy một số nét của giản thể tự là vay mượn ở chữthảo, như bộ phận (讠) bên trái chữ ngữ 语 chính là một thảo phù 草符 thay cho ngôn 言, túc
足 , thần 臣 , thất (sơ) 疋 , vân 云 , vong 亡 nhưng trong chữ giản thể nó chỉ thay cho ngôn
言 mà thôi Chữ dữ 与 giản thể chính là vay mượn từ chữ thảo của dữ 與 phồn thể
* Chữ giản thể ước chừng 1000 chữ nhưng mỗi chữ Hán đều có chữ thảo riêng
* Mỗi chữ thảo cố gói gọn trong một nét, nhất là cuồng thảo, nhưng chữ giản thể ít nét
nhất là 2 nét và có 5 chữ là: xưởng 厂 (廠), bặc 卜 (蔔), nhi 儿 (兒) , kỷ 几 (幾), và liệu 了
(膫)
Trang 13Muốn nhận dạng giản thể nhanh và tương đối chính xác, ta cần nhớ nguyên tắc giản hóanhư sau:
a Giản hóa dựa trên sự đồng âm: Như chữ lý 里 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnlĭ/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (dặm) phồn thể được dùng để giản
hóa chữ lý 裏 (ở trong) trên cơ sở đồng âm Tương tự, chữ diện 面 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnmiàn/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (mặt) phồn thể cũng
là giản thể của miến 麵; chữ hậu 后 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnhòu/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (hoàng hậu) phồn thể cũng là giản thể của hậu 後
(phía sau)
b Giản hóa dựa vào sự hội ý: Hội ý 會意 là một trong sáu cách tạo chữ (lục thư 六書)
mà Hứa Thận 許慎 định nghĩa: «Tỉ loại hợp nghị, dĩ kiến chỉ huy.» 比類合誼以見指撝 (so
sánh các loại cho hợp nhau mà chỉ ra ý nghĩa) Như chữ chiêm 占 gồm khẩu
口 (miệng)và bốc 卜 (bói), hợp nghĩa là bói xem lành dữ Dựa vào sự hội ý, chữ bảo 寶 nghĩa
là quý báu được giản hóa thành 宝, gồm miên 宀 và ngọc 玉, ngụ ý trong nhà có ngọc tức là
có của báu hay sự quý báu
c Giản hóa dựa vào sự hài thanh: Hài thanh 諧聲 còn gọi là hình thanh 形聲 cũng là
một cách khác của lục thư mà Hứa Thận định nghĩa là: «Dĩ sự vi danh, thủ thí tương thành.» 以事為名取譬相成 (lấy sự làm tên, lấy thí dụ mà thành) Chữ cấu tạo bằng hình thanh hay hài thanh gồm một bộ phận chỉ nghĩa và một bộ phận chỉ âm, như chữ mộc 沐 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnmù/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (tắm gội) lấy thủy 氵 chỉ nghĩa và mộc 木 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnmù/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản chỉ âm Chữ ưu 優 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnyōu/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (ưu tú) có bộ phận chỉ âm là ưu
憂 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnyōu/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (ưu sầu) và đồng âm với vưu 尤 Ưu 憂 giản hóa thành 忧 nên 優 giản hóa thành 优.
d Giản hóa bằng cách bỏ bớt một số nét: Như điện 電 (điện) giản thành 电, khai 開
(mở ra) giản thành 开 Vân 雲 (mây) giản thành 云 Chữ có những thành phần giống nhau
như trùng 蟲 (côn trùng) giản thành 虫, ngoại trừ chữ tinh 晶, sâm 森, phẩm 品, v.v
e Giản hóa bằng cách thay một nhóm nét bằng một vài nét: Như đoạn 斷 (cắt đứt),
biên 邊 (biên giới), loạn 亂 (hỗn loạn) và lao 勞 (lao động) giản thành 断, 边, 乱, và 劳.
f Giản hóa bằng cách tạo một phù hiệu thay cho nhiều nhóm nét khác nhau:Như
phù hiệu 又 thay cho bộ phận bên trái của các chữ 鄧 (đặng: họ Đặng), 雞 (kê: gà),戲 (hí:giỡn), 難 (nan: khó), 勤 (khuyến: khuyên bảo), 對 (đối: đúng, đối xứng) để có các giản thể tự
邓 , 鸡 , 戏 , 难 , 劝 , 对 Phù hiệu 又 còn thay 鳥 (điểu: chim) và 堇 (cẩn: rau cần) trong chữ phụng 鳳 (chim phượng) và cận 僅 (chỉ có, nhưng) để giản thành 凤 và 仅.
Trang 14g Giản hóa bằng cách tạo hẳn chữ mới thật ít nét: Như linh 靈 (linh thiêng) và thể 體
(hình thể) bị thay thế bằng 灵 và 体
3.3 Sự bất toàn của chữ Giản thể
Chẳng có một hệ thống văn tự nào mà không có sự bất toàn Cho nên giản thể tự vẫnkhông tránh khỏi sự bất toàn dù rằng số lượng chữ chẳng có bao nhiêu Sự giản hóa nảy sinhnhững khiếm khuyết và sự thiếu nhất quán của giản thể tự:
a Vấn đề giả tá: Giả tá là rắc rối cố hữu của Hán tự mà Hứa Thận định nghĩa: «Giả tá
giả, bản vô kỳ tự, y thanh thác sự.» 假借本無其字依 聲托事 (Giả tá là vốn chưa có chữ
nhưng dựa vào âm thanh để gởi sự) Học giả đời Thanh là Du Việt 俞 樾 từng cảnh giác
rằng: «Độc cổ nhân thư, bất ngoại hồ chính cú đậu, thẩm tự nghĩa, thông cổ văn giả tá Nhi tam giả chi trung, thông giả tá vưu yếu.» 讀古人書不外乎正句讀審字義通古 文假借而三者
之中通假借尤要 (Đọc sách người xưa [cần chú ý] không ngoài [ba điều]: Đọc đúng [phạmvi] câu văn [tức là ngắt câu cho đúng bởi cổ văn viết không chấm câu, gọi là bạch văn 白文],tra xét đúng nghĩa chữ, và tinh thông chữ giả tá trong cổ văn Trong ba điều ấy, tinh thông giả
tá là tối quan trọng) Trong cổ tịch, đặc biệt là cổ tịch thời Tiên Tần Lưỡng Hán, hiện tượng
giả tá xuất hiện đầy rẫy Không thông thạo giả tá thì người đọc sẽ hiểu sai tự nghĩa Kinh Dịch nơi quẻ Càn có câu 現龍在田 mà các nhà chú giải đều đồng ý chữ 現 hiện phải đọc là
見 kiến 現 là giả tá tự của 見 Bản nghĩa của 見 là nhìn thấy và nó là giả tá nghĩa của 現 Bản kinh Dịch hiện hành còn ít chữ giả tá so với bản Bạch Thư Chu Dịch 帛書周易 (Chu Dịch viết
trên lụa) mà người ta khai quật được ở ngôi Hán mộ số 3 tại Mã Vương Đôi 馬王堆 thuộcTrường Sa 長沙 (tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc) năm 1972-1974 Trong Luận Ngữ và Mạnh
Tử ta còn thấy 說 là giả tá tự của 悅 và 由 là giả tá tự của 猶 Sơ lược về giả tá như trên để ta
thấy rằng việc giản hóa tự trên cơ sở đồng âm đã sinh sôi thêm hiện tượng giả tá trong Hánngữ hiện đại Rõ ràng, 后 (hậu: hoàng hậu), 面 (diện: mặt), 里 (lý: dặm) là giả tá tự của 後
(hậu: sau), 麵 (miến: bánh mì, mì), 裏(lý: bên trong) Xét về mặt ngữ nghĩa học (semantics) mỗi chữ (tự 字) có ba yếu tốhình 形 âm 音 nghĩa 義 để khu biệt nhau Thực chất có chữ lại đa
hình, đa âm, và đa nghĩa vốn dĩ gây rối loạn cho người học thế mà sự giả tá ở giản thể tự lạilàm nhoè đi thêm cái ranh giới hình và nghĩa của chữ khiến người học càng thêm loạn tâm rối
Trang 15b Thiếu nhất quán: Giản thể tự bộc lộ sự thiếu nhất quán như sau:
* Nói chung ta có thể phỏng đoán chữ giản thể chưa biết nhờ một số chữ giản thể đã biết.Như 貝 (bối), 見 (kiến), 頁 (hiệt), 門 (môn), 車 (xa), 馬 (mã), 鳥 (điểu), thường giản thành 贝,
见, 页, 门, 车, 马, 鸟 cho dù đứng riêng thành chữ hoặc là bộ phận của một chữ Ta đã biết
又 thay cho một bộ phận của các chữ 鄧 (đặng), 雞 (kê), 戲 (hí), 難 (nan),勤 (khuyến), 對 (đối) để có các giản thể tự 邓, 鸡, 戏, 难, 劝, 对 Nhưng 又 lại không dùng thay cho 登 trong
những chữ 凳 , 澄 , 磴 , 瞪 , 蹬 , 簦 , 鐙 , đặc biệt 燈 thì giản thành 灯 Yếu tố 又 còn thay
堇 trong chữ 僅 để giản thành 仅 trừ các chữ 謹, 蓳, 瑾, 饉, 槿, 廑, 勤, 覲, 斳,螼
* Bộ phận chỉ âm 咼 giản thành 寸 hoặc 呙 hoặc giữ nguyên Các chữ 過, 撾 giản thành
过, 挝; các chữ 渦, 窩, 蝸, 萵, 禍 giản thành 涡, 窝, 蜗, 莴, 祸; nhưng 騧, 緺 không giản gìcả
* Ngược lại, một ký hiệu có thể thay cho nhiều nhóm nét như bộ phận bên trong các chữ
區, 風, 岡, 鹵 bị thay bằng ký hiệu ㄨ để có các chữ giản thể là 区, 风, 冈, 卤
* Bộ phận chỉ âm /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảno/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hay /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnu/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản ở bên phải của các chữ 補, 僕, 撲 bị giản thành 卜 để được
补, 仆, 扑 vậy mà bộ phận chỉ âm trong các chữ 匍, 埔, 蒲, 濮, 璞 thì không bị giản
* Chữ 親 giản thành 亲 nhưng chữ 襯 giản thành 衬
* Các chữ 陽, 楊, 揚, 湯, 傷 có bộ phận chỉ âm (ở bên phải) giống nhau nhưng giản khácnhau: 阳, 杨, 扬, 汤, 伤
c Vấn đề bộ thủ: Bộ thủ là một yếu tố quan trọng của Hán tự, giúp việc tra cứu tương
đối dễ dàng vì nhiều chữ được gom thành nhóm có chung một bộ thủ Từ đời Hán, Hứa Thậnphân loại chữ Hán thành 540 nhóm hay còn gọi là 540 bộ Thí dụ, những chữ 論(luận), 謂
(vị), 語 (ngữ) đều liên quan tới ngôn ngữ, lời nói, đàm luận v.v nên được xếp chung vào một
bộ, lấy 言 (ngôn: nói) làm bộ thủ Đến đời Minh, Mai Ưng Tộ 梅膺祚 xếp gọn lại còn 214 bộthủ và được dùng làm chuẩn cho đến nay Phần lớn các bộ thủ của 214 bộ đều là chữ tượnghình và hầu như dùng làm bộ phận chỉ ý nghĩa trong các chữ theo cấu tạo hình thanh (hay hàithanh) Mỗi chữ hình thanh gồm bộ phận chỉ ý nghĩa (hay nghĩa phù 義符) và bộ phận chỉ âm(hay âm phù 音符) Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ thủ là một điều kiện
thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự Tuy nhiên 214 bộ truyền thống này cũng có những điều bất hợp lý, và vài hệ thống bộ thủ cải cách đã ra đời chẳng hạn 132 bộ thủ của Lục
Trang 16Y Ngôn 陸衣言 và Giang Trọng Quỳnh 江仲瓊 phân loại Hán tự theo nét hay nhóm nét đầu
tiên nên sự tra cứu rất nhanh chóng Sự giản hóa Hán tự gây thêm rắc rối về bộ thủ:
* Bộ thủ bị thay đổi: 寫 (tả: viết; bộ 宀) giản thành 写 (bộ 冖) 護 (hộ: giúp; bộ 言) giảnthành 护 (bộ 扌)
* Bộ thủ bị bỏ bớt: 電 (điện: điện lực) giản thành 电; 殺 (sát: giết) giản thành 杀; 術
Vậy thì sự giản hóa đã phớt lờ bộ thủ, nhưng hậu quả là người ta lúng túng khi tra mộtchữ mới mà không biết âm và nghĩa Hầu hết các tự điển hay từ điển Hán ngữ tại Hoa Lục đềuxếp các mục tự (entries) theo âm pinyin Nếu không biết âm pinyin thì người tra đành chịuthua Để gỡ rối, người soạn tự điển hay từ điển phải đính thêm các bảng tra theo tổng số nét,hoặc tra theo nét bút đầu tiên, và sau cùng phải miễn cưỡng kèm thêm bảng tra theo bộ thủkhoảng 189 bộ và rất khác với bảng tra 214 bộ truyền thống Ngoài ra việc đếm nét của bộ thủ
dễ bị lầm, như bộ thảo 艹 cũ đếm là 4 nét thì bộ thảo 艹 mới kể là 3 nét Rồi tự điển hay từ điển cũng phải tra được cả giản thể lẫn phồn thể nên diệp(lá cây) giản thể 叶 thì cho vào bộ
khẩu 口 còn diệp phồn thể 葉 thì cho vào bộ thảo 艹
Nói gọn, việc giản hóa Hán tự có cả ưu lẫn khuyết Nhưng con người còn chưa hoàn hảo
được thì một sản phẩm do con người tạo tác cũng chỉ là hướng về sự hoàn hảo mà thôi Thói
quen và sự nhẫn nại sẽ giúp ta tinh thông hai thể giản và phồn
4 LƯỢC SỬ CHỮ GIẢN THỂ
Sự giản hóa (simplification) chữ Hán do Nhà nước Trung Quốc tích cực đề ra ngay từ khi
cầm quyền năm 1949 và chính thức công bố Hán Tự Giản Hóa Phương Án 汉字简化方案 vào
tháng giêng năm 1956
Thực tế, giản hóa Hán tự là một quá trình tiệm tiến từ lâu đời Những chữ Hán giản hóa
Trang 17thủ tả tự 手写字, tục thể tự 俗体字, v.v đối ứng với chữ nguyên thể đầy đủ nét làphồn thể
tự 繁体字 Chữ giản thể đã xuất hiện trước thời Nam Bắc Triều 南北朝 (420-581); đến đời
Đường 唐 (618-907) và Tống 宋 (960-1279) thì dần dần tăng thêm và phần lớn lưu hành trongdân gian Trong các tác phẩm thư pháp cổ đại, những bia khắc, ván khắc in khai quật được, vàtrên mặt các chuông đồng cổ đại người ta có thể thấy lác đác một vài chữ giản thể thông
thường như: sư 师, vạn 万, quốc 国, vân 云, lễ 礼, khí 气, môn 门, vi 为, bảo 宝, la 罗, lưu 刘, hoan 欢, nan 难, tề 齐, đương (đang)当, hội 会, phong 风, loạn 乱, biện 办, thính 听, tòng 从, chúng 众, vô 无, v.v
Như vậy từ giáp cốt văn 甲骨文 cho đến chữ khải 楷 mà ngày nay chúng ta đang dùng,
xu hướng diễn biến của Hán tự hơn 3000 năm qua là từ phức tạp đến giản dị Bảng chữ giảnthể hiện hành do Nhà nước Trung Quốc quy định chẳng qua là kết quả của sự hệ thống, chỉnh
lý và bổ sung các chữ giản thể đã lưu hành từ lâu trong dân gian
Những năm Dân Quốc đầu tiên, một số học giả như Lục Phí Quỳ 陆费逵, Tiền HuyềnĐồng 钱玄同, Lục Cơ 陆基, Lê Cẩm Hy 黎锦熙, Dương Thụ Đạt 杨树达, Trần Hạc Cầm 陈
鹤琴, Hồng Thâm 洪深, Trần Vọng Đạo 陈望道, v.v đã đề xướng dùng chữ giản thể vì sựtiện lợi của nó Tháng 8 năm 1935, Bộ Giáo Dục của chính phủ Quốc Dân Đảng (国民党政府
教育部) công bố một bảng kê các chữ Hán giản thể gọi là Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批
简体字表 gồm 324 chữ Đây là lần thứ nhất chữ giản thể được chính thức ban hành Nhưnggiới văn nhân học giả cực lực phản đối chữ giản thể cho nên tháng 2 năm 1936 bảng kê chữgiản thể bị phế bỏ sau 6 tháng ban hành Tuy nhiên trong dân gian nhiều người vẫn thích dùngchữ giản thể để viết chữ cho nhanh Trong thời chiến tranh kháng Nhật, khu vực giải phóng doĐảng Cộng Sản Trung Quốc lãnh đạo, chữ giản thể được lưu hành và nhiều chữ mới được tạothêm
Đến năm 1949, khi nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa thành lập, Đảng và chính phủ
càng coi trọng công tác giản hóa Hán tự, nên đề ra phương án giản hóa chữ Hán gọi làHán tự giản hóa phương án 汉字简化方案 Năm 1950, Ty Giáo Dục Xã Hội thuộc Bộ Giáo Dục của
dụng giản thể tự đăng ký biểu 常用简体字登记表 gồm 555 chữ Hán giản thể thông dụng Sau
khi trưng cầu dân ý, năm 1951 chính phủ ban hành một bảng kê các chữ Hán giản thể gọi
Trang 18là Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批简体字表 gồm 555 chữ (khác với bảng kê trước đây
vào năm 1935 của Bộ Giáo Dục thuộc chính phủ Quốc Dân Đảng, chỉ có 324 chữ)
Ngày 5 tháng 2 năm 1952, Trung Quốc văn tự cải cách nghiên cứu ủy viên hội 中国文字 改革研究委员会 được thành lập Trên cơ sở Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批简体字表 ,
tổ chức này đã nhiều lần thảo luận và tu sửa, để rồi đến năm 1954 một phương án dự thảo
được đưa ra gọi là Hán tự giản hóa phương án (thảo án) 汉字简化方案(草案)bao gồm ba điểm: 1 Dự thảo 798 chữ giản thể; 2, Đề nghị phế bỏ 400 chữ dị thể 异体字; 3 Dự thảo giản hóa các chữ Hán thiên bàng 偏旁 (tức là chữ Hán làm bộ phận đứng một phía của chữ).
Tháng 12 năm 1954, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội 中国文字改革委员会 (trực thuộc Quốc Vụ Viện 国务院) được thành lập để chuyên trách công tác giản hóa Hán tự (tổ chức này đến ngày 16 tháng 12 năm 1985 thì đổi tên là Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội 国 家 语 言 文 字 工 作 委 员 会 ) Ngày 13 tháng 7 năm 1955, Quốc Vụ Viện thành lập Hán tự giản hóa phương án thẩm đính ủy viên hội 汉字简化方案审订委员会 để đánh giá phương án giản hóa chữ Hán Tháng 9 năm 1955, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội 中
国文字改革委员会 đề xuất một bản tu chính thảo án, trong ba điểm nêu ra trước đây thì bỏhai điểm sau, còn điểm thứ nhất (là đề nghị 798 chữ Hán giản thể) nay rút xuống còn 512 chữ,
ngoài ra thêm 56 chữ Hán thiên bàng 偏旁.
Từ ngày 15 đến 23 tháng 10 năm 1955, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội và Bộ Giáo Dục liên kết mở ra hội nghị toàn quốc về cải cách văn tự (gọi là Toàn quốc văn tự cải cách hội nghị 全国文字改革会议) để thảo luận và tu chính thảo án Kết quả là 512 chữ giản thể tăng lên là 555 chữ và 56 chữ Hán thiên bàng 偏旁 giảm xuống còn 54 chữ.
Sau khi có được sự thẩm định và hiệu đính của Hán tự giản hóa phương án thẩm đính ủy viên hội, ngày 28 tháng 01 năm 1956 Quốc Vụ Viện đã mở hội nghị khoáng đại lần thứ 23 để thông qua Hán tự giản hóa phương án Ngày 31 tháng 01 năm 1956, Nhân Dân Nhật Báo đăng nghị quyết của Quốc Vụ Viện về việc công bố Hán tự giản hóa phương án (nhan đề bài báo là: Quan vu công bố «Hán tự giản hóa phương án» đích quyết nghị关于公布 «汉字
简化方案的» 决议) đồng thời đăng Hán tự giản hóa phương án 汉字简化方案 gồm 555 chữ giản thể và 56 chữ Hán thiên bàng.
Trang 19Tháng 5 năm 1964, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội xuất bản Giản hóa tự tổng biểu 简化字总表, gồm ba bảng biểu: Biểu 1 gồm 352 chữ giản hóa không làm bộ phậnthiên bàng cho chữ khác; biểu 2 gồm 132 chữ hoặc đứng riêng hoặc làm bộ phận thiên bàng cho chữ khác và 14 chữ chỉ làm thiên bàng; bảng 3 gồm 1754 chữ khai triển từ bảng 2 Như vậy tổng biểu có 2238 chữ giản thể.
Trong thời Cách mạng Văn hóa (thường gọi là Văn Cách 文革), Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội buộc phải đình chỉ, đến năm 1972 mới khôi phục công tác Tháng 5 năm
1975, tổ chức này đề ra một thảo án mới gọi là Đệ nhị thứ Hán tự giản hóa phương án (thảo án) 第二次汉字简化方案(草案), gởi cho Quốc Vụ Viện thẩm duyệt Sau đó, ngày 20 tháng 5
năm 1977, tổ chức này lại gởi tiếp một báo cáo để xin ý kiến nói về thảo án trên, nhan
đề: Quan vu «đệ nhị thứ Hán tự giản hóa phương án (thảo án)» đích thỉnh thị báo cáo 关于 «
第二次汉字简化方案(草案)» 的请示报告
Ngày 31 tháng 10 năm 1977, Quốc Vụ Viện chỉ đạo cho đăng tải đệ nhị thứ Hán tự phương án (thảo án) này trên các nhật báo của tỉnh, thành, khu tự trị để trưng cầu ý kiến của quảng đại quần chúng, của các giới công, nông, binh và nhân sĩ Nhưng thảo án 2này không được nghiên cứu chu đáo và do đó bị phản đối kịch liệt Thí dụ: Chữ vũ 舞 giản thành 午 (ngọ), khiến vũ hội 舞会 bị hiểu nhầm là ngọ hội 午会 (hội nghị lúc trưa) bởi vì cả hai đều pháy ấm là /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnwǔhùi/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản; chữ linh 齡 (trong niên linh 年 齡 : tuổi tác) giản thành 令 (lệnh), khiến quân linh 軍 齡 (tuổi lính) /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnjūnlíng/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản dễ bị hiểu nhầm là quân lệnh 军 令 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnjūnlìng/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản, chữ bang 幫 (trong bang trợ 幫助, bang phái 幫派) giản thành bang 邦 (đồng nghĩa vớiquốc 國); ba chữ phó 副, phó 傅, phụ 腐 (trong phó thực 副食, phó nghiệp 副業, phó chức 副職, sư phó 師傅, đậu phụ 豆腐) đều giản thành phó 付; chữ đình 停 (trong đình chỉ 停止) giản thành
仃 (đinh), nhầm với đinh trong linh đinh 伶仃; v.v
Thảo án 2 gây thêm hỗn loạn trong chữ Hán Do đó ngày 4 tháng 3 năm 1978, các họcgiả Vương Lực 王力, Hồ Dũ Chi 胡愈之, Chu Hữu Quang 周有光 và 20 học giả nổi tiếngkhác đã yêu cầu Quốc Vụ Viện phế bỏ thảo án 2 Mãi đến ngày 24 tháng 6 năm 1986, Quốc
Vụ Viện ra thông tri phế bỏ thảo án 2
Sau khi thảo án 2 bị phế bỏ, chữ giản thể vẫn bị dùng hỗn loạn, ngoài những chữ đượcquy định, dân gian còn tự sáng tạo thêm chữ mới rất tùy tiện Cho nên vào các ngày 27 tháng
Trang 203, 01 và 10 tháng 4 năm 1978, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội liên tiếp phát ba
thông tri: 1/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thông tri quy định viết các địa danh; 2/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thông tri quy định sử dụng chữ Hán trêntruyền hình, radio, trong điện ảnh; 3/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thông tri quy định sử dụng chữ Hán trên các bảng hiệutiệm buôn, bảng hiệu công ty, thương tiêu, bao bì sản phẩm, quảng cáo
Ngày 24 tháng 6 năm 1986, Quốc Vụ Viện ra thông tri yêu cầu các nhật báo lớn nhưNhân Dân Nhật Báo 人民日报, Quang Minh Nhật Báo 光明日报 đăng lại Giản hóa tự tổng
biểu 简化字总表 Ngày 10 tháng 10 năm 1986, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội điều chỉnh lại Giản hóa tự tổng biểu năm 1964, và tổng biểu mới gồm có 2235 chữ.
Ngày 26 tháng 01 năm 1988, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội và Quốc gia giáo dục ủy viên hội công bố Hiện đại Hán ngữ thường dụng tự biểu 现代汉语常用字表 gồm
3500 chữ Hán thường dùng hiện nay, trong đó có 1116 chữ giản hóa (chiếm 31.9 %)
V 214 BỘ THỦ CHỮ HÁN
Trang 211 一 nhất (yi) số một
2 〡 cổn (kǔn) nét sổ
3 丶 chủ (zhǔ) điểm, chấm
4 丿 phiệt (piě) nét sổ xiên qua trái
5 乙 ất (yī) vị trí thứ 2 trong thiên can
28 厶 khư, tư (sī) riêng tư
29 又 hựu (yòu) lại nữa, một lần nữa
30 口 khẩu (kǒu) cái miệng
31 囗 vi (wéi) vây quanh
38 女 nữ (nǚ) nữ giới, con gái, đàn bà
39 子 tử (zǐ) con; tiếng tôn xưng:
«Thầy», «Ngài»
40 宀 miên (mián) mái nhà mái che
41 寸 thốn (cùn) đơn vị «tấc» (đo chiều dài)
42 小 tiểu (xiǎo) nhỏ bé
43 尢 uông (wāng) yếu đuối
44 尸 thi (shī) xác chết, thây ma
45 屮 triệt (chè) mầm non
46 山 sơn (shān) núi non
47 川、巛 xuyên (chuān) sông ngòi
48 工 công (gōng) người thợ, công việc
49 己 kỷ (jǐ) bản thân mình
50 巾 cân (jīn) cái khăn
51 干 can (gān) thiên can, can dự
52 幺 yêu (yāo) nhỏ nhắn
Trang 2253 广 nghiễm (ān) mái nhà
54 廴 dẫn (yǐn) bước dài
55 廾 củng (gǒng) chắp tay
56 弋 dặc (yì) bắn, chiếm lấy
57 弓 cung (gōng) cái cung (để bắn tên)
58 彐 kệ (jì) đầu con nhím
59 彡 sam (shān) lông tóc dài
60 彳 xích (chì) bước chân trái
61 心 tâm (xīn) (忄) quả tim, tâm trí, tấm
68 斗 đẩu (dōu) cái đấu để đong
69 斤 cân (jīn) cái búa, rìu
70 方 phương (fāng) vuông
71 无(旡) vô (wú) không
72 日 nhật (rì) ngày, mặt trời
73 曰 viết (yuē) nói rằng
74 月 nguyệt (yuè) tháng, mặt trăng
85 水(氵、氺) thuỷ (shǔi) nước
86 火 hỏa (huǒ) (灬) lửa
87 爪 trảo (zhǎo) móng vuốt cầm thú
91 片 phiến (piàn) mảnh, tấm, miếng
92 牙 nha (yá) răng
93 牛(牜) ngưu (níu), trâu
94 犬 (犭) khuyển (quǎn) con chó95.玄 huyền (xuán) màu đen huyền, huyền bí
Trang 23103 疋( 匹、) thất (pǐ) đơn vị đo chiều
110 矛 mâu (máo) cây giáo để đâm
111 矢 thỉ (shǐ) cây tên, mũi tên
134 臼 cữu (jiù) cái cối giã gạo
135 舌 thiệt (shé) cái lưỡi
136 舛 suyễn (chuǎn) sai suyễn, sai lầm
137 舟 chu (zhōu) cái thuyền
138 艮 cấn (gèn) quẻ Cấn (Kinh Dịch); dừng, bền cứng
139 色 sắc (sè) màu, dáng vẻ, nữ sắc
140 艸 (艹) thảo (cǎo) cỏ141.虍 hổ (hū) vằn vện của con hổ
142 虫 trùng (chóng) sâu bọ
143 血 huyết (xuè) máu
144 行 hành (xíng) , đi, thi hành, làm được
145 衣(衤) y (yī) áo
146 襾 á (yà) , che đậy, úp lên
147 見(见) kiến (jiàn) , trông thấy
148 角 giác (jué) góc, sừng thú
149 言 ngôn (yán) , nói
150 谷 cốc (gǔ) khe nước chảy giữa hai núi, thung lũng
151 豆 đậu (dòu) hạt đậu, cây đậu
152 豕 thỉ (shǐ) con heo, con lợn
153 豸 trãi (zhì) loài sâu không chân
154 貝 (贝) bối (bèi) vật báu
Trang 24164 酉 dậu (yǒu) một trong 12 địa chi
165 釆 biện (biàn) phân biệt
174 青 (靑) thanh (qīng) màu xanh
175 非 phi (fēi) không
176 面 (靣) diện (miàn) mặt, bề mặt
177 革 cách (gé) da thú; thay đổi, cải
cách
178 韋 (韦)vi (wéi) da đã thuộc rồi
179 韭 phỉ, cửu (jiǔ) rau phỉ (hẹ)
180 音 âm (yīn) âm thanh, tiếng
181 頁(页) hiệt (yè) đầu; trang giấy
189 高 cao (gāo) cao
190 髟 bưu, tiêu (biāo) tóc dài
191 鬥 (斗) đấu (dòu) đánh nhau
192 鬯 sưởng (chàng) ủ rượu nếp
193 鬲 cách (gé) nồi, chõ
194 鬼 quỷ (gǔi) con quỷ
195 魚 (鱼) ngư (yú) con cá
196 鳥(鸟) điểu (niǎo) con chim
203 黑 hắc (hēi) màu đen
204 黹 chỉ (zhǐ) may áo, khâu vá
Trang 25213 龜 (亀, 龟 ) quy (guī) con rùa
214 龠 dược (yuè) sáo 3 lỗ
Theo thống kê của Đại học Yale (trong Dictionary of Spoken Chinese, 1966), các chữHán có tần số sử dụng cao nhất thường thường thuộc 50 bộ thủ sau đây:
Trang 261.1 Đặc điểm của từ vựng Hán ngữ cổ đại:
1.1.1 Từ cổ đại đa số là đơn âm tiết, từ hiện đại thường là song âm tiết (cũng có
một số ít từ đa âm tiết)
Thí dụ (cổ đại /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hiện đại):
* Gắn thêm một âm tiết vào trước hoặc sau từ cổ đại (ý nghĩa không đổi):
sư 師 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản lão sư 老師 (thầy giáo); di 姨 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản a di 阿姨 (dì); trác 桌 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản trác tử 桌子 (cái bàn);thạch 石 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thạch đầu 石頭 (đá); nữ 女 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản nữ nhi 女兒 (con gái); nguyệt 月 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản nguyệt lượng 月
亮 (mặt trăng); mi 眉 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản mi mao 眉毛 (chân mày); học 學 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản học tập 學習 (học); tư 思 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản tưkhảo 思考 (suy nghĩ); mỹ 美 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản mỹ lệ 美麗 (đẹp); nguy 危 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản nguy hiểm 危險 (nguy hiểm)…
* Dùng từ khác hẳn (diễn tả cùng một ý nghĩa): Thí dụ
(cổ đại /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hiện đại): nhật 日 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thái dương 太陽 (mặt trời); duyệt 悅 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản cao hứng 高興(vui); dịch 弈 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hạ kỳ 下棋 (đánh cờ); quan 冠 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản mạo tử 帽子 (cái nón); v.v
1.1.2 Từ cổ có ý nghĩa khác với từ hiện nay:
Thí dụ (cổ đại /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hiện đại):
– Địa phương sổ thiên lý 地方數千里 (diện tích vài ngàn dặm /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản nơi đó [xa] vài ngàn
dặm)
– Kỳ thực vị bất đồng 其實味不同 (quả của nó có vị khác /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản thực tế, vị nó khác)
1.1.3 Từ xưa nay không còn dùng: Từ xã tắc 社稷 (ám chỉ quốc gia) nay không còndùng nữa
Trang 271 2 Ý nghĩa của từ và phạm vi sử dụng biến đổi từ cổ đại đến hiện đại:
1.2.1 Chuyển nghĩa:
Từ khoái 快 nghĩa xưa là «xứng ý, vui thích»; nghĩa nay là «nhanh chóng».
Từ hi sinh 犧牲 nghĩa xưa là «các gia súc (trâu, lợn, dê, ) đem đi cúng tế»; nghĩa
nay là «xả bỏ sinh mạng vì một chính nghĩa hay lý tưởng nào đó»
1.2.2 Phạm vi cụ thể sang phạm vi tổng quát:
Từ hà 河 xưa ám chỉ «sông Hoàng Hà», nay chỉ chung chung là «sông».
Từ Trung Quốc 中國 xưa ám chỉ khu vực trung nguyên, nay ám chỉ cả nước Trung
Quốc
1.2.3 Phạm vi tổng quát sang phạm vi cụ thể:
Từ cốc 榖 (谷) xưa ám chỉ chung «ngũ cốc», nay ám chỉ «lúa gạo» (đạo cốc 稻穀).
1.2.4 Sắc thái tình cảm thay đổi:
Từ khả lân (liên) 可憐 xưa nghĩa là «hết sức khả ái», nay là «đáng thương xót».
Từ tỳ bỉ 卑鄙 xưa nghĩa là «địa vị thấp thỏi, kiến thức hẹp hòi», nay nghĩa là «phẩm
chất xấu ác»
1.3 Hiện tượng giả tá:
Giả tá là rắc rối cố hữu của Hán ngữ cổ đại Học giả đời Thanh là Du Việt 俞樾 từng
nhắc nhở độc giả rằng: «Độc cổ nhân thư, bất ngoại hồ chính cú đậu, thẩm tự nghĩa, thông
cổ văn giả tá Nhi tam giả chi trung, thông giả tá vưu yếu.» 讀古人書不外乎正句讀審字
義通古 文假借而三者之中通假借尤要 (Đọc sách người xưa [cần chú ý] không ngoài [bađiều]: Đọc đúng [phạm vi] câu văn [tức là ngắt câu cho đúng bởi cổ văn viết không chấmcâu, gọi là bạch văn 白文], tra xét đúng nghĩa chữ, và tinh thông chữ giả tá trong cổ văn.Trong ba điều ấy, tinh thông giả tá là tối quan trọng)
1.3.1 Hiện tượng thông giả (mượn dùng thông với):
Nói chung, nếu hai từ có ý nghĩa và âm đọc gần giống nhau thì cổ nhân có thể mượn
từ này thay cho từ kia Thí dụ phản 反 thông với phản 返 , tri 知 thông với trí 智 , v.v Hiện tượng thông giả đều dựa trên âm đọc, nếu hai từ A và B không liên quan với nhau về
âm thanh (âm đọc) thì chúng không phải là thông giả Đôi khi một từ có thể thông với nhiều từ khác: Từ tịch 辟 (vua, triệu vời, trừng phạt) thông với các từ: tỵ 避 (tránh), tịch 闢
Trang 28(khai mở, bài trừ), tịch 僻 (không thành thực) Tuỳ theo ngữ cảnh mà ta hiểu và dịch cho
đúng
1.3.2 Hiện tượng giả tá (mượn dùng):
Nói chung, nếu hai từ có âm đọc gần giống nhau tuy ý nghĩa khác nhau thì cổ nhân cóthể mượn từ này thay cho từ kia
Thí dụ:
thệ 逝 (chết) là giả tá của thệ 誓 (thề nguyền),
nữ 女 (con gái) là giả tá của nhữ 汝 (mi, ngươi),
thuyết 說 (nói) là giả tá của duyệt 悅 (vui vẻ), v.v
Nếu A là giả tá của B thì ta đọc câu văn với ý nghĩa của B
Thí dụ: Hữu bằng tự viễn phương lai bất duyệt diệc hồ? 有朋自遠方來不說亦乎 (Cóbạn từ phương xa đến chẳng phải là không vui hay sao?) Ở đây chữ 說 phải đọc là duyệt, không đọc là thuyết.
Do hiện tượng giả tá này, khi đọc Hán ngữ cổ đại ta phải dùng từ điển Hán ngữ cổđại, thì may ra mới hiểu đúng văn bản
1.4 Hiện tượng từ đa âm đa nghĩa:
Một từ có thể đa âm và đa nghĩa Đây là hiện tượng chung của các ngôn ngữ, khôngriêng gì Hán ngữ cổ đại hay hiện đại Thí dụ từ 數 có hai âm Hán Việt là «số» và «sổ», vềHán âm thì có 4 âm: /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnshù/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (số đếm; số lượng; vài lần; tướng số, thuật số; phương thuật, đạothuật; số mệnh), /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnshǔ/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (liệt kê; kể lể tội lỗi), /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnshuò/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (lớp lang, tầng lớp), /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảncù/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản (nhỏ nhặt kínđáo)
1.5 Sự hoạt dụng:
Hoạt dụng là sự biến đổi ý nghĩa của một từ theo chức năng của nó trong ngữ cảnh cụthể, thông thường là sự chuyển từ loại (như danh từ sang động từ, v.v ) Ý nghĩa của từbiến đổi, nhưng hiện tượng này khác với hiện tượng từ đa âm đa nghĩa
1.5.1 Hoạt dụng của danh từ:
Danh từ nhận 刃 (mũi dao) thành động từ (đâm chết ai, giết ai bằng dao) Thí dụ: Tả hữu dục nhận Tương Như 左右欲 刃 相如 (Quân sĩ bên trái và bên phải muốn đâm chết
Trang 29* Danh từ biến thành động từ với cách dùng «sử động»:
Danh từ tướng 將 (tướng quân) biến thành động từ (làm tướng, phong làm tướng) trong thí dụ: Tề Uy vương dục tướng Tôn Tẫn 齊威王欲 將孫臏 (Vua Uy nước Tề muốn
phong Tôn Tẫn làm tướng.)
* Danh từ biến thành động từ với cách dùng «ý động»:
Danh từ khách 客 (người khách) biến thành động từ (đối đãi như khách) trong thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã 孟嘗君 客 我 (Mạnh Thường Quân xem ta là khách.)
Tính từ dị 異 (khác lạ) biến thành động từ (thấy cái gì lạ lùng đáng kinh ngạc) trong
thí dụ: Ngư nhân thậm dị chi 漁人甚 異 之 (Ông chài rất kinh ngạc về nó.)
1.6 Sử động & ý động dụng pháp:
Khái niệm «sử động» 使動 và «ý động» 意動 được nêu ra lần đầu kể từ năm 1922,
trong Quốc Văn Pháp Thảo Sáng 國文法草創 của Trần Thừa Trạch 陳承澤 (bấy giờ ông
dùng thuật ngữ «trí động» 致動 và «ý động» 意動 ) Ngay sau đó giới nghiên cứu ngữpháp của Trung Quốc nhanh chóng công nhận hai khái niệm «sử động» (hay «trí động») và
«ý động» này Cách dùng «sử động» và «ý động» rất thường thấy trong Hán ngữ cổ đại.Thực chất, sử động và ý động là sự hoạt dụng (dùng linh hoạt) của danh từ, tính từ, và động
từ tác động vào một tân ngữ kế sau nó Sử động (giống như causative form của tiếng Anh)
ngụ ý «khiến cho ai/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảncái gì trở nên thế nào/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnra sao» Còn ý động là sự hoạt dụng (=chuyển từloại) biến danh từ hay tính từ trở thành động từ, tác động vào tân ngữ kế sau nó, ngụ ý
«xem nó /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnlà gì/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnnhư thế nào/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnra sao» Động từ không có ý động dụng pháp
1.6.1 Sử động dụng pháp:
a Sử động của động từ:
Trang 30– Động từ ẩm 飲 (uống) trở thành «mời ai uống» (đọc là ấm).
Thí dụ: Tấn hầu ấm Triệu Thuẫn tửu 晉侯 飲 趙盾酒 (Tấn hầu mời Triệu Thuẫnuống rượu.)
– Động từ thực 食 (ăn) trở thành «cho ai ăn» (đọc là tự).
Động từ kiến 見 (thấy) trở thành «làm cho ai thấy; sai ai ra trình diện» (đọc là hiện) Thí dụ: Chỉ Tử Lộ túc, sát kê vi thử nhi tự chi, hiện kỳ nhị tử yên 止子路宿, 殺雞為
黍而 食 之, 見 其二子焉 ([Ông ta] giữ Tử Lộ ở lại nghỉ qua đêm, giết gà làm cơm thếtđãi, rồi sai hai đứa con của mình ra trình diện Tử Lộ.)
– Động từ hoạt 活 (sống) trở thành «làm cho ai sống».
Thí dụ: Hạng Bá sát nhân, thần hoạt chi 項伯殺人, 臣 活 之 (Hạng Bá giết người,
thần làm cho kẻ đó sống lại.)
b Sử động của danh từ:
Nói chung, danh từ biến thành động từ trong sử động dụng pháp
– Danh từ sinh 生 (sự sống) trở thành động từ (làm cho sống, làm sống lại).
Danh từ nhục 肉 (thịt) biến thành động từ (bồi đắp thịt).
Thí dụ: Tiên sinh chi ân, sinh tử nhi nhục cốt dã 先生之恩, 生 死而 肉 骨也 (Ân
đức của ngài quả là làm cho kẻ chết sống lại và làm cho xương khô được bồi đắp thịt trởlại.)
c Sử động của tính từ:
Nói chung, tính từ biến thành động từ trong sử động dụng pháp
– Tính từ lục 綠 (xanh lá cây) trở thành động từ (làm cho xanh).
Thí dụ: Xuân phong hựu lục giang nam ngạn 春風又 綠 江南岸 (Gió xuân khiến cho
bờ sông phía nam thêm xanh.)
– Tính từ nhược 弱 (yếu) trở thành động từ (làm cho yếu).
Thí dụ: Chư hầu khủng cụ, hội minh nhi mưu nhược Tần 諸侯恐懼會盟而謀 弱 秦 (Các nước chư hầu sợ hãi, bèn hợp lại, liên minh mưu tính làm suy yếu nước Tần.)
1.6.2 Ý động dụng pháp:
Trang 31– Danh từ khách 客 (người khách) biến thành động từ (đối đãi như khách, xem là khách) Thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã.孟嘗君客我 (Mạnh Thường Quân xem ta
là khách)
b Ý động của tính từ:
– Tính từ dị 異 (khác lạ) biến thành động từ (thấy cái gì lạ lùng đáng kinh ngạc) Thí
dụ: Ngư nhân thậm dị chi 漁人甚 異 之 (Ông chài thấy nó rất lạ lùng.)
– Tính từ tiểu 小 (nhỏ) biến thành động từ (thấy cái gì nhỏ bé) Thí dụ: Khổng Tử đăng Đông sơn nhi tiểu Lỗ, đăng Thái sơn nhi tiểu thiên hạ 孔子登東山而 小 魯, 登泰山
而 小 天下 (Khổng Tử lên núi Đông thì thấy nước Lỗ nhỏ bé, lên núi Thái thì thấy thiên
hạ nhỏ bé)
– Tính từ nhược 弱 (yếu) biến thành động từ (xem cái gì là yếu); tính từ viễn 遠(xa) biến thành động từ (xem cái gì là xa) Thí dụ: Lỗ nhược Tấn nhi viễn Ngô 魯 弱 晉而 遠
吳 (Nước Lỗ thấy nước Tấn là suy yếu và thấy nước Ngô là ở xa.)
Chú ý (I): Tính từ được dùng theo sử động hay ý động là tuỳ theo ngữ cảnh Sự phân
biệt này khá tinh tế, bởi vì cấu trúc của cả hai đều là «tính từ (dùng như động từ) + tân
ngữ» Nói chung, với sử động dụng pháp, tính từ biến thành động từ tác động vào tân ngữ,
khiến nó như thế nào Còn ý động dụng pháp ngụ ý một sự nhận định (đánh giá/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản nhận xét)của chủ ngữ đối với tân ngữ Do đó nó mang tính chủ quan
* Thí dụ 1:
Viễn 遠 + tân ngữ.
(a) Theo sử động dụng pháp là «cách xa ra»
Thí dụ: Kính quỷ thần nhi viễn chi 敬鬼神而遠之 (Kính quỷ thần nhưng cách xa họra)
(b) Theo ý động dụng pháp là «nhận thấy xa xôi»
Thí dụ: Lỗ nhược Tấn nhi viễn Ngô 魯 弱 晉而 遠 吳 (Nước Lỗ thấy nước Tấn làsuy yếu và thấy nước Ngô là ở xa.)
* Thí dụ 2:
Mỹ 美 + tân ngữ.
Trang 32(a) Theo sử động dụng pháp là «làm cho tốt đẹp».
Thí dụ: Quân tử chi học dã dĩ mỹ kỳ thân 君子之學也以美其身 (Cái học của ngườiquân tử là để làm cho bản thân mình trở nên tốt đẹp.)
(b) Theo ý động dụng pháp là «xem là tốt đẹp»
Thí dụ: Ngô thê chi mỹ ngã giả, tư ngã dã; ngô thiếp chi mỹ ngã giả, úy ngã dã; kháchchi mỹ ngã giả, dục hữu cầu vu ngã dã 吾妻之美我者私我也; 吾妾之美我者畏我也; 客之美我者欲有求于我也 (Vợ ta xem ta là tốt đẹp, ấy là lòng riêng tư đối với ta; thiếp taxem ta là tốt đẹp, ấy là vì sợ ta; khách xem ta là tốt đẹp, ấy là muốn cầu cạnh ở ta.)
Chú ý (II): Sự khác biệt giữa ý động của tính từ và ý động của danh từ ở chỗ:
(a) «tính từ (dùng như động từ) + tân ngữ» = xem tân ngữ là thế nào [tính từ]
Thí dụ: Ngô thê chi mỹ ngã giả, tư ngã dã 吾妻之 美 我者私我也 (Vợ ta xem ta là
tốt đẹp, ấy là lòng riêng tư đối với ta.)
(b) «danh từ (dùng như động từ) + tân ngữ» = xem tân ngữ là cái gì [danh từ]
Thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã 孟嘗君 客 我 (Mạnh Thường Quân xem ta là
khách.)
1.7 Bị động dụng pháp:
1.7.1 Dùng «kiến» 見 trước động từ:
– Nhân giai dĩ kiến vũ vi nhục, cố đấu dã 人皆以 見侮 為辱故鬥也 (Người ta đều
xem việc bị khinh bỉ là cái nhục, cho nên họ mới đánh nhau.)
1.7.2 Dùng «ư» 於 (= «vu» 于) sau động từ:
– Quân hạnh ư Triệu vương 君幸 於 趙王 (Ngài được vua Triệu sủng ái.)
– Khích Khắc thương ư thỉ, lưu huyết cập lũ 郤克傷於矢流血及屨 (Khích Khắc bị
trúng tên [thọ thương], máu chảy xuống giầy.)
1.7.3 Dùng cả «kiến» 見 và «ư» 於 (= «vu» 于):
– Ngô trường kiến tiếu ư đại phương chi gia 吾長 見笑於 大方之家 (Tôi ắt sẽ bị mọi
người chê cười mãi.)
Trang 33– Nhiên nhi công bất kiến tín ư nhân, tư bất kiến trợ ư hữu 然而公不 見信於 人私
不 見助於 友 (Thế mà về mặt công thì không được người ta tin cậy, về mặt tư thì khôngđược bạn bè giúp đỡ.)
1.7.4 Dùng «vi» 為 :
– Phụ mẫu tông tộc giai vi lục một 父母宗族皆 為戮沒 (Cha mẹ và họ hàng [của kẻ
ấy] đều bị giết sạch.)
– Thân vi Tống quốc tiếu 身為宋國笑 (Bản thân bị nước Tống cười chê.)
1.7.5 Dùng kết cấu «vi 為 + tác nhân + sở 所 + động từ »:
– Vi địch nhân sở sát 為敵人所殺 (Bị kẻ địch giết.)
1.7.6 Dùng «bị» 被 trước động từ:
– Tín nhi kiến nghi, trung nhi bị báng, năng vô oán hồ? 信而見疑忠而被謗能無怨
乎 (Chân thành thì bị nghi ngờ, trung thành thì bị sàm báng, sao mà không oán cho được?)
– Bá Di tử danh vu Thủ Dương sơn hạ, Đạo Chích tử lợi vu Đông Lăng chi thượng
伯夷 死名 于首陽山下, 盜跖 死利 于東陵之上 (Bá Di chết vì danh nơi chân núi Thủ Dương, Đạo Chích chết vì lợi trên gò Đông Lăng.)
– Ngô phi bi nguyệt dã 吾 非 悲 刖 也 (Ta chẳng phải vì hình phạt chặt chân mà buồn.)
1.8.2 Đối động 對動 dụng pháp:
– Toại trí Khang thị vu Thành Dĩnh nhi thệ chi viết: Bất cập Hoàng Tuyền vô tương
kiến dã 遂寘姜氏于城潁而 誓之 曰: 不及黃泉無相見也 (Bèn an trí Khang thị tại Thành
Dĩnh rồi đối mặt mà thề rằng: Chừng nào đến Suối Vàng thì mới gặp nhau.)
Trang 34– Dĩ sự Tần chi tâm lễ thiên hạ chi kỳ tài 以事秦之心 禮 天下之奇才 (Lấy lòng phụng sự nước Tần mà thi lễ đối với bậc kỳ tài trong thiên hạ.)
vài mươi ngày.)
– Y thực cơ hàn giả, từ phụ chi đạo dã 衣食 饑寒者 慈父之道也 (Tặng cơm áo cho
kẻ đói lạnh, đó là đạo lý của bậc cha hiền.)
1.8.4 Nhân động 因動 dụng pháp:
– Cật triêu nhĩ xạ, tử nghệ 詰朝爾射 , 死藝 (Đến sáng mai khi ngươi bắn tên, do nghề bắn giỏi mà bị chết đấy.)
– Đông noãn nhi nhi hào hàn, niên phong nhi thê đề cơ 冬暖而兒號寒年丰而妻啼
飢 (Mùa đông ấm mà con kêu gào vì lạnh, năm được mùa mà vợ khóc vì đói.)
2 CẤU TRÚC CƠ BẢN
2.1 Câu đơn
2.1.1 Câu phán đoán
a/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 者, 也 »
Thí dụ: Liêm Pha giả, Triệu chi lương tướng dã 廉頗者, 趙之良將也 (Liêm Pha làtướng giỏi của nước Triệu.)
Biến thể: Hoặc lược bỏ 者 và 也 Thí dụ: Tuân Khanh, Triệu nhân 荀卿, 趙人 (TuânKhanh là người nước Triệu.) = Tuân Khanh giả, Triệu nhân dã 荀卿者, 趙也
Trang 35Thí dụ: Ấu nhi vô phụ viết cô 幼而無父曰孤 (Nhỏ dại không cha gọi là mồ côi.)e/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 是 ».
Thí dụ: Cự thị phàm nhân 巨是凡人 (Cự là kẻ tầm thường.)
f/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 則 »
Thí dụ: Thử tắc Nhạc Dương Lâu chi đại quan dã 此則岳陽樓之大觀也 (Chỗ này ắt
là nơi có thể quan sát rộng khắp của lầu Nhạc Dương.)
g/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 即 »
Thí dụ: Lương phụ tức Sở tướng Hạng Yến 梁父即楚將項燕 (Cha của Lương tức là
tướng Hạng Yến của nước Sở.)
h/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 乃 »
Thí dụ: Đương lập giả nãi công tử Phù Tô 當立者乃公子扶蘇 (Người đáng lập làcông tử Phù Tô.)
i/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản « 非 »
Thí dụ: Nhân phi thảo mộc 人非草木 (Người đâu phải là cây cỏ.)
Thí dụ: Điền Trung hữu châu 田中有珠 (Điền Trung có ngọc châu.)
c/ «Chủ ngữ + động từ+ tân ngữ gián tiếp (: người) + tân ngữ trực tiếp (: vật)».
Thí dụ: Từ giả tứ kỳ xá nhân chi tửu 祠者賜其舍人卮酒 (Người cúng tế tặng chomôn khách của mình một nậm rượu.)
d/ «Chủ ngữ + động từ 1+ kiêm ngữ + động từ 2 + tân ngữ» (Kiêm ngữ = thành
phần vừa là tân ngữ của động từ 1 vừa là chủ ngữ động từ 2.)
Trang 36Thí dụ: Đế mệnh Khoa Nga thị nhị tử phụ nhị sơn 帝命夸娥氏二子負二山 (Vua ralệnh hai con của Khoa Nga vác hai quả núi.) – Tần vương bái Lý Tư vi khách khanh 秦王拜李斯為客卿 (Vua Tần cho Lý Tư làm khách khanh.)
Trang 37Thí dụ: Ngô dữ Từ Công thục mỹ ? 吾與徐公孰美 [= Ngô thục dữ Từ Công mỹ? 吾孰與徐公美] (Ta với Từ Công ai đẹp hơn?)
Trang 38không tri kỷ.) – Dĩ vãng sự vậttruy tư, vị lai sự vật nghinh tưởng, hiện tại sự vật lưu niệm.已往事勿追思, 未來事勿迎想, 現在事勿留念 (Việc đã qua chớ truy cứu nữa, chuyện maisau chớ đón trước mà nghĩ ngợi; việc hiện tại chớ lưu lại làm kỷ niệm.).
Thí dụ: Nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vong 人皆有兄弟我獨亡 (Ai cũng có anh
em, riêng ta thì không.) – Vấn hữu dư, viết vong hĩ 問有餘曰亡矣 (Hỏi có dư không, thìtrả lời là không.)
f/ « 否 ».
Thí dụ: Phàm thử ẩm tửu, hoặc túy hoặc phủ 凡此飲酒或醉或否 (Lần đó uống rượu,
có người say, có người không say.) – Như thử tắc động tâm phủ hồ? 如此則動心否乎(Nếu thế nó có làm động tâm của ngài không?) – Tri khả phủ, tri dã 知可否知也 (Biếtđiều có thể và điều không thể, đó là biết vậy.)
f/ « 靡 ».
Thí dụ: Thiên mệnh mỵ thường 天命靡常 (Mệnh trời không cố định.)
2.1.6 Câu cầu khiến
a/ Câu phát biểu ngụ ý cầu khiến:
Thí dụ: Tử vị ngã vấn Mạnh Tử 子為我問孟子 (Xin ngài hỏi Mạnh Tử giùm tôi.)
b/ « 請 ».
Thí dụ: Vương thỉnh độ chi 王請度之 (Xin nhà vua hãy đo đạc nó.) «Thỉnh» có thể
đi với ngôi thứ nhất: Thần thỉnh vị vương ngôn nhạc 臣請為王言樂 (Cho phép thần vì bệ
hạ mà nói về âm nhạc.)
c/ Dùng « 毋 / 無 / 勿 / 莫 / 休 » để tỏ sự ngăn cản / cấm đoán.
Trang 39(Xem các thí dụ ở mục 5b ngay trên đây.)
2.2 Câu phức
2.2.1 Câu ghép:
Ghép hai câu đồng đẳng (ngang hàng), ngụ ý «và», «hoặc/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnhay», «nhưng/lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giảnmà» Thí dụ:
– Nhậm trọng nhi đạo viễn 任重而道遠 (Trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa.)
– Sự Tề hồ, sự Sở hồ? 事齊乎事楚乎 (Phục vụ cho nước Tề hay nước Sở?)
2.2.2 Câu chính-phụ.
Ghép hai câu có quan hệ «chính-phụ» Câu chính mang ý chính, câu phụ diễn tả: sựnhượng bộ (tương phản), nguyên nhân, điều kiện,
a/ Câu phụ chỉ nhượng bộ.
Dùng các chữ « 雖 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 縱 » trong câu phụ chỉ nhượng bộ Thí dụ:
– Tuy Nghiêu, Thuấn Vũ, Thang phục sinh, phất năng cải dĩ 雖堯舜禹湯復生, 弗能
改已 (Dù cho Nghiêu Thuấn, Vũ, Thang có sống lại cũng không thay đổi được gì.)
b/ Câu phụ chỉ nhân quả.
Câu chính (chỉ kết quả) mở đầu là « 故 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 是以 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 是故 » Thí dụ:
– Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc dữ tranh 夫唯不爭, 故天下莫與爭 (Vì ta không tranh với ai nên thiên hạ không tranh với ta.)
– Kỳ ngôn bất nhượng, thị cố thẩn chi 其 言 不 讓 , 是故 哂 之 (Lời lẽ hắn khôngkhiêm nhường, nên ta mỉm cười hắn.)
c/ Câu phụ chỉ điều kiện.
Dùng các chữ « 苟 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 若 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 如 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản 使 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản非 » trong câu phụ chỉ điều kiện Thí dụ:
– Cẩu vô dân, hà dĩ hữu quân 苟 無民何以有君 (Nếu không có dân, có vua để làm
gì?)
– Cẩu hữu dụng ngã giả, kỳ nguyệt nhi dĩ khả dã 苟有用我者, 期月而已可也 (Nếu
có ai dùng ta, ắt trong một tháng việc này sẽ xong.)
– Sử nhân bất dục sinh, bất ố tử, tắc bất khả đắc nhi chế dã 使人不欲生不惡死則不
可得而制也 (Nếu dân không ham sống và không sợ chết, thì không thể nào khống chếđược họ.)
Trang 40– Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị 非我族類其心必異 (Nếu không cùng tộc loại với ta,
4 Thân Tiểu Long 申小龍, Trung Quốc Cú Hình Văn Hoá 中國句型文化, Đông Bắc
Sư phạm Đại học xbx 東北師範大學出版社, Cát Lâm 吉林, 1988
5 Trần Cao Xuân 陳高春 (chủ biên), Thực Dụng Hán Ngữ Ngữ Pháp Đại Từ Điển 實用漢語語法大辭典, Chức Công Giáo Dục xbx 職工教育出版社, Bắc Kinh 北京, 1989
6 Christoph Harbsmeier, Aspects of Classical Chinese Syntax, Curzon Press,
Denmark, 1981
7 Edwin G Pulleyblank, Outline of Classical Chinese Grammar, UBC Press,
Vancouver, 2000
8 Gregory Chiang, Language of the Dragon – A Classical Chinese Reader, Vol 1,
Cheng&Tsui Company, USA, 1998
9 Harold Shadick & Ch’iao Chien, A First Course in Literary Chinese, Vol 1, Cornell
University Press, 1992
10 Michael A Fuller, An Introduction to Literary Chinese, Harvard University Press,
1999