1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ TIÊU SỢI HUYẾT CHO BỆNHNHÂN KẸT VAN HAI LÁ NHÂN TẠO CƠ HỌC DO HUYẾT KHỐITẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI. Ths. Bs NGUYỄN XUÂN TUẤN. Ths.Bs NGÔ CHÍ HIẾU

32 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 364,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bệnh nhân huyết khối VNTCH đến viện sẽ có ba biện pháp xử lý:điều trị thuốc chống đông Heparin, điều trị thuốc tiêu sợi huyết hoặc phẫu thuật.. Bước đầu đánh giá hiệu quả của việc

Trang 1

SỞ Y TẾ HÀ NỘI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI *

Đề tài nghiên cứu

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ TIÊU SỢI HUYẾT CHO BỆNH NHÂN KẸT VAN HAI LÁ NHÂN TẠO CƠ HỌC DO HUYẾT KHỐI

TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI

Người thực hiện đề tài:

Ths Bs NGUYỄN XUÂN TUẤN

Ths.Bs NGÔ CHÍ HIẾU

Hà Nội 2010

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HHoHL: Hẹp hở hai lá

VNTSH: Van nhân tạo sinh học

VNTCH: Van nhân tạo cơ học

VHLNTCH: Van hai lá nhân tạo cơ học

NYHA: Hội tim mạch New York (New York Heart Association)HATT: Huyết áp tâm thu

HATTr: Huyết áp tâm trương

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thay van tim được chỉ định cho bệnh nhân có tổn thương van tự nhiên nặng nề gây ảnh hưởng đến chức năng cơ tim

Hai loại van được sử dụng để thay là: Van nhân tạo sinh học (VNTSH)

và Van nhân tạo cơ học (VNTCH)

Có 3 loại chính của VNTCH là: van bi lồng, van đĩa nghiêng và Van hai cánh van, trong đó loại van có 2 cánh van được dùng phổ biến ở trên thế

giới cũng như Việt Nam dựa trên những ưu điểm về huyết động của mình như: chênh áp qua van và tỷ lệ hình thành huyết khối bám van thấp

Dù VNTCH đã được cải tiến nhiều, trên lâm sàng chúng tôi vẫn hay gặp bệnh nhân bị huyết khối VNTCH, mà chủ yếu là rơi vào Van hai lá nhân tạo

cơ học (VHLNTCH)

Những bệnh nhân huyết khối VNTCH đến viện sẽ có ba biện pháp xử lý:điều trị thuốc chống đông (Heparin), điều trị thuốc tiêu sợi huyết hoặc phẫu thuật Trong đó biện pháp dùng thuốc tiêu sợi huyết ngày nay được coi như

là một biện pháp mới thay thế cho phẫu thuật lấy huyết khối truyền thống và

có hiệu quả cao [9][17][3]

Viện Tim Thành Phố Hồ Chí Minh đã áp dụng biện pháp dùng thuốc tiêusợi huyết điều trị cho các bệnh nhân huyết khối VCHNT (nhóm có chỉ định dùng thuốc)

Tại Viện tim Hà Nội, chúng tôi đã bắt đầu điều trị cho bệnh nhân mắc huyết khối van hai lá nhân tạo cơ học (VHLNTCH) và cũng thu được nhữngkết quả nhất định

Chính vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của việc dùng thuốc tiêu sợi huyết cho bệnh nhân huyết khối VHLNTCH với mục tiêu sau:

Trang 4

1 Bước đầu đánh giá hiệu quả của việc dùng thuốc tiêu sợi huyết trên bệnh nhân kẹt van hai lá nhân tạo do huyết khối.

2 Nhận xét một số Biến chứng và tác dụng phụ nếu có của thuốc tiêu sợi huyết trên bệnh nhân

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Trang 5

1.1 Phân loại van nhân tạo cơ học

VNTCH bao gồm ba thế hệ khác nhau: van bi lồng (caged-ball

valve), van có một cánh van (van đĩa nghiêng-titling disc), van có hai cánh van (bileafllet valve).

1.1.1 Van bi có lồng (caged-ball valve):

Năm 1960 một van tương tự được phát minh ra bởi Mille Lowel Edwards and Albert Starr, van này sau được cấy ngày 21 tháng 06

năm 1960 Van Starr-Edwards được ngừng sản xuất 2007

Ưu điểm: van thiết kế đơn giản, chênh áp thấp.

Nhược điểm: Đây là thế hệ van có tỷ lệ tạo thành huyết khối bám van

cao nhất, chúng cần được dùng chống đông với liều cao để tránh huyết khối (INR= 3.5-4.5) Với tỷ lệ này nguy cơ chảy máu cũng tăng lên Tỷ lệ thiếu máu do tan máu mức độ nhẹ cũng cao hơn các loại van khác

Starr-Edwards Silastic ball valve mitral Model 6120

1.1.2 Van có một cánh van (tilting disc valve):

Trang 6

Nó được ra đời năm 1969 dưới cái tên Bjork-Shiley, kể từ khi ra đời

nó đã được cải tiến và thay đổi nhiều lần Metronic-hall modern là mẫu được sử dụng nhiều nhất tại Mỹ

Ưu điểm: Chênh áp thấp, tỷ lệ huyết khối bám van thấp hơn van bi

lồng

Nhược điểm: dòng máu qua van chưa được sinh lý nhất, tỷ lệ tạo

huyết khối bám van cao hơn van có hai cánh van, diện tích lỗ van cũng nhỏ hơn van hai cánh

Medtronic Hall mitral valve

1.1.3 Van có hai cánh van (bileaflet valve):

Ra đời: van được thiết kế và giới thiệu năm 1979, càng ngày nó càng

được sử dụng nhiều hơn do tồn tại các ưu điểm của thế hệ van này Hai loại van hay được sử dụng là: St jude Medical, Sorin

Ưu điểm: dòng chảy qua van sinh lý hơn các thế hệ van bi lồng và

van đĩa nghiêng Một trong những ưu điểm lớn nữa của thế hệ van này

là được cơ thể dung nạp tốt, sử dụng thuốc chống đông với liều nhỏ nhất có thể chống được huyết khối bám van Ngoài ra diện tích lỗ van

Trang 7

khi mở lớn hơn diện tích của van đĩa nghiêng (2.4 - 3.2 cm2 so với 1.5-2.1 cm2).

Nhược điểm: hiện thế hệ van này có nhiều ưu điểm nhất so với các

thế hệ van khác, tuy nhiên nó cũng không được coi là van lý tưởng vì

nó dễ gây ảnh hưởng đến dòng chảy ngược

St Jude Medical mechanical heart valve Photograph courtesy of St.

Jude Medical 1.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân bị huyết khối

VHLNTCH[11]

Tỷ lệ bệnh nhân mắc huyết khối VHLNTCH khoảng 2-4% mỗi năm

1.2.1 Triệu chứng cơ năng: Bệnh nhân được xếp vào 4 nhóm trên lâm sàng

Nhóm 1: bao gồm bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng thầm nặng,

được chấn đoán bằng siêu âm tim qua thực quản do các lý do lâm sàng khác

Nhóm 2: bao gồm bệnh nhân có biểu hiện đột quỵ , tai biến mạch máu

não thoáng hay tắc mạch ngoại biên do huyết khối

Nhóm 3: bao gồm những bệnh nhân có triệu chứng có rối loạn huyết

động và bằng chứng của kẹt van hai lá cơ học: nhóm này phổ biến nhất trên lâm sàng

Trang 8

Nhóm 4: bao gồm những bệnh nhân có cả biểu hiện tắc mạch máu và

biểu hiện rối loạn huyết động cũng như bằng chứng của kẹt van trên lâm sàng

Nhìn chung bệnh nhân nhóm 1,2 có triệu chứng cơ năng nhẹ, thường khó thở mức độ NYHA1,2 (New York Heart Association), ở 2 nhóm còn lại các triệu chứng khở thở nặng hơn NYHA3,4 Các triệu chứng ở nhóm 3,4 cóthể được biết đến như sau:

Khó thở: bệnh nhân sau khi thay van tim về mức khó thở giảm đi, nay

đột nhiên cảm thấy khó thở tăng dần, tiến triển nhanh, mức độ gắng sức giảm hẳn đi có thể phải đi cấp cứu nếu tiến triển nặng nhanh dần

Hồi hộp: cùng với khó thở bệnh nhân cảm giác tim đập nhanh hơn,

Tiếng van: với van cơ học sau khi thay van về bệnh nhân có thể cảm

nhận được tiếng van đập về cường độ và âm sắc, khi kẹt van xảy ra do hyết khối bệnh nhân cảm giác cường độ giảm và âm sắc thay đổi

Các triệu chứng của tai biến mạch máu não: có thể gặp cả nhồi máu não (do cục huyết khối ở van bắn đi) hoặc xuất huyết não do rối loạn đông máu thứ phát Các triệu chứng như liệt, tê nửa người, nói ngọng có thể gặp Nặng nhất là hôn mê sâu

Các triệu chứng của tắc mạch ngoại biên: tắc mạch chi dưới gây đau chi và thiếu máu (lạnh, sờ vào đau), ngoài ra tắc mạch thận, mạc treo cũng

có thể gặp

1.2.2 Các triệu chứng khi thăm khám

Trang 9

Nghe tim: có thể thấy tiếng van mờ hoặc không nghe thấy tiếng van

đập, thổi tâm thu ở vị trí của van đã thay Tiếng T2 mạnh ở đáy, tim đập nhanh và loạn nhịp hoàn toàn Nếu phù phổi có thể nghe thấy ran ẩm

Khám thần kinh: phát hiện các triệu chứng của tai biến mạch máu

não: liệt, yếu chi, đồng tử giãn

Bắt mạch ngoại biên: phát hiện tắc mạch chi

1.3 Các biểu hiện trên Cận lâm sàng[11]

1.3.1 Các thăm dò về hình ảnh và chức năng

Soi bằng tia X: xem sự di động và đóng mở của đĩa van.

Siêu âm tim qua thành ngực: đánh giá chênh áp qua van (cần so

sánh với siêu âm gần nhất trước đó), hoạt động của lá van: kẹt một hay hai cánh van, tư thế kẹt là đóng hay mở, có thể nhìn được tổ chức huyết khối bám vào van gây kẹt van, qua đó đo kích thước của khối này Trong trường hợp không nhìn rõ huyết khối hoặc cần phân biệt huyết khối với màng viêm (pannus) hoặc khối sùi trong viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn chúng ta cần trợ giúp của siêu âm tim qua thực quản

Siêu âm tim qua thực quản (TEE: Transeophageal

echocardiography): trợ giúp cho siêu âm qua thành ngực (TTE: transthoracicechocardiography) trong việc chẩn đoán xác định huyết khối van nhân tạo cơhọc và chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác gây chênh áp qua van Ngoài ra trên siêu âm qua thực quản chúng ta có thể đo kích thước cục huyếtkhối bám van Trong trường hợp cần thiết thì siêu âm thực quản 3D sẽ tốt hơn trong việc xác định kẹt van do pannus (màng viêm) hay do huyết khối

CT-scanner (chụp cắt lớp vi tính): góp phần chẩn đoán trường hợp

huyết khối lan vào nhĩ, bệnh nhân có tai biến mạch máu não thì chụp chẩn đoán vùng tổn thương trên não là nhồi máu hay xuất huyết

Trang 10

Ngoài ra cần chụp XQ tim phổi xem có hình ảnh ứ huyết phổi, mờ phổi hình cánh bướm 2 bên trong phù phổi cấp Làm điện tâm đồ xem tần sốtim, dày các buồng tim

1.3.2 Các xét nghiệm máu: Các XN cần làm bao gồm

+ PT (prothrombin time) and INR (international normalized ratios): 2 xét nghiệm này là cần thiết và nó cần được so với các chỉ số trước đó, nếu chỉ số INR thấp hơn so với mục tiêu điều trị thì nó cũng có giá trị gợi ý nghĩ đến huyết khối VHLCHNT

+ Trong bệnh nhân sốt thì nên cấy máu: vì bệnh nhân có thể bị Osler + XN: Công thức máu, tiểu cầu, aPTT (activated partial

thromboplastin time), fibrinogen và D-Dimer giống như xét nghiệm thường quy, vì có thể chúng ta phải dùng Heparin hoặc thuốc tiêu sợi huyết Hơn nữa nếu phải phẩu thuật thì cũng cần các xét nghiệm này

1.4 Chẩn đoán xác định:

Lâm sàng: sau thay van về ổn định nay đột ngột có biểu hiện suy tim

nặng lên diễn biến nhanh: ho khi nằm, khó thở tăng nhanh, mệt nhiều và giảm khả năng gắng sức, tiếng van đập mờ hơn ngày thường, có thể bỏ thuốc chống đông hoặc trên một bệnh nhân dùng liều chống đông không đạt

Cận lâm sàng: siêu âm tim có tăng chênh áp qua van hai lá, kẹt lá van

Siêu âm tim qua thực quả giúp chẩn đoán xác định huyết khối van hai lá cũng như đo kích thước cục huyết khối

1.5 Chẩn đoán phân biệt giữa kẹt van do huyết khối và do màng viêm (pannus)[5]

Việc chẩn đoán phân biệt giữa huyết khối và màng viêm trong bệnh nhân mang VHLNTCH là rất quan trọng vì nó có liên quan đến việc quyết định điều trị cho bệnh nhân Nếu là huyết khối thì có thể dùng thuốc tiêu sợi

Trang 11

huyết để giải quyết, còn nếu là màng viêm gây kẹt van thì sẽ phải phẫu thuật Chúng ta có thể dựa vào các đặc điểm chính sau để phân biệt

Lâm sàng: Các đặc điểm giống nhau trên lâm sàng như: mức độ khó

thở không khác nhau, tuổi cũng không có sự khác biệt Tuy nhiên những đặcđiểm sau có thể gợi ý giúp ta nghĩ đến bệnh nhân bị huyết khối VHLCHNT: Thời gian từ khi bệnh nhân bắt đầu xuất hiện triệu chứng đến lúc phải mổ của bệnh nhân huyết khối van trung bình là 9 ngày (từ 3-15 ngày), trong khimàng viêm lâu hơn nhiều, trung bình 305 ngày (305 ± 234 ngày) Thời gian

từ lúc thay van đến khi bệnh nhân xuất hiện huyết khối van trung bình là 62 tháng (62 ± 57 tháng) ngắn hơn màng viêm là 178 tháng (178 ± 52 tháng) Cũng có một đặc điểm quan trọng cần lưu ý là tỷ lệ người uống thuốc chống đông đầy đủ trong nhóm huyết khối thấp hơn hẳn nhóm màng viêm (21% so với 89%) trong một nghiên cứu []

Trên siêu âm qua thành ngực: Nhìn chung trên siêu qua thành ngực

khó đánh giá chuyển động của cánh van cũng như nguyên nhân gây kẹt van hai lá Chỉ có một điểm gợi ý là chênh áp trung bình qua van bị huyết khối bám cao hơn do màng viêm 19 ± 5 mmHg so với 11 ± 2 mmHg) []

Siêu âm qua thực quản: một số đặc điểm khác biệt giúp ta chẩn đoán

nguyên nhân như sau:

Về hoạt động bất thường của van: theo nghiên cứu của John

Barbetseas [5], trong trường hợp bị huyết khối bám van nhân tạo thì 100%

là có hoạt động cánh van bất thường, trong khi của màng viêm chỉ là 60% Chu vi của khối huyết khối dài hơn (2.8 ± 2.47 cm so với 1.17 ± 0.43 cm),

mở rộng của khối huyết khối sang nhĩ trái gặp trong 43% các trường hợp trong khi màng viêm không có bệnh nhân nào Đậm độ của huyết khối trên siêu âm mềm hơn so với màng viêm, có mức đậm âm bằng cơ tim và tỷ lệ

Trang 12

bệnh nhân có đậm độ mềm trong bệnh nhân huyết khối là 92% so với màng viêm chỉ là 21%.

1.6 Điều trị huyết khối VHLNTCH [11],[7],[2],[17],[12]

1.6.1 Chỉ định điều trị huyết khối VHLCHNT

Về điều trị có 3 phương pháp điều trị cho một bệnh nhân có huyết khối VHLCHNT theo guideline của trường môn tim mạch Hoa kỳ như sau:

+ Các trường hợp kẹt van hai lá do pannus (màng viêm)

- Chỉ định điêu trị tiêu sợi huyết:

+ Cho bệnh nhân nặng, khó thở NYHA (3,4) có nguy cơ cao khi phẫu

thuật

+ Kích thước của huyết khối từ 5-10mm (<0.8 cm2), không di động + cho bệnh nhân có huyết khối nhỏ , khó thở nhẹ NYHA 1,2 mà điều trị bằng Heparin liệu pháp thất bại

- Điều trị thuốc chống đông:

+ Trong trường hợp huyết khối nhỏ hơn 5 mm, không có kẹt van với

biểu hiện lâm sàng NYHA 1,2, chúng ta có thể điều trị bằng Heparin truyền tĩnh mạch trong vòng 48 giờ, nếu theo dõi bằng siêu âm không có cải thiện

Trang 13

thì chuyển sang dạng tiêm dưới da mỗi 12 giờ, kết hợp với Wafarin (INR từ 2.5-3.5) trong vòng 1-3 tháng (bệnh nhân ngoại trú), chờ tiêu huyết khối nội sinh.

+ Trong trường hợp điều trị tiêu sợi huyết thành công một phần (partial successful), chúng ta có thể dùng Heparin tiêm dưới da (aPTT từ 50s-80s) kết hợp với Wafarin (INR 2.5-3.5) trong vòng 3 tháng

- Quan điểm mới hiện nay về thuốc điều trị tiêu huyết khối: Với phẫu

thuật điều trị huyết khối VHLNTCH tỷ lệ tử vong có thể chạm tới 69% tùy thuộc vào mức độ khó thở và nhu cầu cần phẫu thuật cấp cứu Thuốc tiêu sợihuyết là một liệu pháp thay thế, với khoảng 84% là thành công và tỷ lệ biến chứng thấp (đột quỵ 9%, tử vong 5%) Bên cạnh chống chỉ định kinh điển trên lâm sàng thì không có chống chỉ định tuyệt đối của thuốc tiêu sợi huyết trong các trường hợp: huyết khối lớn, có thai, hay xuất hiện sớm sau phẫu thuật) Vì vậy thuốc tiêu sợi huyết được khuyến cáo là liệu pháp đầu tiên nếukhông có chống chỉ định, phẫu thuật chỉ dành cho những ca có chống chỉ định của thuốc tiêu sợi huyết hoặc điều trị thuốc này không có hiệu quả, việcdùng tiêu sợi huyết không phụ thuộc vào mức NYHA của bệnh nhân

Heparin giành cho các ca huyết khối nhỏ (< 5 mm) mà không có kẹt van

1.6.2 Các trường hợp chống chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết

- Chống chỉ định tuyệt đối:

+ Đang chảy máu tạng

+ Tiền sử chảy máu não

+ Chấn thương đầu mới sảy ra hay u não

Trang 14

+ Vết chọc mạch máu ở nơi khó ép trong vòng 10 ngày

+ Tai biến mạch máu não không xuất huyêt trong vòng 2 tháng

+ Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

+ Tăng huyết áp nặng không kiểm soát được

+ Huyết khối lớn trên nhĩ trái hay trên vật liệu nhân tạo

+ Phẫu thuật lớn hoặc chấn thương trong vòng hai tuần

+ Trước đây có phơi nhiễm với streptokinae hay APSC = anistreplase

1.6.3 Các loại thuốc tiêu sợi huyết, thời gian sử dụng và theo dõi điều trị

- Thuốc dùng phổ biến nhất trong kẹt van hai lá là streptokinase (SK) and urokinase (UK), các số liệu cho thấy sự thành công của hai thuốc này là như nhau Bệnh nhân dị ứng với SK hoặc phơi nhiễm với nó trước đây thì nên dùng UK Khuyến cáo liều của SK là 250.000 UI-500.000 UI truyền tĩnh mạch trong vòng 30 phút, sau đó là 100.000-150.000 UI mỗi giờ UK được cho là 4.400 UI mỗi kg cân nặng một giờ Việc sử dụng thuốc tiêu sợi huyết đặc hiệu (rt-PA: recombinant tissue-type plasminogen activator) cũng đã được báo cáo nhưng kết quả không hơn SK và UK, ngược lại giá cả đắt hơn,thậm chí tăng nguy cơ về đột quỵ

- Thời gian của dùng thuốc tiêu sợi huyết phụ thuộc sự cải thiện huyết động

và sự biến mất của huyết khối trong các trường hợp có kẹt van, siêu âm doppler tim mỗi 2-3 giờ được khuyến cáo để đánh giá chênh áp và hoạt độngcủa van Nếu pháp tiêu sợi huyết được ngừng nếu chênh áp qua van hoặc diện tích van về gần bình thường hoặc bình thường Trong trường hợp huyết khối không gây ra tắc nghẽn hay chênh áp thì siêu âm tim qua thực quản được khuyến cáo thực hiện để theo dõi điều trị Siêu âm qua thực quản nên được thực hiên sau 24 giờ điều trị, nếu huyết khối vẫn còn biểu hiện thì nên lặp lại siêu âm sau 48, 72 giờ nếu cần thiết khoảng thởi gian điều trị thuốc tiêu sợi huyết khác nhau từ 2-120 giờ Liệu pháp nên được dừng lại nếu sau

Trang 15

24h hoặc sau 72h không có cải thiện về huyết động, thậm chí không cải thiện hoàn toàn Nếu D-dimer, aPTT không tăng và fibrinogen không giảm sau 24 giờ điều trị tiêu sợi huyết (bằng chứng của thất bại với liệu pháp tiêu sợi huyết) thì cũng nên dừng lại không truyền nữa Nếu liệu pháp tiêu sợi huyết thất bại thì phẫu thuật có thể thực hiện sau khi ngừng thuốc 24h, hoặc

2 giờ sau khi trung hòa thuốc

1.6.4 Biến chứng của dùng thuốc tiêu sợi huyết và điều trị biến chứng

- Sự tắc mạch ngoại biên: liệu pháp tiêu sợi huyết và chống đông nên được

tiếp tục bất chấp tình trạng huyết động thế nào để phân giải cục tắc Nếu triệu chứng tồn tại dai dẳng và nặng cần được điều trị bằng phẫu thuật

- Tắc mạch não: triệu chứng lâm sàng có thể được cải thiện trong vòng 3

tháng nếu nhóm tắc mạch não do nhồi máu não kích thước nhỏ hoặc không nhìn thấy ổ nhồi máu trên phim CT scanner được dùng thuốc tiêu sợi huyết sớm Bệnh nhân được dùng rt-PA trong vòng 3 giờ kể từ khi bắt đầu xuất hiện triệu chứng và kéo dài trong 1 giờ Liệu pháp này nên được dừng nếu các triệu chứng của đột quỵ tiến triển xấu Một phim CT nên được chụp để loại trừ xuất huyết não Nếu không xuất huyết chúng ta có thể dùng tiếp thuốc chống đông

- Chảy máu: Chảy máu nhỏ hay sảy ra ở vết rạch da hay vết chọc, ép sẽ

giúp kiểm soát được Nếu chảy máu nặng sảy ra: chảy máu não, dạ dày, chảytrong ổ bụng thì phải dừng ngay lập tức thuốc tiêu sợi huyết, truyền plasmatươi và các yếu tố đông máu cho bệnh nhân

1.6.5 Điều trị thuốc chống đông

- Trong suốt quá trình điều trị thuốc tiêu sợi huyết thì không cần dùng thuốc chống đông Khi kết thúc liệu pháp tiêu sợi huyêt, Heparin được dùng sao cho aPTT đạt 1.5-2 lần mức bình thường (55-80s) Xét nghiệm aPTT mỗi 6h

Trang 16

để điều chỉnh liều Heparin, sau đó gối thuốc chống đông Wafarin (INR 3.5)

2.5 Aspegic được dùng phối hợp thuốc chống đông sau khi liệu pháp thành công

Ngày đăng: 13/03/2021, 00:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Auristena I.O. Ramous and et (2003)," Fibrinolytic therapy for thrombosis in cardiac valvular prothesis short and long term results", Arq. Bras. Cardiol, 81(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fibrinolytic therapy for thrombosis in cardiac valvular prothesis short and long term results
Tác giả: Auristena I.O. Ramous and et
Năm: 2003
2. Casceres-Losgiga FM and et (2006), "Thrombolysis as first choice therapy in prosthetic valve thrombosis: a study of 68 patients", J Thromb Thrombolysis, 21(2), pp 185-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrombolysis as first choice therapy in prosthetic valve thrombosis: a study of 68 patients
Tác giả: Casceres-Losgiga FM and et
Năm: 2006
3. Dhiraj Gupta and et (2000), " Thrombolytic therapy for prosthetic valve thrombosis: Short- and long-term results", Am Heart J, 140:906-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrombolytic therapy for prosthetic valve thrombosis: Short- and long-term results
Tác giả: Dhiraj Gupta and et
Năm: 2000
4. Ganesan Karthikeyan, Ravi S.Math (2009), " Accelerated Infusion of Streptokinase for the treatment of left-sided prosthetic valvethrombosis: A randomized Controlled Trial" Circulation, 120, 1108- 1114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accelerated Infusion of Streptokinase for the treatment of left-sided prosthetic valve thrombosis: A randomized Controlled Trial
Tác giả: Ganesan Karthikeyan, Ravi S.Math
Năm: 2009
6. Koca V, Bozat and et (2000), " The use of Transesophageal Echocardography guidance of Thrombolytic therapy in prosthetic valve thrombosis", J Heart Valve Dis, 9(3), pp: 374-378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of Transesophageal Echocardography guidance of Thrombolytic therapy in prosthetic valve thrombosis
Tác giả: Koca V, Bozat and et
Năm: 2000
7. Lengyel M, Vandor L (2001), " The Role of thrombolysis in the management of left-sided prothetic valve thrombosis: a study of 85 cases diagnosed by transesophageal echocardiography", J Heart Valve Dis, 10(5), pp: 636-649 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of thrombolysis in the management of left-sided prothetic valve thrombosis: a study of 85 cases diagnosed by transesophageal echocardiography
Tác giả: Lengyel M, Vandor L
Năm: 2001
8. Lengyel M, Vegh G and et (1999), " Thrombolysis is superior to heparin for non-obstructive mitral mechanical valve thrombosis", J Heart Valve Dis, 8(2), pp: 167-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrombolysis is superior to heparin for non-obstructive mitral mechanical valve thrombosis
Tác giả: Lengyel M, Vegh G and et
Năm: 1999
9. Lengyel, Maria (2008), "Diagnosis and treatment of left-sided prosthetic valve thrombosis", Expert Review of cardiovascular Therapy, Volume 6, Number 1, pp. 85-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis and treatment of left-sided prosthetic valve thrombosis
Tác giả: Lengyel, Maria
Năm: 2008
10. Manteiga R, Carlos Suto J and et (1998),"Short-course Thrombosis as the first line of therapy for cardiac valve thrombosis", J Thorac Cardiovassc Surg, 115(4), pp: 780-784 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Short-course Thrombosis as the first line of therapy for cardiac valve thrombosis
Tác giả: Manteiga R, Carlos Suto J and et
Năm: 1998
12. mehmet Ozkan and et (2000), "Intravenous thrombolytic treament of machanical prosthetic valve thrombosis: a study using serialtransesophageal echocardiography", Journal of the American college of Cardiology, 35(7), pp: 1881-1889 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intravenous thrombolytic treament of machanical prosthetic valve thrombosis: a study using serial transesophageal echocardiography
Tác giả: mehmet Ozkan and et
Năm: 2000
13. Nagy A, Denes M and et (2009), "predictors of the outcome of thrombolytic therapy in prosthetic valve thrombosis: a study of 62 events", J Heart Valve Dis, 18(3), pp: 268-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: predictors of the outcome of thrombolytic therapy in prosthetic valve thrombosis: a study of 62 events
Tác giả: Nagy A, Denes M and et
Năm: 2009
14.Obied, Ibrahim and et (2009), "Successful thrombolytic therapy for stuck mitral mechanical valve", Saudi Med J, 30, pp: 964-966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Successful thrombolytic therapy for stuck mitral mechanical valve
Tác giả: Obied, Ibrahim and et
Năm: 2009
15.Raymond Roudaut, Karim Serri, Stephane Laffitte (2007), " Thrombosis of prosthetic heart valves: diagnosis and theraputic considerations", Heart, 93, pp 137-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrombosis of prosthetic heart valves: diagnosis and theraputic considerations
Tác giả: Raymond Roudaut, Karim Serri, Stephane Laffitte
Năm: 2007
16. Renzulli A, Vitale N and et (1997), " Thrombolysis for prosthetic valve thrombosis: indication and result", J Heart Valve Dis, 6(2), pp:212-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrombolysis for prosthetic valve thrombosis: indication and result
Tác giả: Renzulli A, Vitale N and et
Năm: 1997
17.Rinaldi CA, Heppell RM, Chamber JB (2002 November), " Treatment of left-sided prosthetic valve thrombosis: Thrombolysis or surgery?", J Heart Valve Dis, 11(6), pp:839-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of left-sided prosthetic valve thrombosis: Thrombolysis or surgery
Tác giả: Rinaldi CA, Heppell RM, Chamber JB
Năm: 2002
18. Vielt C, Mereles D (2000), " Fibrolytic therapy in thrombosis of a mitral valve prothesis", Z Cardiol, 89(8), pp: 698-701 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fibrolytic therapy in thrombosis of a mitral valve prothesis
Tác giả: Vielt C, Mereles D
Năm: 2000
5. John Barbetseas and et (1998), " Differentiating thrombus from pannus formation in obstructed mechanical prosthetic valves: an evaluation of clinical, transthoracic and transesophagealechocardiographic parameters&#34 Khác
11. Maria Lengyel et (1998), " Guidelines for management of left-sided prosthetic valve thrombosis: a role for thrombolytic therapy&#34 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w