Tài liệu sẽ trình bày các nội dung theo những chủ đề cụ thể, từ những khái niệm cơ bản, ý nghĩa, tính chất, nội dung chủ yếu của ATVSLĐ trên các mặt pháp luật, chínhsách, quản lý, khoa h
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU KHKT BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Trang 2MỞ ĐẦU
Tập tài liệu này được biên soạn với mục đích giới thiệu những thông tin, kiến thứcchung, cơ bản nhất về công tác An toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), giúp cho ngườiđọc làm cơ sở, kết hợp với việc đọc và nghiên cứu các tài liệu tham khảo hiện có vềATVSLĐ, có thể nắm được một cách đầy đủ các nội dung của ATVSLĐ, biết tư duy, suynghĩ, phân tích để bồi dưỡng cho mình những kiến thức cơ bản, toàn diện về ATVSLĐ
Tài liệu sẽ trình bày các nội dung theo những chủ đề cụ thể, từ những khái niệm
cơ bản, ý nghĩa, tính chất, nội dung chủ yếu của ATVSLĐ trên các mặt pháp luật, chínhsách, quản lý, khoa học – công nghệ, cho đến các vấn đề về xây dựng chiến lược pháttriển ATVSLĐ, về xã hội hóa và tổ chức hoạt động của quần chúng trong công tácATVSLĐ, về việc xây dựng và phát triển văn hóa an toàn trong sản xuất
Với mục đích trình bày được những kiến thức cơ bản, có hệ thống, vừa nêu lênđược những thành tựu, lịch sử phát triển công tác ATVSLĐ của nước ta trong những nămqua, vừa cập nhật được các thông tin trong nước và quốc tế, gợi lên cho người đọc nhữngsuy nghĩ về sự phát triển ATVSLĐ trong thời gian tới, người biên soạn chủ tâm trình bàycác chủ đề một cách tổng quát, nêu các vấn đề cơ bản mà không đi vào trình bày cụ thểtheo các nội dung của các văn bản pháp luật hiện có, vì rằng qua thời gian, các văn bảnthường phải sửa đổi, thay thế cho phù hợp với tình hình, còn các chủ đề cơ bản đó vẫn làđối tượng cần được tiếp tục nghiên cứu, nắm vững Đối với một số nội dung mới đượcđặt ra, còn phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh thì tài liệu chỉ cung cấp cho ngườiđọc những thông tin, những gợi mở để cùng suy nghĩ tiếp tục sau này
Về những nội dung khoa học – công nghệ ATVSLĐ, tài liệu chỉ nêu một cách tómtắt những nội dung và định hướng chính cần nghiên cứu áp dụng, còn nội dung cụ thể đãđược trình bày trong các bài giảng chuyên đề riêng
Với cách đặt vấn đề về nội dung và phương pháp biên soạn như trên, xin hân hạnhgiới thiệu tập tài liệu này với bạn đọc Chắc rằng tập tài liệu sẽ có những hạn chế, thiếusót, mong nhận được sự góp ý của bạn đọc
Người biên soạnPGS.TS Nguyễn An LươngChủ tịch Hội KTKT An toàn và vệ sinh lao động Việt Nam
Trang 3I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN
1 Bảo hộ lao động – An toàn và vệ sinh lao động
Hiện nay ở nước ta, hai thuật ngữ “Bảo hộ lao động” và “An toàn và Vệ sinh lao
động” đang tồn tại và được sử dụng song song, có thể thay thế cho nhau trong nhiều
trường hợp, cả trong các văn bản pháp luật, cả trong thực tế hoạt động, sản xuất và đờisống
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, thuật ngữ Bảo hộ lao động đã bắt đầu được sử
dụng ở Việt Nam và ngày càng được dùng rộng rãi trong văn bản pháp luật, trong các tàiliệu và trong thực tế cuộc sống Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ
thị, văn bản pháp luật về bảo hộ lao động như "Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động"
(tháng 12/1964), "Pháp lệnh Bảo hộ lao động" (tháng 9/1991) Trong chỉ thị số 132/CT
ngày 13/3/1959 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã sử dụng thuật ngữ Bảo hộ lao động Ngày 01/5/1971, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định thành lập "Viện nghiên cứu
KHKT Bảo hộ lao động" Tháng 02/2005, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập
"Hội đồng Bảo hộ lao động quốc gia" Trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học,
trong công tác chỉ đạo của các cấp, các ngành, các cơ sở, thuật ngữ Bảo hộ lao động cũng
được dùng một cách phổ biến cho đến nay
Từ năm 1995, khi Bộ luật Lao động ra đời và có hiệu lực, thuật ngữ "An toàn và
Vệ sinh lao động" bắt đầu được sử dụng rộng rãi hơn Tên gọi "An toàn lao động, Vệ
sinh lao động" được sử dụng chính thức cho tiêu đề của chương IX trong Bộ luật Lao
động Luật “An toàn, vệ sinh lao động” đã được Quốc hội khóa 13 thông qua tại kỳ họpthứ IX (tháng 5 – 6/2015) Hiện nay, trong các văn bản pháp luật cũng như trong thực tế
thì thuật ngữ An toàn và Vệ sinh lao động đã được sử dụng thường xuyên Đặc biệt trong
giao dịch quốc tế, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ An toàn và Vệ sinh lao động để phù
hợp với cách sử dụng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và của nhiều nước trên thế
giới, xuất phát từ thuật ngữ bằng tiếng Anh là "Occupational Safety and Health" và
thường viết tắt là OSH.
Trong thực tế, chúng ta cũng thường gặp có trường hợp cùng một thuật ngữ tiếngAnh, nhưng khi chuyển ngữ sang tiếng Việt lại có những nghĩa khác nhau Ở đây cũngvậy, cùng một thuật ngữ tiếng Anh là Occupational Safety and Health, nhưng trong một
số trường hợp, các nhà chuyên môn gọi là "An toàn và sức khoẻ nghề nghiệp" để phù
hợp với từng hoàn cảnh và chủ đề cụ thể mà không có gì mâu thuẫn với cách chuyển ngữ
thứ nhất là "An toàn và Vệ sinh lao động"
Như vậy là trong mấy chục năm qua kể từ ngày thành lập nước, hai thuật ngữ Bảo
hộ lao động (BHLĐ) và An toàn và Vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đều được sử dụng một
cách chính thức, phổ biến trong văn bản pháp luật, trong đời sống xã hội của nước ta đểnói về một công tác lớn của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội với nội dung chủ yếu làđảm bảo ATVSLĐ, chăm lo cải thiện điều kiện lao động (ĐKLĐ), phòng chống tai nạnlao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN), bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho người laođộng (NLĐ) nước ta Hai thuật ngữ đó, trong quá trình phát triển của đất nước và hội
Trang 4nhập quốc tế, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể và từng giai đoạn, đã được sử dụng nhiều hay ít,phổ biến hay không, còn về bản chất, chúng đều được hiểu một cách đầy đủ, cơ bản là:
Bảo hộ lao động (hay An toàn và Vệ sinh lao động) là các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức quản lý, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho con người trong lao động.
Vào những thập niên giữa thế kỷ 20, khi yêu cầu tối thiểu cơ bản của NLĐ trướchết là phải không bị tai nạn, bệnh tật trong khi làm việc, thì mục tiêu chính của ATVSLĐ
là phải áp dụng ngay các biện pháp, nhiều khi là bị động, để ngăn chặn tai nạn, bệnh tật,chứ chưa thể nghĩ đầy đủ đến các giải pháp có hệ thống, chủ động kiểm soát nguy cơ gây
ra tai nạn, bệnh tật ngay từ đầu Cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học và côngnghệ, công tác ATVSLĐ cũng chuyển dần từ đối phó, bị động sang thế chủ động trongviệc quản lý và kiểm soát các nguy cơ một cách có hệ thống, trong đó coi trọng việc nângcao văn hoá an toàn và ưu tiên biện pháp phòng ngừa Những năm cuối thế kỷ 20 và đầuthế kỷ 21, nhất là từ tháng 6 năm 2003, sau khi Hội nghị Lao động quốc tế thông quachiến lược toàn cầu về ATVSLĐ và tiếp đó, sau khi có Hội nghị thượng đỉnh tại Đại hội
thế giới về ATVSLĐ lần thứ 18 ở Seoul - Hàn Quốc (2008) ra "Tuyên bố Seoul về An
toàn và sức khoẻ trong lao động", vấn đề ATVSLĐ đã có những bước phát triển mới, cả
trong nhận thức về vai trò, tầm quan trọng, phương hướng phát triển, cả trong những biệnpháp quản lý, kiểm soát các nguy cơ để bảo đảm ATVSLĐ, bảo vệ tính mạng, sức khoẻNLĐ
2 Điều kiện lao động
Điều kiện lao động được hiểu là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹthuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động,quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian vàthời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗlàm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Tìnhtrạng tâm sinh lý của con người trong khi lao động tại chỗ làm việc cũng được coi nhưmột yếu tố gắn liền với điều kiện lao động
Với cách hiểu như vậy, khi đánh giá ĐKLĐ, chúng ta phải đi sâu phân tích các yếu
tố biểu hiện của ĐKLĐ, xem nó có ảnh hưởng và tác động như thế nào đối với người laođộng
Nói đến công cụ và phương tiện lao động, chúng ta hiểu nó bao gồm từ các công
cụ đơn giản đến các máy móc, thiết bị tinh vi, hiện đại, từ một chỗ làm việc đơn sơ, thậmchí không có mái che đến những nơi làm việc trong nhà xưởng với đầy đủ tiện nghi.Chúng ta cần đánh giá xem tình trạng của các công cụ, thiết bị máy móc, nhà xưởng đó rasao, mới, cũ, tốt, xấu hư hỏng thế nào, có tiện nghi, thuận lợi hoặc có nguy cơ gây ra ảnhhưởng xấu, nguy hiểm đối với tính mạng, sức khoẻ con người hay không?
Đối tượng lao động của con người được hiểu là đối tượng vật chất mà con ngườitác động vào nó trong quá trình sản xuất để tạo thành sản phẩm Nó rất đa dạng, phong
Trang 5phú, từ những loại rất đơn giản, không gây nên ảnh hưởng hoặc tác hại xấu đối với conngười, đến những loại rất phức tạp, độc hại, nguy hiểm, thậm chí rất nguy hiểm đối vớicon người (dòng điện, hoá chất, vật liệu phóng xạ, vật liệu nổ ) Rất nhiều đối tượng sảnxuất, khi đã tạo thành sản phẩm thì tính chất nguy hiểm, độc hại đã bớt đi, có lợi cho conngười, song cũng không ít đối tượng lao động vẫn giữ nguyên, thậm chí còn làm tănghoặc lưu giữ tiềm tàng tính chất nguy hiểm, độc hại đó.
Quá trình công nghệ trong sản xuất được hiểu là cách thức mà con người tác độngvào đối tượng lao động để tạo thành sản phẩm Nó có thể hết sức thủ công, thô sơ, do đó
mà người lao động phải làm việc nặng nhọc, phải thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với cácyếu tố độc hại, nguy hiểm dễ gây nên TNLĐ, BNN Quá trình công nghệ cũng có thể rấthiện đại, có trình độ cơ khí hoá, tự động hoá cao, do đó làm giảm nhẹ mức độ nặng nhọc,bảo vệ tốt sức khoẻ tính mạng con người
Môi trường lao động là nơi tập hợp các thành phần vật chất, xã hội mà ở đó conngười tiến hành các hoạt động sản xuất, công tác Tại đây thường xuất hiện rất nhiều yếu
tố, có thể rất tiện nghi, thuận lợi cho người lao động, song cũng có thể rất xấu, khắcnghiệt đối với con người, (Ví dụ: Nhiệt độ cao hoặc quá thấp, độ ẩm lớn, nồng độ bụi vàhơi khí độc cao, độ ồn lớn, ánh sáng thiếu ) Các yếu tố xuất hiện trong môi trường laođộng là do quá trình hoạt động của các máy móc, thiết bị, do tác động và sự thay đổi củađối tượng lao động, tác động của con người trong khi thực hiện quá trình công nghệ gây
ra, đồng thời cũng còn do các yếu tố của điều kiện khí hậu, thiên nhiên gây nên
Tình trạng tâm sinh lý của người lao động trong khi làm việc là yếu tố chủ quanrất quan trọng, đôi khi lại chính là nguyên nhân để xảy ra sự cố dẫn đến TNLĐ và BNNcho chính bản thân họ và người khác
Tổng hoà các biểu hiện đó tạo nên một ĐKLĐ cụ thể, có thể rất tiện nghi, thuậnlợi, song cũng có thể rất xấu và là nguyên nhân của các TNLĐ và BNN cho người laođộng Đánh giá ĐKLĐ của bất kỳ một cơ sở, một ngành nào là phải nhìn một cách tổngthể tất cả các biểu hiện nói trên, không thể chỉ nhìn vào một mặt nào đó rồi vội vàng kếtluận ĐKLĐ ở đó tốt hay xấu Đánh giá đúng thực trạng ĐKLĐ và thường xuyên chăm locải thiện nó là nội dung quan trọng nhất trong công tác BHLĐ
Trong thời gian qua, có một vài người khi viết hoặc phát triển về ATVSLĐ, đã chorằng môi trường lao động có ý nghĩa rộng hơn, nó không phải là một thành phần củaĐKLĐ, mà trái lại nó bao trùm cả ĐKLĐ Hay nói cách khác, họ thường dùng khái niệm
“Môi trường lao động” (MTLĐ) thay cho ĐKLĐ, song không đưa ra được một địnhnghĩa đầy đủ về MTLĐ Đây còn là một vấn đề cần được thảo luận để làm rõ hơn trongthời gian tới
3 Các yếu tố nguy hiểm và có hại: Trong một ĐKLĐ cụ thể, bao giờ cũng xuất
hiện những yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây raTNLĐ hoặc BNN cho người lao động Chúng ta gọi các yếu tố đó là các yếu tố nguyhiểm và có hại
Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất thường đa dạng và nhiềuloại, song tựu trung lại có thể phân thành các nhóm sau:
Trang 6- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, các bức xạ có hại (ion hoá và không ionhoá), bụi, tiếng ồn, độ rung, thiếu ánh sáng
- Các yếu tố hoá học như các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóngxạ
- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm mốc,các loại ký sinh trùng, các loại côn trùng, rắn
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, quá tải về thể lực, không tiện nghi dokhông gian nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh, các yếu tố không thuận lợi về tâm lý
Việc xác định rõ nguồn gốc, mức độ và ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, cóhại đối với con người để đề ra các biện pháp làm giảm, tiến đến loại trừ các yếu tố đó,hay nói một cách khác là quản lý và kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả các mối nguy nghềnghiệp đó là một trong những nội dung quan trọng nhất để cải thiện điều kiện làm việc(ĐKLV), bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động
4 Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình trực tiếp hoặc liên quan đến laođộng, công tác do tác động đột ngột của các yếu tố nguy hiểm từ bên ngoài, làm chếtngười hoặc làm tổn thương hay huỷ hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộphận nào đó của cơ thể Khi người lao động bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào
cơ thể một lượng lớn các chất độc, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoạichức năng nào đó của cơ thể thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được coi là TNLĐ Tainạn xảy ra đối với người lao động trên đường từ nhà đến nơi làm việc và từ nơi làm việctrở về nhà theo một tuyến đường hợp lý nhất định cũng được coi là TNLĐ
Người ta phân TNLĐ ra TNLĐ chết người, TNLĐ nặng và TNLĐ nhẹ Việc phânloại TNLĐ như trên thường căn cứ vào tình trạng thương tích hoặc số ngày phải nghỉviệc để điều trị vết thương do TNLĐ
Để đánh giá tình hình TNLĐ, ngoài con số tuyệt đối thống kê được, cần phải sửdụng cách so sánh tương đối thì mới đánh giá được mức độ TNLĐ giữa các đơn vị, địaphương, ngành và quốc gia với nhau Bởi vậy cần phải xác định hệ số tần suất hoặc tầnsuất TNLĐ Hiện nay có hai cách tính như sau:
- Cách thứ 1: Hệ số tần suất TNLĐ được xác định theo nguyên tắc số người bịTNLĐ tính trên 1000 người lao động Ta có công thức sau đây:
Trang 7N: Tổng số người lao động tương ứng với địa điểm, thời gian của n.
Hệ số tần suất K là một số không thứ nguyên Còn khi ta chỉ nói Tần suất TNLĐthì lúc đó tính bằng phần ngàn (‰) Ví dụ: Doanh nghiệp A có Hệ số tần suất TNLĐ là8,5 hay có Tần suất TNLĐ là 8,5 ‰
Trong cách thứ nhất này, có một số nước hoặc trong một số trường hợp, nhất là khitính hệ số tần suất cho TNLĐ chết người, người ta đưa về tính trên 100.000 người laođộng Trong trường hợp này công thức tính sẽ là:
N
Ở đây giá trị K sẽ lớn lên gấp 100 lần so với cách tính ở công thức 1.1
- Cách thứ 2: Hệ số tần suất được xác định theo nguyên tắc số người bị TNLĐ tínhtrên 1 triệu giờ làm việc Ta có công thức sau đây:
N x T
n và N: Như đã nêu ở công thức 1.1
T: Số giờ làm việc của một người lao động trong khoảng thời gian thống kê sốngười bị TNLĐ n tương ứng
Trong trường hợp tổng số người lao động N bao gồm nhiều nhóm người (ví dụ có
m nhóm) có giờ làm việc theo qui định khác nhau thì phải tính tổng số giờ làm việc củatừng nhóm (Ni x Ti) rồi mới cộng lại để có tổng số giờ làm việc chung:
N x T =
m 1
i i ixT N
K: Hệ số tần suất TNLĐ tương ứng với n, N
Pháp luật quy định khi xảy ra TNLĐ thì phải khai báo, điều tra, lập biên bản và người
sử dụng lao động (NSDLĐ) phải thực hiện việc thống kê, báo cáo TNLĐ định kỳ lên cấpquản lý có thẩm quyền (Ở Việt Nam là ngành Lao động Thương binh và Xã hội) Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội nước ta có trách nhiệm thống kê TNLĐ hàng năm trong cảnước Việc thống kê TNLĐ tốt có một ý nghĩa hết sức quan trọng, không những giúp choNhà nước, các cấp chính quyền biết được mức độ nghiêm trọng hay không của tình hìnhTNLĐ, mà còn trực tiếp giúp cho các ngành, địa phương, cơ sở và đặc biệt là NSDLĐ vàNLĐ biết được thực trạng tình hình và nguyên nhân TNLĐ để kịp thời có biện pháp khắcphục, phòng ngừa TNLĐ
Điều đáng tiếc hiện nay ở nước ta là công tác thống kê, báo cáo TNLĐ còn rấtyếu, hàng năm chỉ có chưa đến 10% tổng số doanh nghiệp (DN) trong cả nước có báo cáoTNLĐ Còn hơn 90% DN không thực hiện quy định của pháp luật về báo cáo, thống kêTNLĐ Chính vì vậy mà con số TNLĐ thống kê được ở nước ta hàng năm còn thấp rất xa
so với thực tế, có khi đến hàng chục lần
Trang 8Theo thông báo chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, con sốTNLĐ thống kê được hàng năm ở nước ta qua 10 năm gần nhất (2004 - 2014) được thểhiện trong Bảng 1.1
Bảng 1.1: Số người bị TNLĐ thống kê được trong cả nước qua 10 năm (2004-2014)
Năm
TNLĐ 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Số người bị
(Nguồn: Từ các báo cáo TNLĐ hàng năm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Nhìn vào Bảng 1.1, chúng ta thấy nếu tính hệ số tần suất cho các năm theo côngthức 1.1 thì nhỏ hơn 1 rất nhiều, nghĩa là tần suất TNLĐ của nước ta thống kê được hàngnăm chưa tới 1‰ Trong khi đó tần suất TNLĐ của các nước công nghiệp phát triển vàmột số nước trong khu vực đều cao hơn con số thống kê được của nước ta (ví dụ NhậtBản trong 10 năm từ 1990 đến 2000, Hệ số tần suất TNLĐ tính theo cách thứ hai cũngdao động từ 1,72 đến 2,13, nghĩa là nếu tính theo cách thứ nhất thì còn cao hơn nữa; Tầnsuất TNLĐ năm 2000 của Thái Lan là 33,15‰, của Hàn Quốc là 8,96‰, của Đài Loan là4,96‰, đều cao hơn ta mấy lần)
Các kết quả của các đề tài khoa học cũng như điều tra khảo sát trong thực tế củanước ta hiện nay thì số liệu về TNLĐ có được cao gấp nhiều lần con số TNLĐ mà chúng
ta thống kê được hàng năm Đó là điều rất không bình thường, vì vậy mà không đượcphép vin vào những số liệu thống kê chưa chính xác để chủ quan, coi nhẹ công tácBHLĐ Việc phòng chống, hạn chế và giảm TNLĐ cũng như phải thống kê được đầy đủ,chính xác TNLĐ luôn là một trong những mục tiêu quan trọng của công tác BHLĐ ởnước ta hiện nay
Theo quy định mới được nêu trong Luật ATVSLĐ thì cả các trường hợp bị TNLĐtrong khu vực không có hợp đồng lao động (với lao động tự do, phi chính thức, lao động
là nông dân…) cũng đều phải thống kê, báo cáo Điều này càng cho thấy tính bức thiếtcủa việc phải thống kê đầy đủ chính xác TNLĐ
5 Bệnh nghề nghiệp
Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệphoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh là do tác hại thường xuyên vàkéo dài của ĐKLĐ xấu Cũng có thể nói rằng đó là sự suy yếu dần về sức khoẻ, gây nênbệnh tật cho người lao động do tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinhtrong sản xuất lên cơ thể người lao động
Mỗi một quốc gia đều công nhận những BNN có ở nước mình và ban hành chế độđền bù hoặc bảo hiểm BNN Theo thông báo ngày 25/3/2010, Tổ chức Lao động quốc tế
đã xếp các BNN vào trong 4 nhóm cơ bản là các BNN do tiếp xúc với các tác nhân trongquá trình lao động, các BNN chia theo hệ cơ quan đích, các bệnh ung thư nghề nghiệp vàcác BNN khác với tổng cộng gồm 106 BNN
Trang 9Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1976, Nhà nước đã công nhận 8 BNN được bảo hiểm
và qua các lần công nhận tiếp theo vào các năm 1991, 1997, 2006, 2011, 2013, 2014 tổngcộng đến nay đã có 30 BNN được bảo hiểm ở nước ta
II TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC
Việc làm rõ ý nghĩa, vài trò của ATVSLĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội củađất nước sẽ giúp cho các cấp chính quyền, cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân và toàn
xã hội nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của ATVSLĐ, từ đó có chủ trương, chínhsách, chương trình hành động, kế hoạch, biện pháp thích hợp thúc đẩy ATVSLĐ ở nước
ta, góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1 Ý nghĩa của ATVSLĐ
ATVSLĐ có ý nghĩa chính trị to lớn, thể hiện quan điểm đúng đắn của Đảng, Bác
Hồ và Nhà nước ta với con người, nhất là người lao động là vốn quý nhất của xã hội Bảođảm ATVSLĐ là thực hiện một trong những quyền cơ bản của con người – nhân quyền
ATVSLĐ có ý nghĩa kinh tế quan trọng vì nó trực tiếp bảo vệ nguồn nhân lực, yếu
tố chủ yếu của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển
ATVSLĐ có ý nghĩa xã hội, nhân đạo sâu sắc vì mục tiêu của nó là bảo đảm antoàn, bảo vệ tính mạng và sức khỏe con người trong lao động, bảo đảm cho họ có việclàm, có thu nhập, sống khỏe mạnh, hạnh phúc
Từ đó có thể kết luận rằng ATVSLĐ là một chính sách kinh tế - xã hội lớn củaĐảng và Nhà nước ta, là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Vì vậy mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức, cá nhân, trước hết là nhữngngười sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) phải có trách nhiệm thựchiện tốt ATVSLĐ
2 Mối quan hệ của ATVSLĐ với vấn đề bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Xét từ góc độ góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu(BĐKH) thì công tác ATVSLĐ có một vai trò rất quan trọng, có quan hệ rất mật thiết vớinhau, tác động ảnh hưởng qua lại và trong nhiều trường hợp có tác dụng “nhân – quả” đốivới nhau
Hoạt động ATVSLĐ vừa trực tiếp cải thiện ĐKLĐ, làm cho môi trường lao độngđược trong sạch hơn, phòng ngừa tốt TNLĐ và BNN, vừa góp phần bảo vệ môi trườngnói chung và ứng phó tốt với BĐKH nếu như mọi chất thải (khí, nước, rắn) từ trong sảnxuất đều được xử lý tốt trước khi thải ra ngoài
Nếu vấn đề BVMT và ứng phó với BĐKH được quan tâm đúng mức, ngày càngđược cải thiện thì sẽ có tác động tốt đến đời sống, sức khỏe nhân dân, trong đó có NLĐ.Muốn làm tốt công tác BVMT thì toàn xã hội, các ngành, địa phương, các cơ quan, doanhnghiệp phải cùng hành động để cho môi trường sống nói chung, trong đó có cả môitrường ở nơi sản xuất, cơ quan, doanh nghiệp, khu công nghiệp… ngày càng trong sạch,được cải thiện Đây chính là tác động tích cực ngược trở lại của BVMT đối với ATVSLĐ
Trang 10Rõ ràng ATVSLĐ là một nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm an toàn, bảo vệ sứckhỏe NLĐ, vừa là một nhiệm vụ quan trọng để góp phần BVMT, phát triển bền vững đấtnước Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng ATVSLĐ và BVMT có những nội dụng, phạm vihoạt động riêng khác nhau, được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau, cónhững hệ thống quản lý khác nhau, có thể phối hợp, kết hợp, tích hợp cùng nhau, nhưngcũng không thể đồng hóa, hòa lẫn tùy tiện với nhau Đó mới là cách nhìn nhận, là quanđiểm đúng đắn về quan hệ giữa ATVSLĐ với BVMT.
III TÍNH CHẤT VÀ NỘI DUNG TỔNG QUÁT CỦA AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
Trong phần này sẽ trình bày và phân tích một cách tổng quát tính chất và nhữngnội dung của ATVSLĐ, làm cơ sở cho việc giới thiệu các nội dung cơ bản của ATVSLĐtrong các mục sau, cũng như trong các bài giảng chuyên đề
Chúng ta biết rằng ATVSLĐ ra đời và phát triển do yêu cầu tất yếu, khách quancủa cuộc sống lao động, sản xuất của con người, nó phát triển cùng với sự phát triển củasản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Từ thực tiễn của mấy chục nămphát triển ATVSLĐ ở nước ta, học tập và tiếp thu thành tựu của thế giới, chúng ta đã đúckết đưa ra những kết luận tổng quát về tính chất và nội dung của ATVSLĐ như sau:
1 Tính chất của công tác An toàn và vệ sinh lao động
Việc làm rõ được tính chất cơ bản nhất của ATVSLĐ sẽ giúp cho chúng ta xácđịnh được những nội dung chủ yếu của công tác ATVSLĐ Qua phân tích và tổng hợp,chúng ta có thể nêu lên 3 tính chất cơ bản của ATVSLĐ là: khoa học, pháp lý và quầnchúng Ba tính chất đó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, tác động và hỗ trợ lẫnnhau
ATVSLĐ mang tính khoa học vì chỉ bằng những giải pháp khoa học – công nghệ(KHCN) thì mới có thể khảo sát, phân tích, đánh giá ảnh hưởng và đề ra biện pháp để xử
lý, loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện ĐKLĐ, phòng chống tốt TNLĐ,BNN cho NLĐ
ATVSLĐ mang tính pháp lý vì muốn các giải pháp KHCN, biện pháp quản lýđược thực hiện tốt thì phải thể chế hóa thành những quy định, chế độ chính sách dướidạng các văn bản pháp luật để buộc mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức cá nhân thực hiện;phải thanh tra kiểm tra, khen thưởng kịp thời, xử phạt nghiêm minh
ATVSLĐ mang tính quần chúng vì muốn công tác này đạt kết quả tốt thì phảituyên truyền, huấn luyện, phổ biến pháp luật, kiến thức để mọi người biết và tự giác phốihợp cùng nhau thực hiện – ATVSLĐ là trách nhiệm của toàn xã hội
2 Những nội dung tổng quát cơ bản nhất của ATVSLĐ
Để thực hiện đầy đủ 3 tính chất cơ bản của ATVSLĐ và đạt được mục tiêu cơ bản
là cải thiện ĐKLĐ, phòng chống TNLĐ, BNN, bảo đảm an toàn, bảo vệ tốt sức khỏeNLĐ, công tác ATVSLĐ phải được tiến hành một cách đồng bộ trên cả 3 mặt hoạt độngchủ yếu là:
Trang 11- Xây dựng, quán triệt, thực hiện các quy định của pháp luật, các chế độ chínhsách về ATVSLĐ và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý về ATVSLĐ.
- Nghiên cứu và ứng dụng tốt khoa học công nghệ ATVSLĐ
- Thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, giáo dục đào tạo về ATVSLĐ Vận động, tổchức tốt các hoạt động của quần chúng, toàn xã hội để thúc đẩy công tác ATVSLĐ
Việc tổng hợp để đưa ra 3 nhóm nội dung chủ yếu nói trên là một bước phát triểnmới, tổng quát, đầy đủ và hoàn chỉnh hơn với cách định nghĩa về nội dung ATVSLĐ đãnêu nhiều năm trước đây là BHLĐ (tức ATVSLĐ) bao gồm các nội dung về Luật phápBHLĐ, vệ sinh lao động, kỹ thuật an toàn và phòng cháy chữa cháy [5]
Sau đây sẽ trình bày tóm tắt tổng quát 3 nhóm nội dung của ATVSLĐ
2.1 Nội dung xây dựng, quán triệt thực hiện các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các qui định về bảo hộ lao động và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý về an toàn và vệ sinh lao động.
Các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quyđịnh về ATVSLĐ là sự thể hiện cụ thể đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhànước về công tác ATVSLĐ Các văn bản này được xây dựng để điều chỉnh các mối quan
hệ, xác định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của các cấp chính quyền, các tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD), cơ quan, đơn vị,người quản lý, NSDLĐ và NLĐ trong lĩnh vực ATVSLĐ; đề ra các chuẩn mực, nhữngquy định để mọi người quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện
Nói đến hoạt động pháp luật trong lĩnh vực ATVSLĐ, trước hết chúng ta cần quantâm đến việc xây dựng và ban hành đủ các văn bản pháp luật, từ những văn bản pháp luậtkhung chủ yếu nhất như Bộ luật, luật, pháp lệnh cho đến các văn bản pháp quy dưới luậtnhư nghị định, thông tư, chỉ thị, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn, nội quy
về ATVSLĐ; tiếp sau đó là việc phổ biến quán triệt nội dung các văn bản pháp luật chomọi đối tượng tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các cơ quan, đơn vị, các cơ sở SXKD,NSDLĐ và NLĐ để họ thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn sản xuất, công tác, đờisống Đồng thời phải tiến hành thường xuyên và nghiêm túc việc thanh, kiểm tra chấphành pháp luật về ATVSLĐ, thực hiện việc khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, kịpthời Cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý về ATVSLĐ, trong đó có vai trò quản lýNhà nước về ATVSLĐ đi đôi với việc coi trọng và phát huy mạnh mẽ vai trò tham giacủa quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các cơ quan chuyên môn
và đông đảo các nhà khoa học, NSDLĐ và NLĐ vào hoạt động ATVSLĐ
Nói đến quản lý của Nhà nước về ATVSLĐ cần hiểu đó là trên cơ sở những vănbản pháp luật khung chủ yếu đã được Quốc hội ban hành, tiến hành xây dựng và banhành các văn bản pháp quy dưới luật, sử dụng các phương pháp quản lý Nhà nước thíchhợp, thực hiện các hoạt động theo quy trình quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, điềuchỉnh các hoạt động về ATVSLĐ nhằm phát triển công tác này theo mục tiêu đề ra
Để làm tốt hoạt động quản lý Nhà nước về ATVSLĐ, cần phải quan tâm xây dựngthể chế, cần thiết phải có chiến lược, chương trình quốc gia về ATVSLĐ và phải có hệthống bộ máy tổ chức có hiệu lực, đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực để thực hiện có
Trang 12hiệu quả quy trình quản lý Đồng thời phải có những quy định rõ ràng về chức năng,nhiệm vụ của các cấp quản lý cũng như của đối tượng được quản lý, có sự phân công,phân cấp rõ ràng, có cơ chế phối hợp hoạt động, tránh chồng chéo, dẫm đạp lên nhaucũng như không bỏ sót nhiệm vụ.
Cũng cần nhận thức đầy đủ rằng quản lý Nhà nước là tạo ra hành lang pháp lý,hướng dẫn, điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của tổ chức, cá nhân phải đi đúng quỹ đạo,nằm đúng trong hành lang pháp lý đó Còn đối với các cơ quan chuyên môn, khoa học,các Hội nghề nghiệp, các cá nhân khi đã nhận thức đúng, chấp nhận tuân thủ hành langpháp lý đó thì được phép và cần được khuyến khích, tạo điều kiện để họ thực hiện nhữngnhiệm vụ chuyên môn, khoa học, huấn luyện, đào tạo về ATVSLĐ của mình Cần tránhviệc cơ quan quản lý Nhà nước ôm đồm, bao biện, làm thay cả việc nghiệp vụ, chuyênmôn, mà lẽ ra đó là việc của các tổ chức xã hội dân sự
Bên cạnh việc tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước vềATVSLĐ, chúng ta cần song song làm tốt công tác quản lý ATVSLĐ tại cơ sở Sự thànhcông, có hiệu quả của công tác quản lý ATVSLĐ ở cơ sở sẽ phản ánh và góp phần quyếtđịnh cho sự thành bại của các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước trong lĩnh vực này
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về ATVSLĐ ở nước ta, các tiêu chuẩn vàquy chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ có một vị trí quan trọng, góp phần cụ thể hoá, hướng dẫnmọi người thực thi tốt các quy định của pháp luật để bảo đảm ATVSLĐ, bảo vệ sức khoẻNLĐ Các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ có một giá trị quan trọng nhằmcung cấp những quy tắc, hướng dẫn, quy định về các yêu cầu và những điều cần thiết vềATVSLĐ khi thiết kế, chế tạo sản phẩm, thực hiện các quy trình sản xuất hay dịch vụ phùhợp với yêu cầu an toàn
Vì vậy việc nghiên cứu, nắm vững các tiêu chuẩn ATVSLĐ và áp dụng chúng vàothực tế sản xuất, công tác ở nước ta là một nội dung quan trọng trong quá trình thực thipháp luật về ATVSLĐ Hiện nay ở nước ta có nhiều cơ sở đã coi trọng việc áp dụng cáccác tiêu chuẩn quốc gia TCVN, và tiêu chuẩn của cơ sở (TCCS) về ATVSLĐ, nhất là cácqui chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và các qui chuẩn địa phương (QCĐP) về ATVSLĐ.Đồng thời nhiều cơ sở phấn đấu áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chấtlượng như: ISO-9001, về quản lý môi trường: ISO-14001 và quản lý ATVSLĐ: SA8000
và OSH AS18001 vào trong công tác quản lý ATVSLĐ ở cơ sở là hết sức có ý nghĩa đểđưa công tác ATVSLĐ của nước ta trong thời gian tới có bước phát triển mới, đạt kết quảtốt hơn
Để bảo đảm cho các văn bản pháp luật về ATVSLĐ được thực hiện nghiêm chỉnhtrong sản xuất và đời sống, để cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mìnhtrong công tác ATVSLĐ, cần hết sức coi trọngvà nâng cao năng lực, hiệu quả của hệthống thanh tra về ATVSLĐ Thanh tra ATVSLĐ là một khâu của hoạt động quản lýATVSLĐ, có mục đích là ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật vềATVSLĐ, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này Mặt khác, việc thanhtra, kiểm tra ATVSLĐ còn giúp đỡ, tư vấn cho nhà quản lý thực hiện được mục tiêu quản
lý ATVSLĐ đã đề ra
Trang 132.2 Nội dung khoa học công nghệ an toàn và vệ sinh lao động
Trong công tác ATVSLĐ, nội dung KHCN chiếm một vị trí hết sức quan trọng.Thông qua các giải pháp KHCN ATVSLĐ, chúng ta có thể phát hiện, quản lý, kiểm soáttốt được các yếu tố nguy hiểm và có hại, đồng thời áp dụng các biện pháp để cải thiệnĐKLĐ, phòng chống TNLĐ và BNN một cách có hiệu quả
Khoa học công nghệ ATVSLĐ là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên ngành,được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngànhkhoa học khác nhau từ khoa học tự nhiên (toán, vật lý, hoá học, sinh vật học ), KHKTchuyên ngành (y học lao động, độc chất học, kỹ thuật thông gió và điều hoà không khí,
kỹ thuật ánh sáng, vật lý kiến trúc, âm học, kỹ thuật điện, cơ ứng dụng, chế tạo máy, tựđộng hoá ) đến các ngành khoa học về kinh tế và xã hội (kinh tế lao động, luật học, xãhội học, tâm lý học ) Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của KHCN ATVSLĐ rất rộng,song cũng rất cụ thể, gắn liền với điều kiện khí hậu, đặc điểm thiên nhiên và con ngườicũng như điều kiện sản xuất và tình hình kinh tế của mỗi nước
Trong công tác ATVSLĐ, KHCN có nhiệm vụ đi sâu giải quyết những vấn đề cơbản, từ việc nghiên cứu, phát hiện, phân tích, đánh giá các nguy cơ xuất hiện trong quátrình lao động, sản xuất, công tác; thực hiện có hệ thống việc quản lý và kiểm soát cácnguy cơ, cho đến việc nghiên cứu, áp dụng các giải pháp khoa học, công nghệ, y sinh học
để xử lý ô nhiễm, cải thiện điều kiện và môi trường lao động; ngăn chặn, phòng ngừa cáctai nạn, bệnh tật trong lao động; công tác điều trị các chấn thương, bệnh nghề nghiệp,quản lý và theo dõi sức khoẻ NLĐ v.v Những giải pháp nói trên thuộc về các lĩnh vựccủa y học lao động, kỹ thuật vệ sinh, kỹ thuật an toàn và phương tiện bảo vệ Kỹ thuậtphòng cháy và chữa cháy cũng được coi là một bộ phận quan trọng của công tácATVSLĐ, liên quan mật thiết đến lĩnh vực kỹ thuật an toàn, song cũng có tính chất đặcthù riêng của nó và được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật riêng
2.2.1 Khoa học về y học lao động có nhiệm vụ đi sâu khảo sát, đánh giá các yếu
tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, công tác, nghiên cứu ảnh hưởng củachúng đến cơ thể NLĐ (thông qua sự phân tích các biến đổi về chức năng sinh lý, sinhhoá, tâm sinh lý ) Từ đó khoa học y học lao động có nhiệm vụ đề ra các tiêu chuẩn giớihạn cho phép của các yếu tố nguy hiểm, có hại, nghiên cứu đề ra các chế độ lao động vànghỉ ngơi hợp lý, đề xuất các biện pháp y sinh học và phương hướng cho các giải pháp đểcải thiện ĐKLĐ Để đánh giá hiệu quả các giải pháp đó, y học lao động tiến hành đánhgiá các yếu tố và ảnh hưởng của chúng đến sức khoẻ NLĐ, so sánh hiệu quả trước và saukhi có giải pháp Khoa học y học lao động có nhiệm vụ quản lý, theo dõi tình hình sứckhoẻ NLĐ, đề ra tiêu chuẩn và thực hiện việc khám tuyển, khám định kỳ, phát hiện sớm,khám, giám định các BNN, khám và phân loại sức khoẻ, đề xuất các biện pháp để phòngngừa và điều trị TNLĐ và BNN
Độc chất học là một lĩnh vực khoa học kết hợp những nguyên lý của nhiều mônkhoa học, trước hết là sinh học và hoá học để nghiên cứu bản chất và cơ chế độc hại củacác chất đối với cơ thể sống, đặc biệt đối với con người trong điều kiện và môi trường, kể
cả môi trường lao động Từ đó có thể đưa ra những qui định, hướng dẫn để đảm bảo an
Trang 14toàn trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển, sử dụng các chất độc hại nhằm tránh tác hạiđối với sức khoẻ con người Độc chất học là một lĩnh vực rất đặc biệt mà khoa học côngnghệ ATVSLĐ, trước hết là khoa học y học lao động phải hết sức quan tâm.
2.2.2 Các ngành khoa học về kỹ thuật vệ sinh hoặc còn gọi là công nghệ xử lý
môi trường lao động như thông gió, chống nóng và điều hoà không khí, chống bụi và hơikhí độc, chống ồn và rung động, chống ảnh hưởng của trường điện từ, chống phóng xạ,
kỹ thuật chiếu sáng v.v là những lĩnh vực chuyên ngành đi sâu nghiên cứu ứng dụng cácgiải pháp KHCN để loại trừ các yếu tố có hại trong sản xuất, nhằm xử lý và cải thiện môitrường lao động để nó được trong sạch và tiện nghi hơn, nhờ đó NLĐ làm việc dễ chịu,thoải mái và có năng suất cao hơn, TNLĐ và BNN cũng giảm đi
Ngày nay việc áp dụng các công nghệ sạch hơn, sử dụng những thiết bị, dâychuyền công nghệ ít hoặc không có chất thải độc hại, không làm ô nhiễm môi trường laođộng là một xu thế tất yếu khách quan, một yêu cầu cấp bách cho mọi cơ sở sản xuất
Mỗi một giải pháp kỹ thuật vệ sinh, xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường lao độngcũng sẽ góp phần tích cực vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu, chống ô nhiễm, cảithiện và bảo vệ môi trường xung quanh Bởi vậy ATVSLĐ và bảo vệ môi trường thực sự
là 2 khâu của một quá trình, gắn bó mật thiết với nhau
2.2.3 Kỹ thuật an toàn là một hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức
và kỹ thuật nhằm bảo vệ NLĐ khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ Để đạtđược điều đó, khoa học về kỹ thuật an toàn cần đi sâu nghiên cứu đánh giá tình trạng antoàn của các thiết bị và quá trình sản xuất, đánh giá các nguy cơ, rủi ro nghề nghiệp, đề ranhững yêu cầu an toàn cho người thiết kế, thi công các nhà xưởng, hệ thống thiết bị sảnxuất; thiết kế chế tạo các thiết bị, cơ cấu an toàn, các che chắn để bảo vệ con người khilàm việc với những máy móc, thiết bị nguy hiểm Một trong những nhiệm vụ rất quantrọng của kỹ thuật an toàn là phải tiến hành nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, quychuẩn kỹ thuật, quy định, chỉ dẫn, nội qui an toàn cho từng thiết bị và qui trình công nghệ
để buộc NLĐ phải tuân theo trong khi làm việc Việc áp dụng các thành tựu mới của tựđộng hoá, điều khiển học để thay thế thao tác, cách ly NLĐ khỏi nơi nguy hiểm và độchại cũng là một phương hướng hết sức quan trọng của Kỹ thuật an toàn Quan điểmphòng ngừa trong ATVSLĐ được thể hiện bằng việc chủ động kiểm soát các yếu tố nguyhiểm và có hại phát sinh trong sản xuất ngay từ gốc, tức là từ khi thiết kế, thi công cáccông trình, dây chuyền sản xuất, thiết bị máy móc, là một quan điểm mới, tích cực phùhợp với phương hướng của thời đại chuyển từ "Kỹ thuật an toàn" sang "An toàn kỹthuật" Chúng ta biết rằng, với cách nhìn biện chứng, sẽ không thể có tình trạng an toàntuyệt đối, không thể loại trừ hoàn toàn hết các yếu tố nguy hiểm và có hại, mà công nhận
một tình trạng an toàn tương đối, an toàn khi không có những "nguy cơ không thể chấp
nhận được" hay nói cách khác là an toàn trong điều kiện vẫn còn những "nguy cơ cho phép" mà chúng ta cần đánh giá, quản lý và kiểm soát được chúng Do đó ngành khoa
học về an toàn (Safety science) chuyên nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đề ra biệnpháp để kiểm soát các nguy cơ gây tai nạn lao động ngày càng được coi trọng và phát
Trang 15triển Cùng với điều đó, ngày nay trong quản lý sản xuất, người ta đã chuyển thứ tự ưutiên từ năng suất - chất lượng - an toàn sang an toàn - chất lượng - năng suất.
2.2.4 Khoa học về phương tiện bảo vệ người lao động ra đời với nhiệm vụ nghiên
cứu thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ tập thể hoặc cá nhân người lao động để sửdụng trong sản xuất nhằm chống lại ảnh hưởng xấu của các yếu tố nguy hiểm và có hại,khi mà các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh và kỹ thuật an toàn vẫn không giải quyết đượctriệt để, vẫn còn tồn tại những nguy cơ mất an toàn có thể gây tác hại đến sức khoẻ, tínhmạng NLĐ
Ngày nay, trong rất nhiều ngành sản xuất, nhiều loại phương tiện bảo vệ cá nhân,
ví dụ như mũ chống chấn thương sọ não; mặt nạ lọc hơi khí độc; các loại kính bảo vệ mắtchống bức xạ có hại; quần áo chống nóng, chống độc, kháng áp; các loại găng tay, giày,ủng cách điện, dây an toàn v.v là những phương tiện thiết yếu được coi như là nhữngcông cụ không thể thiếu được trong quá trình lao động
Để sản xuất ra được các PTBVCN, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều lĩnh vựckhoa học, từ nghiên cứu về vật liệu, hoá học, công nghệ chế tạo cho đến khoa học về tạodáng, nhân trắc, tâm sinh lý Mặt khác, việc đánh giá các loại PTBVCN được sản xuấttrong nước hoặc nhập từ nước ngoài về là một yêu cầu bắt buộc nghiêm ngặt Vì thế vấn
đề xây dựng các hệ thống đánh giá, các phòng thí nghiệm đủ sức đánh giá các PTBVCNcũng là một nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách
2.2.5 Ngoài các lĩnh vực trên, trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũbão của khoa học công nghệ, nhiều ngành khoa học mới ra đời và đã được ứng dụng ngay
có hiệu quả vào ATVSLĐ Các ngành khoa học về điện tử, điều khiển học, công nghệ tinhọc đã được ứng dụng rộng rãi trong khi giải quyết các vấn đề về ATVSLĐ Ngànhkhoa học Ecgônômi đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với thiết bị, máy móc,môi trường để sao cho con người làm việc trong điều kiện tiện nghi và thuận lợi hơn đãnhanh chóng trở thành một ngành khoa học rất phát triển trong ATVSLĐ Việc áp dụngcác thành tựu về Ecgônômi để nghiên cứu và đánh giá thiết bị, công cụ lao động, chỗ làmviệc, môi trường lao động và áp dụng các chỉ tiêu tâm sinh lý Ecgônômi, các dữ kiệnnhân trắc người lao động để thiết kế công cụ, thiết bị, tổ chức chỗ làm việc đã thực sự cảithiện rõ rệt ĐKLĐ, tăng các yếu tố thuận lợi, tiện nghi và an toàn trong lao động, giảmnặng nhọc, TNLĐ và BNN cho người lao động
Bên cạnh đó, những lĩnh vực khoa học mà trước đây tưởng như không có liênquan gì đến ATVSLĐ thì ngày nay chúng đã thâm nhập vào ATVSLĐ để góp phần phòngchống TNLĐ, BNN Ví dụ như việc áp dụng những nguyên lý của nhịp sinh học đã ra đời
"Thời sinh học" góp phần xác định nguy cơ cao dễ gây TNLĐ cho từng người lao động,
từ đó có thể biết trước mà phòng tránh TNLĐ; việc ứng dụng khoa học về tâm lý, vềphân tích các trạng thái "Stress" để góp phần giảm TNLĐ, BNN đang được một số tác giả
đề cập, nghiên cứu
KHCN ATVSLĐ còn có nhiệm vụ rất quan trọng là nghiên cứu đưa ra những cơ
sở khoa học làm luận cứ cho việc xây dựng các văn bản pháp luật, các chế độ chính sách,tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ, cho việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước
Trang 16về ATVSLĐ cũng như tổ chức thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện,đào tạo về ATVSLĐ Đối với mặt hoạt động này, KHCN ATVSLĐ phải căn cứ theo yêucầu của các chủ đề cần xây dựng các văn bản pháp luật mà tiến hành các nhiệm vụnghiên cứu khác nhau, từ nghiên cứu cơ bản, điều tra khảo sát, đo đạc, phân tích các sốliệu, điều tra xã hội học, thu thập ý kiến cho đến những nghiên cứu thiết kế và thửnghiệm mô hình, đề xuất và biên soạn các tài liệu, dự thảo văn bản … để giúp cho các cơquan quản lý Nhà nước, các cơ quan chức năng ban hành các văn bản pháp luật, các quiđịnh, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ cũng như có được các giáo trình, bàigiảng, tài liệu nghiên cứu về ATVSLĐ.
Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta đang chứng kiến sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học – công nghệ, sự phát triển và cạnh tranh gay gắt về kinh tế, kéotheo những sự thay đổi nhanh chóng về quy trình và tổ chức lao động, điều kiện làm việc.Nhiều thách thức lớn đặt ra trước chúng ta như vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môitrường, sự gia tăng các nguy cơ, các mối nguy hại trong sản xuất, từ đó làm gia tăngTNLĐ, BNN Thực tế đòi hỏi KHCN ATVSLĐ cũng phải có những sự thích ứng mới,đối phó kịp thời những nguy cơ, rủi ro mới Nhiều vấn đề đang đặt ra cần được quan tâm,nghiên cứu, xử lý để đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ.Những vấn đề mới đó thực sự đã trở thành đối tượng quan trọng cần nghiên cứu củaKHCN ATVSLĐ trong giai đoạn hiện nay Có thể nêu một số chủ đề mà KHCNATVSLĐ cần nghiên cứu sau đây:
- Vấn đề xây dựng văn hóa an toàn trong sản xuất với quan điểm lấy biện phápphòng ngừa làm ưu tiên hàng đầu Từ đó phải nghiên cứu xây dựng cho được cơ sở lýluận và thực tiễn cũng như mô hình cơ sở văn hóa an toàn trong sản xuất phù hợp vớithực tiễn của Việt Nam
- Vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đang trở thành một yêucầu bức xúc của mọi quốc gia và của toàn thế giới Nghiên cứu để kết hợp giữa ATVSLĐvới bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vì thế đã trở thành một chủ đềnghiên cứu quan trọng của KHCN ATVSLĐ trong những năm tới
- Với quan niệm mới rằng TNLĐ không phải là do số phận, do may rủi mà cónguyên nhân của nó và trong nhiều trường hợp ta có thể dự đoán được và từ đó có biệnpháp để dự phòng, hạn chế nó, KHCN ATVSLĐ cần phải đi sâu vào những cách tiếp cậnmới, chuyển từ nghiên cứu đánh giá hiện trạng các yếu tố nguy hiểm và có hại sangnghiên cứu đánh giá, phân tích, kiểm soát và quản lý các nguy cơ để phòng ngừa TNLĐ,BNN Vấn đề quản lý và kiểm soát nguy cơ an toàn và sức khỏe nghề nghiệp vì vậy đãtrở thành một nội dung quan trọng của KHCN ATVSLĐ
- Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ,khi nhiều yếu tố nguy hiểm và có hại cũ, có tính chất truyền thống giảm dần, thì cũng cónhiều nguy cơ mới xuất hiện và do đó rất dễ có những sự sao nhãng xảy ra trong công tácATVSLĐ Ở đây thường có hai thái cực khác nhau: Hoặc là quá chú trọng vào các nguy
cơ mới mà quên rằng các nguy cơ “truyền thống” không dễ mất đi, nhất là trong điềukiện nền kinh tế đang phát triển, đan xen giữa cũ và mới, giữa lạc hậu, thô sơ với hiện đại
Trang 17của những nước đang phát triển; hoặc là đã và đang phải xử lý các “nguy cơ truyềnthống” mà quên không chú ý đến những nguy cơ mới xuất hiện cùng với sự phát triển củakhoa học, công nghệ.
Thái độ đúng nhất là bên cạnh việc coi trọng xử lý, kiểm soát tốt các nguy cơtruyền thống, chúng ta cần hết sức coi trọng việc chủ động, đón đầu để kiểm soát cácnguy cơ mới phát sinh, ví dụ như hiện nay các vật liệu nano đã được đưa vào nhiều sảnphẩm tiêu dùng mà hầu như chúng ta chưa biết rõ các nguy cơ liên quan tới công nghệsản xuất và sử dụng nano; như các nguy cơ liên quan đến các yếu tố căng thẳng thầnkinh, tâm lý, như vấn đề stress tại chỗ làm việc… Vì vậy KHCN ATVSLĐ của nước tathời gian tới cần phải được quan tâm nghiên cứu, đề ra biện pháp quản lý, kiểm soát tốttất cả các nguy cơ cả cũ, truyền thống và cả mới, hiện đại để bảo đảm điều kiện làm việc
an toàn, tiện nghi, phòng chống tốt TNLĐ và BNN cho NLĐ nước ta trong giai đoạnmới
- Vấn đề tính toán hiệu quả kinh tế do ATVSLĐ mang lại cũng như những thiệt hại
về kinh tế do TNLĐ và BNN gây ra, cho đến nay vẫn đang là một vấn đề còn để ngỏ,chưa được quan tâm nghiên cứu Vì vậy trong thời gian tới KHCN ATVSLĐ cần phảiquan tâm nhiều hơn nữa vấn đề này
Qua sự phân tích trên đây cho thấy nội dung khoa học công nghệ ATVSLĐ mộtmặt được tiến hành để đưa ra các giải pháp khoa học công nghệ khác nhau ứng dụng vàosản xuất nhằm bảo vệ sức khoẻ NLĐ, mặt khác cũng rất quan trọng là đưa ra những cơ sởkhoa học làm luận cứ cho việc xây dựng các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, tiêuchuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ Điều này đã chứng tỏ sự gắn bó giữa tính chất khoahọc và tính chất pháp lý của công tác ATVSLĐ
2.3 Nội dung thông tin tuyên truyền, huấn luyện giáo dục, đào tạo về ATVSLĐ
và vận động, tổ chức quần chúng hoạt động ATVSLĐ.
Muốn cho các biện pháp KHCN cũng như các quy định của pháp luật về ATVSLĐđược thực hiện một cách có hiệu quả, điều cực kỳ quan trọng là phải làm sao cho mọingười, từ các cán bộ quản lý, NSDLĐ đến NLĐ nhận thức và có hiểu biết, kiến thức đầy
đủ về ATVSLĐ, thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong công tácBHLĐ để tự giác thực hiện Trong đó, đối tượng cần hết sức quan tâm là NSDLĐ vàđông đảo NLĐ, vì họ vừa là chủ thể của hoạt động quản lý, lao động sản xuất và thực thiATVSLĐ, lại vừa là đối tượng cần giáo dục, vận động, tổ chức thực hiện ATVSLĐ và cầnđược quan tâm bảo vệ Với cách đặt vấn đề như vậy, nói đến công tác tuyên truyền, giáodục, huấn luyện về ATVSLĐ và tổ chức vận động quần chúng hoạt động ATVSLĐ là nóiđến một nội dung hoạt động phong phú, chủ động tác động vào đối tượng vừa là mục tiêuvừa là động lực của công tác ATVSLĐ Hoạt động này không tốn kém nhiều mà lại đạthiệu quả cao, trực tiếp góp phần bảo vệ có hiệu quả sức khoẻ, tính mạng NLĐ
Nhóm nội dung này của ATVSLĐ bao gồm những hoạt động chủ yếu sau:
2.3.1 Sử dụng các hình thức và phương pháp, phương tiện có hiệu quả để thôngtin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện cho NSDLĐ và NLĐ có được nhận thức đầy đủ,
có hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng và sự cần thiết phải bảo đảm an toàn và vệ sinh
Trang 18trong lao động sản xuất, trình bày rõ cho họ những nội dung của các văn bản pháp luật cơbản về ATVSLĐ cũng như các qui định cụ thể của pháp luật trong các văn bản dưới Luậtnhư Nghị định, Thông tư, hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, qui định vềATVSLĐ Qua đó nêu lên cho họ thấy được nghĩa vụ và quyền lợi của mình trongBHLĐ, để họ có được những hiểu biết về các qui định, biện pháp cải thiện ĐKLV, phòngchống TNLĐ và BNN.
Việc huấn luyện ATVSLĐ phải có nội dung và thời lượng phù hợp với từng đốitượng khác nhau là cán bộ quản lý, NSDLĐ, cán bộ chuyên trách ATVSLĐ, an toàn vệsinh viên (ATVSV), NLĐ Riêng đối với NLĐ, việc huấn luyện ATVSLĐ cần được tiếnhành ngay từ khi tuyển chọn vào làm việc, khi thay đổi công việc và huấn luyện nhắc lạiđịnh kỳ hàng năm
Để làm tốt công tác huấn luyện về ATVSLĐ, một mặt cần tăng cường hơn nữa vaitrò quản lý của Nhà nước để có những qui định thống nhất hợp lý về chương trình, nộidung huấn luyện phù hợp với từng đối tượng Mặt khác cần phát huy, sử dụng tốt sự đónggóp của các cơ quan khoa học, cơ quan chuyên môn và các chuyên gia có trình độ vềATVSLĐ để xây dựng và thực hiện một chương trình, kế hoạch tập huấn đồng bộ vớinhững bài giảng có chất lượng, có phương pháp huấn luyện tốt, có hiệu quả, thu hút sựchú ý, say mê học tập, tiếp thu của người được huấn luyện
2.3.2 Sử dụng rộng rãi các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, truyềnhình cũng như tổ chức nhiều hoạt động như triển lãm, câu lạc bộ, hội thi để tuyêntruyền, phổ biến kiến thức về ATVSLĐ cho cộng đồng, giáo dục ý thức lao động có kỷluật, bảo đảm các nguyên tắc làm việc an toàn, chống làm bừa làm ẩu Tổ chức tốt việc tựkiểm tra về ATVSLĐ tại chỗ làm việc trong từng cơ quan đơn vị Phấn đấu xây dựng vănhoá an toàn tại nơi làm việc, gắn ATVSLĐ với BVMT, ứng phó với BĐKH và nâng caovăn hoá sản xuất
2.3.3 Tổ chức, phát động đông đảo quần chúng thi đua làm tốt công tác ATVSLĐ,thi đua phát huy sáng kiến, tự cải thiện ĐKLV Duy trì củng cố và mở rộng hơn nữanhững phong trào quần chúng hiện nay do tổ chức công đoàn phát động như phong trào
"Xanh, sạch, đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động" thực hiện tốt khẩu hiệu "An toàn đểsản xuất, sản xuất phải an toàn", "An toàn là bạn, tai nạn là thù" Thông qua phong trào,kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong ATVSLĐ, giới thiệu vànhân rộng các điển hình tiên tiến làm tốt công tác ATVSLĐ
2.3.4 Tổ chức và chỉ đạo hoạt động tốt mạng lưới ATVSV ở cơ sở Bồi dưỡng,nâng cao trình độ cho họ Tổ chức tốt các hội thi ATVSV giỏi các cấp, tiến tới định kỳ 3đến 5 năm tổ chức hội thi ATVSV giỏi toàn quốc
2.3.5 Tổ chức tốt các hoạt động của tuần lễ quốc gia "ATVSLĐ - PCCN" hàngnăm Thông qua việc tổ chức một cách hợp lý, thiết thực, có hiệu quả, tránh hình thứcchủ nghĩa tuần lễ hàng năm này để duy trì thường xuyên phong trào hoạt động vềATVSLĐ trong cả năm Cần bảo đảm cho tất cả các cơ sở, các cấp, các ngành có đượcchương trình hành động cụ thể về ATVSLĐ- PCCN hàng năm, tăng cường hơn nữa sựphối hợp hoạt động của các cấp chính quyền, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
Trang 19chức xã hội, trong đó có các Hội KHKT, Hội nghề nghiệp trong công tác ATVSLĐ ởnước ta Từng bước xã hội hoá công tác ATVSLĐ.
3 Những định hướng chủ yếu về ATVSLĐ cần tiến hành nghiên cứu trong thời gian tới.
Trên cơ sở những nội dung của ATVSLĐ đã nêu ở trên, chúng ta cần xác địnhnhững nội dung có tính chất định hướng cho hoạt động KHCN ATVSLĐ của nước tatrong giai đoạn đến 2020, tầm nhìn đến 2030 như sau:
3.1 Bằng sự phối hợp liên ngành giữa khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự
nhiên và khoa học công nghệ, tiến hành các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để cung
cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, qui định, hướng dẫn về ATVSLĐ của nước ta; cho việc đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về ATVSLĐ và quản lý của cơ sở về ATVSLĐ.
3.2 Tiêu chuẩn và quy chuẩn về ATVSLĐ là một loại hình văn bản pháp luật vềATVSLĐ rất đặc thù Tuy về mặt pháp lý, nó có mức độ bắt buộc không cao như Luật,Pháp lệnh, Nghị định…, nhưng về mặt bao trùm và phổ cập thì nó hết sức quan trọng, cótác động rất thiết thực, cụ thể đến mọi đối tượng, nhất là đối với các cơ sở, NSDLĐ và
NLĐ Vì vậy một hướng hết sức quan trọng là cần có các hoạt động nghiên cứu
KHCN ATVSLĐ để xây dựng cho được một hệ thống đồng bộ, toàn diện các Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ.
3.3 Hết sức coi trọng các nghiên cứu cơ bản, điều tra, khảo sát để nắm vững
một cách có hệ thống các đặc điểm của điều kiện thiên nhiên, khí hậu và con người Việt Nam Từ đó đưa ra những số liệu thống kê, những quy luật diễn biến, những cơ chế
tác động của các điều kiện đó đến con người lao động Việt Nam (ví dụ số liệu nhân trắc,tâm sinh lý của con người Việt Nam, số liệu về khí hậu, về ánh sáng, về các dạng nănglượng tự nhiên …) Kết quả của các nghiên cứu cơ bản nói trên sẽ là những tiền đề hếtsức quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng và triển khai các biện pháp để bảo đảm antoàn, bảo vệ sức khỏe NLĐ cũng như góp phần bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổikhí hậu của nước ta
3.4 Đối với công tác ATVSLĐ, điều kiện và môi trường lao động của từng cơ sở,từng ngành nghề và của cả nước ta cũng như tình hình TNLĐ, BNN của NLĐ trong sảnxuất là mục tiêu cần được nghiên cứu, xem xét, phân tích để nắm được thực trạng, từ đó
sẽ đề ra biện pháp để bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe NLĐ Vì vậy việc nghiên cứu,
điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng điều kiện và môi trường làm việc nhất là đánh giá các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, các nguy cơ gây ra TNLĐ, BNN cũng như việc phát hiện, phân tích, thống kê được đầy đủ, chính xác các TNLĐ, BNN là một nội dung hết sức quan trọng của KHCN ATVSLĐ.
Gắn liền với nội dung nói trên, KHCN ATVSLĐ cần bám sát sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước và sự phát triển của khoa học công nghệ của các ngành sản xuất qua
từng giai đoạn mà có sự phân tích, dự báo xu hướng biến đổi của điều kiện và môi
trường lao động cũng như diễn biến của TNLĐ, BNN đối với NLĐ.
Trang 203.5 Nếu như các nội dung nghiên cứu cơ bản, điều tra khảo sát, đánh giá nguy cơ,điều kiện và môi trường làm việc, TNLĐ, BNN, … sẽ cung cấp cho chúng ta những quyluật, số liệu cơ bản quan trọng và những bức tranh toàn cảnh cũng như cụ thể của từnglĩnh vực, ngành nghề, cơ sở về ĐKLV, môi trường lao động, TNLĐ, BNN … rất quý giá,
thì điều hết sức quan trọng tiếp theo đặt lên vai của KHCN ATVSLĐ là phải nghiên
cứu, đề xuất được các giải pháp KHCN, y sinh học, tổ chức quản lý … sao cho thật hợp lý, phù hợp với từng cơ sở, ngành nghề, từng đối tượng để cải thiện cho được ĐKLV, môi trường lao động, phòng ngừa và làm giảm TNLĐ, BNN đối với NLĐ Có
như vậy thì các kết quả nghiên cứu cơ bản, điều tra khảo sát nói trên mới có ý nghĩa vàhiệu quả bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe NLĐ mới đạt được cao
Đối với hướng nội dung này, cần lưu ý sâu hơn những điểm sau:
a Với việc lấy nguyên tắc phòng ngừa làm ưu tiên hàng đầu, khi nghiên cứu
các giải pháp nói trên cần tập trung vào việc đổi mới công nghệ sản xuất, sử dụng công nghệ sạch, các thiết bị và dây truyền sản xuất an toàn, phù hợp với yêu cầu Ecgônômi về thiên nhiên và con người Việt Nam.
b Với sự đa dạng của các ngành nghề sản xuất, các loại hình cơ sở, các đối tượng
lao động đặc thù của nước ta, trước hết cần hướng các giải pháp trên vào các ngành
nghề có nguy cơ cao về TNLĐ và BNN, các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa, các làng nghề, các đối tượng lao động yếu thế như lao động nữ, lao động vị thành niên, lao động khuyết tật, lao động trong các môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (dưới nước,
trên cao, trong rừng rậm, trên biển…)
c Các giải pháp để cải thiện điều kiện và môi trường lao động, phòng ngừaTNLĐ, BNN là hết sức đa dạng, phong phú, song trước hết cần tập trung vào các lĩnhvực chủ yếu sau đây:
- Trong lĩnh vực y sinh học, cần nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đặc thùcon người Việt Nam; nghiên cứu vận dụng để đưa ra các tiêu chuẩn giới hạn cho phépcác yếu tố độc hại trong môi trường phù hợp với điều kiện thiên nhiên, khí hậu và đặcđiểm sinh thể NLĐ Việt Nam; nghiên cứu chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, áp dụngcác biện pháp tích cực để giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi, phục hồi sức khỏe và khả nănglao động, phòng ngừa bệnh tật; nghiên cứu các biện pháp chuyên môn điều trị, điềudưỡng và phục hồi chức năng cho người bị TNLĐ, BNN…
- Trong lĩnh vực kỹ thuật vệ sinh, công nghệ xử lý môi trường lao động cần vừanghiên cứu, ứng dụng hợp lý, có chọn lọc các giải pháp cổ điển, truyền thống, vừa nghiêncứu áp dụng các giải pháp công nghệ mới, tiên tiến để phòng chống các yếu tố có hại nhưnhiệt, hơi khí độc, bụi, ồn, rung động, hóa chất, phóng xạ, bức xạ ion hóa, bức xạ điện từtrường…, bảo đảm môi trường lao động trong lành, ngày càng an toàn và tiện nghi choNLĐ
- Trong lĩnh vực kỹ thuật an toàn, cần ưu tiên hướng sự nghiên cứu vào các giảipháp chủ động thiết kế, chế tạo mới các thiết bị sản xuất, công cụ lao động an toàn, tiệnnghi, phù hợp với các tiêu chuẩn và yêu cầu Ecgônômi của con người Việt Nam; nghiêncứu thay thế những thao tác thủ công, nặng nhọc hoặc cách ly NLĐ khỏi những vùng làm
Trang 21việc nguy hiểm bằng biện pháp cơ khí hóa, tự động hóa, điều khiển từ xa; nghiên cứuthiết kế chế tạo những thiết bị, cơ cấu an toàn bổ sung cho những thiết bị, dây truyền sảnxuất, chỗ làm việc để phòng ngừa tác động của các yếu tố nguy hiểm đối với NLĐ gâychấn thương sản xuất; nghiên cứu các biện pháp và hướng dẫn an toàn cho việc sử dụngcác loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn (thiết bị áp lực, thiết bị nâng,thiết bị mới đưa vào sử dụng trong sản xuất).
- Trong lĩnh vực phương tiện bảo vệ tập thể (PTBVTT) và phương tiện bảo vệ cánhân (PTBVCN), cần hướng vào nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các loại PTBVTT vàPTBVCN truyền thống cũng như loại mới phát sinh do yêu cầu của các nghề, công việcmới của sản xuất, có chất lượng và phù hợp với đặc điểm sinh thể người Việt Nam đểcung cấp cho yêu cầu trong nước; đồng thời nghiên cứu phương pháp và đưa vào áp dụngcác hệ thống thiết bị đánh giá các loại phương tiện bảo vệ, nhất là PTBVCN được sảnxuất trong nước và nhập từ nước ngoài
- Vấn đề phòng cháy, chữa cháy được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật riêng (Luậtphòng cháy chữa cháy, chứ không phải Bộ Luật Lao động), song về phương diện KHCN,vấn đề cháy và nổ luôn xảy ra song hành và là một trong những mối nguy hiểm lớn trongsản xuất Vì vậy KHCN ATVSLĐ cần coi việc nghiên cứu các biện pháp phòng chốngcháy nổ trong sản xuất cũng là một trong những hướng quan trọng của mình
3.6 Con người, mà trực tiếp là người lao động là đối tượng chủ yếu, quan trọngnhất cần được bảo vệ của ATVSLĐ Bởi vậy trong các giải pháp KHCN ATVSLĐ thì cácnội dung nghiên cứu về con người và các biện pháp y học để bảo vệ tính mạng và sứckhỏe con người trong lao động là những nội dung hết sức quan trọng Việc nghiên cứucác biện pháp phòng ngừa chấn thương, bệnh tật, bệnh nghề nghiệp cho NLĐ; việc điềutrị các chấn thương, các bệnh nghề nghiệp, ốm đau bệnh tật liên quan đến nghề nghiệpcũng như phục hồi chức năng cho họ; vấn đề nghiên cứu để bổ sung kịp thời các bệnhnghề nghiệp mới vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở nước ta; vấn đềquản lý, phân loại, chăm sóc sức khỏe NLĐ … là những hướng nghiên cứu chủ yếu rấtquan trọng của KHCN ATVSLĐ
3.7 Như đã nói trong phần quan điểm, vấn đề thông tin, tuyên truyền, huấn luyện,giáo dục đào tạo về ATVSLĐ luôn gắn liền với KHCN ATVSLĐ, lấy KHCN làm cơ sở
Vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp, phương pháp, phương tiện có hiệu quả để thúc đẩy phát triển công tác thông tin khoa học về ATVSLĐ, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo về ATVSLĐ (Bao gồm nhiều mặt
từ xây dựng hệ thống tổ chức, trang bị phương tiện, nghiên cứu phương pháp, cho đếnxây dựng đề cương, chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu, đào tạo đội ngũ cán bộ,
giảng viên…) là một hướng tham gia hết sức quan trọng của KHCN ATVSLĐ.
3.8 Để đánh giá cho được những tổn thất về mặt chính trị, xã hội, kinh tế do sựsao lãng ATVSLĐ, do TNLĐ và BNN gây ra cũng như đánh giá cho đúng hiệu quả vềchính trị, xã hội, kinh tế do đảm bảo tốt ATVSLĐ mang lại cho NLĐ và đất nước, cầnphải có sự quan tâm đúng mức và có phương pháp luận đánh giá đúng đắn
Trang 22Vì vậy việc nghiên cứu phương pháp luận và cách tính toán các thiệt hại cũng như hiệu quả mang lại trên các mặt, nhất là về mặt kinh tế - xã hội, của công tác ATVSLĐ đối với các cơ sở, ngành, địa phương và cả nước cũng như đối với NLĐ trực tiếp là một trong những hướng cần được đặt ra nghiên cứu nghiêm túc của KHCN ATVSLĐ trong thời gian tới.
3.9 Trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vớiquốc tế về mọi mặt, do đó vấn đề ATVSLĐ nói chung và KHCN ATVSLĐ nói riêng cũng
sẽ phải phát triển trong xu hướng chung đó Nhiều vấn đề mới đặt ra cho công tácATVSLĐ, cả trên thế giới và cả ở trong nước, mà hầu như tất cả các vấn đề đó đều cầnphải được nghiên cứu trên cơ sở KHCN thì mới có thể giải quyết được, vào bảo đảm thúcđẩy sự nghiệp ATVSLĐ của nước ta lên một tầm cao mới, vừa bảo đảm sự phát triển đóphù hợp với xu thế chung của thế giới
Vì vậy các vấn đề mới về ATVSLĐ của thế giới đang đặt ra và được sự quan tâmcủa nhiều quốc gia như vấn đề xây dựng văn hóa an toàn với phòng ngừa là ưu tiên hàng
đầu – từ đó hình thành lý thuyết về “Văn hóa phòng ngừa”; vấn đề thay đổi quan niệm
về TNLĐ đi từ nhận thức đây là sự rủi ro không thể tránh khỏi đến nhận thức rủi ro chophép và có thể phòng tránh được – từ đó cần coi trọng đánh giá và kiểm soát rủi ro; vấn
đề quan hệ nhân quả giữa ATVSLĐ và bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khíhậu; vấn đề coi trọng vai trò của quần chúng, thực hiện xã hội hóa ATVSLĐ… là nhữngvấn đề rất quan trọng cần được KHCN ATVSLĐ quan tâm nghiên cứu trong những nămtới
IV NHỮNG QUY ĐỊNH CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN VÀ
VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật nói chung của nước ta bao gồm chủ yếu các loại văn bản sau đây(Được xếp theo mức độ có tính pháp lý cao nhất trở xuống):
- Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội
- Pháp lệnh, Nghị quyết của UB Thường vụ Quốc hội
- Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước
- Nghị định của Chính phủ
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
- Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước
- Nghị quyết liên tịch giữa UB thường vụ Quốc hội (hoặc Chính phủ) với cơ quan
TW của tổ chức chính trị - xã hội
- Thông tư Liên tịch (Giữa tòa án tối cao với Viện kiểm sát tối cao, giữa các Bộtrưởng với nhau hoặc với tòa án tối cao, Viện Kiểm sát tối cao)
Trang 23- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, UB nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc TW.
Các văn bản quy phạm pháp luật về ATVSLĐ cũng được xây dựng và ban hànhtheo khuân khổ quy định nói trên
Dưới đây chúng tôi trình bày tóm tắt một số văn bản quy phạm pháp luật vềATVSLĐ theo cách phân loại sau đây:
1 Những văn bản pháp luật khung về An toàn và vệ sinh lao động
Đối với mỗi quốc gia, để thể hiện quan điểm và đường lối chính sách của mình vềcông tác BHLĐ, thông thường người ta đưa ra một luật riêng hay một chương về BHLĐtrong Bộ luật Lao động Ở nước ta, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản pháp luậtkhung (văn bản do Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban hành) như sau:
- Tháng 3/1947, trong Sắc lệnh về lao động đầu tiên của nước ta số 29SL (banhành 12/3/1947) đã có chương VI với tên gọi "Vệ sinh và Bảo an cho người làm" gồm 18điều đề cập đến vấn đề ATVSLĐ Ngoài ra, trong sắc lệnh 29SL còn có nhiều điều ở cácchương khác như các điều 12, 99, 100, 106, 121, 122, 123, 131 đề cập đến vấn đề laođộng trẻ em, lao động nữ; một số điều trong chương VII nói về TNLĐ; một số điều trongchương IX đề cập đến việc xử phạt vi phạm về vệ sinh và bảo an đối với NLĐ Có thể coiSắc lệnh 29SL là Bộ luật Lao động đầu tiên của nước ta, mà trong đó những quy định tạimột số điều về Vệ sinh và Bảo an là những quy định pháp luật đầu tiên của nước ta liênquan đến BHLĐ
- Ngày 18/12/1964, Hội đồng Chính phủ đã có Nghị định 181/CP ban hành Điều lệtạm thời về Bảo hộ lao động Đây là văn bản tương đối toàn diện và hoàn chỉnh về Bảo
hộ lao động ở nước ta và chính thức được thi hành từ đó đến cuối năm 1991 Điều lệ gồm
6 chương, 38 điều Tuy đây là văn bản do Hội đồng Chính phủ ban hành, nhưng với ýnghĩa là văn bản duy nhất với tầm quan trọng cả về nội dung và thời gian có hiệu lực thihành của nó (trong 27 năm) nên hoàn toàn có thể gọi Điều lệ tạm thời về BHLĐ là vănbản pháp luật khung về BHLĐ của nước ta trong giai đoạn lịch sử 1964 đến 1991
- Trong tháng 9/1991, Hội đồng nhà nước đã thông qua và công bố ban hành Pháplệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1992 Pháp lệnh gồm 10chương, 46 điều quy định những nguyên tắc cơ bản và những điểm cụ thể về tổ chức,biện pháp kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp; xác định trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền hạncủa các ngành, các cấp, của tổ chức Công đoàn, của NSDLĐ và NLĐ trong lĩnh vựcBHLĐ Pháp lệnh Bảo hộ lao động đã được thực hiện có hiệu quả ở nước ta từ ngày01/01/1992 đến 12/1994
- Từ ngày 01/01/1995 Bộ luật Lao động của nước ta bắt đầu có hiệu lực Trong Bộluật Lao động có Chương IX gồm 14 điều nói về an toàn lao động, vệ sinh lao động.Ngoài ra trong các chương khác cũng có một số điều liên quan đến Bảo hộ lao động Đây là văn bản pháp luật chủ yếu về Bảo hộ lao động ở nước ta ở mức độ có tính pháp lýcao kể từ trước đến thời điểm đó
Các điều nêu trên trong Bộ luật Lao động về an toàn và vệ sinh lao động đã bao
Trang 24gồm những nội dung chủ yếu về Bảo hộ lao động mà Pháp lệnh Bảo hộ lao động đã nêulên Đồng thời có một số vấn đề được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới Bởi vậy
từ 1995, các điều khoản về Bảo hộ lao động nêu trong Bộ luật Lao động là những quyđịnh pháp lý cơ bản để điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực an toàn và vệ sinh laođộng ở nước ta
- Sau một thời gian thực hiện Bộ luật Lao động và các Nghị định hướng dẫn, Quốchội đã có 3 lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 1994 vào các năm 2002, 2006 và
2007 Theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành một số Nghị định để sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 mà Chính phủ đã ban hành để hướng dẫnthi hành Chương IX của Bộ luật Lao động
- Ngày 18/6/2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá 13 đã thông qua Bộ luật Laođộng năm 2012 Bộ luật này thay thế hoàn toàn Bộ luật Lao động 1994
- Ngày 26/5/2015, Quốc hội khóa 13, tại kỳ họp thứ 9 đã thông qua LuậtATVSLĐ Quốc hội đã có Nghị quyết số 84/2015/QH13 ban hành Luật ATVSLĐ Luậtnày sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 Đây là văn bản pháp luật toàn diện, hoàn chỉnh nhất
về ATVSLĐ của nước ta từ trước đến nay
- Ngoài các văn bản pháp luật khung chủ yếu liên quan trực tiếp đến ATVSLĐ nóitrên, ở nước ta còn có một số văn bản khác có những điều, những nội dung liên quan đếnATVSLĐ Có thể nêu đó là những văn bản chủ yếu sau:
+ Luật Công đoàn (1990) và Nghị định 133/HĐBT ngày 20/04/1991 Hiện nay làLuật Công đoàn (2012) và các Nghị định hướng dẫn mới kèm theo
+ Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989)
+ Luật Bảo vệ môi trường (1993) và Luật Bảo vệ môi trường 2005
+ Pháp lệnh Phòng chống cháy và chữa cháy (1961) và Luật Phòng cháy và chữacháy (2001)
Ngoài ra còn một số văn bản pháp luật khác, như Luật Đầu tư (2005), Luật Doanhnghiệp (2005), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Bảo hiểm xã hội(2006), Bộ luật Hình sự (1999 và sửa đổi bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng dân sự(2004 và sửa đổi bổ sung năm 2012) cũng có những điều liên quan đến ATVSLĐ
Qua trình bày cho thấy công tác ATVSLĐ là một lĩnh vực rộng lớn, liên ngành,được đề cập trong tất cả các hoạt động sản xuất, dịch vụ và công tác của xã hội Và chúng
ta có thể nói rằng đến nay ở nước ta đã có đủ các văn bản pháp luật khung chủ yếu nhất
về ATVSLĐ
2 Những văn bản pháp quy dưới luật về bảo hộ lao động ở Việt Nam
2.1 Văn bản pháp qui dưới luật ở cấp Trung ương và địa phương
Trên cơ sở văn bản pháp luật khung về ATVSLĐ ở Việt Nam đang có hiệu lựchiện hành là Bộ Luật Lao động và đến 1/7/2016 là Luật ATVSLĐ (thay thế cho chương 9của Bộ Luật Lao động và một số chương, điều khác), Chính phủ, các Bộ được giao quản
lý nhà nước về BHLĐ, các Bộ quản lý ngành và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam(TLĐLĐVN), theo qui định của pháp luật, đã và sẽ ban hành các văn bản pháp qui dưới
Trang 25luật để cụ thể hoá các nội dung của văn bản pháp luật khung về ATVSLĐ Các văn bảnpháp qui dưới luật về ATVSLĐ thường bao gồm các loại sau đây:
- Các nghị định do Chính phủ ban hành
- Các quyết định và chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Các Thông tư liên tịch, thường là do các Bộ quản lý nhà nước và trong một sốtrường hợp trước đây có cả TLĐLĐVN cùng phối hợp ký liên tịch
- Các thông tư do từng Bộ quản lý nhà nước, Bộ quản lý ngành hoặc riêngTLĐLĐVN ký ban hành
- Các quyết định của Bộ trưởng quản lý Nhà nước, quản lý ngành
- Các hướng dẫn, qui định do các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố,TLĐLĐVN
ban hành
Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu của từng vấn đề, từng thời gian mà các Bộ, Ngành,UBND Tỉnh, thành phố, TLĐLĐVN có thể ra những chỉ thị, qui định, hướng dẫn cụ thể
về ATVSLĐ Riêng TLĐLĐVN còn ra các nghị quyết về ATVSLĐ
Tổng hợp lại, các văn bản pháp qui dưới luật về ATVSLĐ ở nước ta có rất nhiềuloại, với nội dung đề cập đến các chủ đề chính Có thể nêu một số chủ đề cụ thể như sau:
- Hướng dẫn cụ thể những vấn đề chung đã được nêu trong các Bộ luật, luật vềATVSLĐ và liên quan
- Hướng dẫn, qui định về công tác ATVSLĐ ở cơ sở bao gồm những vấn đề về tổchức bộ máy, bố trí nhân sự, xây dựng kế hoạch, kiểm tra giám sát, tổ chức màng lướiATVSV, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn ở cơ sở, vấn đề thống kê, báo cáo về TNLĐ
Ở đây thường sử dụng dạng văn bản là các Thông tư liên tịch Ví dụ, Thông tư liên tịch
số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31/10/1998 do Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và TLĐLĐ Việt Nam ký liên tịch ban hành đã đề cậpđến những vấn đề trên Sau này Thông tư số 14 đã được thay thế bằng Thông tư liên tịch
số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 10/01/2011 (Lúc này theo qui định mới,TLĐLĐ Việt Nam không tham gia ký Thông tư liên tịch nữa)
- Những hướng dẫn về công tác huấn luyện ATVSLĐ
- Những hướng dẫn, qui định về việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo vềTNLĐ
- Những qui định, hướng dẫn về công tác thanh tra, kiểm tra về ATVSLĐ, qui định
xử phạt hành chính những hành vi vi phạm về ATVSLĐ
- Hướng đẫn điều kiện, thủ tục đăng ký, chỉ định tổ chức hoạt động dịch vụ kiểmđịnh kỹ thuật an toàn đối với các máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toànlao động
- Hướng dẫn thực hiện kiểm định kỹ thuật an toàn các loại máy, thiết bị, vật tư cóyêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động
- Qui định về danh mục các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm
Trang 26- Qui định về bổ sung danh mục các BNN được hưởng chế độ bảo hiểm về BNN.
- Qui định về việc quản lý sức khoẻ NLĐ
- Qui định về danh mục các phương tiện bảo vệ cá nhân cho các ngành nghề côngviệc
- Những hướng dẫn, qui định về chế độ giờ làm việc, nghỉ ngơi, phụ cấp làm thêmgiờ, chế độ lao động nữ, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật v.v
- Hướng dẫn về chế độ bồi thường, trợ cấp đối với người bị TNLĐ và BNN
Tương ứng với các chủ đề trên, có thể đến hàng trăm văn bản cần ban hành Ở đây
cơ quan có thẩm quyền theo đúng chức năng được giao, ban hành các dạng văn bản dướiluật tương ứng, có hiệu lực thi hành trong một thời gian nhất định Khi nào tình hình cóthay đổi, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành văn bản mới để bổ sung, sửa đổi hoặcthay thế bằng một văn bản hoàn toàn mới khác Sắp tới đây, sẽ có hàng loạt văn bản mớicần được ban hành để phù hợp với Luật ATVSLĐ, trong đó có những vấn đề mới đặt ra
mà từ trước đến nay chưa được đề cập Chính vì vậy mà chúng ta cần phải có một cáinhìn động về các yêu cầu, nội dung của các chủ đề nói trên để cập nhật kịp thời các vănbản mới Song về cơ bản, các chủ đề đã nêu trên vẫn là những nội dung chính mà côngtác ATVSLĐ phải đề cập đến trong quá trình phát triển
2.2 Văn bản pháp qui ở cấp cơ sở
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, đểthực hiện các qui định của pháp luật nêu trên, NSDLĐ, người quản lý đơn vị cần nắmvững các qui định của pháp luật về ATVSLĐ để áp dụng cụ thể vào điều kiện thực tế củađơn vị mình Ở đây, người quản lý cần phải ban hành những quyết định quản lý ATVSLĐ
ở cơ sở, cần xây dựng các qui trình làm việc an toàn, ban hành các qui định, nội qui antoàn cho từng phân xưởng, công đoạn, dây chuyền và từng thiết bị và chỗ làm việc cụthể Tất cả những văn bản, qui trình nội qui mà người quản lý đơn vị ban hành cũng đượccoi như những văn bản mang tính pháp lý cụ thể trong đơn vị, buộc mọi người liên quanthực hiện Có như vậy công tác ATVSLĐ ở đơn vị mới có qui củ, nề nếp và mới đạt hiệuquả cao Hiện nay ở nước ta còn khá phổ biến tình trạng các cơ sở sản xuất kinh doanhkhông có nhận thức đầy đủ, không nắm vững pháp luật về ATVSLĐ, thậm chí thiếu tráchnhiệm, không chủ động đề ra những qui định, biện pháp để thực hiện tốt pháp luậtATVSLĐ ở đơn vị
3 Hệ thống Tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động ở Việt Nam
Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ là một bộ phận của hệ thống cácvăn bản pháp luật về ATVSLĐ, được trình bày dưới dạng văn bản các hướng dẫn, qui tắc,qui định cụ thể để bảo đảm ATVSLĐ trong sản xuất, phòng tránh TNLĐ và BNN
Từ năm 2006 về trước, hệ thống tiêu chuẩn ATVSLĐ ở Việt Nam theo qui địnhcủa các văn bản pháp luật liên quan được biên soạn và ban hành dưới dạng các Tiêuchuẩn quốc gia (TCVN) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ Khoa học và Côngnghệ xét duyệt và ban hành, Tiêu chuẩn ngành (TCN) do từng Bộ, ngành quản lý chuyên
Trang 27ngành ban hành, Tiêu chuẩn địa phương và Vùng (TCV) do các địa phương ban hành vàcác Tiêu chuẩn cơ sở (TC) do từng cơ sở tự ban hành Bên cạnh TCVN, các Bộ, ngànhcòn ban hành các Quy phạm kỹ thuật.
Hệ thống tiêu chuẩn ATVSLĐ Việt Nam được ban hành cho đến trước năm 2007,
có thể phân loại vào 5 nhóm sau đây:
- Các tiêu chuẩn cơ bản, các khái niệm và định nghĩa
- Các tiêu chuẩn về yêu cầu chung và định mức các yếu tố nguy hiểm và có hạitrong sản xuất
- Các tiêu chuẩn yêu cầu chung về an toàn đối với thiết bị sản xuất
- Các tiêu chuẩn yêu cầu chung về an toàn đối với quá trình sản xuất
- Các tiêu chuẩn yêu cầu đối với các loại phương tiện bảo vệ cá nhân
Từ ngày 29/6/2006, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Luật tiêuchuẩn và qui chuẩn kỹ thuật và có hiệu lực từ tháng 01/2007 Theo Luật này, từ nay quiđịnh:
- "Tiêu chuẩn là qui định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn
để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này".
Hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam bao gồm:
+ Tiêu chuẩn quốc gia, ký hiệu là TCVN
+ Tiêu chuẩn cơ sở, ký hiệu là TCCS
- "Qui chuẩn kỹ thuật là qui định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu
quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác"
Hệ thống qui chuẩn kỹ thuật của Việt Nam bao gồm:
+ Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia, ký hiệu là QCVN
+ Qui chuẩn kỹ thuật địa phương, ký hiệu là QCĐP
- Theo luật này thì Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) do các Bộ, ngành tổ chức xâydựng dự thảo, còn Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định và công bố Còn Tiêuchuẩn cơ sở (TCCS) do các tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức
xã hội nghề nghiệp xây dựng và công bố Tiêu chuẩn được áp dụng trên nguyên tắc tựnguyện Toàn bộ hoặc một phần tiêu chuẩn cụ thể trở thành bắt buộc áp dụng khi đượcviện dẫn trong văn bản qui phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật Còn Qui chuẩn kỹ thuật
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng
Xét ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý thì hệ thống tiêu chuẩn và qui chuẩn kỹthuật về ATVSLĐ có mức thấp hơn so với một số văn bản pháp luật khác về ATVSLĐ,
Trang 28song xét về độ tỉ mỉ, cụ thể, linh hoạt và độ bao phủ trong thực tiễn thì hệ thống tiêuchuẩn và qui chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ lại có tính phổ cập và áp dụng rộng rãi hơn
V NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
1 Những vấn đề lý luận chung về quản lý
Khái niệm về quản lý khá phức tạp và đa dạng, hiện nay có nhiều cách giải thíchkhác nhau về quản lý Quản lý ra đời từ xa xưa, cùng với sự hợp tác và phân công laođộng C Mác đã coi sự xuất hiện của quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyểnnhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao độngđược phối hợp lại Chức năng quản lý là chức năng của một nhạc trưởng thể hiện ở sựđiều hoà những hoạt động cá nhân Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuậtđiều khiển người khác
Theo giáo trình "Quản lý hành chính Nhà nước" của Học viện Hành chính Quốc
gia thì khoa học và thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng quản lý được hiểu theo hai gócđộ: góc độ tổng hợp mang tính chính trị - xã hội và góc độ mang tính hành động thiếtthực Theo góc độ chính trị - xã hội thì quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động,còn theo góc độ hành động (qui trình công nghệ của tác động) thì qui trình quản lý là điềukhiển Theo khái niệm này, có ba loại hình quản lý, đều có một xuất phát điểm giống nhau
là "do con người điều khiển", nhưng khác nhau về đối tượng, đó là:
- Con người điều khiển các vật hữu sinh, nhưng không bắt chúng phải thực hiện ý
đồ và ý chí của người điều khiển Đó là quản lý trong sinh học, thiên nhiên, môi trường
- Con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ củangười điều khiển Đó là quản lý kỹ thuật
- Con người điều khiển con người - Đó là quản lý xã hội
Sau đây, chúng ta quan tâm nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba, quản lý xã hội.Chúng ta biết rằng, đối tượng của quản lý là những tổ chức, con người cụ thể cùngcác nguồn lực và công việc của họ, cho nên dựa vào sự khác nhau của các lĩnh vực hoạtđộng cơ bản của xã hội và các dạng tổ chức khác nhau mà chúng ta có thể phân loại quản
lý thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô, quản lý các tổ chức kinh tế, xã hội, khoa học,giáo dục, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự v.v
Nói về quản lý vĩ mô là quản lý quốc gia nói chung, là quản lý của Nhà nước vềnhững lĩnh vực, ngành kinh tế, quốc phòng an ninh, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục,dân số và lao động, an toàn vệ sinh lao động v.v Còn quản lý vi mô là quản lý một tổchức cụ thể như một doanh nghiệp, cơ quan, trường học mà chúng ta có thể gọi chung
là quản lý ở cơ sở Giữa quản lý vĩ mô và quản lý vi mô có mối quan hệ qua lại với nhau.Quản lý vĩ mô là quản lý một cách gián tiếp bằng đường lối chung, pháp luật, chính sách,công cụ điều tiết tạo ra môi trường chung cho các tổ chức vi mô (cơ sở) hoạt động Đồngthời kết quả hoạt động của các tổ chức vi mô là hiệu quả và sự thành bại của các chínhsách quản lý vĩ mô
Trang 29Qua phân tích trên đây, rõ ràng quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thểthiếu được trong đời sống xã hội Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý cànglớn và nội dung càng phức tạp.
2 Khái niệm quản lý nhà nước về An toàn và vệ sinh lao động:
Quản lý xã hội là quá trình phức tạp, đa dạng vì đối tượng tác động - khách thểcủa nó là hành vi con người có ý chí và tư duy độc lập, là hoạt động của cơ quan, tổ chứccủa con người Còn chủ thể của quản lý xã hội là Nhà nước, một tổ chức chính trị đặcbiệt và các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị (giai cấp, chính đảng, tổ chức
xã hội ) Như vậy quản lý xã hội bao hàm khái niệm quản lý các công việc của Nhànước (tức là phần quản lý xã hội do Nhà nước đảm nhận, hay còn gọi là quản lý nhànước) và quản lý các công việc xã hội (phần quản lý xã hội còn lại do các chủ thể khácđảm nhận)
Ta có thể hiểu quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của
bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổchức xã hội, nhằm giữ gìn trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định
Như vậy, quản lý nhà nước là khoa học sử dụng quyền lực để tổ chức, điều hànhcông việc quản lý của Nhà nước trên tất cả mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội Nócũng là nghệ thuật chỉ huy với sự vận dụng sáng tạo, thích ứng với tình thế nhưng khôngvượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật để đem lại hiệu quả cao nhất cho công việc
Để thực hiện quản lý nhà nước có hiệu quả, cần phải thực hiện tốt qui trình quản
lý bao gồm 7 vấn đề sau đây:
- Quy hoạch và kế hoạch: Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quanđiểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, cần phải tiến hành xây dựng kế hoạch quy hoạch
cụ thể cho lĩnh vực mà chúng ta đang quản lý
- Tổ chức bộ máy: Cần xây dựng một bộ máy gọn nhẹ, có qui định chức năng,nhiệm vụ, quan hệ phối hợp đầy đủ và quản lý chặt chẽ hoạt động của bộ máy quản lý
- Sắp xếp, bố trí, quản lý nhân sự: Cần xây dựng tiêu chuẩn, yêu cầu và sắp xếpđội ngũ cán bộ, công chức vào các nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy; quản lý, đánh giá chínhxác đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với họ
- Ra các quyết định quản lý: Trên cơ sở tập hợp đầy đủ các thông tin, xử lý và đề
ra các phương án khác nhau, lựa chọn và thẩm định phương án, sau đó ban hành cácquyết định quản lý nhà nước
- Phối hợp: Cần phải có một cơ chế phối hợp có hiệu quả trong quá trình thực hiệncác hoạt động
- Sử dụng các nguồn lực: Đây là một nội dung quan trọng, liên quan đến ngânsách, tài chính, cơ sở vật chất cần được khai thác, quản lý một cách có hiệu quả, chặt chẽ
- Chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết, đánh giá: Cần phải có sự chỉ đạo sát sao để thực hiệncác quyết định, đồng thời phải tiến hành kiểm tra, đánh giá để có những biện pháp điềuchỉnh kịp thời, cần sơ, tổng kết, đánh giá kết quả việc thực hiện các quyết định quản lý
Trang 30Như đã trình bày ở phần trên, quản lý nhà nước là quản lý vĩ mô của Nhà nước vềcác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong thực tế hiện nay, Nhà nước ta thựchiện chức năng quản lý trên tất cả các mặt chủ yếu của xã hội như quản lý nhà nước vềkinh tế, quản lý Nhà nước về quốc phòng và an ninh, quản lý nhà nước về tài chính, tiền
tệ, quản lý nhà nước về văn hoá tư tưởng, về khoa học công nghệ, về y tế, về giáo dục, vềdân số và lao động Các lĩnh vực quản lý nhà nước nói trên đã được thực hiện trongnhiều năm với mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng, phương pháp quản lý đã được xác định rõ,ngày càng đổi mới, hoàn thiện Trong khi đó, quản lý nhà nước về ATVSLĐ tuy cũng đãđược thực hiện trong nhiều năm qua, nhất là từ khi có Bộ luật Lao động (1995), nhưngvẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, chưa được giải quyết tốt và hoàn chỉnh
Bởi vậy, việc không ngừng nghiên cứu để góp phần xây dựng, hoàn thiện sự quản lýnhà nước về ATVSLĐ là một nội dung hết sức quan trọng trong chiến lược về ATVSLĐ củanước ta
Nói đến quản lý nhà nước về ATVSLĐ là nói các cơ quan quản lý của Nhà nước,trên cơ sở những văn bản pháp luật chủ yếu đã được Quốc hội ban hành, xây dựng và banhành các văn bản pháp qui dưới luật, sử dụng các phương pháp quản lý nhà nước thíchhợp, thực hiện các hoạt động theo qui trình quản lý để chỉ đạo, hướng dẫn, điều chỉnh cáchoạt động ATVSLĐ nhằm phát triển công tác này đạt mục tiêu đã đề ra
Ở đây có một vấn đề đặt ra từ trong thực tiễn hoạt động ATVSLĐ những năm qua
là làm sao phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước với nhiệm vụ, hoạt động cụ thể củacác cơ quan chuyên môn, tổ chức xã hội để tránh sự dẫm đạp, chồng chéo, bao biện lẫnnhau và cũng không để sót việc, không có người chăm lo đến hoạt động này Theo quanđiểm đó, quản lý nhà nước là tạo ra hành lang pháp lý, hướng dẫn, điều chỉnh mọi hành
vi, hoạt động phải đi đúng quỹ đạo, nằm đúng trong hành lang pháp lý đó, còn các cơquan chuyên môn, khoa học, các tổ chức, cá nhân khi đã tôn trọng hành lang pháp lý đóthì được phép thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn, khoa học của mình Tránh việc cơquan quản lý vừa tạo hành lang pháp lý, vừa đứng ra hoạt động tác nghiệp chuyên môn,khoa học, không cho phép và không tạo điều kiện cho các cơ quan chuyên môn, khoa họchoạt động tác nghiệp của mình
3 Nội dung chủ yếu của quản lý An toàn và vệ sinh lao động ở Việt Nam
Cũng như các lĩnh vực khác, công tác quản lý ATVSLĐ ở nước ta hiện nay gồm
có quản lý vĩ mô của Nhà nước về ATVSLĐ và quản lý vi mô của tổ chức cơ sở vềATVSLĐ Phải nói một cách thẳng thắn rằng, những nội dung chủ yếu của công tác quản
lý ATVSLĐ, ở cả hai cấp độ hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiêncứu, bổ sung hoàn chỉnh Trên cơ sở các qui định của pháp luật ATVSLĐ và tham khảohướng dẫn hệ thống quản lý ATVSLĐ của ILO, chúng ta cần xác định một cách rõ ràng,đầy đủ hơn những nội dung, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước về ATVSLĐ cũng như quản
lý của cơ sở về ATVSLĐ
3.1 Nội dung quản lý nhà nước về An toàn và vệ sinh lao động:
Vấn đề quản lý nhà nước trong công tác BHLĐ ở Việt Nam được pháp luật qui
định chung trong chương 15 về "Quản lý nhà nước về lao động" tại các Điều 180, 181
Trang 31(Bộ luật Lao động năm 1994) và nay là các Điều 235, 236 của Bộ luật Lao động năm2012; tại một số Nghị định hướng dẫn thực hiện Bộ luật Lao động như ở các Điều 18, 19của Nghị định 06/CP của Chính phủ và điểm 7 sửa đổi, bổ sung của Nghị định số110/2002/NĐ-CP Ngoài ra, theo từng nhiệm kỳ của Chính phủ, nội dung quản lý nhànước còn được qui định cụ thể trong một số Nghị định của Chính phủ, như nhiệm kỳtrước là các Nghị định số 86/2002/NĐ-CP, Nghị định số 29/2003/NĐ-CP và Nghị định số49/2003/NĐ-CP và trong nhiệm kỳ hiện nay là tại các Nghị định số 36/2012/NĐ-CP;Nghị định số 106/2012/NĐ-CP và Nghị định số 63/2012/NĐ-CP Căn cứ vào các qui địnhcủa pháp luật và thực tế những năm hoạt động trong công tác ATVSLĐ vừa qua ở nước
ta, đồng thời tham khảo hướng dẫn về hệ thống quản lý ATVSLĐ của ILO, chúng ta cóthể tổng hợp và nêu lên những nội dung chủ yếu trong quản lý nhà nước về ATVSLĐ baogồm những điểm chính sau đây:
1 Ban hành các văn bản pháp luật để quản lý và điều hành thống nhất hoạt độngATVSLĐ Các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSLĐ, căn cứ vào Bộ luật Lao động đãđược Quốc hội thông qua, tiến hành xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy dướiluật (Nghị định, thông tư, hướng dẫn, qui định ) về ATVSLĐ cũng như các tiêu chuẩn,qui chuẩn kỹ thuật về ATVSLĐ để hướng dẫn, điều chỉnh các mối quan hệ, các hành vicũng như các hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân, đặc biệt là NSDLĐ và NLĐ trong côngtác ATVSLĐ
2 Trên cơ sở chiến lược phát triển công tác ATVSLĐ của nước ta trong từng thời
kỳ phát triển (2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030), tiến hành xây dựng chương trìnhquốc gia về ATVSLĐ cho từng giai đoạn 5 năm Trong chương trình phải nêu rõ mụctiêu, nội dung, biện pháp, các dự án, đề tài về ATVSLĐ và huy động đông đảo các tổchức, cá nhân tham gia thực hiện
3 Nhà nước xây dựng Kế hoạch hoạt động hàng năm cho ATVSLĐ và dự toán kinhphí để đưa vào ngân sách Nhà nước Đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân, đặc biệt
là các cơ sở sản xuất, các cá nhân NSDLĐ đóng góp nguồn lực, tài chính cho sự phát triểnATVSLĐ Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội trong việc chi phí đền bù cho những người
bị mất sức lao động do TNLĐ và BNN
4 Tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước vềATVSLĐ từ trung ương đến địa phương Theo qui định của Chính phủ, ở nước ta Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội được giao chủ trì quản lý nhà nước về công tác ATVSLĐ.Ngoài ra một số bộ khác như Y tế, Giáo dục đào tạo, Khoa học công nghệ, Tài nguyên vàmôi trường, Quốc phòng được giao quản lý nhà nước từng phần theo chức năng củamình Bởi vậy việc củng cố bộ máy tổ chức và bố trí đội ngũ cán bộ quản lý ATVSLĐ ởcác bộ nói trên phải được quan tâm đúng mức tương ứng với nhiệm vụ được giao Cầnđặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý ATVSLĐ ở các bộ, ngànhnói trên và cho cả hệ thống xuống đến địa phương Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn,huấn luyện cho đội ngũ cán bộ quản lý ở cơ sở để họ nắm vững pháp luật, nâng cao nănglực, làm tốt công tác quản lý ATVSLĐ ở cơ sở