1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

181 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả phân tích dữ liệu chỉ ra rằng mô hình khả năng vận dụng giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phụ thuộc vào năm nhân tố bao gồm (1) môi trường văn hóa, (2) môi trường chính trị, (3) môi trường kinh tế, (4) môi trường chuyên nghiệp, (5) môi trường pháp lý và (6) môi trường giáo dục, tương ứng với mức độ tác động từ mạnh đến yếu. Mô hình với năm nhân tố trên giải thích được 54.2%, phần còn lại là các nhân tố khác chưa được khám phá

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả muốn thể hiện lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Lạc Hồng vì đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho tất cả học viên cao học có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả thầy cô là giảng viên khoa Sau đại học của trường Đại học Lạc Hồng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo thạc sĩ của nhà trường, qua đó có được kiến thức, kỹ năng

và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các nhà nghiên cứu đã cung cấp nhiều tài liệu tham khảo quý giá qua thư điện tử để sử dụng cho luận văn của mình

Tác giả cũng xin cảm ơn các cán bộ nhân viên của khoa Sau đại học đã giúp

đỡ nhiệt tình trong việc hoàn chỉnh hình thức cho luận văn, xin cám ơn những người bạn, những đơn vị đã hỗ trợ trong việc thu thập số liệu khảo sát

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS

TS Trần Phước Trong suốt thời gian qua, thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành xong luận văn Những nhận xét, góp ý về hướng giải quyết vấn đề của thầy là bài học vô cùng quý báu không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn này mà còn cả trong công việc và cuộc sống

Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình mình đã luôn động viên tinh thần và hỗ trợ vật chất để tác giả yên tâm nghiên cứu Tình cảm của họ là những điều vô giá

Một lần nữa xin cảm ơn tất cả mọi người

Đồng Nai, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Quang Minh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng

cá nhân tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trần Phước Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả xin cam đoan mọi thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc và luận văn này chưa được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Đồng Nai, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Nguyễn Quang Minh

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tuy là một thuật ngữ kế toán mới so với các cơ sở đo lường khác song giá trị hợp lý đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn trong bối cảnh IFRS sắp được áp dụng tại Việt Nam trong một vài năm tới Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng nhất định

Luận văn gồm năm chương với mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận

về giá trị hợp lý theo IFRS, đánh giá các nhân tố tác động đến việc việc vận dụng giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và đề xuất giải pháp cho việc áp dụng giá trị hợp lý Luận văn đã đánh giá tác động của các nhân tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp đến khả năng áp dụng giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này Đối tượng được khảo sát là các công ty niêm yết và doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Tác giả

sử dụng công cụ phần mềm SPSS 22.0 với việc thực hiện các phép thống kê như: phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để đưa ra kết quả nghiên cứu

Kết quả phân tích dữ liệu chỉ ra rằng mô hình khả năng vận dụng giá trị hợp

lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phụ thuộc vào năm nhân tố bao gồm (1) môi trường văn hóa, (2) môi trường chính trị, (3) môi trường kinh tế, (4) môi trường chuyên nghiệp, (5) môi trường pháp lý và (6) môi trường giáo dục, tương ứng với mức độ tác động từ mạnh đến yếu Mô hình với năm nhân tố trên giải thích được 54.2%, phần còn lại là các nhân tố khác chưa được khám phá

Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao năm nhân tố trên nhằm giúp cho việc áp dụng giá trị hợp lý được thuận lợi hơn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

PHẦN GIỚI THIỆU 1

1 LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ 6

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRÊN THẾ GIỚI 6

1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI VIỆT NAM 9

1.3 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ ÁP DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ 17

2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁ TRỊ HỢP LÝ 17

2.1.1 Khái niệm giá trị hợp lý 17

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của giá trị hợp lý 18

2.1.2.1 Giai đoạn trước SFAS157 và IFRS13 18

2.1.2.2 Giai đoạn sau SFAS157 và IFRS13 20

2.2 GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG IAS/IFRS 24

2.2.1 Phạm vi áp dụng 24

2.2.2 Nội dung về giá trị hợp lý theo IFRS13 26

2.2.2.1 Khái niệm và thuật ngữ được sử dụng 26

2.2.2.2 Phương pháp và kỹ thuật định giá 34

2.2.2.3 Đầu vào của kỹ thuật định giá 37

Trang 5

2.2.2.4 Cấp độ của giá trị hợp lý 40

2.2.2.5 Thuyết minh giá trị hợp lý 42

2.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của giá trị hợp lý 45

2.2.3.1 Ưu điểm của giá trị hợp lý 45

2.2.3.2 Nhược điểm của giá trị hợp lý 46

2.3 QUY ĐỊNH ÁP DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG VAS 47

2.4 LÝ THUYẾT NỀN 50

2.4.1 Nội dung lý thuyết 50

2.4.1.1 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định 50

2.4.1.2 Các lý thuyết lập quy 50

2.4.1.3 Lý thuyết thông tin phi đối xứng 51

2.4.1.4 Lý thuyết đại diện 51

2.4.1.5 Lý thuyết tín hiệu 52

2.4.1.6 Lý thuyết các bên liên quan 52

2.4.1.7 Lý thuyết văn hóa đa chiều 53

2.4.2 Ảnh hưởng của các lý thuyết đến vấn đề nghiên cứu 53

2.5 PHẠM VI ÁP DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57

3.1 KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 57

3.1.1 Khung nghiên cứu 57

3.1.2 Quy trình nghiên cứu 58

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 59

3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 60

3.3.1 Các nghiên cứu lý thuyết đề xuất 60

3.3.2 Mô hình nghiên cứu ban đầu 64

3.3.3 Các biến trong mô hình nghiên cứu 65

3.3.4 Giả thuyết nghiên cứu 71

3.3.5 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu và thang đo 72

3.3.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu 72

3.3.5.2 Thang đo 72

3.3.6 Trình tự nghiên cứu 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 77

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 77

Trang 6

4.1.1 Cơ sở xây dựng thang đo 77

4.1.2 Thang đo 77

4.1.3 Kiểm định thang đo 79

4.1.3.1 Thực hiện khảo sát thử 79

4.1.3.2 Khắc phục các vấn đề gặp phải 80

4.1.3.3 Kết quả kiểm định thang đo sau điều chỉnh 80

4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 80

4.2.1 Mô tả mẫu khảo sát 80

4.2.2 Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha 82

4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá 84

4.2.3.1 Phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập 85

4.2.3.2 Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc 86

4.2.4 Phân tích tương quan 86

4.2.5 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 88

4.2.5.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 88

4.2.5.2 Mô hình hồi quy tuyến tính bội 88

4.2.5.3 Mức độ giải thích của mô hình 89

4.2.5.4 Kiểm tra các giả định hồi quy 90

4.2.5.5 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 90

4.2.6 Bàn luận kết quả 90

4.2.6.1 Về kết quả của các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra 90

4.2.6.2 So sánh và phân tích kết quả này với các nghiên cứu trước 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 95

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 96

5.1 KẾT LUẬN 96

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 97

5.2.1 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường văn hóa 97

5.2.2 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường chính trị 98

5.2.3 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường kinh tế 100

5.2.4 Các hàm ý chính sách khác 102

5.2.4.1 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường chuyên nghiệp 102

5.2.4.2 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường pháp lý 102

5.2.4.3 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao môi trường giáo dục 103

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 105

5.3.1 Hạn chế của đề tài 105

Trang 7

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 105

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 106 KẾT LUẬN CHUNG 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong IAS/IFRS 24

Bảng 2.2: Ảnh hưởng của chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển đến việc nhận diện thị trường chính và thị trường thuận lợi nhất 29

Bảng 2.3: Phương pháp định giá và kỹ thuật định giá 36

Bảng 2.4: Cấp độ giá trị hợp lý 40

Bảng 2.5: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong VAS 48

Bảng 2.6: Ảnh hưởng của các lý thuyết nền đến các biến trong mô hình 54

Bảng 3.1: Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 73

Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu khảo sát 81

Bảng 4.2: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha 83

Bảng 4.3: Tương quan giữa các nhân tố 87

Bảng 4.4: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội 89

Bảng 4.5: Đánh giá mức độ giải thích các biến độc lập trong mô hình 89

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định giả thuyết 91

Bảng 5.1: Vị trí quan trọng của các nhân tố 96

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thống kê việc áp dụng IFRS theo khu vực địa lý 22

Biểu đồ 2.2: Khuôn mẫu đo lường giá trị hợp lý 27

Biểu đồ 2.3: Cách xác định mức sử dụng tốt nhất và cao nhất của tài sản phi tài chính 33

Biểu đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 58

Biểu đồ 3.2: Quy trình nghiên cứu 59

Biểu đồ 3.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán quốc gia khi hội nhập kế toán quốc tế 62

Biểu đồ 3.4: Mô hình nghiên cứu 64

Biểu đồ 3.5: Các biến trong mô hình nghiên cứu và dự báo 65

Biểu đồ 3.6: Trình tự thực hiện nghiên cứu 74

Trang 11

PHẦN GIỚI THIỆU

1 LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang áp dụng kế toán tuân thủ Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Chế độ kế toán do Bộ tài chính soạn thảo Với 26 chuẩn mực kế toán được ban hành từ năm 2001 trên cơ sở vận dụng có chọn lọc chuẩn mực

kế toán quốc tế và được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, chế độ kế toán và thực tiễn công tác kế toán đã chứng kiến nhiều thay đổi đáng

kể, từng bước hội nhập với thông lệ kế toán quốc tế Chất lượng thông tin báo cáo tài chính được cải thiện theo hướng công khai, minh bạch hơn, góp phần tạo nên sự bình đẳng về thông tin cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, đặc biệt là các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp

Một trong những nội dung trọng tâm của lý thuyết kế toán là sự định giá, đo lường giá trị của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, trong đó vấn đề cơ bản của việc định giá này là đảm bảo các đối tượng được ghi nhận trên báo cáo tài chính có thể cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính ở mức tối đa có thể Các quy định kế toán vốn được xây dựng dựa trên việc vận dụng giá gốc, tuy nhiên, nhu cầu sử dụng giá trị thị trường để bổ sung hoặc thay thế cho giá gốc đang trở thành hướng đi mới trong kế toán Kế toán giá trị hợp lý được xây dựng dựa trên việc sử dụng giá trị hợp lý, là cơ sở đo lường có thể khắc phục nhược điểm của các cơ sở đo lường khác (Sebastian, Dănuì & Maria, 2014) Sau khi thế giới chấp nhận chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế của IASB, nhất là sau khi IFRS13 (Đo lường giá trị hợp lý) được áp dụng, kế toán theo giá trị hợp lý

đã phát huy được vai trò của mình Các nghiên cứu trên thế giới trong thời gian qua

đã chứng minh giá trị hợp lý mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, giúp tăng

độ minh bạch, tin cậy và trung thực của các thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó giúp cho việc phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế trở nên hợp lý và hiệu quả hơn

Hiện nay, trong chế độ kế toán Việt Nam, giá gốc vẫn là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong hầu hết các chuẩn mực kế toán để định giá và đo lường các đối tượng kế toán, là một nguyên tắc quan trọng được quy định trong khuôn mẫu kế toán và chỉ có một số quy định nhỏ, rời rạc có đề cập đến khái niệm giá trị hợp lý Bên cạnh đó, giá trị hợp lý ở Việt Nam được sử dụng để ghi nhận ban đầu, phân bổ ban đầu và đánh giá tổn thất mà không được áp dụng cho đo lường sau ghi nhận ban đầu như IAS/IFRS Điều này có thể làm cho thông tin tài chính trên báo cáo tài chính được lập theo chế độ kế toán Việt Nam và báo cáo tài chính được lập theo IAS/IFRS

có nhiều khác biệt, không còn đạt được yêu cầu về tính có thể so sánh được, làm giảm sự phù hợp của việc sử dụng thông tin và ra quyết định Tuy nhiên, với việc hội nhập nền kinh tế toàn cầu và hội tụ đến các chuẩn mực, quy tắc kế toán chung được thừa nhận trên thế giới thì việc nghiên cứu, vận dụng giá trị hợp lý vào công tác kế

Trang 12

toán tại Việt Nam trở thành xu hướng tất yếu Tiến trình hội nhập và hội tụ, mặt khác,

là không giống nhau đối với mỗi nước, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam do có nhiều nét khác biệt về đặc điểm kinh tế, văn hóa và pháp luật Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm đối lập về vai trò, tầm quan trọng và sự phù hợp của giá trị hợp lý cũng như kỹ thuật, phương pháp ghi nhận, đặc biệt tại các nước đang phát triển chưa có đầy đủ thị trường hoạt động, nhưng sự ra đời của IFRS13 và việc vận dụng chuẩn mực này ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy định hướng sử dụng giá trị hợp lý khi lập và trình bày báo cáo tài chính là phù hợp và cần thiết cho

sự phát triển trong tương lai của Việt Nam

Tuy nhiên, đến nay các nghiên cứu về giá trị hợp lý ở Việt Nam còn khá khiêm tốn Vì vậy, nhằm đóng góp thêm một nghiên cứu để đánh giá khả năng áp dụng giá trị hợp lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính ở Việt Nam, tác giả quyết định

lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Chuẩn mực kế toán

giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Kế toán giá trị hợp lý nói chung đã được áp dụng một thời gian tại nhiều quốc gia trên thế giới Mục đích của kế toán giá trị hợp lý là cung cấp thông tin kế toán thực sự hữu ích cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, giá trị hợp lý dù đã được nhắc đến nhiều nhưng vẫn chưa được quy định chính thức trong chuẩn mực cũng như chế độ kế toán, hơn nữa đây còn là một nghiệp

vụ phức tạp khó thực hiện, có thể bị lợi dụng theo ý muốn chủ quan khiến cho việc

áp dụng vào thực tiễn kế toán ở Việt Nam vẫn còn bị bỏ ngỏ Vì vậy việc nghiên cứu thực hiện kế toán giá trị hợp lý tại Việt Nam là rất cần thiết, nhằm mục đích xây dựng

cơ sở lý thuyết và phương pháp ghi nhận giá trị hợp lý để vừa phù hợp với đặc trưng của Việt Nam vừa hài hòa với thông lệ quốc tế Với lý do đó, tác giả xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu như sau:

(1) Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý khi lập và trình bày báo cáo tài chính, kết hợp với các nghiên cứu trên thế giới để đề xuất giải pháp thực hiện kế toán giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng và Việt Nam nói chung

(2) Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là:

• Đánh giá nhận thức về kế toán giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 13

• Nhận diện và xác lập mô hình những nhân tố tác động đến việc lựa chọn vận dụng giá trị hợp lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

• Mức độ tác động của các nhân tố đến việc lựa chọn vận dụng giá trị hợp

lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai

(3) Câu hỏi nghiên cứu

• Câu hỏi nghiên cứu 1: Có những nhân tố nào tác động đến việc lựa chọn vận dụng giá trị hợp lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai?

• Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ tác động của các nhân tố trên là như thế nào?

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

để thực hiện luận văn

(1) Về phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp phân tích, tổng hợp được thực hiện trên cơ sở thu thập các tài liệu khoa học đã được công bố trong và ngoài nước trước đây Tác giả phân tích các quan điểm khác nhau từ các nghiên cứu này để tìm hiểu bản chất của vấn đề, từ đó liên kết các thành phần đã được phân tích để trình bày thành hệ thống cơ sở lý thuyết

Phương pháp so sánh, đối chiếu được vận dụng để tìm hiểu sự khác biệt giữa các quy định của IFRS13 và VAS về giá trị hợp lý, những ưu điểm cũng như hạn chế của kế toán giá trị hợp lý so với giá gốc để làm rõ sự cần thiết của việc vận dụng giá trị hợp lý vào công tác lập và trình bày báo cáo tài chính

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp được thực hiện đối với những cá nhân là người sử dụng thông tin kế toán, nhà quản lý doanh nghiệp, kế toán trưởng, các chuyên gia là giảng viên, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính, kế toán Thông tin được phỏng vấn là những hiểu biết về giá trị hợp lý và nhận thức về vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán

(2) Về phương pháp nghiên cứu định lượng

Tác giả thực hiện khảo sát, điều tra bằng cách gửi bảng hỏi đến các cá nhân đang làm việc hoặc nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán để đánh giá nhận thức của họ

về giá trị hợp lý, sau đó đưa dữ liệu thu thập được vào phần mềm thống kê để xử lý

và thu được kết quả thống kê mô tả Ngoải ra, tác giả cũng tiến hành phân tích nhân

tố khám phá bằng cách lập ma trận các mối liên quan cho tất cả các biến phụ thuộc,

Trang 14

xử lý các biến và cuối cùng quyết định giữ lại các nhân tố có tác động đáng kể đến việc triển khai và vận dụng giá trị hợp lý tại Việt Nam

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

(1) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng giá trị hợp

lý và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó

(2) Phạm vi nghiên cứu

Về không gian

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định trong khuôn khổ các chuẩn mực IAS/IFRS và VAS liên quan đến giá trị hợp lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanh nghiệp là công ty cổ phần và doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Về thời gian

Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được thực hiện trong bối cảnh các doanh nghiệp thực hiện kế toán tuân thủ theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam nhưng chưa có chuẩn mực riêng

về giá trị hợp lý Trong xu hướng hội nhập kế toán quốc tế hiện nay thì rất nhiều quốc gia đã áp dụng kế toán giá trị hợp lý nên việc nghiên cứu áp dụng kế toán giá trị hợp lý tại Việt Nam là nhu cầu khách quan và cần thiết

Về mặt học thuật, luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý thông qua việc tổng kết kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý của kế toán quốc tế và phân tích, so sánh các quan điểm khác nhau trên thế giới, từ đó đưa

ra cái nhìn tổng quan về giá trị hợp lý trong kế toán

Về mặt thực tiễn, luận văn đã nêu lên lý do cần thiết phải thực hiện kế toán giá trị hợp lý và những tồn tại do chưa thực hiện kế toán giá trị hợp lý Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực trạng nhận thức về IFRS13 hiện nay cũng như nhu cầu

và mong muốn của các chủ thể trong nền kinh tế trong việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý, luận văn đã đề ra mô hình các nhân tố tác động đến việc áp dụng giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp ở tỉnh Đồng Nai Luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với đầy đủ các biến hơn các mô hình trước đây để giải thích khả năng áp dụng giá trị hợp lý của doanh nghiệp Đây là một đóng góp quan trọng trong việc đưa giá trị hợp lý theo IFRS13 vào thực tiễn và điều kiện của Việt Nam

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy mức độ tuân thủ chuẩn mực giá trị hợp lý chưa cao, có rủi ro phát sinh hành vi lợi dụng để điều khiển thu nhập và giá

Trang 15

trị tài sản thông qua các xét đoán mang tính chủ quan của người lập và trình bày báo cáo tài chính Với luận văn này, tác giả mong muốn đóng góp một số kiến nghị cụ thể để hạn chế hành vi cơ hội, lợi dụng chuẩn mực để quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý doanh nghiệp, đồng thời phản ánh phù hợp giá trị của các khoản mục trên báo cáo tài chính theo đúng bản chất của giá trị hợp lý

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục phụ lục thì đề tài bao gồm năm chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về giá trị hợp lý và áp dụng giá trị hợp lý

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRÊN THẾ GIỚI

(1) Wittendorf, J (2011) The Arm’s-Length Principle and Fair Value:

Identical Twins or Just Close Relatives? Tax Notes International pp

223 – 249

Bài viết đã đánh giá và so sánh nguyên tắc giá thị trường (arm’s length principle) với giá trị hợp lý để tìm ra mối quan hệ giữa hai tiêu chuẩn định giá này Đây là hai tiêu chuẩn định giá quốc tế được áp dụng tương ứng trong pháp luật về thuế và kế toán quốc tế Theo tác giả, mặc dù đều tập trung vào mức giá cả đã được thỏa thuận trong một giao dịch giữa các bên độc lập, hai tiêu chuẩn định giá này vẫn

có nhiều khác biệt đáng kể Trong khi nguyên tắc dựa trên căn bản giá thị trường đòi hỏi sự đánh giá chủ quan, cụ thể từng đối tượng thì giá trị hợp lý lại yêu cầu đánh giá khách quan dựa vào thị trường Tác giả kết luận rằng kết quả định giá được thực hiện theo nguyên tắc dựa trên giá thị trường và giá trị hợp lý sẽ luôn có một sự khác biệt nhất định, không phải lúc nào cũng trùng khớp, và do đó, các công ty đa quốc gia phải tuân thủ các chuẩn mực khác nhau trong việc định giá chuyển giao và lập báo cáo tài chính

Tuy nhiên, theo tác giả, sử dụng giá trị hợp lý trong định giá chuyển giao có thể làm cho việc di chuyển lợi nhuận trở nên trầm trọng và khó quản lý hơn, do đó chưa đủ cơ sở để thay thế nguyên tắc dựa trên căn bản giá thị trường bằng giá trị hợp

lý trong việc đo lường các giao dịch xuyên biên giới

(2) Kovács, D M (2013) The role and the application of fair value

accounting in the Hungarian regulatory framework Doctoral Thesis

Corvinus University of Budapest

Trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào việc hệ thống lại cơ sở lý thuyết xung quanh giá trị hợp lý, qua đó làm rõ vai trò và ứng dụng của kế toán giá trị hợp lý trong việc cung cấp thông tin kế toán ở Hungary Theo tác giả, giá trị hợp

lý là một cơ sở định giá thay thế đã được quy định trong pháp luật của nước này, tuy nhiên cho đến nay chưa được nhiều doanh nghiệp cũng như tổ chức sử dụng Chế độ

kế toán nước này vẫn phụ thuộc rất lớn vào cơ sở giá gốc, những thay đổi trong hệ thống kế toán quốc tế hướng đến giá trị hợp lý vẫn chưa được phản ánh rõ ràng trong chế độ kế toán của Hungary Tác giả đã chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ áp dụng giá trị hợp lý, do tính phức tạp và đòi hỏi nhiều xét đoán của công cụ định giá này

Bằng việc phân tích và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, tác giả

đã đưa ra năm giả thiết xung quanh vấn đề đang được nghiên cứu của mình, đó là vai

Trang 17

trò và ứng dụng của kế toán giá trị hợp lý Sau đó tác giả đã lần lượt giải thích và chứng minh các giả thiết này thông qua số liệu thực nghiệm cụ thể thu được từ việc khảo sát 104 đối tượng là các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng tại Hungary Các giả thiết đưa ra đều được chấp nhận toàn phần hoặc có điều kiện

Thông qua việc chứng minh các giả thiết của mình, tác giả cũng đề xuất một

số biện pháp nhằm cải thiện hệ thống pháp luật về kế toán của Hungary Tác giả cho rằng việc có một khuôn mẫu lý thuyết tương tự như trong IFRS13 và việc củng cố những nghiên cứu thực tiễn trước đó thành một hệ thống đồng bộ là cần thiết cho pháp luật của nước mình Tuy nhiên, với những nghiên cứu cụ thể về các đặc trưng của Hungary trong trong mối quan hệ với kế toán giá trị hợp lý, tác giả kiến nghị vận dụng hoàn toàn các nguyên lý của IFRS13 vào thực tiễn, không cần thiết phải ban hành một chuẩn mực riêng cho Hungary Mặc dù cho tỷ lệ áp dụng giá trị hợp lý còn thấp, chủ yếu là các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán buộc phải lập và trình bày báo cáo tài chính theo IFRS, tác giả vẫn cho rằng kế toán theo giá trị hợp lý không nên là một quy định bắt buộc được ghi trong luật Các đối tượng trong nền kinh tế sẽ tự cân nhắc lợi ích của việc áp dụng giá trị hợp lý trong điều kiện cụ thể của mình để đưa ra quyết định phù hợp

(3) Aljedaibi, T (2014) Fair Value Measurement and Islamic Financial

Institutions: The Shariah Perspective and the Case of Saudi Banks

Doctoral Thesis University of London

Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã xem xét các vấn đề liên quan đến việc

áp dụng kế toán giá trị hợp lý trong mối quan hệ với pháp luật Hồi giáo Tác giả đánh giá mức độ mà giá trị hợp lý quy định theo IFRS được chấp nhận để đo lường và ghi nhận các giao dịch tài chính tuân thủ pháp luật Hồi giáo cũng như các tài sản và nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch đó Tác giả cũng đã tiến hành điều tra nhận thức

và cách vận dụng giá trị hợp lý vào thực tế của những người tham gia áp dụng IFRS trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các phép đo lường giá trị hợp lý không mâu thuẫn với các nguyên tắc pháp luật của Hồi giáo Cụ thể, một số nhà phê bình tin rằng việc đo lường giá trị hợp lý sẽ được loại bỏ một cách tự động dựa trên kỹ thuật chiết khấu sử dụng lãi suất Khi áp dụng phương pháp luận của pháp luật Hồi giáo vào việc đánh giá từng trường hợp cụ thể, tác giả kết luận có những tình huống trong đó việc sử dụng giá trị hợp lý sẽ phù hợp, trong khi có những tình huống khác trong đó giá trị hợp lý không được coi là cơ sở đo lường tốt nhất

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã cho thấy chỉ có khoảng 10% trên tổng tài sản của các ngân hàng Ả Rập được đo lường bằng giá trị hợp lý, một con số tương đối thấp, tuy nhiên phần lớn trong số đó được xác định ở cấp độ 1 Tác giả cũng thừa nhận, mặc dù các nhà ban hành luật đã cố gắng đưa ra những hướng dẫn tổng quát cho từng trường hợp về cách mà các giao dịch cần được xử lý theo hướng áp dụng

Trang 18

giá trị hợp lý, song những chỉ dẫn đó vẫn chưa đủ cụ thể để áp dụng các quy định của IFRS vào trong các giao dịch này

Đóng góp lớn của nghiên cứu là đã đưa ra được bằng chứng thực nghiệm cho việc áp dụng các cơ sở đo lưởng theo IFRS vào các định chế tài chính Hồi giáo tại một nền kinh tế mới nổi, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của giá trị hợp lý, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về việc thiết lập quy trình vận dụng IFRS một cách hài hòa với những điều kiện đặc thù cụ thể về văn hóa, tôn giáo

(4) Schmidt, A (2014) Fair Value Accounting and the Financial Market

Crisis To What Extent is Fair Valuation Responsible for the Financial Crisis Doctoral Thesis Lisbon Autonomous University

Luận án của tác giả đã trình bày một cách toàn diện về cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và tiến hành phân tích, nghiên cứu mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng này với kế toán giá trị hợp lý theo IFRS trong việc ghi nhận giá trị tài sản và nợ phải trả tại các công ty niêm yết và tổ chức tài chính Châu Âu Thông tin

kế toán theo giá trị hợp lý do các công ty cung cấp làm cơ sở để các tổ chức tài chính

ra quyết định cấp tín dụng, sau đó tới lượt mình, các tổ chức tài chính này cũng ghi nhận các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản của mình theo giá trị hợp lý

Tác giả đánh giá việc áp dụng IAS/IFRS đã ảnh hưởng nhiều đến việc báo cáo các thông tin tài chính ở Châu Âu và cho rằng giá trị của tài sản tài chính chỉ được phản ánh chính xác nhất khi được ghi nhận theo giá trị hợp lý thay vì theo giá gốc hoặc giá gốc có khấu hao Nhìn chung, kế toán giá trị hợp lý bao gồm việc ghi nhận tài sản và nợ tài chính trên bảng cân đối kế toán theo giá trị hợp lý, sau đó tiếp tục ghi nhận những thay đổi trong giá trị hợp lý ngay lập tức vào thu nhập hoặc chi phí trong kì

Dù cho rằng giá trị hợp lý phản ánh tốt nhất giá trị công cụ tài chính, gia tăng

sự minh bạch và giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ rủi ro họ phải đối mặt, tác giả nhận thấy

có nhiều ý kiến cho rằng kế toán theo giá trị hợp lý là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính, hoặc chí ít là đã góp phần làm rối loạn thị trường do nó tác động đến hành vi phi lý trí của nhà đầu tư và tạo ra vòng xoáy giảm giá trên thị trường Tuy nhiên, bằng việc phân tích định lượng những bằng chứng thực nghiệm thu thập được

từ các định chế tài chính ở Châu Âu, tác giả vẫn khẳng định kế toán giá trị hợp lý là cần thiết và phù hợp để phản ánh rủi ro và lợi nhuận mong muốn của một số công cụ tài chính nhất định khi thị trường biến đổi và các công cụ tài chính được sử dụng rộng rãi hơn Dựa vào dữ liệu phân tích của mình, tác giả cho rằng không có hoặc có rất ít bằng chứng về việc kế toán giá trị hợp lý tạo ra hiệu ứng thuận chu kỳ trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, song vẫn còn những hạn chế nhất định cần được xem xét Đó là khi thị trường phản ứng tiêu cực hoặc khi giá trị hợp lý được xác định

mà không có giá tham chiếu từ một thị trường hoạt động

Trang 19

(5) Green, K Y (2015) Can Fair Value Accounting Create a Cognitive

Bias? The Effects of Recognized Level 3 Fair Value on Manager Selling Decisions Doctoral Thesis Virginia Commonwealth University

Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đã hệ thống lại cơ sở lý luận về giá trị hợp lý và sự ảnh hưởng của việc sử dụng giá trị hợp lý cấp độ 3 đến việc ra quyết định của nhà quản trị Tác giả cho rằng chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị đến việc ghi nhận giá trị hợp lý của chứng khoán đầu tư do doanh nghiệp nắm giữ và việc ra quyết định bán các chứng khoán đang được ghi theo giá trị hợp lý ở cấp độ 3, do đó nghiên cứu của tác giả sẽ cung cấp một nền tảng hữu ích cho các nhà đầu tư chứng khoán cũng như nhà lập pháp và nhà phân tích tài chính trong việc đánh giá quyết định quản trị đối với chứng khoản đầu tư

Bằng việc sử dụng một tình huống giả định, tác giả xác định rằng khi nhà quản

lý quyết định bán ra chứng khoán, mức độ thận trọng trong các xét đoán của giá trị hợp lý có ảnh hưởng đến cả giá bán yêu cầu và mức giá thấp nhất được hai bên chấp nhận Theo đó, khả năng mà nhà quản trị bán một chứng khoán được ghi nhận theo giá trị hợp lý cấp độ 3 càng cao khi các xét đoán thận trọng càng ít được đưa ra

Tác giả xây dựng bốn giả thiết liên quan đến giá trị hợp lý và các xét đoán của nhà quản lý về giá của chứng khoán bán ra cũng như hành vi của họ trước một mức giá mua đề nghị Tác giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với đối tượng là 73 chuyên gia trong lĩnh vực kế toán và 125 sinh viên sau đại học có hiểu biết về kế toán giá trị hợp lý và kế toán quản trị Kết quả điều tra cũng khẳng định giá trị hợp lý cung cấp thông tin thích hợp cho nhà quản trị khi thiết lập giá bán của chứng khoản và là một nhân tố quan trọng trong quá trình ra quyết định bán

1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI VIỆT NAM

(1) Phạm Thị Lý (2013) Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác

kế toán tại các doanh nghiệp TP HCM theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Luận văn thạc sĩ Trường đại học Công nghệ thành phố Hồ

Từ cơ sở lý thuyết của Branson và Alia (2011) kết hợp với quá trình phỏng vấn chuyên gia và các giảng viên trong lĩnh vực kế toán kiểm toán, tác giả đề xuất

Trang 20

mô hình nghiên cứu ban đầu bao gồm bốn nhân tố là (1) môi trường kinh tế, chính trị, (2) môi trường văn hóa, xã hội, (3) môi trường giáo dục và (4) môi trường chuyên nghiệp Sau khi đánh giá mức độ phù hợp của thang đo, tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA và lập ma trận xoay các nhân tố, tác giả xác định lại các nhân tố bao gồm (1) nhu cầu thông tin, (2) môi trường văn hóa xã hội, (3) môi trường giáo dục, (4) môi trường chuyên nghiệp và (5) mức độ hội nhập Kết quả phân tích cho thấy

mô hình có thể giải thích được 60.3% sự thay đổi của biến phụ thuộc

Dựa trên kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán giá trị hợp lý vào doanh nghiệp, tác giả đưa ra một số các giải pháp và kiến nghị Cụ thể, tác giả đưa ra năm nhóm giải pháp chính bao gồm nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu thông tin của doanh nghiệp, nhóm giải pháp nhằm nâng cao môi trường văn hóa, xã hội, nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường giáo dục, nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường chuyên nghiệp, nhóm giải pháp nâng cao mức độ hội nhập quốc tế, tương ứng với các nhân tố được xác định trước đó

Luận văn còn hạn chế ở chỗ chưa đánh giá rõ về thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán, quy định hiện hành về giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp nên những kiến nghị, đề xuất của tác giả vẫn còn chỗ chưa phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam hiện nay và vẫn mang tính lý thuyết

(2) Lê Hoàng Phúc (2014) Vận dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn

thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về báo cáo tài chính doanh nghiệp trên các phương diện về đặc điểm chất lượng, nhân tố ảnh hưởng, nội dung cơ bản

và việc áp dụng IAS/IFRS ở Việt Nam, qua đó đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính được lập và trình bày theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện nay Từ đó, tác giả nhận diện các vấn đề tồn tại cần giải quyết và xác lập quan điểm, phương hướng, đề xuất các giải pháp trong cả ngắn hạn và dài hạn để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế với mục đích nâng cao tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong số nhiều vấn đề được nêu ra trong nghiên cứu của mình, tác giả đã nhận định việc sử dụng giá trị hợp lý trong định giá các yếu tố của báo cáo tài chính là xu hướng tất yếu và cần thiết, bên cạnh việc báo cáo về nguồn lực tri thức và trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp Qua phân tích và đánh giá hệ thống báo cáo tài chính theo chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam, tác giả nhận thấy cơ sở định giá, đặc điểm chất lượng và nguyên tắc lập báo cáo tài chính chưa được quy định rõ ràng, đầy đủ

và thiếu đồng bộ Cụ thể, giá trị hợp lý được quy định và sử dụng một cách rời rạc, chưa có hệ thống trong việc đánh giá và ghi nhận các khoản mục của báo cáo tài

Trang 21

chính Tác giả chỉ ra rằng VAS01, được coi là khuôn mẫu lý thuyết của kế toán Việt Nam, hầu như chỉ đề cập đến nguyên tắc giá gốc, và điều này trong nhiều trường hợp

có thể làm cho báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý giá trị hiện tại của các tài sản khi được đánh giá lại Hơn nữa, do chưa có chuẩn mực về suy giảm giá trị của tài sản cố định nên bảng cân đối kế toán vẫn chỉ thể hiện nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại làm cho giá trị ghi sổ của tài sản chưa phản ánh được giá trị có thể thu hồi, trong khi có nhiều nhân tố dẫn đến sự sụt giảm giá trị tài sản, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế suy thoái Về phương pháp xác định giá trị hợp lý, tác giả nhận thấy rằng chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất, hơn nữa giá trị hợp lý mới được sử dụng chủ yếu cho ghi nhận ban đầu, chưa được sử dụng để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính theo những thay đổi của thị trường để cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng

Tuy có áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu khá nhỏ nhưng tác giả mới dừng lại ở bước thống kê mô tả để đánh giá về cơ sở đo lường cũng như các nguyên tắc, yêu cầu về lập và trình bày báo cáo tài chính chứ chưa đi vào phân tích, đánh giá sâu Bên cạnh đó, tác giả cũng không tập trung nghiên cứu duy nhất đối tượng là giá trị hợp lý nên chưa đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc

áp dụng giá trị hợp lý vào báo cáo tài chính trong điều kiện của Việt Nam nên các đề xuất mà tác giả đưa ra là khá chung chung, mang tính lý thuyết và chưa cho thấy được các yếu tố đặc thù của Việt Nam tác động đến việc áp dụng giá trị hợp lý ra sao

và ở mức độ nào

(3) Phạm Thị Minh Hồng (2016) Nghiên cứu áp dụng kế toán suy giảm giá

trị tài sản cố định tại Việt Nam Luận án tiến sĩ Trường đại học Kinh tế

quốc dân

Tác giả thực hiện nghiên cứu trong bối cảnh chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam chưa qui định ghi nhận suy giảm giá trị của tài sản Tác giả cho rằng, xét trong xu hướng hội nhập kế toán quốc tế, hiện nay rất nhiều nước đã áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản nên việc nghiên cứu áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản tại Việt Nam là cần thiết và khách quan Nghiên cứu đã hệ thống hóa những lý luận chung về kế toán tài sản cố định hữu hình có ảnh hưởng trực tiếp tới sự cần thiết của nghiệp vụ kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình và chỉ ra những lý do cần thiết phải thực hiện kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam cũng như những tồn tại do chưa thực hiện kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình

Chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép tài sản cố định hữu hình có thể được đo lường theo giá gốc hoặc giá trị hợp lý Tuy nhiên theo tác giả, việc ghi nhận giá trị tài sản cố định hữu hình theo mô hình giá gốc có áp dụng kế toán suy giảm giá trị là phù hợp hơn so với kế toán theo mô hình giá trị hợp lý Lý do tác giả đưa ra là dù mô

Trang 22

hình giá gốc được đánh giá là trung thực và khách quan do dựa trên nền tảng là các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự phát sinh nhưng nó đã trở nên không còn phù hợp trong điều kiện kinh tế mới, khi mà thông tin về tài sản do mô hình giá gốc cung cấp không thỏa mãn được nhu cầu của nhiều đối tượng bên ngoài doanh nghiệp trong việc đưa

ra các quyết định kinh tế Trong khi đó, giá trị hợp lý đã được chứng minh là có thể cung cấp thông tin phù hợp và thỏa đáng hơn cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp khi phản ánh giá trị theo cơ sở thị trường, tuy nhiên tác giả cho rằng mô hình này trong nhiều trường hợp sẽ vi phạm nguyên tắc kế toán thận trọng khi ghi nhận các khoản tăng lên không chắc chắn trong thu nhập hoặc vốn chủ sở hữu Hơn nữa,

kế toán giá trị hợp lý yêu cầu ghi giảm giá tài sản khi giá trị thị trường giảm, thế nhưng khi giá trị sử dụng của tài sản tại doanh nghiệp không suy giảm thì không cần thiết phải điều chỉnh giảm trên Bảng cân đối kế toán Từ đó, tác giả đề xuất phương pháp ghi nhận giá trị tài sản cố định hữu hình là ghi nhận theo mô hình giá gốc kết hợp suy giảm giá trị tài sản khi cần thiết và không bao giờ ghi tăng giá trị tài sản

Đối tượng nghiên cứu chính của tác giả là kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình, do đó tác giả không đi sâu vào phân tích, trình bày cơ sở lý thuyết của giá trị hợp lý mà chỉ sử dụng nó như một công cụ để nghiên cứu kế toán suy giảm giá trị tài sản nên vai trò của giá trị hợp lý không được đề cao Hơn nữa, tác giả không thực hiện nghiên cứu định lượng do kích thước mẫu không đạt yêu cầu nên không thể tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng một phương pháp kế toán mới là kế toán suy giảm giá trị tài sản Bên cạnh đó, trên thực tế giá trị hợp lý vẫn được dùng để đánh giá tổn thất (Cairns, 2011) cho nên việc tác giả cho rằng không nên sử dụng giá trị hợp lý để kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình

là chưa phù hợp

(4) Lê Vũ Ngọc Thanh (2017) Định hướng về việc áp dụng giá trị hợp lý

trong kế toán Việt Nam Luận án tiến sĩ Trường đại học Kinh tế thành

phố Hồ Chí Minh

Tác giả đã làm rõ cơ sở lý thuyết về giá trị hợp lý thông qua việc giới thiệu các cơ sở đo lường trong kế toán và thực hiện nghiên cứu sâu về cơ sở đo lường theo giá trị hợp lý, phạm vi áp dụng giá trị hợp lý và các lý thuyết kế toán nền tảng của giá trị hợp lý Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, tác giả đã chỉ ra rằng giá trị hợp lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế về kế toán, khi mà mức độ hòa hợp của Việt Nam còn thấp có nguyên nhân lớn là do mức độ hòa hợp giữa các quy định của Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý thấp (34%)

Vấn đề về sự cần thiết của giá trị hợp lý và điều kiện để áp dụng ở Việt Nam

đã được tác giả nghiên cứu cụ thể thông qua việc kiểm tra tính thích hợp, tính đáng tin cậy, mức độ ủng hộ giá trị hợp lý ở Việt Nam và những nhân tố tác động đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các

Trang 23

bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của giá trị hợp lý, từ đó chứng minh giá trị hợp lý ở Việt Nam là thích hợp, đáng tin cậy đối với bốn đối tượng là bất động sản đầu tư, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản tài chính, và được sự ủng hộ của nhà đầu tư cũng như nhà quản lý doanh nghiệp Rút ra từ kết quả rằng chỉ có tính thích hợp và tính đáng tin cậy có tác động thuận đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý, nghiên cứu cho thấy sự ủng hộ của các doanh nghiệp có nguyên nhân từ việc giá trị hợp lý giúp cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, khác với xu hướng trên thế giới, đặc điểm của doanh nghiệp không ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý, nói cách khác, giá trị hợp lý được ủng hộ ở tất cả các loại hình doanh nghiệp được nghiên cứu

Nghiên cứu cũng đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố có ảnh hưởng và không ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý ở Việt Nam Tác giả thống kê được có hai nhân tố có ảnh hưởng thuận chiều và sáu nhân tố không ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý theo mô hình nghiên cứu mà tác giả

đã xây dựng Tác giả đi đến kết luận là không có sự khác biệt về mức độ ủng hộ giữa các khoản mục bất động sản đầu tư, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình

và tài sản tài chính, cũng như không có sự khác biệt trong mức độ ủng hộ giữa quan điểm của nhà đầu tư và nhà quản lý doanh nghiệp

Tuy đã thực hiện nghiên cứu định lượng đầy đủ, có chiều sâu với mẫu khá lớn

và phân tích cụ thể, song nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định Tác giả chỉ mới phân tích quan điểm của nhà đầu tư và nhà quản lý doanh nghiệp, chưa phân tích quan điểm của các bên khác như chủ nợ, kiểm toán viên và người ban hành chính sách Bên cạnh đó, tác giả chỉ tiến hành khảo sát cho bốn khoản mục là bất động sản đầu tư, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản tài chính nên chưa đánh giá được toàn diện mức độ ủng hộ giá trị hợp lý ở Việt Nam

1.3 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

(1) Đối với nghiên cứu của Phạm Thị Lý (2013), tác giả đã xây dựng mô hình định lượng sau khi được kết cấu lại gồm năm nhân tố là nhu cầu thông tin, môi trường văn hóa xã hội, môi trường giáo dục, môi trường chuyên nghiệp và môi trường hội nhập Đề tài còn một số nhân tố có thể có ảnh hưởng đến việc áp dụng giá trị hợp lý vào kế toán là nhân tố chính trị, nhân tố pháp lý mà tác giả vẫn chưa đưa vào mô hình nghiên cứu Bên cạnh đó, đối tượng được khảo sát ngoài các công ty cổ phần còn có công ty trách nhiệm hữu hạn, xí nghiệp công ty là các doanh nghiệp trong nước và hầu như không có doanh nghiệp FDI Như vậy đối tượng khảo sát là chưa hoàn toàn phù hợp khi đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất từ việc áp dụng IFRS nói chung, giá trị hợp lý nói riêng là các công ty cổ phần, công ty đại chúng niêm yết và doanh nghiệp FDI lại chưa được khảo sát một cách toàn diện và đầy đủ, do đó kết quả nghiên cứu chưa có nhiều ý nghĩa thực tiễn

Trang 24

(2) Đối với nghiên cứu của Lê Hoàng Phúc (2014), tác giả đã nhận định việc

sử dụng giá trị hợp lý trong định giá các yếu tố của báo cáo tài chính là xu hướng tất yếu và cần thiết Tác giả nhận thấy rằng hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam chịu tác động của các nhân tố là nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị, nhân tố pháp lý, nhân tố văn hóa và quá trình hội nhập quốc tế Tuy nhiên, đề tài còn một số nhân tố khác mà tác giả chưa đề cập như nhân tố các hiệp hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, nhân tố giáo dục Một hạn chế khác là tác giả chưa xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng để đánh giá sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nói trên

để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp Ngoài ra, thời gian thực hiện nghiên cứu của tác giả là vào năm 2014 khi mà Thông tư 200 và Thông tư 202 về chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế cho Quyết định 15 chưa được áp dụng, do đó nhiều vấn đề tác giả đưa ra đã không còn phù hợp

(3) Đối với nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng (2016), tác giả tiến hành so sánh hai mô hình kế toán là mô hình giá gốc kết hợp suy giảm giá trị và mô hình giá trị hợp lý cho đối tượng nghiên cứu là tài sản cố định hữu hình, từ đó kết luận mô hình giá gốc kết hợp suy giảm giá trị là phù hợp hơn Hạn chế trong nghiên cứu của tác giả là chưa xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng để xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đó đến phương pháp kế toán tác giả đã chọn Ngoài ra, việc tác giả cho rằng đối với tài sản cố định hữu hình thì không nên áp dụng kế toán giá trị hợp lý là chưa phù hợp theo tinh thần của IFRS, mặt khác sự suy giảm giá trị tài sản vẫn có thể được đánh giá theo giá trị hợp lý

(4) Đối với nghiên cứu của Lê Vũ Ngọc Thanh (2017), tác giả đã thực hiện hai nghiên cứu độc lập là (1) mức độ tác động của giá trị hợp lý đến sự hòa hợp giữa quy định về đo lường của VAS và IFRS và (2) các nhân tố tác động đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý tại Việt Nam Đối với mô hình về các nhân tố tác động đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý tại Việt Nam, biến được sử dụng là những

ưu điểm, nhược điểm của giá trị hợp lý bao gồm tính thích hợp, tính đáng tin cậy, chi phí đo lường, tiết lộ nhiều thông tin, ngoài ra còn có các biến kiểm soát là quy mô công ty, loại hình doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính Tác giả thực hiện nghiên cứu bốn mô hình để kiểm tra một cách độc lập cho bốn khoản mục là bất động sản đầu

tư, tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tính thích hợp và tính đáng tin cậy có tác động cùng chiều đến việc lựa chọn áp dụng giá trị hợp lý tại Việt Nam, các biến còn lại không có ảnh hưởng Như vậy, tác giả đã nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng giá trị hợp lý là các tính chất nội hàm của giá trị hợp lý, chưa nghiên cứu đến các nhân tố bên ngoài

là các nhân tố vĩ mô như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… có phù hợp để kế toán theo giá trị hợp lý không

Với tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước như trên, tác giả nhận thấy một vấn đề còn chưa được các nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập Các nghiên cứu nước ngoài đã phân tích và đưa ra mô hình các nhân tố tác động đến sự đa dạng kế

Trang 25

toán giữa các quốc gia, từ đó làm nền tảng để phân tích tác động đến nhân tố tác động đến việc áp dụng giá trị hợp lý Tuy vậy, các nhân tố trên chỉ mới được khảo sát và phân tích tại các nước phát triển mà chưa có bất kỳ nghiên cứu nào được tiến hành tại một nước đang phát triển như Việt Nam Trong khi đó, các tác giả trong nước tuy

đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào các doanh nghiệp tại Việt Nam song chưa đầy đủ, đối tượng khảo sát chưa phù hợp, từ

đó ít nhiều ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu và giải pháp được đề xuất Do đó, tác giả xác định vấn đề cần nghiên cứu là xây dựng mô hình các nhân

tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai dựa theo mô hình các nhân tố

do Branson và Alia (2011) xây dựng Trong nghiên cứu, tác giả đề xuất sáu nhân tố làm biến độc lập, đó là (1) môi trường kinh tế, (2) môi trường chính trị, (3) môi trường pháp lý, (4) môi trường văn hóa, (5) môi trường giáo dục và (6) môi trường chuyên nghiệp

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam Trong đó, các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh giá trị hợp lý là thích hợp, đáng tin cậy và được sự ủng hộ rộng rãi dù cho còn nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến tính hiệu quả và tính bắt buộc thực hiện của giá trị hợp lý Các nghiên cứu này được thực hiện ở các quốc gia có nhiều khác biệt với Việt Nam Trong khi

đó, các nghiên cứu ở Việt Nam phần lớn xác định được các nhân tố tác động đến việc lựa chọn vận dụng giá trị hợp lý ở Việt Nam và chưa có nghiên cứu cụ thể nào được thực hiện ở tỉnh Đồng Nai Từ đó luận văn xác định vấn đề cần nghiên cứu là nhận diện các nhân tố tác động đến việc lựa chọn vận dụng giá trị hợp lý để đánh giá khả năng vận dụng giá trị hợp lý trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 27

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ

& Koleva, 2016) Tuy nhiên, trong thời gian đầu những quy định về việc đo lường giá trị hợp lý không phải lúc nào cũng nhất quán

Một trong những văn bản đầu tiên của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc đề cập đến định nghĩa giá trị hợp lý là IAS16 (Tài sản, nhà cửa và máy móc thiết bị),

được ban hành vào năm 1982 Theo đó, “giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem

trao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá” Căn cứ vào định nghĩa này, giá trị hợp lý là giá trị trao đổi Định nghĩa giá trị

hợp lý được bổ sung trong IAS17 (Thuê Tài sản) ban hành năm 1982 Theo chuẩn

mực này, “giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi, hay nợ phải trả được

thanh toán giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá” Như vậy, IAS17 đề cập đến giá trị hợp lý của cả tài sản và nợ phải trả Tuy

nhiên, giá trị hợp lý của một khoản nợ phải trả là giá trị thanh toán nợ phải trả, là khái niệm liên quan đến giá trị đầu ra (exit value), không phải giá trị trao đổi Điều này cho thấy chưa có sự nhất quán về định nghĩa giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả giữa các IAS

Khuôn mẫu lý thuyết của IAS ban hành năm 1989 đã không đề cập đến giá trị hợp lý dù vẫn được sử dụng trong một số chuẩn mực cụ thể Khuôn mẫu chỉ đề cập đến giá gốc, giá hiện hành (current value) và giá trị có thể thực hiện được (realisable value) Trong đó, giá hiện hành phản ánh vị trị của người mua (do đó nó là giá đầu vào), còn giá có thể thực hiện được phản ánh vị trí của người bán (do đó nó là giá đầu ra) Tư tưởng bao quát trong khuôn mẫu này là các cơ sở đo lường được sử dụng phối hợp với nhau, trong đó giá gốc được dùng phổ biến nhất còn giá hiện hành được dùng trong trường hợp giá gốc không thể phản ánh được những thay đổi về giá của tài sản phi tiền tệ (Dvořáková, 2011)

Sau đó, vào tháng 11 năm 2006, IASB phát hành Báo cáo thảo luận về giá trị hợp lý, trong đó, các thành viên IASB thống nhất rằng giá trị hợp lý là giá trị trao

đổi Như vậy, “giá trị hợp lý là giá trị của tài sản hay nợ phải trả có thể trao đổi

giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”

Tuy nhiên, Dự thảo IFRS về đo lường giá trị hợp lý được IASB phát hành vào

tháng 5 năm 2009 lại định nghĩa giá trị hợp lý là “giá trị sẽ nhận được khi bán một

Trang 28

tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường” Như vậy, giá

trị hợp lý được coi là giá trị đầu ra (PwC, 2013) Định nghĩa về giá trị hợp lý trong

dự thảo này tương tự như định nghĩa được đưa ra trong SFAS157 (Đo lường giá trị hợp lý) của FASB Đây là những bước đi vô cùng quan trọng trong quá trình thống nhất các nội dung về giá trị hợp lý giữa các IAS và IFRS, đồng thời cũng nhằm mục đích thống nhất cách tiếp cận về giá trị hợp lý giữa IFRS và GAAP của Hoa Kỳ trong khuôn khổ dự án hội tụ chuẩn mực kế toán của IASB và FASB Kết quả của quá trình hội tụ này là việc IASB soạn thảo thành công và phát hành IFRS13 (Đo lường giá trị hợp lý), có hiệu lực áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2013

Như vậy, theo SFAS157 (đoạn 5) và IFRS13 (đoạn 9) thì giá trị hợp lý là một phương pháp đo lường để xác định giá trị của tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp tại ngày báo cáo Giá trị hợp lý được khẳng định là giá đầu ra, tức là giá bán tài sản hoặc giá thanh toán khoản nợ tại ngày báo cáo và được xác định dựa vào các thông tin từ thị trường hoặc các mô hình định giá, áp dụng cho cả ghi nhận ban đầu và đánh giá lại tại ngày báo cáo

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của giá trị hợp lý

Kế toán giá trị hợp lý đã thay đổi cách trình bày thông tin tài chính Trước đây, báo cáo tài chính từng dựa chủ yếu vào giá gốc thì nay trong nhiều trường hợp, giá trị hợp lý trở thành cơ sở đo lường cho cả tài sản và nợ phải trả tài chính lẫn phi tài chính Xu hướng rời khỏi giá gốc vốn là nền tảng của kế toán truyền thống để hướng tới giá trị hợp lý đặt ra thách thức lớn cho các nhà lập quy, lập pháp cũng như kiểm toán viên và kế toán viên Sự hình thành và phát triển của giá trị hợp lý chủ yếu được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước SFAS157 và IFRS13 và giai đoạn sau SFAS157 và IFRS13

2.1.2.1 Giai đoạn trước SFAS157 và IFRS13

Khái niệm về giá trị hợp lý đã được phát triển trong hơn một thế kỷ Vào năm

1898, trong một vụ kiện về quy định trong ngành đường sắt, Tòa án tối cao Hoa Kỳ

đã thảo luận một số khái niệm cơ bản của giá trị hợp lý Theo đó, để xác định giá trị hợp lý thì chi phí ban đầu của việc xây dựng, chi phí sửa chữa và duy trì hoạt động, giá trị thị trường của cổ phiếu và trái phiếu được phát hành để huy động vốn, thu nhập đạt được từ việc sử dụng tài sản phải được xem xét đến Đây là nền tảng ban đầu để xây dựng hướng tiếp cận (approach) giá trị hợp lý đang được sử dụng hiện nay, đó là cách tiếp cận chi phí, cách tiếp cận thu nhập và cách tiếp cận thị trường

Năm 1959, AICPA đã thành lập Hội đồng nguyên tắc kế toán (APB) để thay thế cho Ủy ban quy trình kế toán Moonitz (1961) đã thiết lập cơ sở cho việc đo lường

và báo cáo tài chính và giới thiệu khái niệm “giá trị thị trường” trong một dự án nghiên cứu về kế toán Giá thị trường tiếp tục được giới thiệu và được dùng để xác định giá trị của chứng khoán kinh doanh (Sprouse & Moonitz, 1962) Tuy nhiên,

Trang 29

những đề xuất này đã không được APB chấp nhận, hơn nữa còn cảnh báo rằng việc

áp dụng giá thị trường theo Sprouse và Moonitz (1962) sẽ làm giảm giá trị của báo cáo tài chính với lý do rằng nó quá khác biệt so với GAAP lúc đó

Trái ngược lại với APB, FASB là một tổ chức lập quy được thành lập năm

1973 đã có cái nhìn mới về các vấn đề của báo cáo tài chính FASB đã xem xét khái niệm về giá trị hợp lý từ rất sớm, và trong một số trường hợp đã bắt đầu sử dụng khái niệm này cho tài sản và nợ phi tài chính Ban đầu, FASB sử dụng định nghĩa về giá trị thị trường (fair market value) được dùng trong báo cáo thuế để mô tả giá trị hợp

lý trong báo cáo tài chính Tuy nhiên, cuối cùng một định nghĩa khác cho giá trị hợp

lý đã được chọn thay thế Theo đó, giá trị hợp lý là một tiêu chuẩn cho mục đích báo

cáo các vấn đề tài chính, và được định nghĩa là “mức giá nhận được khi bán một tài

sản hoặc phải trả khi thanh toán một khoản nợ trong một giao dịch có thứ tự giữa những người tham gia thị trường tại ngày đo lường”

Nhiều nghiên cứu ủng hộ kế toán theo giá trị thị trường cũng được thực hiện trong giai đoạn này Các công trình của Edwards và Bell (1961), Chambers (1966)

và Sterling (1970) là các cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của giá trị hợp

lý Các nghiên cứu này đều nhấn mạnh việc tồn tại nhiều loại giá để phản ánh giá trị của các đối tượng phi tiền tệ và lưu ý rằng chỉ có giá trị hiện tại mới có ý nghĩa trong việc ra quyết định

Một trong những văn bản đầu tiên yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý trong báo cáo tài chính là APB18 (Phương pháp vốn chủ sở hữu cho kế toán đầu tư vào cổ phiếu) được phát hành năm 1971, trình bày về phương pháp vốn chủ sở hữu cho kế toán đầu tư vào công ty con cần được hợp nhất Giá trị hợp lý được mở rộng áp dụng

để ghi nhận lợi thế thương mại, tài sản và nợ phải trả có được do hợp nhất trong APB16 (Hợp nhất kinh doanh), ghi nhận ban đầu cho tài sản vô hình trong APB17 (Tài sản vô hình) Năm 1973, APB29 (Kế toán giao dịch phi tiền tệ) được phát hành

đã đề xuất các phương pháp đo lường giá trị hợp lý của giao dịch phi tiền tệ Nhìn chung, trong giai đoạn này giá trị hợp lý được áp dụng để ghi nhận ban đầu cho các giao dịch phi tiền tệ, lợi thế thương mại và tài sản có được do hợp nhất kinh doanh Khái niệm cơ bản về giá trị hợp lý đã được hình thành, tuy nhiên chỉ được áp dụng

để ghi nhận ban đầu mà không áp dụng cho đánh giá lại sau ghi nhận ban đầu, chỉ cho phép ghi nhận giảm giá mà không cho phép ghi nhận tăng giá (Dvořáková, 2011)

Cho đến năm 1976, định nghĩa đầu tiên về giá trị hợp lý chính thức xuất hiện trong SFAS13 (Tài sản thuê tài chính) SFAS15 (Kế toán tái cấu trúc nợ khó khăn) phát hành năm 1977 đề xuất giá trị hợp lý của tài sản được đo lường bởi giá trị thị trường của nó nếu tồn tại thị trường cho tài sản đó Kể từ khi được định nghĩa chính thức vào năm 1976, giá trị hợp lý tiếp tục được phát triển những yêu cầu áp dụng cụ thể trong các chuẩn mực kế toán ở Hoa Kỳ, Anh và khuôn mẫu lý thuyết của IASB,

kể cả trong thời kỳ hệ thống giá theo sức mua chung và hệ thống giá hiện hành thống

Trang 30

trị Đến năm 1991, SFAS107 (Trình bày giá trị hợp lý của công cụ tài chính) yêu cầu việc trình bày công cụ tài chính theo giá trị hợp lý là dấu mốc quan trọng mở đường cho giá trị hợp lý được áp dụng cho đo lường sau ghi nhận ban đầu, đồng thời chấm dứt thời kỳ sử dụng giá hiện hành để đo lường các yếu tố của báo cáo tài chính Sau

đó, giá trị hợp lý tiếp tục được mở rộng phạm vi áp dụng trong các chuẩn mực ban hành tiếp theo như SFAS115 (Kế toán chứng khoán nợ và chứng khoán vốn), SFAS119 (Trình bày công cụ tài chính phái sinh và giá trị hợp lý của công cụ tài chính), SFAS133 (Kế toán công cụ phái sinh và bảo hiểm rủi ro)

Đối với IASB, định nghĩa giá trị hợp lý lần đầu tiên được giới thiệu trong

IAS17 (Thuê tài sản) vào năm 1998, là “giá trị dùng để trao đổi một tài sản hoặc

thanh toán một khoản nợ giữa các bên có hiểu biết và thiện chí trong một giao dịch ngang giá” Các chuẩn mực tiếp theo của IASB yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý để đo

lường tài sản và nợ phải trả có thể được chia thành ba nhóm Nhóm thứ nhất gồm những chuẩn mực sử dụng cả giá gốc và giá trị hợp lý để ghi nhận ban đầu và đánh giá lại cuối kỳ tại ngày báo cáo như IAS16 (Nhà cửa, máy móc, thiết bị) và IAS38 (Tài sản vô hình) Nhóm thứ hai gồm những chuẩn mực yêu cầu hoặc khuyến khích

sử dụng giá trị hợp lý tại ngày báo cáo như IAS 40 (Bất động sản đầu tư) Nhóm thứ

ba bao gồm những chuẩn mực yêu cầu đo lường theo giá trị hợp lý tại ngày cáo cáo, như IAS39 (Công cụ tài chính) và IAS41 (Nông nghiệp) Các chuẩn mực này sử dụng giá của thị trường hoạt động hoặc giá giao dịch gần nhất của thị trường nếu điều kiện kinh tế không có nhiều thay đổi đáng kể hoặc giá thị trường của tài sản tương đồng có thực hiện điều chỉnh để phản ánh khác biệt, hoặc hiện giá dòng tiền thuần thu được từ việc sử dụng tài sản Các chuẩn mực này cũng có các cách tiếp cận rất khác nhau trong việc ghi nhận lãi hoặc lỗ từ sự thay đổi của giá trị hợp lý Theo

đó, có ba cách tiếp cận:

(1) Mô hình đánh giá lại: ghi nhận giá trị tăng thêm của tài sản khi đánh giá lại vào lợi nhuận tổng hợp khác (Other comprehensive income); thay thế giá gốc để đánh giá lại tài sản cố định hữu hình (IAS16) và tài sản vô hình (IAS38)

(2) Mô hình ghi nhận vào lãi lỗ (through profit or loss): đánh giá tăng giá trị của tài sản đồng thời sẽ làm tăng lợi nhuận và ngược lại, được sử dụng trong IAS39 (được thay thế bởi IFRS09), IAS40 và IAS41

(3) Mô hình ghi nhận vào báo cáo tình hình tài chính (through balance sheet): việc đánh giá lại tài sản không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận mà sẽ được ghi nhận vào chỉ tiêu “Thặng dư đánh giá lại” thuộc vốn chủ sở hữu, và do

đó sẽ không được phân phối cho chủ sở hữu thông qua cổ tức (IFRS09)

2.1.2.2 Giai đoạn sau SFAS157 và IFRS13

Hai cột mốc quan trọng khẳng định sự phát triển của giá trị hợp lý và là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hệ thống IAS/IFRS tiếp theo trong tương lai là

Trang 31

SFAS157, được ban hành bởi FASB lần đầu tiên vào năm 2006 và IFRS13 được ban hành bởi IASB vào năm 2011 Khuôn mẫu lý thuyết, vốn là nền tảng lý thuyết cơ bản của các chuẩn mực cụ thể, cũng đã chính thức ghi nhận giá trị hợp lý là một cơ

sở đo lường (IASB, 2018)

Trong giai đoạn trước khi SFAS157 được ban hành, việc áp dụng giá trị hợp

lý là không nhất quán giữa các quy định khác nhau, khiến cho giá trị hợp lý không được phản ánh một cách thống nhất trong báo cáo tài chính của các đơn vị khác nhau Với sự ra đời của SFAS157, FASB đã thiết lập một khuôn khổ để áp dụng đo lường giá trị hợp lý Họ tin rằng việc thực hiện SFAS157 sẽ giúp cải thiện chất lượng của báo cáo tài chính bằng cách nâng cao tính nhất quán, độ tin cậy và khả năng so sánh

Khi được ban hành lần đầu, SFAS157 xác định giá trị hợp lý là "giá được nhận khi

bán một tài sản hoặc phải trả để chuyển giao một khoản nợ trong một giao dịch có trật tự giữa những người tham gia thị trường tại ngày đo lường" Như vậy, đo lường

giá trị hợp lý giả định rằng tài sản hoặc nợ phải trả có thể được trao đổi trong một giao dịch có trật tự giữa những người tham gia thị trường muốn bán tài sản hoặc chuyển giao một khoản nợ vào ngày đo lường

Giá trị hợp lý chính thức được thừa nhận vào cùng thời điểm với sự nhen nhóm của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn đã ảnh hưởng đến nền kinh tế ở cấp độ toàn cầu và vai trò của giá trị hợp lý được đem ra xem xét Nguyên nhân đến từ việc các chứng khoán được đảm bảo bằng khoản thế chấp đang được ghi nhận theo cấp độ 1 đã bị chuyển qua ghi nhận theo cấp độ 3, kéo theo việc hàng loạt tổ chức tài chính lớn nhất nước Mỹ thực hiện ghi giảm giá trị tài sản cho phù hợp với SFAS157 Cuộc tranh luận đã đạt đến đỉnh điểm vào cuối năm 2008 khi FASB thực hiện sửa đổi các quy tắc về kế toán giá trị hợp lý

để ngăn chặn việc ghi nhận thêm tổn thất theo giá trị hợp lý Để phản hồi lại những lời chỉ trích, vào những tháng cuối năm 2008, SEC và FASB đã công bố Báo cáo

“Giải thích về kế toán giá trị hợp lý” để làm rõ hơn một số vấn đề mang tính nguyên tắc về giá trị hợp lý Theo đó, khi không có thị trường hoạt động cho một chứng khoán, việc sử dụng các ước tính quản trị kết hợp với kỳ vọng về dòng tiền tương lai

có tính đến phần bù rủi ro thích hợp thì sẽ được chấp nhận Một thị trường suy thoái không phải là một thị trường được giao dịch có trật tự, do đó không phù hợp với tiêu chí áp dụng giá trị hợp lý nên không được xác định cụ thể Điều này tương tự cho các giao dịch trên một thị trường không hoạt động, tuy nhiên sau đó FASB đã làm rõ hơn các giả định sẽ được sử dụng trong trường hợp không tồn tại thị trường hoạt động, qua đó củng cố hơn về khái niệm đo lường giá trị hợp lý trong SFAS157

Giá trị hợp lý đạt được thêm một bước tiến lớn khi FASB và IASB cùng thực hiện một dự án về hội tụ chuẩn mực kế toán, tạo ra một bộ chuẩn mực chất lượng cao, mang tầm quốc tế trong bối cảnh các hoạt động kinh tế toàn cầu diễn ra mạnh

mẽ Do đó, từ năm 2002 dự án hội tụ US GAAP và IAS được khởi động và thực hiện qua nhiều giai đoạn Thành quả của dự án là việc FASB phát hành ASU2011-04 và

Trang 32

IASB phát hành IFRS13 sau những nỗ lực nhằm hòa hợp các khái niệm xung quanh việc đo lường giá trị hợp lý và thống nhất các yêu cầu trình bày báo cáo tài chính Chuẩn mực mới hoàn toàn không mở rộng phạm vi sử dụng giá trị hợp lý mà thay vào đó nó làm rõ những hướng dẫn về cách đo lường và trình bày giá trị hợp lý trong những tình huống cụ thể được quy định trong các văn bản pháp quy hiện hành

Như vậy, với việc ra đời của ASU2011-04 và IFRS13, giá trị hợp lý được cung cấp các giải thích rõ ràng liên quan đến khái niệm “sử dụng cao nhất và tốt nhất” và yêu cầu trình bày chất lượng thông tin của các yếu tố đầu vào không thể quan sát được, tạo ra nền tảng vững chắc cho các chuẩn mực khác có yêu cầu hoặc cho phép sử dụng và trình bày thông tin theo giá trị hợp lý Các chuẩn mực cụ thể sẽ dựa vào đây để cung cấp các hướng dẫn mở rộng về đo lường giá trị hợp lý trong những trường hợp cụ thể Cho đến nay các yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý cho đo lường ban đầu và sau ban đầu liên tục được mở rộng và phát triển và ngày càng được

áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới Biểu đồ 2.1 thống kê số lượng quốc gia áp dụng và không áp dụng IFRS trên thế giới

(Nguồn: website IFRS Việt Nam)

Biểu đồ 2.1: Thống kê việc áp dụng IFRS theo khu vực địa lý

Như vậy, đến nay hệ thống đo lường trong kế toán là hệ thống hỗn hợp dựa trên cơ sở giá gốc và giá trị hợp lý và sự kết hợp hai cơ sở đo lường này là một xu hướng không thể tránh khỏi (Georgiou và Jack, 2011) do chúng bổ sung, hỗ trợ cho

Châu Mỹ

Yêu cầu áp dụng IFRS cho toàn bộ hoặc hầu hết công ty đại chúng Cho phép hoặc yêu cầu áp dụng IFRS cho một số công ty đại chúng Không yêu cầu hoặc cho phép áp dụng IFRS đối với công ty đại chúng

Trang 33

nhau Tuy nhiên, cơ sở đo lường theo giá trị hợp lý đang dần dần thay thế cơ sở đo lường theo giá gốc do có nhiều tính chất ưu việt hơn (Trajkovska et al., 2016) Các nhà nghiên cứu cho rằng giá trị hợp lý có thể phát triển như ngày hôm nay là nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ từ lý thuyết Schmidt (2014) đã chứng minh rằng giá trị hợp lý không phải là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 như cáo buộc của những người chỉ trích, góp phần củng cố niềm tin và tạo tiền đề cho sự áp dụng sâu rộng giá trị hợp lý Giá trị hợp lý là giá mà doanh nghiệp có thể bán ra ở hiện tại, không phải giá mà doanh nghiệp mua vào trong quá khứ như giá gốc hoặc

ở hiện tại như giá hiện hành, vì vậy thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp nhà đầu tư đánh giá được rủi ro thông qua xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp

và đánh giá được dòng tiền tương lai dựa vào giá trị hiện tại của tài sản và nợ phải

trả (Barlev và Haddad, 2003)

ICAEW (2006) cho rằng giá trị hợp lý thể hiện phù hợp nhất chất lượng thông tin tài chính của một doanh nghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính, qua đó phản ánh tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư khi nắm giữ khoản đầu tư, đồng thời góp phần hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý Hơn nữa, do phản ánh thông tin theo thị trường, giá trị hợp lý là một nền tảng tốt hơn trong việc đo lường tài sản và

nợ phải trả so với số liệu giá gốc, từ đó làm cho giá trị trên bảng cân đối kế toán gần hơn với giá trị thị trường (Kaur, 2013) Nguyễn Thế Lộc (2010) cũng khẳng định thông tin về giá trị hợp lý là thông tin thích hợp cho các đối tượng sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế, nâng cao hiệu quả khoản đầu tư Một điểm quan trọng nữa đó

là giá trị hợp lý là cơ sở đo lường phù hợp với cách tiếp cận bảng cân đối kế toán của IASB và FASB (Lê Vũ Ngọc Thanh, 2017), do đó có thể phản ánh lợi nhuận hợp lý

và đáng tin cậy hơn và thỏa mãn quan điểm bảo toàn vốn vật chất Vốn vật chất là một trong ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới phát triển kinh tế ở mọi quốc gia,

do đó việc bảo toàn và sử dụng vốn vật chất hiệu quả sẽ góp phần nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế (Im Iksoon Eric & Vũ Băng Tâm, 2012) Ngoài ra, do được xác định theo nguyên tắc gắn với thị trường nên giá trị hợp lý sẽ thể hiện một cách tiệm cận nhất lý thuyết thị trường hiệu quả, khi đó giá thị trường của một cổ phần sẽ tương đương với giá sổ sách của cổ phần đó, tức giá cả sẽ bằng giá trị (Wyman, Seldin & Worzala, 2011)

Tóm lại, sự ra đời của giá trị hợp lý xuất phát trực tiếp từ nhu cầu sử dụng thông tin của xã hội và sự hạn chế của những mô hình đo lường trong kế toán trước

đó, trải qua nhiều giai đoạn phát triển và hoàn thiện, đến nay đã được chuẩn hóa trong các quy định của các tổ chức lập quy và là một xu hướng kế toán mới bên cạnh kế toán theo giá gốc (Mai Ngọc Anh, 2011) Giá trị hợp lý đang dần khẳng định những

ưu thế của mình trong định giá, được ủng hộ và chuẩn bị những cơ sở quan trọng cho việc áp dụng rộng rãi tại các quốc gia

Trang 34

2.2 GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG IAS/IFRS

2.2.1 Phạm vi áp dụng

Nguyễn Thế Lộc và Vũ Hữu Đức (2010) trích dẫn nghiên cứu của Cairns (2006) cho rằng cho rằng có bốn trường hợp chủ yếu yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý trong IFRS là:

(1) Đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu

(2) Phân bổ giá trị ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu

tố hợp thành

(3) Đánh giá sự suy giảm giá trị tài sản

(4) Đo lường tài sản và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu

Cairns (2006) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt bốn cách áp dụng này và cho rằng ba trường hợp đầu tiên đều cần thiết đối với cả những các báo cáo tài chính được lập và trình bày theo giá gốc, không yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý Điều này có nghĩa là các trường hợp này vẫn là đo lường theo giá gốc, giá trị hợp lý chỉ được sử dụng thay thế giá gốc khi không xác định được giá gốc Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong IAS/IFRS được trình bày cụ thể trong Bảng 2.1

Bảng 2.1: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong IAS/IFRS

Đo lường giá trị của TSCĐ hữu hình có được thông qua trao đổi với các tài sản phi tiền tệ khác

IAS17 - Thuê tài sản

Đo lường tài sản và nợ phải trả phát sinh trong hợp đồng thuê tài chính của bên thuê (trừ khi giá trị hợp lý cao hơn hiện giá và khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu)

IAS18 - Doanh thu Đo lường các khoản đã thu hoặc phải thu để

ghi nhận vào doanh thu (trừ khi hàng hoá, dịch vụ được hoán đổi cho hàng hoá, dịch vụ

có bản chất, giá trị tương tự)

IAS20 - Kế toán và trình bày các khoản tài trợ và trợ cấp chính phủ

Đo lường sự chuyển giao tài sản phi tiền tệ từ chính phủ sang đơn vị

Trang 35

IAS38 - Tài sản vô hình

Đo lường giá trị của TSCĐ vô hình có được thông qua trao đổi với các tài sản phi tiền tệ khác

IAS39 - Các công

cụ tài chính: Ghi nhận và xác định

Đo lường tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính

IAS41 - Nông nghiệp

Đo lường tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

IFRS02 - Giao dịch thanh toán dựa trên

cổ phiếu

Đo lường hàng hoá, dịch vụ nhận được và công cụ vốn có được thông qua giao dịch thanh toán dựa trên cổ phiếu

IFRS03 - Hợp nhất kinh doanh

Đo lường tài sản nhận được, nợ phải trả phát sinh và công cụ vốn được phát hành bởi bên mua

Đo lường thành phần nợ phải trả của một công cụ tài chính lai ghép (thành phần vốn chủ sở hữu là phần còn lại)

IFRS03 - Hợp nhất kinh doanh

Đo lường tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng tại ngày mua trong hợp nhất kinh doanh Đánh giá sự suy

giảm giá trị tài

IAS39 - Các công

cụ tài chính: Ghi nhận và xác định

Đo lường tài sản tài chính sẵn sàng để bán, chứng khoán phái sinh, chứng khoán kinh doanh, tương đương tiền bị suy giảm giá trị

Đo lường tài sản

và nợ phải trả

sau ghi nhận ban

đầu

IAS16 - Máy móc, thiết bị, nhà xưởng

Đo lường giá trị của TSCĐ hữu hình

IAS27 - Báo cáo tài chính hợp nhất và riêng lẻ

Đo lường các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh liên kết trong báo cáo tài chính riêng

IAS38 - Tài sản vô hình

Đo lường TSCĐ vô hình (với điều kiện là đã được ghi nhận ban đầu theo tham chiếu từ thị trường hoạt động)

Trang 36

IAS39 - Các công

cụ tài chính: Ghi nhận và xác định

Đo lường các tài sản tài chính nắm giữ để bán

và nợ tài chính

IAS40 - Bất động sản đầu tư

Đo lường bất động sản đầu tư

IAS41 - Nông nghiệp

Đo lường tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

(Nguồn: David Cairns (2006))

2.2.2 Nội dung về giá trị hợp lý theo IFRS13

Với mục tiêu cung cấp khuôn mẫu lý thuyết nền tảng, cơ sở vận dụng để đo lường giá trị hợp lý và đưa ra các yêu cầu trình bày về đo lường giá trị hợp lý, IFRS13 tập trung vào năm vấn đề chính:

(1) Khái niệm về giá trị hợp lý và các thuật ngữ có liên quan

(2) Các kỹ thuật định giá

(3) Đầu vào của kỹ thuật định giá

(4) Hệ thống cấp bậc giá trị hợp lý

(5) Thuyết minh giá trị hợp lý

2.2.2.1 Khái niệm và thuật ngữ được sử dụng

Định nghĩa về giá trị hợp lý trong IFRS13 không khác biệt đáng kể so với

định nghĩa trong các IFRS trước đây, đó là "giá trị có thể nhận được khi bán một tài

sản hay giá trị cần thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả giữa các bên

có hiểu biết và thiện chí trong một giao dịch ngang giá" Định nghĩa của giá trị hợp

lý và các hướng dẫn trong IFRS13 cho thấy rằng:

(1) Giá trị hợp lý là giá đầu ra, không phải giá đầu vào

(2) Giá trị hợp lý được áp dụng không phụ thuộc vào mục đích lập báo cáo tài chính, khả năng bán tài sản hoặc thanh toán khoản nợ

(3) Giá trị hợp lý là giá đầu ra trên thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi nhất trong trường hợp không có thị trường chính), không được điều chỉnh cho chi phí giao dịch Ví dụ, chi phí giao dịch phát sinh khi mua một tài sản không được cộng vào để xác định giá trị hợp lý, và chi phí giao dịch phát sinh khi bán một tài sản không được trừ để xác định giá trị hợp lý (4) Giá trị hợp lý là giá dựa trên thị trường, được đo lường dựa vào giả định

mà các bên tham gia thị trường sẽ sử dụng để định giá tài sản, nợ phải trả

Trang 37

Ngoài việc cung cấp một định nghĩa duy nhất về giá trị hợp lý, IFRS13 cũng đưa ra một khuôn mẫu để áp dụng cho báo cáo tài chính Nhiều khái niệm quan trọng được sử dụng trong khuôn mẫu giá trị hợp lý có liên quan và tác động lẫn nhau Biểu

đồ 2.2 thể hiện mối quan hệ của các khái niệm được sử dụng trong khuôn mẫu đo lường giá trị hợp lý theo IFRS13

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Biểu đồ 2.2: Khuôn mẫu đo lường giá trị hợp lý

Một số thuật ngữ, giả định được sử dụng trong khái niệm về giá tri hợp lý:

a) Tài sản hoặc nợ phải trả (asset or liability)

Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho tài sản hoặc công nợ cụ thể Các bên tham gia thị trường cần cân nhắc đến những đặc điểm của tài sản hay nợ phải trả tại ngày định giá bao gồm:

(1) Tình trạng và vị trí hiện tại của tài sản Ví dụ được cho trong Phụ lục 1 (2) Giới hạn nếu có trong việc mua bán hay sử dụng tài sản đó (IFRS13.11)

Ví dụ được trình bày trong Phụ lục 2

Tài sản hoặc nợ phải trả

Thị trường chính (hoặc thuận lợi nhất)

Đặc điểm của người tham gia thị trường

Giá trị hợp lý

Trình bày giá trị hợp lý

Trang 38

Một đặc điểm của tài sản hoặc nợ phải trả cụ thể sẽ có ảnh hưởng nhất định, phụ thuộc vào cách mà các bên tham gia thị trường nhìn nhận và đánh giá đặc điểm

đó (IFRS13.12)

Tài sản hay nợ phải trả được xác định giá trị hợp lý có thể là:

(1) Tài sản hoặc nợ riêng lẻ

(2) Một nhóm tài sản, một nhóm công nợ hoặc một nhóm tài sản và công nợ (IFRS13.13)

Cho mục đích ghi nhận và thuyết minh trên báo cáo tài chính, việc tài sản hay

nợ phải trả là một tài sản hay nợ riêng lẻ, một nhóm tài sản, một nhóm nợ hoặc một nhóm tài sản và nợ phụ thuộc vào đơn vị kế toán (unit of account) của chúng (IFRS13.14)

b) Thị trường chính hoặc thị trường thuận lợi nhất (principal market or the most advantageous market)

Đo lường theo giá trị hợp lý giả định rằng các nghiệp vụ bán tài sản hoặc thanh toán các khoản nợ phải được thực hiện hoặc trong thị trường chính (principal market) hoặc trong thị trường thuận lợi nhất (the most advantageous market) khi không có thị trường chính (IFRS13.16)

(1) Thị trường chính: là thị trường mà hàng hóa và mức độ hoạt động của đơn

vị đạt đến mức cao nhất

(2) Thị trường thuận lợi nhất: là thị trường mà ở đó các đơn vị có thể tối đa hóa số tiền nhận được khi bán một tài sản và tối thiểu hóa số tiền phải trả khi thanh toán các khoản nợ, sau khi đã tính đến ảnh hưởng của chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển

Chi phí giao dịch là các chi phí liên quan trực tiếp mà một đơn vị phải bỏ ra khi bán tài sản hoặc thanh toán nợ Chi phí vận chuyển không nằm trong chi phí giao dịch, đây là chi phí phát sinh để đưa tài sản từ vị trí hiện tại của nó đến thị trường chính hoặc thuận lợi nhất, ví dụ như chi phí vận chuyển bằng xe, tàu, đường ống và các chi phí khác phát sinh trực tiếp trong việc đóng gói tài sản Ảnh hưởng của chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển đến việc nhận diện thị trường chính và thị trường thuận lợi nhất để đo lường giá trị hợp lý được tóm tắt trong Bảng 2.2

Chi phí giao dịch không được dùng để nhận diện thị trường chính mà thị trường này do khối lượng và mức độ hoạt động quyết định Tuy nhiên, chi phí giao dịch lại được dùng để nhận diện thị trường thuận lợi nhất do nó giúp xác định lãi ròng từ giao dịch mà đơn vị đã giả định Và một khi thị trường cho giao dịch đã được xác định, giá trị hợp lý sẽ được tính toán như sau:

Trang 39

(1) Giá trị hợp lý không được điều chỉnh cho chi phí giao dịch (IFRS13.25),

vì đây là chi phí phụ thuộc vào đặc điểm của giao dịch, không phải là đặc điểm của tài sản hoặc nợ phải trả

(2) Giá trị hợp lý được điều chỉnh cho chi phí vận chuyển, nếu vị trí của tài sản là một đặc điểm của nó (IFRS13.26)

Bảng 2.2: Ảnh hưởng của chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển

đến việc nhận diện thị trường chính và thị trường thuận lợi nhất

Chỉ tiêu Chi phí giao dịch Chi phí vận chuyển

(Nguồn: IFRS13)

Để áp dụng giá trị hợp lý, không cần thiết phải thực hiện việc xem xét tất cả thị trường có thể để xác định thị trường chính hoặc thị trường thuận lợi nhất mà phải xem xét các thông tin sẵn có hợp lý Thị trường mà đơn vị thường tham gia vào giao dịch bán tài sản hoặc chuyển giao nợ được coi là thị trường chính hoặc thị trường thuận lợi nhất Đo lường theo giá trị hợp lý giả định rằng giao dịch phát sinh trong thị thường chính của tài sản hoặc nợ Chỉ khi không tồn tại thị trường chính thì giao dịch mới được giả định là phát sinh trong thị trường thuận lợi nhất Trong nhiều trường hợp, hai thị trường này là đồng nhất (IFRS13.17) Ví dụ được trình bày trong Phụ lục 3

Nếu tồn tại thị trường chính cho tài sản hoặc nợ, giá trị hợp lý sẽ đại diện cho giá của thị trường đó (bất kể là được quan sát trực tiếp hay được ước tính bằng kỹ thuật định giá khác), ngay cả khi mức giá ở một thị trường khác là tốt hơn (IFRS13.18) Ví dụ được trình bày trong Phụ lục 4

c) Người tham gia thị trường (market participant)

Giá trị hợp lý của một tài sản hoặc nợ được đo lường bằng cách sử dụng các giả định mà người tham gia thị trường sẽ sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ, với giả định rằng những người tham gia thị trường sẽ hành động vì lợi ích kinh tế cao nhất của họ (IFRS13.22)

Khi đo lường giá trị hợp lý, không cần thiết phải xác định những người tham gia thị trường cụ thể, mà thay vào đó là xác định đặc điểm của những người tham gia

Trang 40

thị trường đó Người tham gia thị trường bao gồm người mua và người bán trong thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi nhất), đáp ứng được tất cả các yêu cầu sau:

(1) Không phải là các bên liên quan

(2) Có đầy đủ hiểu biết: những người tham gia giao dịch phải có trình độ nhất định và hiểu biết về những đặc tính của tài sản và nợ phải trả đang giao dịch

(3) Có năng lực tài chính và năng lực pháp lý để tham gia vào giao dịch (4) Tham gia giao dịch một cách tự nguyện, không có sự ép buộc

Người tham gia thị trường được giả định là sẽ hành động vì lợi ích kinh tế cao nhất của họ, tuy nhiên do những người tham gia thị trường bao gồm nhiều thành phần khác nhau, việc xác định giá trị hợp lý cho các tài sản và nợ phải trả theo giả định này có thể sẽ khác nhau khi tính cho từng đối tượng

Vì những người tham gia thị trường độc lập với nhau, giao dịch được giả định

là diễn ra giữa những người tham gia thị trường, không phải giữa đơn vị báo cáo với người tham gia thị trường khác Trong khi người tham gia thị trường không phải là bên liên quan, IFRS13 vẫn cho phép giá của giao dịch giữa các bên liên quan được

sử dụng làm thông tin đầu vào khi đo lường giá trị hợp lý, miễn là đơn vị có bằng chứng về việc giao dịch tuân theo điều kiện thị trường (IFRS13.A, BC57)

Khi đo lường giá trị hợp lý, một đơn vị sử dụng thông tin tốt nhất sẵn có trong tình huống cụ thể, bao gồm cả dữ liệu riêng của minh Khi xác định các yếu tố đầu vào không thể quan sát được (unobservable inputs), đơn vị có thể sử dụng thông tin,

dữ liệu riêng của mình nhưng có thực hiện điều chỉnh nếu biết được rằng người tham gia thị trường sẽ sử dụng thông tin hoặc dữ liệu khác (IFRS13.89)

d) Giao dịch có trật tự (orderly transaction)

Đo lường giá trị hợp lý giả định rằng tài sản hoặc nợ phải trả được trao đổi trong một giao dịch có trật tự (orderly transaction) giữa các bên tham gia thị trường

để bán tài sản hoặc thanh toán nợ theo các điều kiện thị trường hiện hành (IFRS13.15) Tại ngày đo lường, giao dịch bán tài sản hoặc thanh toán nợ là một giao dịch giả định cho tài sản hoặc nợ cụ thể mà cần được ghi nhận theo giá trị hợp lý Vì nếu tài sản đã thực sự được bán hoặc nợ đã thực sự được thanh toán tại ngày đo lường, sẽ không có tài sản hoặc khoản nợ nào để ghi nhận theo giá trị hợp lý

IFRS13 giả định các giao dịch này sẽ xảy ra trong thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi nhất) và có các đặc điểm:

(1) Có trật tự trong tự nhiên

(2) Xảy ra giữa người tham gia thị trường có hiểu biết và độc lập với nhau (3) Xảy ra theo điều kiện thị trường

Ngày đăng: 13/03/2021, 00:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w