Do đó, ngoài các cách thức hợp pháp được thực hiện trong hoạt động thương mại, cũng như trong hoạt động xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp này sẽ sẵn sàng thực hiện các hoạt động để t
Trang 1NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 2020-2021
Tên đề tài:
“HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, thì ngoài việc xây dựng các chủ trương, chính sách, Nhà nước còn khuyến khích các chủ thể kinh doanh trong
và ngoài nước đẩy mạnh các hoạt động thương mại, cũng như các hoạt động xúc tiến thương mại để tìm kiếm các cơ hội thúc đẩy việc tiêu thụ các loại hàng hoá, dịch vụ sao cho môi trường kinh doanh ngày càng được nâng cao Đích đến cuối cùng của chúng ta là nhằm phát triển kinh tế của đất nước nhưng phải đồng thời đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên, đặc biệt là lợi ích của người tiêu dùng - đối tượng trực tiếp của hoạt động khuyến mại nói riêng cũng như các hoạt động thương mại nói chung trong nền kinh tế thị trường.
Do vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
là rất cần thiết người luôn ở vị trí yếu thế khi họ tiến hành giao dịch các hoạt động doanh nghiệp thương mại.
Thực tế cho thấy, khi các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động thương mại, đa phần các doanh nghiệp đó đều hướng đến lợi nhuận và lợi ích vật chất hoặc phi vật chất mà họ mong muốn Do đó, ngoài các cách thức hợp pháp được thực hiện trong hoạt động thương mại, cũng như trong hoạt động xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp này sẽ sẵn sàng thực hiện các hoạt động để tạo lợi thế cho sản phẩm của mình, phổ biến nhất chính là việc doanh nghiệp dành cho người tiêu dùng những lợi ích nhất định khi họ mua các sản phẩm, chính là hoạt động khuyến mại Tuy nhiên, cũng có không ít
bộ phận các doanh nghiệp lợi dụng khuyến mại để lôi kéo người tiêu dùng một cách bất chính, không đem lại những lợi ích vật chất theo đúng như chương trình khuyến mại hợp pháp dành cho họ Chẳng hạn như doanh nghiệp sẽ thực hiện các hình thức khuyến mại thiếu trung thực, lừa dối khách hàng, tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng v.v.
Chính vì vậy, nhóm tác giả đã lưạ chọn đề tài : “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam hiện nay” nhằm đánh giá thực trạng của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại, qua đó làm rõ những điểm mới, điểm hạn chế còn tồn tại và đề ra phương án giải quyết góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tạo một
Trang 2môi trường cạnh tranh và cởi mở cho các nhà đầu tư phát triển nền kinh tế trong và ngoài nước.
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Bài viết nhằm làm sáng tỏ các lý luận về người tiêu dùng, hoạt động khuyến mại, quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng và các chủ thể khác có mối quan hệ liên quan; đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong các hoạt động khuyến mại, đưa ra những ưu nhược điểm trên cơ sở thực thi pháp luật về bảo
vệ người tiêu dùng, cùng với đó phân tích so sánh về việc ghi nhận quyền của người tiêu dùng ở các quốc gia khác trên thế giới, những vấn đề pháp lý nảy sinh để
có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp định hướng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong các hoạt động khuyến mại
3 Đối tượng nghiên cứu:
Là những nội dung pháp luật hiện hành liên quan đến người tiêu dùng trong hoạt động khuyên mại tại Việt Nam hiện nay, thực tiễn xây dựng và việc thực phi pháp luật tại Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu:
Về việc bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại tại Việt Nam, có rất nhiều các văn bản QPPL hiện hành liên quan có thể kể đến như: Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Thương mại 2005 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản QPPL này
5 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng nhiều các phương pháp như: phương pháp luận logic, phân tích, lý giải, phương pháp đánh giá trong việc nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến người tiêu dùng trong các hoạt động khuyến mại; các phương pháp bình luận, đối chiếu, so sánh, thống kê, hệ thống, phương pháp chứng minh,… làm sáng tỏ về mặt khoa học của lý luận và thực tiễn của đề tài trong từng nội dung cụ thể
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bài nghiên cứu:
Bài viết là công trình nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống về những vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn để làm cơ sở cho việc hoàn thiện các tài liệu pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại
7 Kết cấu bài nghiên cứu
Chương 1: Những lý luận cơ bản về người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại tại Việt Nam
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn thực hiện bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện bảo
vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại
II PHẦN NỘI DUNG
Trang 3CHƯƠNG 1.NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về hoạt động khuyến mại
1.1.1 Khái niệm về hoạt động khuyến mại
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động khuyến mại
1.1.3 Phân loại các hoạt động khuyến mại
1.1.4 Nguyên tắc của hoạt động khuyến mại
1.1.5 Vai trò của hoạt động khuyến mại
1.1.6 Phân biệt khuyến mại với khuyến mãi
1.2 Khái quát về người tiêu dùng
1.2.1 Khái niệm người tiêu dùng tại Việt Nam
1.2.2 Khái niệm người tiêu dùng tại một số quốc gia khác trên thế giới 1.3 Sự cần thiết và cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến
mại tại Việt Nam 1.3.1 Các quy định của pháp luật để bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động
khuyến mại 1.3.2 Các chủ thể có thẩm quyền bảo vệ người tiêu dùng
1.3.2.1 Cơ quan hành chính nhà nước 1.3.2.2 Cơ quan tài phán
1.3.2.3 Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 4CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU
DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI 2.1 Tổng quan về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại tại Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại
Tại Việt Nam, với quan niệm người tiêu dùng là chủ thể trong các giao dịch thương mại – dân sự, pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ sự công bằng và duy trì tính minh bạch của các hợp đồng là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại … Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại kể từ khi Pháp lệnh về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Pháp lệnh) được ban hành năm 1999 Dù các văn bản pháp luật trên đã có hiệu lực, song thực trạng vi phạm quyền của người tiêu dùng ngày càng nghiêm trọng Các nhà khoa học, các cơ quan có thẩm quyền
và các hiệp hội của người tiêu dùng đã có nhiều cố gắng tìm kiếm và phân tích các nguyên nhân của tình trạng trên như sự thờ ơ của người tiêu dùng trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để tự bảo vệ, sự lãnh cảm của nhiều công chức và của các
cơ quan có trách nhiệm, vai trò mờ nhạt của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng … Như một tất yếu, nguyên nhân quan trọng nhất được quy về cho sự không đồng bộ
và thiếu hiệu quả của hệ thống pháp luật Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước đang cố gắng nâng cấp Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành Luật Bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Luật BVNTD) Chúng tôi cho rằng, việc nâng cấp pháp lệnh thành luật là cần thiết để khẳng định giá trị pháp lý của lĩnh vực pháp luật này Song nhiệm vụ quan trọng hơn vẫn là pháp luật phải có nội dung hợp lý và xây dựng được thiết chế thực thi hiệu quả Trong đó, đạo luật đang được xây dựng cần khắc phục những nhược điểm căn bản của các văn bản hiện hành và được đặt vào môi trường pháp lý thuận lợi thì mới có thể phát huy giá trị thực sự
Người tiêu dùng (NTD) là đối tượng trực tiếp của hoạt động khuyến mại nói riêng cũng như các hoạt động thương mại nói chung trong nền kinh tế thị trường
Trang 5Do vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại là rất cần thiết, trên thực tế, vấn đề này đã được quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật Thương mại năm 2005, Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản luật này
Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh các hoạt động thương mại, bao gồm hoạt động khuyến mại Tuy nhiên, hoạt động khuyến mại ở đây được điều chỉnh chủ yếu về các điều kiện để một sản phẩm khuyến mại được coi là hợp pháp, quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể, hình thức pháp lý về thỏa thuận giữa các bên mà không
có quy định riêng nào cho vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại Vấn đề này xuất phát từ đặc điểm phân ngành của pháp luật Việt Nam, các nhà làm luật chỉ xác định hoạt động khuyến mại phải tuân theo nguyên tắc chung của các hoạt động thương mại được ghi nhận tại Điều 14 Luật Thương mại năm 2005, đó là nguyên tắc "bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD” Các nội dung cụ thể như quyền và nghĩa vụ của NTD, trách nhiệm của các chủ thể khuyến mại đối với NTD, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của NTD… được quy định tập trung tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác
Về nguyên tắc "bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD”, Điều 14 Luật Thương mại năm 2005 quy định: "Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa
vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho NTD về hàng hóa và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó; thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh” Như vậy, với tư cách là một hoạt động thương mại, khuyến mại cũng phải chịu sự điều chỉnh của quy định này Điều đó có nghĩa là, các thương nhân khi tiến hành hoạt động khuyến mại luôn phải coi việc bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD là trách nhiệm của mình, đây là yếu tố mang tính đạo đức kinh doanh bắt buộc của các chủ thể thương mại Nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của các chủ thể kinh doanh và lợi ích của NTD, bên cạnh việc xây dựng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động thương mại, Luật
Trang 6Thương mại năm 2005 cũng quy định các hành vi khuyến mại bị cấm Có thể thấy, việc quy định các hành vi khuyến mại bị cấm hướng đến bảo vệ lợi ích của các thương nhân, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh cũng bao hàm cả mục đích bảo
vệ quyền lợi NTD
2.1.2 Những quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, các thương nhân phải dùng mọi cách thức, mọi thủ đoạn để giành thị phần của nhau Sự cạnh tranh này suy cho cùng đều nhằm vào hành động mua sắm, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của NTD Vì vậy, dù ở góc độ nào, NTD chắc chắn là đối tượng chịu ảnh hưởng của các biện pháp cạnh tranh Việc nghiêm cấm các hành vi khuyến mại trên có ý nghĩa bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh, qua đó, quyền lợi chính đáng của NTD cũng được bảo vệ Tuy nhiên, chỉ quy định như trong Luật Thương mại năm 2005 là chưa đủ để bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại NTD chỉ thực sự được bảo vệ khi pháp luật quy định rõ
họ có những quyền gì, cơ chế thực hiện quyền của NTD ra sao, trách nhiệm của các thương nhân khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm như thế nào… Những vấn đề này được ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Cạnh tranh năm 2004 và những văn bản pháp luật khác có liên quan
Bên cạnh những quy định chung, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng chứa đựng những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại Điều 10 Luật này đã quy định những hành vi bị cấm đối với các
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng Luật cũng quy định trách nhiệm "bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp” của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD (Điều 13) Trong lĩnh vực khuyến mại, NTD có quyền được cung cấp thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ Để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, NTD có quyền "yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức,
Trang 7cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật” (khoản 6, 7 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) Pháp luật còn cho phép NTD được thành lập
tổ chức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, NTD có thể trực tiếp hoặc thông qua tổ chức xã hội để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi bị xâm phạm
Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng xác định khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đây là hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của NTD (khoản 4 Điều 3) Điều 46 của Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng quy định về các hành vi bị coi là khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, quy định này về cơ bản tương tự quy định về các hành vi khuyến mại bị cấm trong Luật Thương mại năm 2005 Trong pháp luật cạnh tranh, NTD có quyền trực tiếp hoặc thông qua hiệp hội của mình để khởi kiện theo thủ tục tố tụng cạnh tranh khi quyền lợi của họ bị các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh xâm hại, NTD có thể được miễn giảm nghĩa vụ nộp phí xử lý vụ việc cạnh tranh (khoản 12 Điều 56)
Để cụ thể hóa việc bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (Nghị định số 37/2006/NĐ-CP) Theo đó, khuyến mại phải tuân theo các quy định pháp luật về nguyên tắc thực hiện khuyến mại; hạn mức tối đa giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
và mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại; các hình thức khuyến mại; trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện khuyến mại Đồng thời, quy định rõ các trường hợp bị đình chỉ thực hiện chương trình khuyến mại (Mục 1, 2 và 3 Chương II)
Trang 82.1.3 So sánh với pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại tại một số quốc gia trên thế giới
Nhìn chung, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại đã được các nhà làm luật nội luật hóa vào các quy phạm pháp luật Trong đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD và pháp luật khuyến mại khẳng định trách nhiệm của thương nhân tôn trọng quyền và lợi ích của NTD trong hoạt động cạnh tranh và xúc tiến thương mại nói chung; quy định trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại nói riêng Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thương mại trong việc bảo vệ quyền lợi NTD khá đồng bộ và phù hợp với các yêu cầu trong "Bản hướng dẫn bảo vệ NTD” của Liên Hợp Quốc
Đến thế kỷ 20, khi khoa học công nghệ phát triển vượt bậc đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì hàng hóa, dịch vụ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp hơn Hàng mỹ phẩm, phẩm dinh dưỡng có sử dụng nguyên liệu hoặc chất phụ gia cùng với các loại hàng cơ khí, điện tử có các bộ phận gây ảnh hưởng đến sự an toàn cho người sử dụng xuất hiện ngày càng nhiều NTD có nguy cơ mua phải hàng hóa, dịch vụ không an toàn cho sức khỏe của mình bởi họ không đủ chuyên môn để đánh giá được chất lượng hàng hóa, dịch vụ đó bằng mắt thường Ngoài ra, trước đây, nhà phân phối là những người có kĩ năng để lựa chọn hàng hóa có chất lượng nhưng ngày nay bản thân họ cũng bị hạn chế về hiểu biết đối với công nghệ của các sản phẩm họ bán Mặt khác, trong nền kinh tế hiện nay, NTD vì nhiều lý do mà không còn thận trọng trong các quyết định mua hàng
Từ các lý do nêu trên, các giao dịch dân sự mua bán hàng hóa giữa NTD và thương nhân dần dần đã chuyển từ thế bình đẳng sang thế bất cân xứng, ở đó lợi thế nghiêng về phía nhà sản xuất (nhà chuyên môn) bởi những người này hiểu rất rõ về hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp cũng như các khuyết tập ẩn dấu, những nguy hiểm có thể xảy ra cho người sử dụng Có thể nói, khi giao dịch mua bán hàng hóa với thương nhân, NTD gặp nhiều điểm bất lợi và yếu thế hơn so với thương nhân: yếu thế về thông tin, yếu thế về khả năng đàm phám, yếu thế về khả năng chi phối giá cả và các điều kiện giao dịch cũng như yếu thế về khả năng chịu rủi ro phát sinh
Trang 9từ quan trình tiêu dùng hàng hóa Bởi vậy, vì lợi nhuận, thương nhân làm ăn không chân chính sẵn sàng lợi dụng yếu thế này của NTD mà xâm phạm quyền lợi của họ
Do đó, để đảm bảo sự cân bằng trong quan hệ giữa NTD với thương nhân xuất hiện ý tưởng phải bảo vệ NTD trước hết là nhằm chống lại các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn cho NTD và để bảo vệ sự an toàn cho NTD Việc quy định trách nhiệm của nhà sản xuất, cũng như các chế tài áp dụng khi nhà sản xuất vi phạm trong các văn bản pháp luật là chưa đủ NTD cần một tổ chức có thể đứng lên bảo
vệ họ, bênh vực họ và đại diện cho họ Ý tưởng này bắt đầu nổi lên sau chiến tranh thế giới thứ II và ngày càng phát triển trong những năm gần đây Ở các nước, dần xuất hiện các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ NTD, không dừng ở đó, các tổ chức bảo vệ NTD quốc tế cũng được thành lập Điều này được chứng minh bằng sự ra đời và phát triển của các tổ chức Quốc tế NTD Năm 1960 với 5 nước sáng lập là Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan và Mỹ đã thành lập Liên hiệp các tổ chức Quốc tế NTD Đến năm 1994, tổ chức này được đổi tên thành Quốc tế NTD – với tên viết tắt là CI
Từ 5 thành viên ban đầu, đến năm 2004 CI đã có 267 thành viên ở trên 123 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới, đấu tranh trên phạm vi quốc tế cho những chính sách
có liên quan đến NTD [70] Bản hướng dẫn bảo vệ NTD của Liên hợp quốc đã được Đại hội đồng thông qua vào năm 1985 Sau năm 1999, phần về bảo vệ môi trường đã được Liên hợp quốc bổ sung vào hướng dẫn Đây là văn bản có tính chất quốc tế về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đã giúp ích rất nhiều cho các chính phủ trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ quyền lợi của NTD tại quốc gia của mình Trong nhiều năm, hoạt động, tổ chức quốc tế người tiêu dùng đã
có nhiều hoạt động tích cực nhằm thực hiện trên thực tế các quy định trong bản hướng dẫn như: Các quy định về an toàn sản phẩm: Quốc tế NTD đã thiết lập tiêu chuẩn đối với các sản phẩm tiêu dùng và trở thành tiếng nói của NTD trong nhiều
ủy ban tiêu chuẩn hóa quốc tế như Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), Ủy ban
Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm (CODEX),…; nhằm đảm bảo an toàn, cung cấp đầy đủ thông tin cho NTD trong việc lựa chọn sản phẩm
là lương thực, thực phẩm, Quốc tế NTD đấu tranh thúc đẩy các chính phủ quy định các nhà sản xuất phải ghi nhãn cho các thực phẩm chuyển gen Bên cạnh đó, Quốc
Trang 10tế NTD không cho phép quy định mước độ dư thừa tối đa của một số chất độc thực phẩm được phép có như dư lượng thuốc trừ dịch hại, thuốc thú y vì sẽ có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe NTD [16] Bên cạnh đó, Quốc tế NTD còn ban hành một danh mục các sản phẩm bị cấm hoặc bị thu hồi khỏi thị trường; ban hành các quy định về cam kết hỗ trợ cho phát triển của các tổ chức NTD; thuyết phục thành công các chính phủ đưa chương trình giáo dục NTD vào các trường học; …
Quốc tế NTD cũng có nhiều hoạt động tích cực trong việc bảo vệ môi trường Đáng chú ý là các hoạt động thúc đẩy các quy tắc về Công ước về bảo vệ môi trường như Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ô zôn, công ước khung của Liên hợp quốc về thay đổi khí hậu, công ước của Liên hợp quốc về đa dạng sinh học Là một thành viên thiết lập và điều phối mạng lưới hành động về thuốc trừ dịch bệnh, Quốc tế NTD có ảnh hưởng nhất định đến việc Liên hợp quốc phê chuẩn quy tắc về tiếp thị thuốc trừ dịch hại năm 1995 [20]
Bên cạnh tổ chức Quốc tế NTD còn có một số tổ chức của thế giới tham gia vào bảo vệ NTD như: Mạng lưới thực thi bảo vệ NTD quốc tế(ICPEN); Ủy ban của OECD(Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển) về chính sách NTD; Hệ thống cảnh báo sớm sản phẩm không an toàn cho NTD của Châu Âu(RAPEX)
Mạng lưới thực thi bảo vệ NTD quốc tế (ICPEN): Năm 1992, tại Luân Đôn mạng lưới thị trường thế giới đã được thành lập Sau đó Hội nghị Sydney năm
2002, mạng lưới này đã được đổi tên thành Mạng lưới thực thi bảo vệ NTD quốc tế Đến nay, tổ chức này gồm 38 thành viên và 2 tổ chức quốc tế Tổ chức này đã góp phần ngăn chặn và xử lý các hành vi gian lận thương mại có yếu tố quốc tế, bồi thường có hiệu quả các thiệt hại của NTD trong giao dịch thương mại và cũng là nơi trao đổi thông tin giữa các nước thành viên về kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Ủy ban của OECD (Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển) về chính sách người tiêu dùng: Ủy ban của OECD về chính sách NTD được thành lập vào năm
1969 nhằm củng cố sự hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ NTD của các nước thành viên OECD Hiện nay, tổ chức này có 30 thành viên OECD đã có nhiều hành động nhằm thực thi các chuẩn mực quốc tế về an toàn, công bằng, minh bạch trong giao