1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lược Sử Văn Học Sanskrit & Hán Tạng Phật Giáo. Thích Kiên Định

208 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tầm quan trọng và giá trị chung của Saṅskrit được trình bày qua đoạn văn như sau: “Ngôn ngữ Sanskrit này, khuynh loát cả bất kỳ ngôn ngữ nào cổ xưa, nó có cấu trúc tuyệt vời; hoàn hảo h

Trang 1

Lược Sử Văn Học

Sanskrit

& Hán Tạng Phật Giáo

Thích Kiên Định

Trang 2

2 Mūlasarvāstivādavinaya: (Căn Bản Thuyết

Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-gia)

Chương III: Văn học Saṅskrit trong Kinh Tạng

 Khái quát về Kinh Tạng Saṅskrit Phật giáo

Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát Nhã)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch

b Phân loại

c Khái lược về Nội dung

Chương IV: Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch

b Khái lược về Nội dung

Chương V: Lalitavistara sūtra (Kinh Đại Trang Nghiêm)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch

b Khái lược về Nội dung

Chương VI: Laṅkāvatāra sūtra (Kinh Lăng Già)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch

b Khái lược về Nội dung

Chương VII: Suvarṇaprabhāsa Sūtra (Kinh Kim Quang Minh)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch

Trang 3

LỜI TỰA

Hành Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế, thể theo lời yêu cầu, chúng tôi

đã đảm nhiệm giảng dạy bộ môn Văn Học Saṅskrit & Hán Tạng Phật Giáo Nhờ thiện duyên ấy, giáo trình đã được biên soạn và hoàn tất cuối

Học kỳ II của năm thứ 2, Khoá III tại Học Viện Tuy nhiên trong ba nămqua, vì phải liên tục tham gia giảng huấn cho quý Tăng Ni Sinh tại HọcViện và lớp Cao Đẳng tại Trường Trung Cấp Báo Quốc Huế cũng như cáccông tác Phật sự của Ban Hoằng Pháp tại Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo ThừaThiên Huế, cho nên chưa thể in ấn bản giáo trình này thành thư tịch

Nay nhân duyên tuy chưa đầy đủ mấy, nhưng xét thấy giáo trìnhnày có thể làm tài liệu cho việc tham khảo và nghiên cứu trong việc tu họccủa quý Tăng Ni cũng như quý Phật tử; do đó tác giả bèn mạo muội cho rađời Tác phẩm này Vẫn biết khả năng còn rất nhiều lãnh vực hạn chế trongviết lách và diễn đạt, biên soạn và dịch thuật chưa có nhiều kinh nghiệm

và độ chín muồi như những bậc Cao minh, những vị Thiện tri thức vànhững Học giả ưu việt khác, nhưng nếu cứ đắn đo và cân nhắc, ngần ngại

và chần chừ mãi thì chẳng biết đợi đến bao giờ mới có thể thành tựu viênmãn

Trên đây là những lời lẽ khiêm cung và thiển cận nhưng cũng bộc bạch

và nói lên được một phần nào tâm trạng khắc khoải và đường đột của tác

giả, âu đó nó cũng tỏ bày lý do trong phần Lời Tựa của tác phẩm: “Lược Sử Văn Học Saṅskrit & Hán Tạng Phật Giáo”.

Cả hình thức và nội dụng của Tập sách nhỏ này còn quá khiêm tốn

và nhiều mặt hạn chế, những khiếm khuyết và sai sót có lẽ không thể nàotránh khỏi, kính mong những bậc Cao Minh, những vị Thiện tri thức chỉ bàynhững nhược điểm ngõ hầu tác giả sẽ chỉnh đốn và bổ sung trong kỳ táibản kế tiếp Âu đó có lẽ cũng là vì sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp, vìphụng đạo giúp đời, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc và an lạc chonhiều người Những tưởng rằng hoài bảo của chư Phật và tâm nguyện của

Trang 4

chư Tổ không ngoài mục đích thiêng liêng cao cả là tồi tà phụ chánh, hưnglong chánh pháp, truyền đăng tục diệm và hộ trì chân lý

Kính dâng chút công tâm này để tỏ lòng niệm ân Bổn Sư, Hoà

Thượng đạo hiệu thượng Thiện hạ Siêu và hồi hướng công đức để sám hối

nghiệp lực cho Song thân Phụ mẫu cũng như nguyện pháp giới chúng sanhcùng đăng Phật đạo, thể nhập Phật trí

Xin thành tâm niệm ân Hoà Thượng Viện Trưởng, đạo hiệu thượng Chơn hạ Thiện cùng Chư tôn Hoà Thượng, chư Thượng Toạ Đại Đức Tăng Ni

trong Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế đã trợ duyên cho sự nghiệpgiáo dục và giúp cho công việc hoằng pháp được hanh thông

Kính chúc quý Ngài cùng tất cả quý Thiện hữu tri thức thân tâmthường lạc, Phật sự viên thành Kính xin nhận nơi đây lòng tôn kính nhất

và trân trọng nhất

Từ Đàm, Trọng Xuân, 23 2 Mậu Tý

Thích Kiên Định

Trang 5

Chương I:

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Lược sử về Nguồn gốc Văn học Saṅskrit Phật giáo:

Khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước CN., bấy giờ có những bộ lạc

Indo-European đã chiếm giữ những vùng rộng lớn ở Iran, Asia Minor, và Tây-Bắc

Ấn, họ đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện xã hội ở những lãnh địa này.Trong những bộ lạc Indo-European ấy, có giống dân Aryan xâm lăng lãnh

thổ Ấn Độ, phương ngữ của họ có thể được xem như là tổ tiên của những phương ngữ của Ấn-độ và Iran Kể từ đây, Thánh thư Ṛgveda (Vệ-đà) của

người Ấn ra đời Từ ngôn ngữ của Ṛgveda, chúng ta có thể tìm thấy dấuvết phát triển vững vàng của Sanskrit cổ điển trong Saṁhitā và Brāhmaṇa

(Bà-la-môn)

Ấn Độ, như chúng ta đã biết, là một nước đa thần giáo Nó nặng về

sự “phân biệt chủng tộc và giai cấp, những dữ kiện về ngôn ngữ càng nổi

bật, quan trọng hơn thì càng trở nên phức tạp Những gì Saṅskrit trình bày bằng ngôn ngữ của chính nó thì rõ ràng nền văn minh của Bà-la-môn giáo

và sự mở rộng nền văn minh đó trên đà gia tăng, dù Bà-la-môn giáo đã phải đương đầu với sự cạnh tranh của những đức tin mới đặc biệt trong đạo Phật và đạo Jain từ thế kỷ thứ 5 tr CN”.[1]

Sau khi đức Phật diệt độ chừng hơn 2 thế kỷ, những tác phẩm văn học của Phật giáo trong thời kỳ đầu được viết một phần bằng tiếng Phạn

và một phần bằng phương ngữ của vùng Trung Ấn, rồi sau đó đồng hoá thành Sanskrit mà nó được mệnh danh là “Sanskrit pha trộn” (Mixed

Sanskrit) Vì nó được pha trộn bằng tiếng Prākrit chứ chưa phải Sanskrit thuần tuý, mà có lẽ nó được tìm thấy trong việc ứng dụng ở hai trung tâm học thuật tại đại học Nālanda và Takkasilā (Taxila) thuộc vùng phía Bắc và Tây Bắc Ấn

Khoảng đầu thế kỷ thứ 2 tr CN, Văn chương Sanskrit Phật giáothuần tuý bắt đầu xuất hiện mà rõ nét nhất là trong sự ly giáo của Giáođoàn Phật giáo Trừ 3 Đại hội kiết tập Tam tạng giáo điển đầu, có lẽ phải

kể đến Đại hội kết tập lần thứ 4 được tổ chức tại Kāśmīra (Kế Tân, tức

Trang 6

Pakistan ngày nay) chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN dưới sự chủ trì

của ngài Vasumitra (Thế Hữu) dưới sự ủng hộ của vua Kaniṣka

(Ca-nị-sắc-ca), mà nó không được đề cập trong biên niên sử của Ceylon; vì

Theravādins (những người theo Thượng Toạ Bộ) đã không tham dự vàkhông chấp nhận Đại hội này Tiếc rằng Luận Tạng của những trường pháikhác đã bị thất lạc, ngoại trừ những bài văn bản hiện còn được duy trì ởTích Lan, Trung Hoa và Tây Tạng là những Luận Tạng của phái Theravāda

(Thượng Toạ Bộ) và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ)

Những trường phái từ Tiểu thừa dần dần phát triển thành

Mahāsaṅghikā (Đại Chúng Bộ) và từ đây nó được đánh dấu bằng mốc lịch

sử của sự manh nha và xuất hiện của Phật giáo Đại thừa chừng thế kỷ thứ

I trước CN và thế kỷ thứ I sau CN Trong thời kỳ đầu vì sự phát triển mạnhcủa những đoàn truyền giáo từ Ấn đến các nước lân cận khác nhau, chonên Sanskrit được dịch ra thành một vài thứ tiếng khác nhau, như: TâyTạng và Trung Hoa

Tầm quan trọng và giá trị chung của Saṅskrit được trình bày qua

đoạn văn như sau: “Ngôn ngữ Sanskrit này, khuynh loát cả bất kỳ ngôn

ngữ nào cổ xưa, nó có cấu trúc tuyệt vời; hoàn hảo hơn cả Hy Lạp; hơn những bản sao chép của Latin, và cũng đã thanh lọc tinh tế hơn; mà đang đem lại cho cả hai của chúng một mối quan hệ mạnh mẽ hơn cả hai trong động từ căn và những hình thức văn phạm, có lẽ đã có thể được sản sinh

ra bằng sự ngẫu nhiên; quả thật quá mạnh đến nổi không một nhà ngữ

âm học nào đã có thể xem xét tất cả chúng mà không tin tưởng rằng chúng đã sinh ra một số nguồn gốc chung, mà có lẽ tồn tại chẳng bao lâu.”[2] Tính đa dạng của nó được diễn tả như vầy: “Saṅskrit là ngôn ngữ

của khoa học, không những về văn phạm, thi pháp hoạ, vũ trụ luận, ngữ nghĩa học, từ nguyên luận, mà cũng không còn nghi ngờ gì về nghệ thuật thần thông, như là thuật xem tướng và khoa nghiên cứu về quỷ thần được ghi chép trong những văn bản của Phật giáo ”.[3]

Thế nhưng, sự xuất hiện của Saṅskrit Phật giáo tại Ấn Độ chính làbước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển của Phật giáo Đạithừa; vì nó đáp ứng được nhu cầu của thời đại mới, chuyển mình và thoát

xác ra khỏi khung sườn cứng nhắc của những gì được xem như là “khuynh

Trang 7

hướng bảo thủ và cực đoan” Hơn thế nữa, Saṅskrit thuộc ngôn ngữ của

giới thượng lưu, quý tộc; trong khi đó Pali chỉ là phương ngữ phổ biến của

hạng thường dân Giá trị của Saṅskrit được mô tả qua đoạn văn như vầy:

“So sánh chuẩn mức của Latin trong thời Trung đại thì vài điều gì đó

chưa thoả mãn; trong thời kỳ sớm hơn về việc sử dụng Saṅskrit thì rõ ràng

nó lại gần gũi nhiều hơn so với phương ngữ của những tầng lớp thấp trong

vô số sự đổi thay của nó hơn là Latin ở Châu Âu trong thời Trung đại Sự tỉ giảo về Saṅskrit với những phương ngôn của những mẫu tự của Aśoka (A- dục) thì đối với điều này có ý nghĩa quan trọng; những khác nhau của chúng thì không mấy thiết yếu Hơn thế nữa, những kết luận đạt được như vậy là được hỗ trợ trực tiếp bằng chứng cứ của drama (thuật diễn kịch, hay sự việc có kịch tính) này, trong đó những Bà-la-môn và những vị vua, những người ở địa vị cao và ngành giáo dục sử dụng Saṅskrit, trong khi những cá tính thấp kém hơn sử dụng một số của Prākrit Người ta cố gắng để tranh luận chống lại quan điểm này bằng cốt lõi mà drama là nguồn gốc trong Prākrit, còn Saṅskrit chỉ được giới thiệu khi nó chính thức trở thành ngôn ngữ chung của văn hoá”.[4]

Văn chương Sanskrit của Phật giáo Đại thừa thật sự đã manh nha từ Đại hội kiết tập lần thứ 2,[5] hình thành và phát triển trong Đại hội 4, như sáu vấn đề đã nói trên Thêm vào đó, một số tác phẩm Sanskrit Phật giáo

đã thật sự xuất hiện trong thế kỷ thứ 2 tr CN, khiến Pali trở nên mờ nhạt

và suy yếu Diễn biến về sự thăng trầm của lịch sử Prākrit mà nó gồm cả Pali trong đó cùng với sự ảnh hưởng lớn của nền văn chương Sanskrit Phật giáo như sau Chúng ta đọc:

“Trong thế kỷ thứ 2 tr CN, những dấu vết về sự ảnh hưởng của

Sanskrit xuất hiện; trong thế kỷ kế đó bằng một sự quan sát được tìm thấy mẫu tự đầu tiên mà có lẽ toàn bộ được mệnh danh là Sanskrit, và những học thuyết Sanskrit đang trên đà gia tăng Trong thế kỷ thứ nhất sau CN, Prākrit vẫn còn thịnh hành, nhưng, dù nó cũng nổi bật trong những thế kỷ

kế tiếp, chúng ta cũng tìm thấy mẫu tự Sanskrit vĩ đại của Rudradāman

mà nó biểu lộ rõ ràng sự có mặt của nền văn chương Sanskrit kỹ xão Trong thế kỷ kế tiếp, Sanskrit và Prākrit hài hoà Trong thế kỷ thứ 4, Prākrit trở nên khan hiếm với sự phục hưng của Bà-la-môn giáo dưới triều

Trang 8

đại Gupta, và từ thế kỷ thứ 5 nó hầu như biến mất ở Bắc Ấn Một sự tiến triển song hành đã đang tiếp tục bằng nền văn chương; trong những tác phẩm của Phật giáo như là Lalitavistara (Kinh Đại Trang Nghiêm) và Mahāvastu (Đại Sự), chúng ta nhận thấy rằng những kết quả của một sự

nỗ lực để chuyển hoá Prākrit vào Sanskrit, và những kết quả tương tợ là được tìm thấy trong những lãnh vực khác, như những luận thuyết về dược liệu trong bản thảo của Bower Từ điều này, giới Phật tử chẳng bao lâu đã làm thăng hoa đến giai đoạn mà trong đó Sanskrit đã được sử dụng một cách thích đáng, như trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ), có lẽ thuộc thế kỷ thứ 2 sau CN”.[6]

Tuy trong hai Đại hội kiết tập đã có một số tranh luận về Luật vàLuận rồi, nhưng nó chưa phát triển mạnh Mãi đến thế kỷ thứ 2 tr CN, nềnvăn chương Sanskrit Phật giáo mới bắt đầu ảnh hưởng mạnh và được phổbiến; từ đó cho đến thế kỷ thứ 4 sau CN ngày càng phát triển và gây ảnhhưởng rất lớn trên toàn lãnh thổ Ấn Độ và thậm chí kéo dài cho đến thê kỷthứ 12

Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, những quan điểm mâu thuẫn về giáo lý cũng như sự giải thích khác nhau về những giới điều và nhiều nguyên nhân nội tại và ngoại tại khác đã khiến cho Giáo đoàn Phật giáo chia ra thành nhiều bộ phái Thừa cơ hội này, ngoại đạo đã tìm cách trà trộn vào hàng ngũ Tăng sĩ với mưu đồ gây mất uy tín và thanh danh của Giáo

đoàn, mặt khác tìm cách đồng hoá rất vi tế tín đồ Phật giáo thành Ấn giáo

Để ghi chép lại những lời dạy của đức Thế Tôn, Tam tạng Pali(P_Tipiṭaka; S_Tripiṭaka) đã được kiết tập trong ba Đại hội đầu tiên Từ đó,

nó được truyền bá và trở nên phổ biến khắp nơi Tam tạng Pali là nền tảngquan trọng để đối chiếu hoặc nghiên cứu khi bàn luận về, hoặc so sánh vớigiáo điển của Phật giáo Đại thừa và cũng đã cung cấp nhiều phương thức

tu tập, thiết thực và phổ biến nhất Đây là để nói, sự ly giáo của Giáo

hai bộ Luật bằng tiếng Saṅskrit của Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ) và Śarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ) đã được biên soạn rồi nhưng chưa công

bố trong Đại hội lần này.[8]

Trang 9

Ngoài ra, bộ Mahāvastu[9] (Đại Sự) bằng tiếng Saṅskrit và Prākrit (phương ngữ Ấn) của Lokottaravāda (Thuyết Xuất Thế Bộ), con đẻ của

Mahāsaṅghika, đã được hình thành chừng thế kỷ thứ 2 tr CN Trong Đại

hội III, Kathāvatthu (Những Điểm Tranh Luận) được biên soạn bằng Pali,

nhưng chỉ liên quan đến Theravāda Riêng Đại hội IV tổ chức tại Kāśmīra,

chừng hậu bán của thế kỷ thứ I sau CN, do Vasumitra (Thế Hữu) chủ trì, dưới sự hỗ trợ của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca), nhưng Theravāda không tham dự và không có trong Biên niên sử của Ceylon (Tích Lan) Có rất

nhiều lý do và nguyên nhân vì sao Theravāda không tham dự ở Đại hội lầnthứ IV, mà chúng đã xãy ra trước đó bao quát cả sự bất đồng quan điểm

và sự giải thích những giới điều khác nhau cũng như sự xuất hiện của một

Tóm lại, lịch sử văn học Saṅskrit là pháp bảo vô giá của Phật giáo đạithừa nói riêng và thế giới nói chung Tiếc rằng Phạn bản đã bị thất lạc quánhiều; do đó, Hán tạng đã phải đóng vai trò rất quan trọng trong tập sáchnhỏ này Nếu khi nếm một giọt nước biển mà biết được vị mặn của đạidương, thì khi để tâm chuyên chú đọc một phần nhỏ trong Tam Tạng Phậtgiáo, âu đó có lẽ cũng giúp ta hiểu thấu được một phần pháp vị thuần giảithoát

-[1] Keith, A.B., A History of Sanskrit Literature, tr 8.

[2] Burrow, T., The Sanskrit Language, Delhi, 1995, tr 6.

[3] Keith, A.B., Sđd., tr 8

[4] Keith, A.B., Sđd., tr 11-12

A History of Indian Buddhism, tr 79-83

[6] Keith, A.B., Sđd., tr 14-15

nhóm Tỳ-kheo Bạt-kỳ (Xem Bapat, P.V., 2.500 Years of Buddhism, tr 37; cũng xem Dutt, N., Buddhist Sects in India, tr 15-19), mà còn “Ngũ Sự Đại

Thiên” như ngài Thế Hữu và Chân Đế đã chỉ ra; có những điểm khác nhau

giữa tư tưởng cấp tiến và bảo thủ của Đại Chúng Bộ và sự tranh luận củaTheravāda chính thống Xem Bapat, P.V., Sđd., tr 87-89; cũng xem Dutt,

Trang 10

N., Sđd., tr 22-32; cũng xem Pande, G.C., Studies in the Origins of

Buddhism, tr 558-560

[8] Xem Dutt, N., Buddhist Sects in India, tr 11

[9] Xem Keith, A.B., A History of Sanskrit Literature, tr 491; cũng xem Nariman, J.K., Literature History of Sanskrit Buddhism, tr 17; và xem Dutt, N., Buddhist Sects in India, tr 60.

Văn Hoá Cổ”, Nội San Trung Tâm Văn Hoá Phật Giáo Liễu Quán-Huế, Số

5_tháng 8-2006 & 6_tháng 01-2007

Trang 11

o0o -Chương II:

VĂN HỌC SAṄSKRIT PHẬT GIÁO TRONG TAM

TẠNG (TRIPIṬAKA) VĂN HỌC SAṄSKRIT TRONG LUẬT TẠNG

Khái quát về Luật Tạng Saṅskrit Phật giáo:

Lịch sử Văn học Luật Tạng Saṅskrit có lẽ được cứ vào thời điểm lygiáo của Giáo đoàn Phật giáo Không những về tư tưởng văn học mà còn

về quá trình phát triển Luật Tạng của những trường phái nổi bật nhưSarvāstivāda, Lokottaravāda làm cơ sở chuyển tiếp từ Hīnayāna đếnMahāyāna xuyên qua cửa ngỏ và nhịp cầu của Mahāsaṅghikā Phạn bản(có pha trộn phương ngữ Ấn_Prākrit) quan trọng nhất và hoàn hảo nhấttrong những bộ Luật của các trường phái khác là Mahāvastu Ngoài ra, bộMūlasarvāstivāda của phái Sarvāstivāda cũng sẽ được đề cập khái quát vềmột vài nét chính trong nội dung của nó

Theo sự thống kê mang tính ước lệ chung của các sử gia, có đến 20trường phái Phật giáo Dĩ nhiên mỗi một đều có Luật Tạng riêng để duy trì

và chỉnh đốn hội chúng của trường phái mình, nhưng chẳng may LuậtTạng về Saṅskrit của những trường phái này phần lớn đã bị thất lạc Trong

quá trình góp nhặt, những mảng về Prātimokṣa-Sūtra (Giới Kinh) của Sarvāstivādins (những người theo Nhất Thiết Hữu Bộ) cũng như những văn

bản khác thuộc Luật Tạng Saṅskrit đã được phát hiện ở Central Asia

(Trung Á) và Eastern Turkestan (Đông Thổ Nhĩ Kỳ) và một số ít ở Nepal, mà

chúng ta có thể tìm thấy trong những bản dịch của Trung Hoa và Tây Tạng

[11]

Quan trọng nhất là bộ Mahāvastu của Lokottaravādins (những người

theo Xuất Thế Bộ) cũng được gọi là Caityakas, con đẻ của Mahāsaṅghikas.

Nó cho chúng ta biết về những chuyện tiền thân của đức Phật cũng nhưnhiều vấn đề pha tạp khác, đặc biệt về lịch sử của Ngài, mà nó được cânnhắc như là chủ đề chính đã đóng góp khá nhiều đến sự phát triển của Đạithừa sau này.[12] Trong phần nội dung chính, nó tương đồng với

Trang 12

Nidānakathā trong Pali, ghi lại tiểu sử của đức Phật, mà cuộc đời của Ngài

có lẽ được phân ra làm ba thời kỳ

a) Cuộc đời của một vị Bồ-tát ở vào thời đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên

Đăng), và kể lại sự xuất hiện của Ngài trong thời quá khứ

b) Giới thiệu cho chúng ta biết rằng Bồ-tát đang trú ở cung trời

Tuṣita (Đâu Suất), và xác định sự tái sanh vào thai tạng của Hoàng Hậu

Ma-gia Nó kể lại những điều phi thường từ khi Thái Tứ được sinh ra, sựxuất gia, sự hàng phục ma quân và cuối cùng Ngài đã chứng ngộ tại cội

Bồ đề

c) Giống như những đặc trưng chính trong Mahāvagga (Đại Phẩm)

của Nam Tạng, Mahāvastu liên quan đến sự chuyển hoá và những cuộc tọađàm đầu tiên của Giáo đoàn cũng như lịch sử của sự hình thành cộng đồng

tu viện Đây là tại sao nó thuộc về Luật Tạng.[13]

Ngoài ra, nó là một tác phẩm định rõ về văn chương nghệ thuật,song không kém phần phức tạp; vì thiếu tính lôgic và những dụ về chuyệntiền thân của đức Phật còn mang tính giáo điều Thêm vào đó, cùng mộtcâu chuyện tiền thân, mà nó thường lập lại đến vài ba lần, ban đầu theothể văn xuôi nhưng sau bằng những vần kệ; còn về ngôn ngữ của nó thìchưa mấy thống nhất, thậm chí cả kệ tụng đã quá lỗi thời vì ít thông dụng

bằng kệ_được viết bằng ‘Saṅskrit pha trộn’ (Mixed Saṅskrit)

Về phương diện giáo lý, nó duy trì nhiều truyền thống cổ và giáo lýcủa đức Phật, như: tất cả các pháp thế gian là không thật, còn tất cả các

thù của riêng Lokottaravādins (những người theo Xuất Thế Bộ), như:

Catvāri-ārya-satyāni (Bốn chân lý), Aṣṭa-āryā-mārga (Bát chánh đạo),

Pratītyasamūtpada (Duyên sinh), Anitya (Vô thường) về sự hình thành của

Hơn thế nữa, nó còn hàm tàng nhiều hương vị của Đại thừa vớinhững điểm nổi bật về khái niệm thân Phật, như: Sắc thân (rūpakāya hay

nirmāṇakāya), mà ngài Paramārtha (Chân Đế) giải thích là vô hạn Vô hạn

thịnh hành giữa Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ) và Lokottaravādins (những

Trang 13

người theo Xuất Thế Bộ) với tư tưởng chuyển tiếp đến Đại thừa Bên cạnh

đó, nó mô tả một quan điểm mới bằng sự giải thích về Thập Địa mà xuyên

Ngoài ra những đặc trưng về Đại thừa cũng như một số đoạn văn

nó thuộc về những thế kỷ đầu sau Công Nguyên Nhìn chung, tác phẩmnày chuyên tải một nội dung khá cổ, cho nên niên đại thuộc nguồn gốccủa nó có lẽ lui xa về thế kỷ thứ 2 tr CN, mà thậm chí nó còn mở rộng vàkéo dài đến thế kỷ thứ 4 sau CN; vì có những sự kiện được thêm vào ởnhững thời gian sau đó nữa.[20]

Đến thế kỷ thứ tư sau CN, khi trường phái Yogācāra (Du-già) xuất

hiện, Mahāvastu chỉ được xem như là sự pha trộn của giáo lý đại thừa chứkhông phải là thần thoại của đại thừa, và từ đó Yogācāra có lẽ cũng đã cóvay mượn từ Mahāvastu này, mà tựa đề đầy đủ của nó là Mahāvastu-

avadāna (Mahāvastovadāna) Ngoài Mahā-vastu như đã đề cập, lịch sử của đức Phật có thể được tìm thấy trong Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ:

những chuyện thí dụ về chư Thiên)

2 Mūlasarvāstivādavinaya: (Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu

Bộ Tỳ-nại-gia):

Bộ Luật Mūlasarvāstivādavinaya của Phái Nhất Thiết Hữu Bộ baogồm nhiều truyền thuyết của Phật giáo liên quan đến Hội nghị ở Kashmir

và Tây Bắc Ấn Mūla-sarvāstivāda này, theo Nalinaksha Dutt, được phát

chỉ dựa vào bản dịch của Trung Hoa thuộc nền văn chương Luật Tạng củaSarvāstivāda Nó nói rằng những bản dịch về Luật của Sarvāstivāda và bộMūlasarvāstivāda dường như không có khác nhau

Nếu dựa vào Thư Mục của Nanjio, thì chúng ta có thể thấy được thư

mục thuộc Văn chương kinh điển của Trung Hoa, mà Vinaya

(Luật_Tỳ-nại-gia) của Sarvāstivāda gồm có 7 Bộ:

1) Sarvāstivāda-vinaya-mātṛkā (Tát-bà-đa-bộ Tỳ-ni Ma-đắc-lặc-già), Saṅghavarman (Tăng-già-bạt-man) dịch năm 445 sau CN, Đại Chính [ĐC]

23, 1441

Trang 14

2) Sarvāstivāda-vinaya-vibhāṣā (Tát-bà-đa Tỳ-ni Tỳ-bà-sa), chưa rõ

người dịch, phát hiện năm 350-431 sau CN, ĐC, 23, 1440

3) Sarvāstivāda-vinaya-saṅgraha (Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-gia

Nhiếp Tụng?), Jinamitra (Thắng Hữu) soạn, ngài Nghĩa Tịnh dịch năm 700

sau CN

4) Daśādhyāya-vinaya-nidāna (Thập Tụng Tỳ-nại-gia Ni-đà-na), ngài Vimalākṣa (Tỳ-ma-la-xoa) dịch

5) Daśādhyāya-vinaya-bhikṣu-prātimokṣa (Thập Tụng Tỳ-kheo

Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bổn), ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) dịch năm 404

Giống như Mahāvastu của Lokottaravādins, Mūla-sarvāstivāda giới

sở của Bộ Luật Mūlasarvāstivāda này, một số truyền thuyết trong

Divyāvadāna (Thiên Thí Dụ) phần lớn cũng đều được vay mượn từ nó

-[11] Tuy cả hai Kinh điển Saṅskrit của Sarvāstivādins và Luật của pháiMahīśāsakas (Hoá/Chúng Địa Bộ) và Mahāsaṅghikas (Đại Chúng Bộ) đã nêulên những điểm khác nhau với Kinh Tạng Pali, nhưng tựu trung nó cũngđược xem như những điều lệ của Tạng Luật

[12] Xem Keith, A.B., A History of Sanskrit Literature, tr 491; cũng xem Nariman, J.K., Literature History of Sanskrit Buddhism, tr.17; và xem Dutt, N.

Buddhist Sects in India, tr.60.

[13] Xem Nariman, J.K., Literature History of Sanskrit Buddhism, ., tr 12; xem Dutt, N Buddhist Sects in India, tr 60-1; cũng xem Bapat, P.V., 2500

years of Buddhism, tr 97-8.

Trang 15

[14] Trong Mahāvastu, ‘một nửa của tác phẩm này bao gồm những chuyệntiền thân của đức Phật, mà nó liên quan đến một phần bắng thể văn xuôithuần tuý, một phần bằng văn xuôi và kệ tụng pha trộn, đôi khi ban đầubằng thể văn xuôi, nhưng rồi sau bằng kệ tụng Nhiều chuyện tiền thân lànhững bản dịch mà chúng ta có thể tìm thấy trong Jātakas (Những Câu

Chuyện Tiền Thân của đức Phật) trong Pali.’ [Winternitz, M., History of

Indian Literature, tr 243]

[15] Dutt, N., Sđd., tr 69

[16] Dutt, N., Sđd., tr 76

[17] Dutt, N., Sđd., tr 72

[18] Keith, A.B., A History of Sanskrit Literature , tr 491.

[19] Xem Winternitz, M., History of Indian Literature, , tr 247; cũng xem Nariman, J.K., Literature History of Sanskrit Buddhism, tr 18.

[20] Winternitz, M., History of Indian Literature, , tr 247; cũng xem Bapat, P.V., 2500 Years tr 98.

tr 141

[22] Sđd., tr 140

[23] Sđd., tr 141-2

[24] Sđd., tr 142

Trang 16

Chương III:

VĂN HỌC SAṄSKRIT TRONG KINH TẠNG

 Khái quát về Kinh Tạng Saṅskrit Phật giáo:

Trong lịch sử Văn học Kinh Tạng Saṅskrit Phật giáo, nhiều tác phẩm

đã có mặt từ thế kỷ thứ I tr CN; nếu không nói là sớm hơn Còn những tácphẩm khác lần lượt xuất hiện từ thế kỷ thứ I sau CN cho đến những thế kỷ

kế tiếp sau đó

Xấp xỉ chừng 5 thế kỷ sau khi đức Thế Tôn diệt độ, Phật giáo Đạithừa đã bắt đầu xuất hiện và phát triển Song song với sự phát triển này,những tác phẩm của Đại thừa cũng lần lượt xuất hiện, mà chúng đã đónggóp rất lớn cho sự truyền bá chánh pháp, lợi lạc nhân thiên đúng nhưnhững lời huấn thị và hạnh nguyện lợi sanh của đức Thế Tôn cách đây hơn

26 thế kỷ

Bí tạng của Như Lai, như chúng ta đã biết, là một nền văn chươngkhổng lồ và vĩ đại, bao la và rộng lớn, mà những ai một khi đã thấy danhmục Phạn bản của Nanjio, thì chắc hẳn không ít người ngán ngẫm vàchoáng ngợp, dù vẫn biết toàn bộ Văn chương Sanskrit Phật giáo được cânnhắc như là nhịp cầu chuyển tiếp từ Hīnayāna đến Mahāyāna nhằm mởtoang những nếp gấp vô minh trong tiềm thức của loài hữu tình, nhữngcửa ngõ giao thoa cho sự tiến triển tâm linh vượt ngoài tầm vĩ mô và vi môcủa khoa học ngày nay

Để nhấn mạnh đến tầm quan trọng về nền văn chương kinh tạng vĩđại này và để nêu bật lên giá trị bất biến trong thời-không gian xuyên quanhững dòng chuyển biến tâm linh siêu thế của Như Lai đã đang và sẽ giúpcho con người giải thoát khổ đau, nó hàm súc nhưng siêu hình thù thắng,thiết thực nhưng mầu nhiệm huyền vi Phật giáo đặc biệt lấy con ngườilàm trung tâm trên tinh thần bình đẳng và vô ngã vị tha, nhằm thể hiệntính nhân bản và thực thi Bồ-tát hạnh Vậy thử nhìn lại những tác phẩmnào mà chúng nghiễm nhiên quyết định cho những cố hương của Phậtgiáo Đại thừa nói chung và nền văn chương Kinh Tạng Sanskrit Phật giáonói riêng

Trang 17

Theo ý kiến của nhiều học giả cho rằng Đại thừa không có một kinhnào sở hữu của riêng nó bởi lý do đơn giản vì Đại thừa không tiểu biểu chomột trường phái thống nhất nào cả Ngược dòng thời gian, quả thật có một

sự giải thích về Đại hội kiết tập kinh điển lần thứ IV được tổ chức tại

Kāśmīra, do ngài Vasumitra (Thế Hữu) chủ trì, dưới sự ủng hộ của vua

Kaniṣka vào thế kỷ thứ I sau CN, nhưng nó vẫn còn nhiều nghi ngờ; vìkhông biết có kinh điển nào được thành lập ở Đại hội này hay không, nếu

có, chúng bằng ngôn ngữ gì và thuộc về trường phái nào

Trong khi đó, một văn bản Trung Hoa do ngài Huyền Trang dịch liên

quan đến Bodhisattva-piṭaka (Bồ-tát Tạng) bao gồm một danh mục dài

của những bản dịch Đại thừa, một Tạng Luật và một Tạng Luận và tương

tự cũng có một lốc danh mục với vô số kinh điển Đại thừa Thế nhưng, qua

sự cố gắng để phân loại về kinh điển Đại thừa hiện còn bằng Sanskrit,theo Nepál, thì chỉ còn chín kinh, mà chúng được mệnh danh là Vaipulya-

sūtras (những kinh Phương Đẳng/Quảng)

Chín kinh này là: Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā (Tiểu Phẩm Bát

Nhã), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), Lalitavistara-sūtra

(Kinh Đại Trang Nghiêm), Laṅkāvatāra hay Saddharmalaṅkāvatāra-sūtra (Kinh Lăng Già), Suvarṇa-prabhāsa-sūtra (Kinh Kim Quang Minh), Gaṇḍavyūhasūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata- guṇajñāna-sūtra (Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh

Thiền-định Vương) và Daśabhūmīśvara-sūtra (Kinh Thập Địa).[25]

Theo dòng diễn biến của lịch sử, sau thời đại của vua Aśoka (A-dục),

một vị vua hộ pháp đắc lực và nổi tiếng nhất của Phật giáo, Ấn Độ đã phảitrải qua những triều đại khác nhau Về sau đáng chú ý nhất là triều đại

của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca_tiền bán của thế kỷ thứ 2 tr CN) với một đế

quốc lớn nhất Nam Á, nó trải dài từ Trung Á đến Afghanistan và bao quát

giáo Trung Hoa là Kinh Tứ Thập Nhị Chương do Kāśyapa Mātaṅga (Ca-diếp

Ma-đằng) Dharmaranya (Trúc-pháp-lan), thời Hán Minh Đế, ĐC 17_784.

Một thế kỷ sau, Kinh An-ban-thủ-ý, một của 34 tác phẩm Hīnayāna trong

số 40 tập do ngài An Thế Cao, Tỳ-kheo Parthian (thuộc nước Pa-thia xưa ở

Trang 18

Tây Á) đến Trung Hoa, dịch, ĐC 15_602 Sau đó có nhiều Kinh điển Saṅskrit

Đại thừa Phật giáo được biên tập sớm nhất trong thời đại Kuṣāna (Nguyệt

Thị), như Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā-sūtra (Kinh Đạo Hành Bát Nhã),

một của 14 tác phẩm trong số 27 tập, ĐC 8 _224, do Lokakṣema

(Chi-lâu-ca-sấm), một Tỳ-kheo của thời Kuṣāṇa đến Trung Hoa, dịch.[28] Đạo HànhBát Nhã với Nội dung của nó đều tương đồng với bản dịch Tiều Phẩm Bát

Nhã Ba-la-mật Kinh của ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) vào thời Hậu

Tần, ĐC 8_227 Ngoài ra, còn nhiều kinh khá phổ biến khác như

Śūraṅgamasamādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng-nghiêm Tam-muội) do ngài Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch Tiếc rằng nó đã bị thất lạc, nhưng nội

dung của nó có thể được suy luận từ bản của ngài Kumārajīva, thời Tầng,

ĐC 15_642; Mahāratnakūṭasūtra (Kinh Đại Bảo Tích) Vimalakīrti-nideśa (Kinh Duy Ma Cật), Saddharma-puṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), Avataṃsaka-sūtra (Kinh Hoa Nghiêm), Bhadrapālasūtra (Kinh Ban Châu

Tam Muội), Sukhāvatīvyūha-sūtra (Kinh A Di Đà) phần lớn chúng có mặt

từ thế kỷ thứ I tr CN

Nếu dựa vào truyền thuyết, thì người ta cho rằng đức Phật thuyết

Avataṁsaka sūtra (Kinh Hoa Nghiêm) đầu tiên, song vì nghĩa lý quá cao

siêu vi diệu, cả hội chúng lúc bấy giờ đều ngơ ngác, chỉ một số ít Bồ-tátthượng căn thượng trí mới có thể lãnh hội; vì lý do này, sau khi quán sát

lại căn cơ của tất cả chúng sinh, Ngài bắt đầu thuyết kinh Āgama (A-hàm)

Hoa) và Mahānirvāṇa (Niết-bàn).

Trong 9 kinh vừa nêu trên, phần này chỉ trình bày khái quát 7 kinh.Ngoại trừ hai kinh: Tathāgata-guhyaka hay Tathāgata-guṇajñāna-sūtra

(Kinh Như Lai Bí Mật Tạng), Samādhirāja-sūtra (Kinh Thiền-định Vương)

còn nhiều nghi ngờ, cho nên chưa đề cập và sẽ được bổ khuyết sau

Nhìn chung, tại Ấn Độ phần lớn những kinh điển Phật giáo Đại thừađều xuất hiện tại vùng Nam Ấn Sớm nhất là Aṣṭasāhasrikā-

prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát-nhã, hay Bát Thiên Tụng Bát-nhã)

 Kinh Tạng Saṅskrit Phật giáo:Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát Nhã):

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:

Trang 19

Bản kinh cổ nhất và sớm nhất trong nền văn chương kinh tạng

Sanskrit Phật giáo là Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā Kinh này có mặt vào

thế kỷ thứ I tr CN, trong thời Kuṣāṇa, do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch,

10 quyển, ĐC 8_224, với đề kinh là Đạo Hành Bát Nhã Kinh, cũng là bảndịch từ Aṣṭasāhasrikā-prajñā-pāramitā, và được dịch ra tiếng Trung Hoavào năm 179 sau CN Nội dung của nó cũng giống như Tiểu Phẩm Bát-nhã

Kinh, do ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập), dịch vào năm 408 sau CN, 10

trình phức tạp; vì trải qua nhiều giai đoạn, và thậm chí mở rộng đến cả1.000 năm.[31]

Nguồn gốc của nó, theo ngài Huyền Trang, bắt đầu từ Nam Ấn hoặcĐông Nam, sau đó được truyền đến phía Đông rồi phía Bắc Nó là chủ đềcủa một vài sự tranh luận Ban đầu nó có lẽ phát triển giữaMahāsāṅghikas ở Nam Ấn, tại nước Andhra trên sông Kistnā Bấy giờ pháinày có hai tu viện nổi tiếng, mà tên gọi của chúng cũng là danh xưng của

hai phái: Pūrvaśailas (Đông Sơn Bộ) và Aparaśailas (Tây Sơn Trụ Bộ) Hai

phái này có ý nghĩa quan trọng vì ba lý do: a) họ có một bản bằng Prākrit;

b) nói về Dharmadhātu (Pháp giới) trong cùng ý nghĩa như Bát Nhã

Ba-la-mật; và c) việc tu tập của họ đã thực sự chuẩn bị lát đường cho việc tu tậpBát Nhã.[32]

b Phân loại:

Tuy đồng một loại Kinh văn Bát-nhã, nhưng có lẽ do quan điểm và

tư tưởng đặc thù của những dịch giả khác nhau, ở những thời đại khácnhau, cho nên khi phiên dịch có những tựa đề khác nhau Tuy nhiên, về tưtương cốt lõi trong nội dung của nó vẫn là một, nhưng Kinh này đượcmang nhiều tên khác nhau, như sau:

- Kinh Đạo Hành Bát-nhã do Lokakṣema (Chi-lâu-ca-sấm) dịch (10

quyển, đời Hậu Hán, ĐC 8_224), khi được phân loại, thuộc về cùng nhóm

với Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát-nhã) do ngài Kumārajīva

dịch (10 quyển, đời Hậu Tần, ĐC 8_227) Nó được xếp vào cùng nhóm với

bản Aṣṭasāhasrikāprajñāpāramitā do ngài Kumārajīva dịch, tương xứng với quyển thứ 4 và thứ 5 trong Mahāprajñā-pāramitā-sūtra (Kinh Đại Bát Nhã

Trang 20

Ba-la-mật-đa), do ngài Huyền Trang dịch, 600 quyển, đời Đường, ĐC

5_220

- Kinh Quang Tán (hay Kinh Quang Tán Bát-nhã), do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch (10 quyển, đời Tây Tấn (265-316), ĐC 8_222) tương đương với Phóng Quang Bát-nhã Kinh, thuộc Prākrit (phương ngữ Ấn), do Vô-la-xoa dịch (20 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 8_221), tương đương với Đại

Phẩm Bát-nhã Kinh hay (Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa), do ngài

Kumārajīva dịch, (207 quyển, đời Hậu Tần, ĐC 8_223), và

Pañcaviṃśati-sāhasrikā-prajñāpāramitā (Kinh Nhị Thập Ngũ Thiên Tụng Bát-nhã

Ba-la-mật) và quyển thứ 2 trong Mahāprajñā-pāramitā (Đại Bát-nhã Ba-la-Ba-la-mật).

Những Kinh Bát-nhã khác thuộc hệ Saṅskrit hiện còn, là:

- Śatasāhasrikāprajñā-pāramitā (Bách Thiên Tụng Bát-nhã), 1 quyển,

tiếng Tây Tạng và Trung Hoa, phần lớn những bản dịch này đều là đa đồngtiểu dị

c Khái lược về Nội dung:

Đa số những Kinh văn Đại thừa ban đầu thường xuất hiện trong haihình thức: kệ tụng và thể văn xuôi; cũng vậy kinh văn Bát-nhã khôngngoài thể thức ấy Tác phẩm này bắt đầu bằng những vần kệ giới thiệu,trong đó sự hiện thân trí tuệ Bát-nhã được tán dương như là “nguồn phátsinh ra trí tuệ tối thượng, đấng mẫu từ đáng yêu của tất cả những bậc siêu

vĩ nhân Ngài với tâm của mình an trụ kiên cố nơi đích tối thượng”, “nhưđức Phật Bà từ ái của tất cả chúng sanh” Ngay từ chương đầu, một biệnchứng pháp chuẩn mực mà nó được thẩm định bằng trí tuệ Bát-nhã đã

Trang 21

nhắc nhở chúng ta đừng vấp phải phương thức tranh luận ngụy biện củanhững kẻ ngoại đạo và những triết gia ngụy biện của Hy Lạp cổ đại Toàn

bộ bản dịch về Văn học Bát Nhã được viết theo thể văn xuôi, trừ kệ tụng

giới thiệu Bản cổ nhất Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā (Tiểu Phẩm Bát Nhã)

có nghĩa là 8.000 dòng Bát-nhã Ba-la-mật, được trình bày trong 32

chương Bản này được ngài Lokakṣema đặt tên là Đạo Hành Bát-nhã Kinh,

10 quyển, 30 Phẩm; còn ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) đặt tên là Tiểu

Phẩm Bát-nhã, 10 quyển, 29 Phẩm

Theo Phật pháp đại hệ, Kinh này thuộc về pháp giới không huệ học, hay pháp tướng không huệ tông Nó kể lại cuộc vấn đáp giữa đức Phật với tôn giả Subhūti (Tu-bồ-đề) Trước hết nó đề cập đến những vị Bồ-tát thành tựu được Prajñā-pāramitā (Trí tuệ Ba-la-mật), hay sự chứng ngộ dharmalakṣāṇa (Pháp tướng), và cùng với pháp tướng bất tương ly Điều

này ngụ ý rằng ‘khi được nói về Bồ-tát, thì phải thấy rằng không có mộtpháp nào được gọi là Bồ-tát, và cũng không có một pháp nào được gọi làtrí tuệ Ba-la-mật’ Bởi vì vị ấy không thể nhận ra, cũng không thể hiểu,cũng không thể thấy một pháp nào được gọi là Bồ-tát, cũng không thấymột pháp nào được gọi là trí tuệ Ba-la-mật’ Nếu khi được chỉ ra như thế

mà tâm Bồ-tát vẫn không kinh hãi, không dao động và không bị thối thất;nếu vị ấy không chán nản, không dao động và không kinh hãi, thì vị ấymới thật sự là Bồ-tát chơn chánh, là bậc siêu vĩ nhân, xứng đáng xiểndương Bát-nhã Ba-la-mật’ Điều này phải được hiểu đúng bằng trí tuệ củamột vị Bồ-tát, và cũng là sự giáo hoá bằng trí tuệ Ba-la-mật Khi chính vị

ấy xiển dương như vậy, với giáo lý như vậy, thì sự xiển dương của vị ấybao quát cả trí tuệ Ba-la-mật’

Xa hơn nữa, khi một vị Bồ-tát hay thực hành Bát-nhã Ba-la-mật vàphát triến nó, thì vị ấy không hề móng niệm tự hào về tâm giác ngộ; bởicái được gọi là tâm ấy thật sự không phải là tâm, vì cội nguồn cốt lõi củatâm là sự chói sáng của tuệ giác trong ngần Chớ tư niệm rằng tâm hiệnhữu, hoặc một người có thể hiểu bằng trạng thái về sự vắng bóng củatâm, hoặc tâm có mặt, hoặc tâm không có mặt, vì tâm không có sinh cũngchẳng có diệt Nếu một Bồ-tát tự nghĩ rằng ‘vô số chúng sanh được đứcNhư Lai dẫn đến Niết-bàn’, thật ra ‘không có chúng sanh nào được dẫn

Trang 22

đến Niết-bàn, cũng không có chúng sanh nào chứng đắc Niết-bàn’ Vì sao?

Vì tất cả chỉ là hiện tượng’ Vậy những gì được mệnh danh đều không cốđịnh ở bất kỳ nơi đâu, hoặc không cố định; không phải không cố định,cũng không phải không không cố định Vì sao? Vì nó không có tồn tại; đó

là tại sao nó không cố định ở bất kỳ nơi đâu, cũng không phải là không cốđịnh; không phải không cố định, cũng không phải là không không cố định

tâm, không khởi niệm đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp

Trong 32 Chương, ngoài Chương 1 như đã vừa đề cập ở trên, nó còn nhấn mạnh đến sự huỷ diệt ngã chấp, như đã đề cập, trình bày về nghĩa lý

của Bồ-tát và sự chứng đắc

Chương 2 giới thiệu về Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn), làm thế nào để

an trú nơi tánh không hoặc Bát-nhã Ba-la-mật Nó cũng tán dương nhữngbậc Thánh với tiêu đích chói sáng của họ bằng sự thực nghiệm Bát-nhãBa-la-mật cùng với tính bất diệt siêu việt thời-không của nó

Từ Chương 3 đến Chương 7, nó nhấn mạnh đến sự tôn kính Bát-nhã

Ba-la-mật; vì nó là nguồn thiện pháp bất khả tư nghì, là nguồn công đức vĩđại hơn bất kỳ món quà tâm linh nào khác, là sự linh nghiệm của đại thầnchú vì nó rất vĩ đại và siêu việt, và những diệu dụng khác bới giá trị tốithượng của Bát-nhã Ba-la-mật cũng như sự hỷ lạc cúng dường những côngđức tối thượng, và cần phải tránh những quan điểm đối lập về những vấn

đề siêu hình

Chương 8 đề cao sự thẩm thấu trí tuệ Bát-nhã một cách rốt ráo là vô

thượng tuệ, bẻ gãy mọi ý niệm chấp thủ và chấp thủ tưởng, vì tất cả được

ví như tiếng vang, như hư không

Chương 9 và 10 tán dương sự chuyển pháp luân với diệu dụng của

Bát-nhã Ba-la-mật, sự mầu nhiệm và công năng hành trì Bát-nhã Ba-la-mậtcủa hàng Bồ-tát được chư Phật khen ngợi

Chương 11, 12 và 13 nói đến những hành động của chúng ma, hiển

thị cõi Ta- bà, và làm thế nào Như Lai có thể biết được cõi này và tâm củatất cả chúng sanh, hết thảy đều là giả danh, là không thật, mà đáng chú ý

là năm thuộc tính (bất khả tư, b/k nghị, b/k lượng, b/k kế và tất cả đều

bình đẳng) của nó Hai Chương kế tiếp nói về sự tái sinh trong quá khứ và

Trang 23

tương lai, những chướng ngại về nghiệp quá khứ của hàng Bồ-tát, và cônghạnh mà một Bồ-tát làm thế nào để giáo hóa bằng trí tuệ Ba-la-mật

Chương 16, 17 và 18 cho thấy các pháp là “như thị” cùng với những

thuộc tính, những biểu hiện và những dấu hiệu bất biến khác nhau và nêubật lên tánh không trong Bát-nhã Ba-la-mật

Chương 19 đến 27 bàn về những nữ thần của sông Hằng, phương

tiện thiện xão, ma lực/nghiệp, tình pháp lữ, những vị trí cao thượng của

Bồ-tát trong chúng Śakra (Thích-đề-hoàn-nhơn), sự lừa gạt của ma quân,

sự trau dưỡng Bát-nhã Ba-la-mật của hàng Bồ-tát, chỉ ra tất cả các phápđều là ảo giác; và cốt lõi của Bát-nhã Ba-la-mật xuyên qua sự giác ngộ

cũng như sự an trụ không tánh

Ba Chương tiếp theo là chuyện kể về Avakīrṇakusuma,

Śadaprarudita và con gái của thương nhân cũng như chuyện kể vềGandhavatī và cuộc đời của Dharmodgātā Đặc biệt là nó nêu lên tầm

quan trọng của thiền-định Chương 31 trình bày về vô trú xứ của Như Lai,

sự cúng dường của Śadaprarudita và sự biểu hiện về giáo pháp củaDharmodgātā; và cuối cùng là sự phó chúc Bát-nhã Ba-la-mật đến tôn giảĀnanda

Tóm lại, những điểm dưới đây là sự khác biệt giữa Hīnayāna (Tiểu

thừa) và nội dung cốt lõi của Văn học Bát-nhã Có thể nói rằng lý tưởng,

mục đích và hạnh nguyện độ sanh của một vị Bồ-tát trong Văn học

Bát-nhã hoàn toàn đối lập với lý tưởng hay sự nghiệp của những vị Arhat

(A-la-hán) và Pratyekabuddha (Bích-chi-phật)

1.Rải rác trong các Kinh văn, đức Phật đã nhấn mạnh rất nhiều vềvấn đề thực nghiệm, ít chuộng về lý thuyết suông; do đó, trí tuệ Bát-nhã

mà một hành giả muốn đạt được, điều tất yếu là phải nỗ lực thực nghiệm

xuyên qua samādhi (thiền-định) Việc hành thiền-định đã được đề cập rất

nhiều trong những Kinh văn Đại thừa, nhưng quan trọng nhất là

Śuraṅgama-samādhi-sūtra (Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội), mà nó đã

giúp cho những hành giả có đủ nghị lực kiên cố, năng lực thiền-định tốithượng, để huỷ diệt tất cả phiền não Trên nền tảng của thiền-định như đãđược đề cập trong Śuraṅgama-samādhi, một hành giả có thể có khả năng

Trang 24

đạt được Dharmameghā-bhūmi (Pháp Vân Địa), tức là Địa thứ mười trong

Thập Địa của Bồ-tát

Văn học Bát-nhã không những có mối liên quan mật thiết với

Śuraṅgama-samādhi-sūtra và Daśa-bhūmika-sūtra (Kinh Thập Địa), mà còn với Akṣobhya-tathāgatasyavyūha (Kinh A Súc Phật Quốc [đời Hậu Hán,

ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch, 2 quyển, ĐC 11_313] ) A Súc Phật Quốc Kinhnày cũng có thể thấy trong Phẩm thứ 12 (Phẩm Thấy Phật A Súc hoặc

Nhìn Phật Bất Động) của Vimalakīrtinideśa (Kinh Duy Ma Cật)

2 Trí tuệ Bát-nhã của Bồ-tát đều là những bậc thượng căn thượng trí

đã và đang chứng ngộ Thập Địa Đơn giản vì những Bồ-tát này đều cóchủng tánh của Đại thừa, mà nó cao thâm hơn trí tuệ của những trườngphái còn trong thời kỳ ban đầu

3 Những vị Đại Luận Sư của Đại thừa đều có khả năng nhận thức và biết rõ các pháp như thật xuyên qua sự quán chiếu cả ngã và pháp, đặc biệt là sự tự ý thức với những công hạnh mà họ đang làm

4 Vì thấy rõ sự sinh khởi và đoạn diệt của các pháp, từ đây họ chủtrương rằng không có một pháp nào sinh diệt như vậy cả; vì tất cả cácpháp là bất sinh diệt, bất tăng giảm

5 Vô số của những pháp riêng biệt đều được cân nhắc cho sự hìnhthành thật tại tính rốt ráo Vì sao? Vì không có vô số các pháp như thế, vìtất cả chỉ là một; cũng chẳng có những pháp nào riêng biệt hay đơn điệu,nhưng những gì chúng xuất hiện chỉ là sự ước lệ hoặc chỉ là sự cấu trúccủa danh ngôn (hoặc tướng trạng)

6 Tánh không được đề cập trong Văn học Bát-nhã là sự tối thượngbằng tính “tuyệt đối”, mà nó đã dẫn dắt cho chúng ta đi đến khái niệm vềthuật ngữ “như thị”, và dường như gợi nhắc cho chúng ta liên tưởng đến

“thập như thị” trong Pháp Hoa sau này

7 Khái niệm mới về Phương tiện thiện xão_có thể thấy trong KinhPháp Hoa và Duy Ma_mà xuyên qua đó bằng sự chuyển hoá của nhữnggiai tầng tâm linh thù thắng, mọi thao tác hoạt dụng và những tư duy trênnền tảng Bát-nhã, thảy đều trở nên những công cụ để phụng sự cho lòng

từ phổ quát, trí bình đẳng vô phân biệt

Trang 25

8 Khái niệm về sự cống hiến và hồi hướng hết thảy các công đức đãdập tắt mọi tâm niệm chấp thủ về những công đức đã đang và sẽ đạtđược, thực thi tinh thần bình đẳng, vô thủ và vô thủ tưỏng công đức, vôngã vị tha, đã bẻ gãy và đập nát vụn những ý thức chấp thủ về ngã vàpháp Đặc biệt tinh thần phụng sự chúng sanh bằng sự hồi hướng vàchuyển tiếp mọi công đức ấy nhằm giúp cho họ đầy đủ khả năng đạt được

sự giác ngộ

9 Khái niệm về giáo dục đánh thức trong Văn học Bát-nhã đã giúpcho chúng ta thêm một khái niệm mới của khuynh hướng Đại thừa Nógiống như tiếng gọi thôi thúc của bậc làm cha mẹ đánh thức những đứacon đang còn mê ngủ, phải mau mau tỉnh giấc để làm cho tròn bổn nhiệmcủa chúng Nó cũng giống như ánh đèn pha, soi vào màn đêm để chúng ta

có thấy được hướng đi và tránh rơi vào những đầm sâu, hố thẳm Tương

tự, đức Phật cũng gọi Subhūti (Tu-bồ-đề), hoặc gọi Sāriputra (Xá-lợi-phất)

để đánh thức dòng tâm linh đang ngủ vùi trong tiềm thức, vực dậy haykhiến cho nó được giao cảm với thế giới thanh tịnh của chư Phật với mộtđích duy nhất là dắt dẫn hàm linh thoát khỏi vòng sinh-diệt-và-tái sinh

10 Tinh thần siêu việt nhị biên, không rơi vào có và không, đoạn vàthường, sinh và diệt, sinh tử và Niết-bàn, năng chứng và sở chứng vì tất

cả đều là ảo giác, là huyễn hóa

11 Thần chú trong Bát-nhã là thần chú lớn, ẩn tàng sự linh nghiệm

và mầu nhiệm, siêu phóng và vi diệu, có đủ công năng giúp cho hành giảvượt qua mọi khổ ách, đến bờ giải thoát an lạc Thần chú này đều đượcchư Phật hộ niệm; vì chư Phật ba đời ở trong mười phương đều dụng thầnchú này mà có được công năng bất khả tư nghì

Tóm lại, toàn bộ Văn học Bát-nhã có thể tóm lược trong hai vấn đềcũng hàm tàng đủ nghĩa lý của nó Đó là nó nhắc chúng ta rằng một ngườiphải trở thành một vị Bồ-tát chơn chánh nhưng không nên hài lòng haymãn nguyện về tất cả trí tuệ đã đạt được; vì trí tuệ là phương tiện thiệnxão để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh Và nó nhắc rằng không có mộtpháp nào, cũng không có một Bồ-tát như thế, trí tuệ như thế hoặc sựchứng ngộ như thế, nghĩa là trong tâm tưởng không một ý niệm gì về Bồ-tát hay những trí tuệ đã chứng đắc, thậm chí cũng không có một Bồ-tát

Trang 26

chứng đắc như thế Vì với văn học Bát-nhã xuyên qua nội dung cốt lõi của

nó là tất cả các pháp đều là không, song nó thể hiện sự linh hoạt và diệudụng của “chơn không diệu hữu”, của “tánh không”

Về sau Văn học Bát-nhã cũng đã được những vị Đại Luận Sư của

Phật giáo Đại thừa như: Aśvaghoṣa (Mã Minh) Nāgārjuna (Long Thọ), Asaṅga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân) diễn dịch và xiển dương

đến tột đỉnh của nó bằng những lời bình của mình Chẳng may những bộluận này, khi được truyền đến chúng ta chỉ là những bản dịch của TrungHoa và Tây Tạng Nổi tiếng nhất trong số này là

Mahāprajñāpāramitopadeśa śāstra (Luận Đại Trí Độ) của ngài Nagārjuna (Long Thọ).

[25] Xem Winternitz, Sđd, tr 294-5

triều đại Kāṇva do Vasudeva thành lập, rồi đến những vị vua Macedoniancủa Tây Bắc Ấn mà họ là những người đến từ Hy Lạp Không những chỉ lànhững vị vua người Hy Lạp, mà còn những người xâm lăng Ấn ở các nướckhác như Śakas, Parthians và Kuṣāṇas đã trở thành những người hỗ trợ

cho Phật giáo Xem Hirakawa Akira, A History of Indian Buddhism, tr

221-232

được giới thiệu vào vùng đất mới này khoảng hậu bán thế kỷ thứ I sau CN,tức thời Hán Minh Đế Đặc biệt có 3 Trung tâm Phật giáo nổi tiếng đượchình thành dưới triều đại nhà Hán Ba Trung tâm này là Lạc Dương, BànhThành (vùng sông Dương Tử ở Bắc Trung Hoa) và Luy Lâu (bấy giờ ở Việt

Nam) Xem Ch’en, Kenneth K.S., Buddhism in China, tr 41-3.

sang Hoa ngữ nhưng những bản dịch bằng tiếng Saṅskrit cho đến nay vẫnchưa thấy đề cập đến, thậm chí cả niên đại của chúng cũng thế Sự tươnggiữa Nikâya và A Hàm là như sau:

1 Dīghanikāya (Trường Bộ) có 34 kinh ~ Trường A Hàm, doDharmaguptaka dịch, 30 kinh, năm 413 sau CN

Trang 27

2 Majjhimanikāya (Trung Bộ), 152 kinh ~ Trung A Hàm, do Sarvāstivādadịch, 221 kinh, năm 398 sau CN.

3 Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ), 2872 kinh ~ Tạp A Hàm, doSarvāstivāda dịch, 1362 kinh, năm 443 sau CN

4 Aṅguttaranikāya (Tăng Chi Bộ), 2198 kinh ~ Tăng Nhất A Hàm,Mahāsāṅghika dịch (vẫn còn nghi ngờ vì chưa xác định rõ), 471 kinh, năm

384 sau CN

5 Khuddakanikāya (Tiểu Bộ), 15 kinh ~ một số tác phẩm độc lập khác mà

đã được dịch sang Trung Hoa

xác định rằng nó có nguồn gốc từ Tây Bắc và vùng Khotan; vì Tây Bắccũng là nơi nhiều tư liệu còn sót lại và được duy trì ở Nepál và Trung Á,hoặc trong những bản dịch của Trung Hoa và Tây Tạng Đồng ý với B.Lamotte, Ed Conze cho rằng Bát Nhã đã có một sự thành công vĩ đại ởvùng Tây Bắc vào thời Kuṣāṇa, nhưng theo Mañjuśrimūlakalpa cho biết,dưới thời Kaniṣka, Bát Nhã được hình thành ở Tây Bắc, song không phải nó

có nguồn gốc ở đó, và cũng không phải nguồn gốc của nó ở Nam Ấn; vì cảhai giả thuyết trên đều chưa xác định rõ Edward Conze, Sđd., tr 4

[33] Kinh này có lẽ được viết tắt từ Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra

(Kinh Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa) mà do nhiều tác giả khác nhau dịch

ra tiếng Trung Hoa, như:

1) Thánh Bát Thiên Tụng Bát-nhã Ba-la-mật-đa Nhất Bách Bát Danh Chơn

Thật Viên Nghĩa Đà-la-ni Kinh, đời Tống, ngài Thi Hộ dịch, 1 quyển, ĐC

8_230

2) Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, đời Diêu Tầng, ngài Kumārajīva dịch, 1

quyển, ĐC 8_235

3) Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, đời Nguyên Nguỵ, ngài Bồ-tát Lưu Chí

dịch, 1 quyển, ĐC 8_236, và một bản khác cùng niên đại và tác giả, 1quyển

4) Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, đời Trần, ngài Chân Đế dịch, 1 quyển,

ĐC 8_237

Trang 28

5) Kim-cang Năng Đoạn Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh, đời Tuỳ, ngài Cấp Đa

dịch, 1 quyển, ĐC 8_238

6) Phật Thuyết Năng Đoạn Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh, đời

Đường, ngài Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển, ĐC 8_239

7) Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh, đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển,

ĐC 8_239

1) Thật Tướng Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, đời Đường, ngài Bồ-đề Lưu Chí dịch, 1

4) Đại Lạc Kim-cang Bất Không Chơn Thật Tam-ma-gia Kinh, đời Đường,

ngài Bất Không dịch, 1 quyển, ĐC 8_243

5) Phật Thuyết Tối Thượng Căn Bổn Đại Lạc Kim-cang Bất Không

Tam-muội Đại Giáo Vương Kinh, đời Tống, ngài Pháp Hiền dịch, 7 quyển, ĐC

8_244

1) Phật Thuyết Đế Thích Bát-nhã Ba-la-mật Tâm Kinh, đời Tống, ngài Thi

Trang 29

8) Đường Phạm Phiên Đối Tự Âm Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh, ngài Thi

Hộ dịch, 1 quyển, ĐC 8_256

[36] Xem Hirakawa Akira, Sđd., tr 319-320

[37] Xem Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā, Edward Conze dịch, The AsiaticSociety, Calcutta, 1970, tr 1,2 &3 cũng xem Winternitz, Sđd, tr 317-8.Nếu so với bản dịch của Kumārajīva, ĐC 8_227, tr 537b, thì cách diễn đạt

có hơi khác, nhưng cốt lõi đồng

Trang 30

Chương IV:

Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa)

a Khái lược về Nguồn gốc và sự Phiên dịch:

Kinh văn thuộc hệ Saṅskrit quan trọng nhất và được xem như tácphẩm văn chương có giá trị nhất của Phật giáo là Saddharmapuṇḍarīkasūtra Niên đại xuất hiện của nó chừng khoảng thế kỷ thứ I sau CN, tứcthời kỳ Phật giáo Đại thừa đã phát triển mạnh tại các nước ở Châu Á Tuynhiên, trong thời gian này Kinh văn Pháp Hoa vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ,

mà chừng khoảng bốn hoặc năm thế kỷ sau đó nó phải được bổ sung thêm

vào Phổ biến nhất là bản kinh của ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập); vì

nó đã được bổ sung thêm một chương và những kệ tụng trong những

phẩm khác liên quan đến Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) và Avalokiteśvara (Quán-thế-âm) cũng như một nửa Phẩm Auṣadhasyarāja Bodhisattva (Dược Vương Bồ-tát) khi so với sự khiếm khuyết từ bản dịch ban đầu của

ngài

Saddharmapuṇḍarīka-sūtra, theo Maurice Winternitz, được phiêndịch đầu tiên sang tiếng Trung Hoa vào năm 223; vì nó cũng đã được ngài

hiện còn do Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) dịch sang tiếng Trung Hoa vào năm 286, với nhan đề là Chánh Pháp Hoa Kinh, 27 chương, 10 quyển, đời Tây Tấn, ĐC 9_263 Có một bản dịch khác gọi là Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh,

Phẩm “Devadatta” (Đề-bà-đạt-đa) và “Hiện Bảo Tháp”, mà nó được hoàn tất trong khoảng thời gian của ngài Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) Vẫn biết,

bản dịch của ngài Dharmarakṣa gồm 27 chương là tương đối hoàn chỉnh,song ở vào một niên đại sớm hơn, nhiều mảng của những chương nàydường như đã được lưu hành có tính độc lập Chẳng hạn, Phẩm

Upāyakauśalya (Phương Tiện) đã xuất hiện trước thế kỷ thứ 2 sau CN; vì

những sự mô tả sinh động về hình tượng của đức Phật được đề cập trongchương này, niên đại của nó có lẽ không sớm hơn hạ bán thế kỷ thứ I sau

CN.[40]

Trang 31

Lại nữa, bản tương đối hoàn chỉnh do ngài Kumārajīva dịch vào năm

405 hoặc 406, được gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, 7 quyển, đời Diêu Tần,

ĐC 9_262 Tuy nhiên, bản dịch này không có những Phẩm đề cập đến

“Devadatta” và những bài kệ của Phẩm Avalokiteśvara cũng như một nửa

của Phẩm Auṣadhasyarāja Bodhisattva (Dược Vương Bồ-tát) May thay,

ngài Pháp Hiền đã phát hiện được một mảng Saṅskrit liên quan đến Phẩm

nhưng trên thực tế, bản này ngài Pháp Vân không sử dụng trong lời bình

của Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký, 8 quyển, đời Lương, Pháp Vân soạn, ĐC

56_2187 Điều này cho thấy Phẩm Devadatta chỉ được thêm vào trongKinh Pháp Hoa sau thời của họ Ngài Trí Khải (538_597) bình luận về Phẩm

Cú), 20 quyển, đời Tuỳ, ĐC 34_1718, 114c) của mình, mà trước đây nó

không có trong bản dịch của ngài Kumārajīva

Năm 601, những phần khiếm khuyết trong bản dịch của Kumārajīva

(Cưu-ma-la-thập) đã được Jñānagupta (Xà-na-quật-đa_523-600) cùng với

những dịch giả khác bổ sung và thêm vào sau này thành một bản hoàn

hảo với nhan đề là Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Jñānagupta và

Kumāragupta dịch, 7 quyển, đời Tuỳ, ĐC 9_264 Do đó, có sự khác nhau

giữa bản dịch của Kumārajīva với Dharmarakṣa (Trúc Pháp Hộ) và Kumāragupta (Khố-mã-lạp-cấp-đa); còn mảng Kinh được tìm thấy ở Đông

Thổ Nhĩ Kỳ (Earstern Turketan) cũng có phần hơi khác với bản dịch củaNepalese (người Nepál).[44]

Ngoài ra, còn nhiều bản dịch thuật, trước tác, biên soạn và chú giải

khác, như: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa, 20 quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết, ĐC 33_1716 và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú, 20 quyển, đời Tuỳ, Trí Đầu thuyết, ĐC 34_1718 Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Sám,

20 quyển, đời Đường, Trạm Nhiên thuật, ĐC 33_1717 Pháp Hoa Huyền

Luận, 10 quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1720; Pháp Hoa Nghĩa Sớ,

12 quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng soạn, ĐC 34_1721; và Pháp Hoa Du Ý, 1 quyển, đời Tuỳ, Cát Tạng tạo, ĐC 34_1722 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Huyền Tán, 20 quyển, đời Đường, Khuy Cơ soạn, ĐC 34_1723 Pháp Hoa

Trang 32

Huyền Tán Nghĩa Quyết, 1 quyển, đời Đường, Tuệ Chiếu soạn, ĐC 34_1724.

Và Pháp Hoa Tông Yếu, 1 quyển, Tân La, Nguyên Hiểu soạn, ĐC 34_1725

Một bản dịch của Tây Tạng hoàn toàn về Saddharma-puṇḍarīkasūtra hiện còn, và bản thảo Saṅskrit của nó đã được tìm thấy trong nhữngvùng khác nhau của Châu Á Đặc biệt quan trọng là bản thảo Saṅskrit ởNepal, Gilgit ở Bắc Ấn, cũng như ở Kashgar và Khādalik ở Trung Á Từ khibản thảo Saṅskrit của Nepal được H Kern và B Nanjio cho xuất bản, kếtiếp đó, những bản khác về kinh này cũng lần lượt được xuất bản Những

b Khái lược về Nội dung:

Toàn bộ Saddharmapuṇḍarīka-sūtra này được viết bằng văn hệSaṅskrit và Prākrit theo thể văn xuôi và kệ tụng, song nó vẫn tiêu biểu chomột sự phát triển cao về lãnh vực văn chương của Phật giáo Đại thừa Nóvốn hàm súc những tư tưởng độc đáo, nghĩa lý thâm áo lại mầu nhiệm mà

đã được kết tinh bằng những chất liệu từ bi và trí tuệ của đức Như Lai suốt

45 năm thuyết pháp; đó là từ lúc Giáo đoàn Phật giáo được hình thành chođến khi Ngài nhập Niết-bàn Dĩ nhiên, trong suốt thời sinh tiền của NhưLai, nếu cứ vào sự dòng tư tưởng chuyển biến và phát triển, hệ thống vàlôgic, thì có vẻ đường đột; vì suốt quãng thời gian chừng năm thế kỷ saukhi đức Thế Tôn diệt độ, rất nhiều kinh điển Đại thừa khác xuất hiện vớinhững giai tầng tư tưởng khác nhau.[46]

Đối với Saddharmapuṇḍarīka-sūtra (Kinh Pháp Hoa), bất luận tầng

lớp nào trong xã hội, một khi đã tiếp cận và kiên nhẫn trì tụng, nó cũngđều ban cho họ những món quà vô giá, những thức ăn đầy nhựa sống chotinh thần, có lẽ vì thế mà nó được phổ biến khắp nơi trên thế giới, không

luận là những nước có truyền thống Phật giáo Hīnayāna (Tiểu thừa) hay Mahāyāna (Đại thừa) Nó làm sống lại những tâm hồn đau khổ và sầu

muộn, tưới mát lại những dòng chảy tâm linh khô héo đã ngủ vùi từ bấylâu nay trong thế giới huyễn ảo và giả tạm, và đánh thức lại nguồn tâm

hay Phật tánh mà con người hững hờ quên lãng, đó là “khai, thị, ngộ, nhập

Phật chi tri kiến” Những phương tiện vô cùng thiện xão, như: “khai tích, hiển bổn”, “khai quyền, hiển thật”, “khai cận, hiển viễn” và “khai tam, hiển nhất” đã nhấn mạnh một cách triệt để rằng chỉ có một Phật thừa duy

Trang 33

nhất mà hoàn toàn không có thừa thứ hai hay thứ ba nào khác, cốt để nêu

bật lên tư tưởng thù thắng: “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, với

mục đích giúp cho chúng sanh thể nhập Phật tánh thanh tịnh nhằm xiển

dương tinh thần “tuỳ duyên bất biến”, “bất biến tuỳ duyên” trong thế giới

hiện sinh này

Đặc biệt, giáo lý Ekayāna (Nhất thừa) của Kinh Pháp Hoa này đã

hình thành một hệ thống giáo lý uyên bác và bình đằng, thâm áo và uyểnchuyển, với một mục đích duy nhất là phá tan mọi quan niệm cố chấp

cứng nhắc về quả vị chứng ngộ của hàng Nhị thừa

(Śrāvakayāna_Thanh-văn, Pratyekabuddhayāna_Bích-chi-phật) còn hạn cuộc trong Tứ Thánh

quả cũng như hàng Bodhisattvayāna (Bồ-tát thừa)

Những đoạn văn xuôi ngắn bằng Saṅskrit và những kệ tụng bằngSaṅskrit pha trộn của bản kinh này, theo Nariman, không thể xuất hiệncùng thời; vì những đoạn văn xuôi cũng như những kệ tụng của văn kinhnày thường được nói về một sự biên soạn kỹ xão có vận luật Hơn nữa,nguồn gốc của văn kinh chỉ là những đoạn văn ngắn gọn được giải thíchbằng phương thức giới thiệu và nối liền giữa những vần kệ Thế nhưng,những đoạn văn xuôi ngắn gọn này lại được mở rộng như là phương ngữ

Ngoài những thể loại văn xuôi ở đầu của mỗi phẩm và phần lớn đượckết thúc bằng thể loại kể tụng ở cuối phẩm, nó còn chỉ cho thấy một kỷnguyên thịnh hành cao độ về nghệ thuật thiết kế và kiến lập những bảotháp uy nghiêm và vĩ đại của Phật giáo thời bấy giờ Những Thánh tích củađức Phật được tôn trí bên trong của vô số tu viện Phật giáo với những quy

mô lớn và đặc thù, với những tôn tượng đức Phật bằng đá quý, những hìnhtượng của đức Phật được chạm khắc lên những loại gỗ quý và kim loại đặcbiệt cũng như những tranh tượng được chạm khắc trên tường vô cùngsống động.[48]

Saddharmapuṇḍarīka sūtra với 28 Phẩm của nó có lẽ được chia rathành hai phần chính Cả 14 Phẩm đầu của Kinh đề cập đến những phươngtiện thiện xão, còn được gọi là “Tích Môn”; còn 14 Phẩm sau xiển dươngtriệt để giáo lý nền tảng, cũng được gọi là “Bản Môn” Vậy Tích Môn và

Trang 34

Phẩm Tựa giới thiệu tổng quan toàn bộ kinh này Nó mô tả cảnh đức

Phật trú tại thành Vương-xá, trong núi Kỳ-xà-quật cùng với 2.000 Tỳ-kheo,

80.000 Bồ-tát,[51] Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với 20.000 Thiên tử quyếnthuộc, Thiên Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà và có cả vua A-xà-thế cùng với

vô số quần thần đều đến tập hội Mỗi vị trong số chúng ấy đến lễ nơi chânPhật, rồi lui ngồi một bên Lúc giữa tứ chúng vây quanh cung kính cúng

dường tán thán, đức Thế Tôn vì chư Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa Vô lượng

nghĩa, thuyết xong, Ngài ngồi kiết già an nhiên, nhập vào vô lượng nghĩa

xứ tam-muội, thân tâm bất động Bấy giờ chư Thiên, rải hoa trời cúng

hỷ, thấy điềm lành chưa từng có, bèn chắp tay nhất tâm chiêm ngưỡngđức Phật Lúc ấy đức Thế Tôn phóng ánh sáng từ tướng chân mày trắng,chiếu soi tới 8.000 cõi về phương đông, trên thấu tận trời Hữu Đảnh, dướitới tận ngục A-tỳ Trong ánh sáng đó hiện đủ cảnh giới khác nhau Đại diệnchúng đương cơ, ngài Di-lặc, tiêu biểu cho lòng từ, hỏi ngài Văn-thù_tiêubiểu cho trí tuệ_vì nhân duyên gì điềm lành ấy xuất hiện; người sau đáprằng đó là vì đức Thế Tôn muốn thuyết kinh Đại thừa vô lượng nghĩa vàmuốn khiến cho đại chúng được nghe pháp cao sâu và rất khó tin của thếgian Ngài tuỳ cơ thuyết pháp, như: nói pháp Tứ đế cho người cầu Thanh-văn; pháp Thập nhị nhân duyên, Duyên-giác; Lục độ Ba-la-mật, Bồ-tát Vớimột mục đích duy nhất là mong muốn cho tất cả họ phát tâm cầu đạo vàchứng đắc được quả Vô thượng Bồ-đề, thành nhất thiết chủng trí

Kế đó ngài Văn-thù kể lại chuyện xảy ra trong quá khứ: cũng có đứcPhật phóng quang, thuyết kinh đại thừa vô lượng nghĩa cho vô số Bồ-tát,

mà trong số ấy có Bồ-tát Diệu Quang cùng 800 vị đệ tử nghe Phật thuyếtpháp trải qua 60 tiểu kiếp mà vẫn an toạ một chỗ, thân tâm an lạc, khôngbiết mệt mỏi; đặc biệt có Bồ-tát Đức Tạng được Phật thọ ký sau này sẽ

thành Phật hiệu là Dīpaṇkara (Nhiên Đăng) Trái lại, cũng có Bồ-tát tên là

Cầu Danh, tham trước lợi dưỡng, tuy có đọc tụng kinh điển nhưng khôngnhớ nghĩa lý; sau nhờ hành thiện nghiệp, tu tập đầy đủ lục độ Ba-la-mật,thấy được chư Phật, hết lòng cung kính cúng dường chư Phật; nhờ tích tập

Trang 35

vô lượng công đức, cho nên sẽ được thành Phật hiệu Maitreya (Di-lặc),

rộng độ và cứu giúp vô số chúng sanh

Phẩm Phương Tiện thứ 2 là phần Chánh Tông Nó nhấn mạnh đến sự

vận dụng phương tiện thiện xão để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập trikiến Phật Nó mô tả lại đức Phật từ tam-muội khởi, rồi bảo tôn giả Xá-lợi-phất rằng ‘trí tuệ của chư Phật sâu xa vô lượng, rất khó giải khó nhập đếnnổi tất cả hàng Thanh-văn và Bích-chi-Phật không thể hiểu thấu Vì từ khithành Phật cho đến nay, Ngài đã dùng vô số nhân duyên, vô số thí dụ,rộng diễn giáo hoá, dùng vô số phương tiện để dắt dẫn chúng sanh, khiến

họ lìa khổ được an lạc Hơn nữa, Như Lai khi vận dụng phương tiện, đều đãthấy biết rõ các pháp như thật và đầy đủ Ba-la-mật rồi; tri kiến sâu xarộng lớn của Như Lai đầy đủ Thập lực, Tứ vô sở uý, thiền-định giải thoáttam-muội vô lượng vô ngại, thâm nhập không bờ mé, thành tựu tất cảpháp xưa nay chưa từng có Như Lai có khả năng phân biệt các pháp khéoléo, thuyết các pháp bằng những ngôn từ nhu nhuyến khiến tâm củachúng sanh vui thích’

Khi Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng thỉnh Phật giải nghi, Ngài dạy:

“Này Xá-lợi-phất, vô số ngôn từ bí yếu, vô lượng vô biên pháp xưa

nay chưa từng có, chư Phật thảy đều thành tựu Thôi! Xá-lợi-phất, không nên nói nữa Vì sao? Vì Phật đã thành tựu pháp đệ nhất rất khó giải, xưa nay chưa từng có Duy chỉ có Phật cùng với Phật mới có đủ khả năng thẩm thấu cùng tột thật tướng của các pháp Đó là: như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh bình đẳng”.[53]

Điều này cho thấy “chư pháp thật tướng” chính là nội dung cốt lõi

của phần Tích môn trong kinh Pháp hoa

Pháp mà Phật chứng đắc rất sâu xa khó giải, ý hướng ngôn thuyếtrất khó biết, đến nổi tất cả Thanh-văn và Bích-chi-Phật không thể hiểuthấu Xá-lợi-phất thay mặt hội chúng ba lần cầu thỉnh đức Phật giải bày

Đức Phật cũng ba lần dạy rằng “Thôi thôi Xá-lợi-phất, chớ nên nói nữa!

Dẫu có nói chăng nữa thì tất cả thế gian chư Thiên và loài người càng thêm nghi ngờ kinh sợ” Khi nghe nói lời như thế, trong hội chúng có 5.000

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di, v.v rời chỗ ngồi đứng dậy lễ

Trang 36

Phật rồi lui ra Khi quán xét thấy hội chúng thanh tịnh, Ngài bảo:

“Xá-lợi-phất, những kẻ tăng thượng mạn như thế, lui ra cũng tốt!” Rồi căn dặn

Xá-lợi-phất khéo lắng lòng nghe kỹ rằng vì giáo pháp cao sâu vi diệu, cho

nên chư Phật Như Lai lúc đúng thời mới nói; cũng như hoa Udumbara

(Ưu-đàm-bát) đúng thời mới xuất hiện mà thôi

Ngài lại cân nhắc và khuyên tứ chúng muốn phát tâm cầu đạo vôthượng Bồ-đề phải hết lòng giữ tín tâm cho kiên cố mới có thể hiểu nổigiáo nghĩa thâm áo vi diệu của chư Phật Ngài dạy:

“Ta dùng vô số phương tiện, vố số nhân duyên thí dụ ngôn từ để

diễn thuyết các pháp Pháp ấy chẳng phải tư lường phân biệt mà có thể hiểu được, mà chỉ có chư Phật cùng với Phật mới có khả năng thẩm thấu.

Vì sao? Vì chư Phật Thế Tôn, chỉ vì một nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện

ở đời Đó là vì muốn chỉ bày tri kiến Phật cho chúng sanh, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến cho chúng sanh ngộ được tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời; muốn khiến cho chúng sanh thể nhập vào tri kiến Phật, cho nên xuất hiện ở đời Xá-lợi-phất, đó là chư Phật chỉ vì một nhân duyên lớn, cho nên xuất hiện ở đời”.[54]

Xa hơn nữa, đức Phật bảo Sāriputra (Xá-lợi-phất) rằng chư Như Lai

luôn giáo hoá Bồ-tát: chỉ dùng tri kiến Phật để chỉ bày cho chúng sanh

chứng ngộ Như Lai chỉ dùng Eka-buddha-yāna (nhất Phật thừa) mà vì

chúng sanh thuyết pháp, chứ không có thừa thứ hai hoặc thừa thứ ba nàokhác cả; vì hết thảy pháp của chư Phật trong mười phương cũng như vậy.Ngài lại dạy Xá-lợi-phất rằng mười phương chư Phật trong quá khứ hiện tại

và vị lai đã đang và sẽ dùng vô lượng vô số phương tiện, vô số nhânduyên, thí dụ, ngôn từ mà vì chúng sanh diễn thuyết các pháp; pháp ấychính là nhất Phật thừa Các chúng sanh theo chư Phật nghe pháp, rốt ráođều đắc được Nhất thế chủng trí Ngài bảo:

“Ta nay cũng như vậy, biết các chúng sanh có tâm tham đắm dục

vọng sâu xa, nuông chìu theo bản tánh của mình, cho nên phải dùng vô

số nhân duyên thí dụ ngôn từ, phương tiện lực mà vì họ thuyết pháp lợi-phất, như hội chúng này đều đắc được nhất Phật thừa, nhất thiết chủng trí Xá-lợi-phất, mười phương trong thế giới hai thừa mà còn không có huống gì là có ba! Xá-lợi-phất, chư Phật xuất hiện ở đời ác năm trược, đó

Trang 37

Xá-là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược và mạng trược Như vậy, Xá-lợi-phất, thời kiếp trược loạn lạc, chúng sanh cấu nhiễm nặng nề; vì xan tham tật đố tạo nên những căn bất thiện Chư Phật nơi nhất Phật thừa dùng phương tiện lực nói có ba Xá-lợi-phất, nếu đệ tử của

Ta, tự xưng là A-la-hán hay Bích-chi-phật mà không nghe không biết việc chư Phật Như Lai chỉ giáo hoá Bồ-tát, thì những người ấy chẳng phải là đệ

tử của Phật, chẳng phải là A-la-hán, chẳng phải là Bích-chi-phật Lại nữa, này Xá-lợi-phất, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tự xưng đã đắc A-la-hán rồi, là thân cuối cùng, rốt rào vào Niết-bàn, mà không cần cầu quả vô thượng Bồ-đề, nên biết những hạng này đều là những kẻ tăng thượng mạn”.[55]

Đây nhấn mạnh đến “nhất Phật thừa” là cái đích duy nhất của

phương tiện, chứ không có thừa thứ hai hoặc thừa thứ ba nào khác

Phẩm Thí Dụ 3 kể lại việc đức Phật thuyết kinh Đại thừa vô lượng

nghĩa và nhắc lại bổn nguyện hành đạo mà Xá-lợi-phất và hội chúng đãđược nghe trước đó nhưng vì họ quên mất, nay nhớ lại và tự biết rõ họ là

đệ tử của Phật Đây là đức Phật giáo hoá cho hàng Trung căn Kế đó Phật

thọ ký cho Xá-lợi-phất sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai Đối với

hạng căn cơ thấp, Ngài lại đưa ra ví dụ “ngôi nhà lửa” để chỉ bày cho họ

Chuyện kể về một Đại Trưởng giả vô cùng giàu có ở một nước nọ,tuổi đã già, tiền tài của cải nhiều vô lượng, đất đai, nhà cửa, ruộng vườn,tôi tớ, lại đông con Nhà tuy rộng lớn nhưng chỉ có một cửa ra vào rất hẹp,trong đó có nhiều người cùng sống chung Song nó đã quá cũ, tường váchlung lay, cột kèo ruỗng mục, mái và những đòn tay nghiêng vẹo Ngày nọ,đột nhiên nó bốc lửa, cháy lan tứ bề; thấy vậy Trưởng giả vội nghĩ, ta cóthể ra khỏi nhà này an toàn, nhưng còn những đứa trẻ thì đang hăng sayđùa giỡn chẳng hay biết gì lửa đang cháy Thế rồi, ông gọi chúng hãynhanh chóng ra khỏi nhà lửa, nhưng vì quá ham chơi, cho nên chúngkhông nghe Thoáng suy nghĩ tìm phương kế, ông liền bảo chúng rằngngoài ngã tư đường có ba loại xe trang hoàng những đồ quí giá rất đẹp vàhiếm thấy, như là: xe dê, xe nai và xe trâu Nghe thế chúng chạy ùa rakhỏi ngôi nhà ấy và hỏi cha của chúng xe để đâu; sau một lát phân bua

với chúng, ông ta cho chúng một chiếc xe trâu trắng Đây gọi là dụ “tam

xa, hoả trạch” Tam xa chỉ cho Tam thừa: Śrāvaka (Thanh-văn),

Trang 38

Pratyekabuddha (Duyên-giác hoặc Bích-chi-phật) và Bodhisattva (Bồ-tát);

còn hoả trạch chỉ cho ba cõi bất an; và trâu trắng chỉ cho Đại thừa thuầntuý Dụ về ngôi nhà lửa nhằm gợi lên đức tin cho hàng trung căn

Phẩm Tín Giải thứ 4 dụ về “trưởng giả và người cùng tử” để nhân

cách hoá đức tin Nó nói về sự thất lạc giữa cha và con, ngụ ý trỏ sự lãngquên tâm Đại thừa trong khoảng thời gian từ đức Phật Đại Thông Trí Thắngtrở về trước.[56]

Phẩm Dược Thảo Dụ thứ 5 nhấn mạnh đến pháp bình đẳng vô phân

biệt, tức là pháp nhất tướng nhất vị bình đẳng mà đức Thế Tôn vận dụng

để giáo hoá, có công năng đem lại lợi ích và an lạc cho tất cả chúng sanh;

ví như trận mưa lớn không phân biệt, mọi thảo mộc đều được thấm nhuần

Trong Phẩm Thọ Ký thứ 6, đức Phật thọ ký cho bốn vị Thanh-văn, đó

là: ngài Đại Ca-diếp thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai; Tu-bồ-đề,Danh Tướng Như Lai; Ca-chiên-diên, Kim Quang Như Lai; và Mục-kiền-liên,Chiên-đàn Hương Như Lai Điều đáng lưu ý rằng thông thường đức Phật chỉthọ ký cho hàng Bồ-tát, nhưng ở Kinh này bốn vị Thanh-văn cũng đã đượcthọ ký; đây là điểm đặc thù của kinh Pháp Hoa

Phẩm Hoá Thành Dụ thứ 7 kể lại sự xuất hiện của đức Phật Đại

Thông Trí Thắng trong quá khứ mà Ngài đã diệt độ cách đây vô lượng vôbiên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp nhưng tri kiến của Ngài hoàn toànkhông khác với tri kiến của chư Phật đương thời; rồi mô tả lại thời hiện tại

sự thành đạo của đức Đại Thông Trí Thắng, Ngài dạy rằng “Ta dùng năng

lực tri kiến của Như Lai để quán xem năng lực tri kiến lâu xa của đức Phật kia thì cũng (giống) như ngày nay”.[57] Đức Phật ấy lúc chưa xuất gia có 16vương tử 16 vị này khi nghe vua cha xuất gia và thành đạo Vô thượng Bồ-

đề, tất cả họ cũng như Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với trăm ngàn đại thần

và trăm ngàn vạn ức Phạm thiên đều đến chỗ Phật Đại Thông Trí Thắngđảnh lễ cúng dường và thỉnh Phật thuyết pháp Sau khi quán căn cơ của

họ, Ngài đã giảng rộng nghĩa về pháp Tứ đế và Thập nhị Nhân duyên theo

Tam chuyển thập nhị hành pháp luân Nhưng khi 16 vị này xin xuất gia

làm Sa-di, đức Phật ấy sau khi xét thấy căn tánh của họ thông lợi, lại tinhtấn tu hành, nghiêm trì tịnh giới, bèn thuyết Kinh Pháp hoa và giáo Bồ-tátpháp Phật sở hộ niệm, xong Ngài vào thất nhập định

Trang 39

Còn 16 vị này, sau khi được nghe giảng, đã thọ trì và lãnh hội đượcnghĩa lý cao sâu và nhận biết rõ được bản hoài của chư Phật Khi biết đứcPhật đã nhập định, họ thăng toà giảng kinh này trải qua 84.000 kiếp, độ

vô số chúng sanh và giúp họ phát tâm cầu đạo Vô thượng Xuất định sau84.000 kiếp, đức Phật ấy đã tán thán 16 vị Sa-di Bồ-tát trước hội chúng vàkhuyến họ cúng dường cũng như nói rõ về sự chứng quả Vô thượng Bồ-đềcủa 16 vị ấy tính đến nay đã lâu xa Mỗi một của 16 vị này đều thànhPhật, vị đầu tiên thành Phật hiệu là A-sơ cho đến vị thứ 16, Thích-ca Mâu-

ni hiện trị vì cõi Ta-bà này Đức Phật lại dạy:

“Khi chư Phật còn là Sa-di, mỗi người đều giáo hoá vô lượng trăm

ngàn vạn ức hằng hà sa chúng sanh (Họ) theo Ta nghe pháp, sẽ được quả

Vô thượng Bồ-đề, nhưng chúng sanh này đến nay vẫn còn ở trong hàng Thanh-văn Ta thường giáo hoá họ chứng Vô thượng Bồ-đề Những người này phải hành đúng theo chánh pháp, dần dần mới có thể nhập vào đạo.

Vì sao? Vì trí tuệ của Như Lai khó tin khó hiểu, mà bấy giờ vô lượng hằng

hà sa chúng sanh được giáo hoá Các ông, những Tỳ-kheo, sau khi Ta diệt

độ, trong đời vị lai là những đệ tử Thanh-văn ; lại có đệ tử không được nghe kinh này, không biết không hiểu Bồ-tát hạnh, tự mãn với công đức

đã đạt được, sinh ý tưởng diệt độ, sẽ nhập Niết-bàn Ta hành Phật sự ở nước khác, có tên khác, có người tuy sanh ý tưởng diệt độ, nhập vào Niết- bàn mà ở cõi kia, cầu trí tuệ Phật, được nghe kinh này, thời chỉ dụng Phật thừa mà được diệt độ, chứ không có thừa nào khác; trừ các đức Như Lai phương tiện thuyết pháp Này các Tỳ-kheo, nếu Như Lai tự biết đến thời nhập Niết-bàn, liền triệu tập chúng Bồ-tát và Thanh-văn vì họ thuyết Kinh này Thế gian không hề có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có nhất Phật thừa mới được diệt độ mà thôi”.[58]

Sau cùng, Ngài minh hoạ bằng “Hoá Thành Dụ” Có bậc Đạo sư

thông tuệ, biết chỗ có kho báu; chúng sanh muốn đến chỗ lấy châu báuphải đi qua con đường hiểm Giữa đường gặp nhiều chướng ngại và nguyhiểm họ bèn thối tâm trở lui; thấy họ đáng thương, vị Đạo sư ấy biến hoá

ra một cái thành để cho họ tạm an nghỉ và khích lệ họ đừng thối tâm Saukhi thấy họ được an ổn, liền diệt hoá thành ấy Đạo sư dụ cho đức Phật;châu báu, quả Phật; hoá thành, phương tiện dắt dẫn Tam thừa; mục đích

Trang 40

là để dắt họ vào trí tuệ Phật Nói chung, Tam thừa là phương tiện, chỉ cónhất Phật thừa là chơn thật mà thôi.

Cũng như Phẩm Hoá Thành Dụ thứ 7, cả Phẩm thứ 8 và 9 đều nói về

việc đức Phật thọ ký cho hàng hạ căn

Phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Ký thứ 8 nói về Phú-lâu-na là bậc thuyết

pháp đệ nhất Ông theo Phật được nghe về trí tuệ, phương tiện, tuỳ nghithuyết pháp, việc thọ ký, những nhân duyên đời trước và lực thần thông đại

tự tại của chư Phật, thảy đều là những điều chưa từng có trước đây Vị ấy đãtán thán đức Phật là bậc tôn quý lạ thường, hiếm có; vì chúng sanh mà Ngài

đã dùng vô số phương tiện để chỉ bày tri kiến và tuỳ cơ thuyết pháp giúp họđược an lạc và phát tâm cần cầu Vô thượng Bồ-đề, cho nên công đức ấykhông gì sánh nổi Kế tiếp là việc đức Phật tán thán Phú-lâu-na là vị thuyếtpháp đệ nhất trong hàng đệ tử của Ngài Ông thông suốt các pháp ‘không’như chư Phật đã thuyết và đắc tứ vô ngại trí, đủ pháp thần thông, thường

tu phạm hạnh, và được Phật thọ ký sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh NhưLai

Tiếp theo là việc thọ ký cho 1.200 vị A-la-hán; và cuối cùng là 500A-la-hán được Phật thọ ký và họ đã bày tỏ lòng tôn kính đối với Phật bằngcách kể lại chuyện bạn bè thân quen đã tặng viên ngọc quý trong chéo áo,nhưng vị ấy không biết Sau thời gian cách biệt, gặp lại anh ta ở một nướckhác mà vẫn thấy còn trong tình cảnh nghèo khổ, bèn nhắc lại viên ngọcquý mà mình đã tặng cho anh ta Lấy ngọc đem bán và anh ta trở thành

A-la-hán và ý tưởng diệt độ, nay mới biết chính họ thực sự là những Bồ-tátđược thọ ký và chứng đắc Vô thượng Bồ-đề Rồi họ sanh tâm hoan hỷ màtrước đây chưa từng có

Phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký thứ 9 mô tả chuyện Phật thọ ký cho

A-nan và La-hầu-la được thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại ThôngVương Như Lai và Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai cũng như 2.000 vị Hữu học

và Vô học được thọ ký cùng danh hiệu Bảo Tướng Như Lai

Phẩm Pháp Sư thứ 10 nhấn mạnh đến công năng mầu nhiệm của

Kinh và khuyến hoá phổ truyền trong nhân gian để chúng sanh có được lợiích, an lạc và phát tâm cầu Vô thượng Bồ-đề Nó kể lại chuyện Bồ-tát Dược

Ngày đăng: 12/03/2021, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w