Một xu hướng mới, phạm trù suy giảm chức năng được các nhà nghiên cứu quan tâm và mong muốn tách phạm trù này ra khỏi rối loạn tâm thần, trở thành một vấn đề độc lậptrong lĩnh vực sức kh
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HIỀN
MỐI QUAN HỆ GIỮA SUY GIẢM CHỨC NĂNG
VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: 91310401.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Hoàng Minh
Vào hồi giờ ngày …… tháng …… năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại:
-Thư viện Quốc gia Việt Nam
-Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự suy giảm chức năng của một cá nhân khi có vấn đề về sức khỏe tâm thần đượcxem là một trong những chỉ số lâm sàng có ý nghĩa trong chẩn đoán, đánh giá đối vớimột rối loạn tâm thần
Trên thực tế, hầu hết người có rối loạn tâm thần thì có suy giảm chức năng kèm theo
Sự suy giảm chức năng khiến cho cá nhân mất dần khả năng thực hiện các chức năng cầnthiết Suy giảm chức năng trở nên nghiêm trọng hơn và kéo theo sự suy giảm ở nhữnglĩnh vực khác khi thời gian kéo dài, không được hỗ trợ và điều trị
Tiêu chí chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần bao gồm triệu chứng lâm sàng của rốiloạn và phải có báo cáo về suy giảm chức năng Do đó, trên thực tế một số trường hợp cóđáp ứng các tiêu chí về mặt triệu chứng lâm sàng nhưng lại không đáp ứng tiêu chí có suygiảm chức năng sẽ không nhận được chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần Hoặc ngượclại, có những trường hợp có suy giảm chức năng nhưng không đáp ứng đủ các triệuchứng lâm sàng của rối loạn thì cũng không nhận được sự hỗ trợ cần thiết
Trong khi đó, tiêu chuẩn chẩn đoán cho suy giảm chức năng và đánh giá mức độnghiêm trọng của suy giảm luôn rất mơ hồ, không có rõ ràng trong các hướng dẫn chẩnđoán và được tích hợp lẫn lộn cùng với các biểu hiện của triệu chứng Do đó suy giảmchức năng thường được đánh giá một cách chung chung
Một xu hướng mới, phạm trù suy giảm chức năng được các nhà nghiên cứu quan tâm
và mong muốn tách phạm trù này ra khỏi rối loạn tâm thần, trở thành một vấn đề độc lậptrong lĩnh vực sức khỏe tâm thần Các nhà nghiên cứu xem số liệu về suy giảm chức năng
là một chỉ số quan trọng, có khả năng dự báo đối với vấn đề sức khỏe tâm thần Vì vậy,chỉ số này cũng dự báo được nhu cầu về dịch vụ chăm sóc lâm sàng, phòng ngừa đối vớivấn đề sức khỏe tâm thần ở một quốc gia
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, rối loạn tâm thần là yếu tố chính gây ra suy giảmchức năng thì còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng tới hoặc gây ra sự suy giảm chứcnăng ở trẻ em như điều kiện kinh tế văn hóa xã hội; các yếu tố trong gia đình như phongcách làm cha mẹ, kỳ vọng của cha mẹ, nhân khẩu học…; sự phát triển, giới tính, hay cácvấn đề bệnh thể chất, khuyết tật…
Tuy nhiên, việc trả lời cho câu hỏi theo hướng ngược lại: Suy giảm chức năng cóquan hệ, tác động ngược lại đến sức khỏe tâm thần như thế nào? Yếu tố phong cách làmcha mẹ đóng vai trò như thế nào trong mối quan hệ này? Đây là những chủ đề đang còn
bị bỏ trống trong nghiên cứu về phạm trù suy giảm chức năng Do đó, chúng tôi quyết
định thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần của học sinh Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông” với mong đợi tìm hiểu được một
phần của khoảng trống này
2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực trạng suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần ở học sinh THCS vàTHPT?
Câu hỏi 2: Suy giảm chức năng có quan hệ như thế nào với vấn đề sức khỏe tâm thần ởhọc sinh THCS và THPT?
Trang 4Câu hỏi 3: Suy giảm chức năng có thể là một yếu tố gây ra vấn đề sức khỏe tâm thần ởhọc sinh THCS và THPT?
Câu hỏi 4: Yếu tố phong cách làm cha mẹ đóng vai trò như thế nào trong mối quan hệsuy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần ở học sinh THCS và THPT?
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần
- Vai trò của phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ suy giảm chức năng và sứckhỏe tâm thần
4.2 Khách thể nghiên cứu
314 học sinh (khách thể trực tiếp của nghiên cứu) trong đó bao gồm: 157 học sinhcấp THCS và 157 học sinh cấp THPT; 314 cha mẹ là phụ huynh của các học sinh thamgia nghiên cứu (khách thể gián tiếp) với vai trò là người cung cấp thông tin về trẻ
5 Giả thuyết khoa học
- Suy giảm chức năng có mối quan hệ tuyến tính với sức khỏe tâm thần
- Học sinh sẽ phát triển vấn đề sức khỏe tâm thần nếu có suy giảm chức năng được xácđịnh trước đó
- Phong cách làm cha mẹ là yếu tố trung gian trong mối quan hệ giữa suy giảm chứcnăng và sức khỏe tâm thần
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về chủ đề suy giảm chức năng, sức khỏe tâm thần,phong cách làm cha mẹ
- Đánh giá thực trạng, mối quan hệ, mức độ tác động, dự báo của suy giảm chức năngđến sức khỏe tâm thần ở học sinh phổ thông
- Đánh giá tác động của phong cách làm cha mẹ đến suy giảm chức năng và sức khỏetâm thần Tìm hiểu vai trò của phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ này
- Đề xuất các hoạt động hỗ trợ, phòng ngừa, can thiệp đối với dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tâm thần trong trường học
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1 Về khách thể nghiên cứu
314 học sinh THCS và THPT ở 12 trường trên địa bàn thuộc TP Hà Nội, bao gồm cảnội thành và ngoại thành,
7.2 Về đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa suy giảm chức năng với sức khỏe tâm thần, với rối loạnhướng nội và rối loạn hướng ngoại ở học sinh Phổ thông
Trang 5- Xác định vai trò của phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ giữa suy giảm chứcnăng và vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh Phổ thông.
7.3 Về địa bàn nghiên cứu
- 3 quận nội thành: Cầu Giấy, Thanh Xuân và Đống Đa
- 6 xã thuộc huyện Đông Anh: Vân Nội, Đông Hội, Xuân Nộn, Liên Hà, Cổ Loa, CổLoa và Thị trấn Đông Anh
- 12 trường:THCS Yên Hòa, Cát Linh, Nguyễn Trãi, Liên Hà, Xuân Nộn, Đông Hội;THPT: Cầu Giấy, Đống Đa, Lê Lợi, Vân Nội, Đông Anh, Cổ Loa
7.4 Nguồn thông tin
Thông tin được lấy từ báo cáo của cha mẹ thông qua hệ thống bảng hỏi
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu (lý luận)
- Phương pháp trắc nghiệm (thực tiễn)
- Phương pháp thống kê toán học
9 Các trắc nghiệm tâm lý
Bảng kiểm hành vi (CBCL - Child Behavior Checklist) của Achenbach (1980
Suy giảm chức năng (BIS – the Brief Impairment Scale) của Bird (2005)
Phong cách làm cha mẹ (CRPBI- Children’s Report of Parent Behaviour Inventory)phiên bản dành cho cha mẹ
10 Đóng góp mới của luận văn
10.1 Đóng góp về lý luận
Tổng quan các vấn đề liên quan đến suy giảm chức năng, làm rõ các khái niệmcông cụ, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy giảm chức năng cũng như cácyếu tố ảnh hưởng đến sự đo lường suy giảm chức năng
đề sức khỏe tâm thần trong tương lai của học sinh THCS và THPT
- Kết quả nghiên cứu chỉ ra được vai trò trung gian của phong cách làm cha mẹ có tácđộng đến mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và vấn đề sức khỏe tâm thần của họcsinh THCS và THPT
11 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn được trìnhbày trong 4 chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
Trang 61.1 Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa triệu chứng của rối loạn và sự suy giảm chức năng.
Thứ nhất, các nghiên cứu đã chỉ ra, triệu chứng của rối loạn tâm thần và suy giảmchức năng được cho là luôn luôn có tương quan tuyến tính với nhau ở mức độ trung bình.(Bird, Yager, Staghezza, Gould, 1990; Keenan, Wroblewski, Hipwell, Loeber, &Stouthamer-Loeber, 2010; Pickles, 2001) Các nghiên cứu định lượng về mối quan hệgiữa các triệu chứng và sự suy giảm cũng cho thấy hai yếu tố này có mối tương quan vớinhau ở mức độ trung bình (Allen, Lavallee, Herren, Ruhe, & Schneider, 2010; Kutash,Lynn, & Burns, 2008; Storch, 2010; Winters, Collett, & Myers, 2005)
Thứ hai, triệu chứng của rối loạn tâm thần càng nhiều thì tương quan cao với sựSGCN Những trường hợp được chứng minh có điểm đánh giá triệu chứng nằm trênngưỡng chẩn đoán sẽ có sự suy giảm đáng kể so với người có điểm đánh giá nằm dướingưỡng chẩn đoán
Thứ ba, Hai yếu tố này không phải lúc nào cũng có sự tương quan hoàn hảo với nhau
Vì thực tế, có một tỷ lệ nhất định những trẻ em có các triệu chứng của các rối loạn nhưngkhông có suy giảm chức năng Ngược lại có những trẻ em có sự hiện diện của sự suygiảm chức năng nhưng không có đáp ứng đầy đủ triệu chứng của một rối loạn (Costello,Angold, & Keeler, 1999; Ezpeleta, 2001; Pickles,2001)
Thứ 4, một số nghiên cứu trường diễn cũng đã chỉ ra, số lượng các triệu chứng và
sự suy giảm có tính dự báo độc lập cho các khó khăn của cá nhân trong tương lai(Costello, 1999; Pickles, 2001)
1.2 Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa rối loạn tâm thần và suy giảm chức năng
Một số nghiên cứu đã chỉ ra, mỗi rối loạn tâm thần cụ thể sẽ có mức độ đau khổ vàsuy giảm chức năng khác nhau Các rối loạn hướng ngoại nói trên liên quan đáng kể đến
sự suy giảm chức năng hơn là các rối loạn hướng nội bao gồm trầm cảm và lo âu(Costello & Shugart, 1992) Rối loạn hướng nội ít bị suy giảm hơn so với nhóm trẻ đápứng tiêu chí với các rối loạn hướng ngoại (Simonoff, 1997)
Tuy nhiên, trong một báo cáo khác lại cho thấy một mức độ tương quan giữa suygiảm chức năng và rối loạn tâm thần không đồng nhất với các nghiên cứu đã đề cập ởtrên Các nhà nghiên cứu cho rằng, sự không đồng nhất về mức độ tương quan có thể là
do các nghiên cứu đã sử dụng các thang đo khác nhau, có ngưỡng chẩn đoán khác nhau.Người ta đã chứng minh được sự suy giảm được nhìn thấy nhiều hơn ở mức độ dướingưỡng của các triệu chứng hành vi hơn là mức độ dưới ngưỡng của các triệu chứng cảmxúc (Costello & Shugart, 1992) Do đó, mối quan hệ chặt chẽ giữa ngưỡng chẩn đoán vớimức độ suy giảm là một trong những yết tố tạo ra sự khác biệt này Trong nghiên cứutrên trẻ vị thành niên của Pickles (2001), ngưỡng chẩn đoán cho trầm cảm mạn tính chặtchẽ với sự suy giảm chức năng hơn so với ngưỡng chẩn đoán cho rối loạn ứng xử với cácdấu hiệu suy giảm chức năng
1.3 Tổng quan mối quan hệ giữa triệu chứng của rối loạn tâm thần và sự suy giảm chức năng trong chẩn đoán lâm sàng đối với vấn đề sức khỏe tâm thần
Hai yếu tố này thường bị lẫn lộn và chồng chéo lên nhau không chỉ trong các công cụđánh giá mà cả trong các định nghĩa Các công cụ chẩn đoán chuyên nghiệp như DSM và
Trang 7ICD cũng không chỉ rõ ngưỡng của sự suy giảm là gì, vì thế việc xác định sự suy giảmhay mức độ của sự suy giảm được cho là phụ thuộc vào vào kinh nghiệm của nhà chuyênmôn và thông tin được cung cấp Luật Liên bang của Mĩ năm 1993 cho rằng: Một trẻ em(0 - 18 tuổi) được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần với điều kiện: trong nămvừa qua trẻ có một chẩn đoán phù hợp với tiêu chí của DSM hoặc một rối loạn tâm thầntương đương, có gây ra suy giảm chức năng, hoặc can thiệp hoặc làm hạn chế các vai trò
và chức năng của trẻ em ở trong gia đình nhà trường hay cộng đồng (US FederalRegister, 1993) Điều này đồng nghĩa với việc một trẻ em được hưởng chế độ chăm sóc
về SKTT thì các biểu hiện phải đáp ứng cả tiêu chí của sự suy giảm và cả triệu chứng đãđược tích hợp trong các tiêu chí chẩn đoán Hay ngay trong DSM 4 (APA, 1994), cũngvẫn thể hiện rõ về mối quan hệ đan xen của hai phạm trù này, bởi coi sự hiện diện củađau khổ, bất lực/suy giảm là không thể tách rời Khái niệm sự đau khổ, bất lực được tíchhợp trực tiếp vào các bộ tiêu chí chẩn đoán cho một số lượng lớn các phân loại chẩn đoán(Spitzer & Wakefield, 1999)
Theo xu hướng mới, phạm trù triệu chứng và sự suy giảm chức năng được tách bạch,bắt đầu được thừa nhận và đã được thể hiện rõ ràng trong định nghĩa của DSM mới nhất
Trong ấn phẩm DSM V: Một rối loạn tâm thần được định nghĩa như một hành vi hoặc triệu chứng tâm thần có ý nghĩa về mặt lâm sàng và phải liên quan đến sự đau buồn
nhất này của APA, chúng ta nhận thấy rõ, hai phạm trù là triệu chứng và suy giảm chứcnăng đang dần được tách bạch rõ ràng hơn và đây cũng là một thay đổi trong việc nhìnnhận vấn đề suy giảm chức năng một cách độc lập chứ không phải là một phạm trù bị lẫnlộn trong rối loạn tâm thần, hai khía cạnh được chú ý đến là: Một là tính chất của sự suygiảm đối với các tiêu chí chẩn đoán và hai là đánh giá sự suy giảm chức năng theo cách
mà nó không được liên quan đến mức độ nghiêm trọng của triệu chứng (Narrow & Kuhl,2011)
Bên cạnh xu hướng mới như nói trên, vẫn tồn tại quan điểm truyền thống, họ muốnsuy giảm chức năng lẫn là một trong các tiêu chí để đánh giá và chẩn đoán các RLTT
1.4 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy giảm chức năng và sức
1.4.1 Bối cảnh môi trường và gia đình
Bối cảnh môi trường là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy giảm chứcnăng của một cá nhân Các quyết định về chức năng được đưa ra trong bối cảnh có cácràng buộc của môi trường và điều này ảnh hưởng đến sự đánh giá (WHO, 2007) Một sốnghiên cứu chỉ ra, liên kết của hành vi với những đòi hỏi có tính bối cảnh mang tính dựbáo đã cho thấy sự điều chỉnh của trẻ vị thành niên tốt hơn so với các đòi hỏi mang tínhhành vi đơn lẻ (Talwar, Nitz, & Lerner, 1988; Lerner, 1993)
Bối cảnh gia đình cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng củamột cá nhân Trong thời kỳ thơ ấu của trẻ em, một trong những yếu tố ảnh hưởng của bốicảnh chính là gia đình và trong đó là sự ảnh hưởng của cha mẹ đến trẻ (WHO, 2007) Cácnghiên cứu về môi trường gia đình cũng chỉ ra: sự điều chỉnh hành vi của cha mẹ tronggia đình có thể đóng vai trò hỗ trợ hoặc củng cố cho các triệu chứng (Amir, Freshman, &Foa, 2000)
Trang 81.4.2 Phong cách làm cha mẹ
Các nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ đều đưa ra kết quả, các phong cách làmcha mẹ tích cực hay tiêu cực có ảnh hưởng nhất định đến sự SGCN ở trẻ em (e.g.,Latimer, 2003; Pressman, 2006) Rogers và cộng sự (2009) đã phát hiện ra rằng phongcách làm cha mẹ có liên quan đến sự suy giảm khả năng học tập ở trẻ em có ADHD.Nghiên cứu vai trò của các phong cách làm cha mẹ cụ thể còn chỉ ra: Phong cách cha mẹdân chủ tạo sự phát triển của năng lực xã hội, tính trách nhiệm và thành tích học tập(Baumrind, 1991), trẻ em có được sự độc lập, quyết đoán, phán đoán tốt, tự túc và tươngquan với các kết quả nhận thức và cảm xúc xã hội tích cực khác(Furnham & Cheng,2000; Klein, O'Bryant & Hopkins, 1996; Maysless, Scharf & Sholt, 2003); Nuôi dạy concái theo phong cách độc đoán dẫn đến kết quả tiêu cực ở trẻ em và thanh thiếu niên và cómối tương quan với kết quả kém lành mạnh bao gồm lòng tự trọng thấp, giảm hạnh phúc,thành công thấp và tăng sự lo lắng (Baumrind, 1966; Furnham & Cheng, 2000; Gesten, &SantaLucia, 2000; Wolfradt, Hempel, & Miles, 2003); Phong cách nuôi dạy con cáinuông chiều có thể gây ra hành vi có vấn đề ở trẻ em (Baumrind, 1996; Joshi et al.,2009); Phong cách cha mẹ bỏ bê có thể gây ra các suy giảm về chức năng liên cá nhân vàhọc tập như vấn đề phạm pháp, khó khăn kỷ luật học đường và sau đó dẫn đến hành vi tộiphạm ở trẻ em (Kendall-Tackett, & Eckenrode, 1996; Steinberg, 1994; Widom, 1998),thái độ thiếu tôn trọng, vô đạo đức, hung hăng và bạo lực (Steinberg, 2006)
họ có mức độ căng thẳng, trầm cảm, lo âu, bỏ học và nguy cơ gặp phải các vấn đề xã hộikhác… cao hơn nhóm người bản địa (Dinh, 2012; Liebkind et al., 1996; Dinh, Weinstein,Kim, & Ho, 2008; Portes & Rumbaut, 2006; Uy, 2008)
1.4.4 Sự phát triển
Sự suy giảm về chức năng có thể khác nhau ở các giai đoạn phát triển khác nhau
và mức độ phổ biến của một RLTT thay đổi theo sự phát triển hoặc độ tuổi của trẻ từ khicòn nhỏ (Costello, 2005, Wakschlag, 2007) Tuy nhiên việc chỉ ra sự sự suy giảm trongnhững năm đầu đời ở trẻ em là một thách thức bởi nó có thể bị lẫn lộn bởi các yếu tố chủquan khác do thông tin khai báo chỉ dựa trên thông tin của cha mẹ hoặc người chăm sóc,trong khi đánh giá SGCN ở trẻ em lớn hơn thì thông tin bao gồm cả sự khai báo của trẻ…
vì thế rất khó để so sánh ở khía cạnh sự suy giảm với nhau về mặt lứa tuổi và sự pháttriển (Egger & Angold, 2006)
1.4.5 Giới tính
Mức độ SGCN được cho là có sự khác nhau về giới tính khi nghiên cứu trên nhómmẫu cộng đồng, nhưng lại không nhận thấy khác nhau trên nhóm mẫu lâm sàng
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Suy giảm chức năng
Trang 92.1.1 Thuật ngữ và khái niệm về suy giảm chức năng
2.1.1.1 Thuật ngữ
Mặc dù khác nhau nhưng cả hai thuật ngữ này đều được sử dụng để mô tả sự thiếuvắng các năng lực cần thiết của một cá nhân trong các bối cảnh cần thiết của cuộc sống.DSM sử dụng thuật ngữ Fuctoinal Impairment trong khi ICD sử dụng thuật ngữDisability
2.1.1.2 Khái niệm khuyết tật, suy giảm và suy giảm chức năng
- Khái niệm về sự khuyết tật
Khuyết tật là bất kỳ tình trạng nào của cơ thể hoặc tâm trí gây ra sự khó khăn hơn cho một người khi cần thực hiện một số hoạt động và tương tác với thế giới xung quanh (WHO, 2011).
- Khái niệm về sự suy giảm, chức năng và suy giảm chức năng
Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (2008) định nghĩa: sự suy giảm như một sự sai lệch, mất mát đáng kể hoặc sự thiếu hụt về năng lực sử dụng cấu trúc cơ thể hoặc chức năng của một
cá nhân trong một tình trạng sức khỏe, rối loạn hoặc bệnh tật.
Chúng tôi đề xuất khái niệm về suy giảm chức năng trong luận án này “Là sự giảm sút của các chức năng tới mức cá nhân đó không thể đáp ứng được các đòi hỏi của các môi trường sống khác nhau như: gia đình, nhà trường, cộng đồng, cũng như khả năng vui chơi với bạn bè cùng trang lứa, từ đó gây ra sự rối loạn trong chức năng, làm giảm chất lượng cuộc sống và có thể gây ra vấn đề về sức khỏe tâm thần cho cá nhân đó”.
2.1.2.Tỷ lệ suy giảm chức năng
2.1.2.1 Tỷ lệ suy giảm chức năng trên nhóm trẻ em
Nghiên cứu về tỷ lệ suy giảm trên nhóm trẻ em Việt Nam chỉ ra có 20% và tỷ lệ
suy giảm sẽ tăng rất cao trong nhóm trẻ em có vấn đề về sức khỏe tâm thần và tỷ lên này
tương tự ở các nước khác (Minh, Weiss, Trung, 2015)
2.1.2.2 Tỷ lệ suy giảm trên nhóm mẫu lâm sàng
Tỷ lệ suy giảm chức năng trên nhóm mẫu lâm sàng cao hơn so với nhóm mẫucộng đồng và có khác nhau trên từng rối loạn
2.1.3.Công cụ đánh giá sự suy giảm chức năng
- Nhóm các thang đo tổng thể về suy giảm (Global Scales of Impairment)
- Nhóm các thang đo lĩnh vực cụ thể hay thang đo đa lĩnh vực (Domain-Specific or
2.1.4.1 Người cung cấp thông tin, tuổi, giới tính và chủng tộc
Sự bất đồng giữa những người cung cấp thông tin cũng được báo cáo trong cácnghiên cứu là khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của sự suy giảm, giới tính, tuổicủa trẻ và chủng tộc của người tham gia (Ezpeleta & cs et al., 2001; Wille & cs et al.,2008) Điều này có nghĩa là, cùng một đối tượng nhưng những nguồn tin khác khau sẽbáo cáo khác nhau về đối tượng Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác nhau về
Trang 10nhận thức, văn hóa, và giới tính… của người cung cấp tin hoặc của chính trẻ trong trườnghợp tự báo cáo.
2.1.4.2 Tác động của văn hóa và bối cảnh đến việc đo lường suy giảm chức năng
Yếu tố văn hóa có ảnh hướng đến đánh giá suy giảm chức năng do có sự địnhkiến khác nhau giữa các nền văn hóa
2.1.5 Suy giảm chức năng ở học sinh THCS và THPT
Học sinh có các rối loạn tâm thần như trầm cảm, OCD, rối loạn lưỡng cực,ADHD và các rối loạn tâm thần khác phần lớn % có suy giảm chức năng và có tỷ lệ họcsinh có suy giảm chức năng mà không có rối loạn tâm thần kèm theo
2.2 Sức khỏe tâm thần
2.2.1 Khái niệm vấn đề sức khỏe và sức khỏe tâm thần.
2.2.1.1 Khái niệm về sức khỏe
Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tâm thần và xã hội,không đơn thuần chỉ là không có bệnh hoặc sự ốm yếu nào (WHO, 1948)
2.2.1.2 Khái niệm sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần
- Khái niệm về sức khỏe tâm thần
Sức khỏe tâm thần là một trạng thái khỏe mạnh trong đó các cá nhân nhận ranhững khả năng của mình, có thể đối phó được với những căng thẳng bình thường củacuộc sống, có thể làm việc một cách hiệu quả và hoàn thiện, và có thể tạo ra những đónggóp vào cộng đồng của mình (WHO, 2004)
Sức khỏe tâm thần là trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểuhiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho việc điều khiển hành vi, hoạt độngphù hợp với môi trường" (Vũ Dũng, 2008)
- Khái niệm về rối loạn tâm thần
Theo DSM : “Rối loạn tâm thần là một hội chứng đặc trưng bởi sự rối loạn một cách đáng kể về mặt lâm sàng trong nhận thức, điều tiết cảm xúc, hoặc hành vi của một
cá nhân mà nó phản ánh sự rối loạn về chức năng trong quá trình tâm lý, sinh lý và phát triển”
Theo quan điểm của WHO: “Rối loạn tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng, với nhiều triệu chứng phong phú Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp của những suy nghĩ, cảm xúc lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc, ví dụ như trầm cảm, lo âu, căng thẳng, chậm phát triển
và những rối loạn liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiện”
2.2.2 Các yếu tố nguy cơ của các vấn đề sức khỏe tâm thần
- Sinh học
- Bệnh mãn tĩnh
- Yếu tố sử dụng thuốc
- Môi trường
2.2.3.Tỷ lệ về vấn đề sức khỏe tâm thần trong cộng đồng
Rối loạn tâm thần được xem là một vấn đề phổ biến Trên toàn thế giới, hơn 1/3dân số ở hầu hết các quốc gia có báo cáo đã từng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cho ít nhấtmột rối loạn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ (WHO, 2020) 46% dân sốđáp ứng cho một bệnh tâm thần ở một vài thời điểm của cuộc đời (Kessler & cs, 2005)
Trang 11Tỷ lệ về các rối loạn cụ thể thay đổi theo khu vực (Demyttenaere & cs et al., 2004) Tỷ lệrối loạn ở các quốc gia khác nhau có khác nhau và cho một tỷ lệ trung bình là 16,6%,và
tỷ lệ của các loại rối loạn tâm thần là khác nhau Nữ giới có tỷ lệ trầm cảm và lo âu hơn
nam giới (Somers & cs., 2006)
Trẻ em cũng có một tỷ lệ nhất định đối với các Rối loạn tâm thần và tỷ lệ về rốiloạn tâm thần có xu hướng tăng lên Tỷ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ em trước tuổi đi học là7%, khoảng 10% trẻ em trong độ tuổi 1-2 tuổi Trầm cảm trong nhóm trẻ từ 6-7 tuổi tăng
từ 4,7% (2007) – 4,9% (2012).R ối loạn lo âu tăng từ 5,5% (2007) – 6,4% năm 2012(Bitsko & cs., 2018) Các rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em RL hành vi, ADHD,trầm cảm và lo âu (Ghandour & cs., 2018)
2.3 Phong cách làm cha mẹ
2.3.1 Khái niệm về phong cách làm cha mẹ
Theo Baumrind “Phong cách làm cha mẹ được khái niệm như một nhóm thái độ hoặc một khuôn mẫu quyền hạn của cha mẹ đối với đứa trẻ được truyền tải cho đứa trẻ, tạo ra bối cảnh cảm xúc cho việc thể hiện hành vi của cha mẹ (Baumrind, 1971) Darling
và Steinberg (1993) định nghĩa phong cách làm cha mẹ “là một nhóm thái độ đối với trẻ
em và nó được giao tiếp với trẻ em để làm việc cùng nhau, tạo ra bầu không khí cảm xúc
mà trong đó hành vi của cha mẹ được thể hiện”
2.3.1 Các phong cách làm cha mẹ và ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến sự
và hành vi của trẻ em
2.3.2 Yếu tố văn hóa trong việc nuôi dạy con cái
Phong cách làm cha mẹ trong nuôi dạy con cái có sự khác biệt giữa các nền vănhóa (Keels, 2009; Paulussen - Hoogeboom, Stams, Hermanns, Peetsma, &Wittenboer,2008) Người ta cũng tìm thấy, yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến tác động của các phongcách làm cha mẹ đến tâm lý của trẻ do tương tác giữa cha mẹ với con cái gắn liền với môitrường văn hóa (Keshavarz & Baharudin, 2009) và do đó kết quả đối với sự phát triển củacon cái có thể khác nhau Phong cách làm cha mẹ đã được tìm thấy là khác nhau giữa vănhóa tập thể và văn hóa cá nhân bởi vì mục tiêu nuôi dạy của cha mẹ khác nhau ở hai kiểuvăn hóa (Darling & Steinberg, 1993; Markus & Kitayama, 1991) Tác động phong cáchlàm cha mẹ đến vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em được tìm thấy là có sự ảnh hưởngđáng kể của yếu tố văn hóa
2.4 Một số đặc điểm và sự thay đổi tâm sinh lý ở lứa tuổi học sinh phổ thông
2.4.1 Đặc điểm thể chất
Trang 12Các đặc điểm nổi bật về sự thay đổi của cơ thể, sự dậy thì và não bộ ở học sinhphổ thông.
2.4.2 Đặc điểm tâm lý
Các đặc điểm nổi bật của tâm lý về đạo đức, trí tuệ, cảm xúc ở học sinh phổ thông
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
3.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện tại 3 trường THCS và 3 trường THPT thuộc 3 quận nộithành thành phố Hà Nội: Cầu Giấy, Đống Đa và Thanh Xuân; 3 Trường THCS và THPThuyện Đông Anh khu vực ngoại thành Hà Nội
3.1.2 Khách thể nghiên cứu
Tổng mẫu: 314 học sinh khối THCS và THPT, 314 phụ huynh cung cấp thông tin
về khách thể nghiên cứu
3.2 Tổ chức nghiên cứu
Luận án được thực hiện theo 4 giai đoạn:
3.2.1 Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu, viết tổng quan suy giảm chức năng
Nghiên cứu, viết cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
3.2.2 Giai đoạn 2: Lựa chọn và thích nghi thang đo
Tìm kiếm, đánh giá độ hiệu lực của thang đo, thích nghi thang đo: CBCL, BIS,CRPBI
3.2.3 Giai đoạn 3: Tổ chức thu thập số liệu theo 3 pha
Liên lạc, tìm kiếm, lựa chọn khách thể, thu thập số liệu theo lịch hẹn
3.2.4 Giai đoạn 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Xử lý làm sạch, phân tích số liệu phục vụ cho giả thiết, mục đích nghiên cứu
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp tài liệu về chủ đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đềtài
3.3.2 Nghiên cứu thực tiễn
Thu thập số liệu qua bảng hỏi và xử dụng phép toán thống kê để phân tích số liệu
3.3.2.1 Chọn mẫu nghiên cứu
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 1:Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trang 13Nhóm tuổi THCS (12-15 tuổi)
154 49.0THPT (16-18 tuổi) 160 51.0
- Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lựa chọn ngẫu nhiên học sinh tham gia nghiên cứu.
- Gửi thư mời tham gia nghiên cứu đến phụ huynh, họp nhóm phụ huynh trước khi lấy
số liệu(lần 1)
- Gửi thư nhắc nhà trường, giáo viên và phụ huynh 10 ngày trước khi lấy số liệu các đợt
tiếp theo
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu
3.2.3.1 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thống kê toán học
3.2.3.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận theo quan điểm phát triển
- Tiếp cận theo quan điểm nhận thức
- Tiếp cận theo quan điểm hoạt động
3.2.4 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ các quy tắc về đạo đức trong nghiên cứu như: tính tự nguyện,thuận lợi và rủi ro của người tham gia nghiên cứu được chúng tôi xem xét cẩn thận Tínhbảo mật về thông tin và đảm bảo về tính sở hữu trí tuệ trong quá trình thu thập dữ liệu