Vì vậy, nghiên cứu đồng dao trong mối quan hệ với thơ thiếu nhi còn có thể giúp chúng ta phát hiện ra vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của nhà văn hiện đại cũng như vấn đề ti
Trang 1Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C GIA H À N Ộ I
T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
000
CHU THỊ HÀ THANH
THI PHÁP ĐỔNG DAO VÀ MÔI QUAN HỆ
VỚI THƠ THIẾU NHI
Chuyên ngành: Vãn học dân gian
H À N Ộ I - 2004
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Trang 3C H Ư Ơ N G 2: T H I P H Á P Đ Ổ N G D A O 57
2.3.3 Nhân cách hoá đổng dao - phương tiện tu từ ngữ nghĩa đặc sắc 122
Trang 41 Tính cấp thiết của để tài
1.1 Trong kho tàng văn học dân gian các nước trên thế giới, dù ít hay nhiều đều tồn tại một bộ phận sáng tác dành riêng cho trẻ em với những nội dung khác nhau phù hợp với đặc điểm từng lứa tuổi Những sáng tác dân gian ấy được tập trung ở hai lĩnh vực chủ yếu, hoặc là thơ ca dân gian hoặc là truyện kể dân gian
Đó là lí do và cơ sở khiến cho khái niệm Vãn học dân gian thiếu nhi (folklore thiếu nhi) đã và đang hình thành trong khoa văn học dân gian nhiều nước trên thế giới Đối với văn học dân gian Việt Nam, về truyện kể dân gian có thể loại sáng tác nhằm mục đích phục vụ cho trẻ em như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn Song cũng có thể loại không nhằm mục đích này nhưng vẫn được các em yêu thích và trở thành đối tượng phục vụ các em nhỏ tuổi như thần thoại, truyền thuyết Tuy nhiên, dù ở thể loại nào thì mảng sáng tác truyện kể dân gian cũng đều được các học giả dày công nghiên cứu và gặt hái những thành tựu đáng kể Có thể kể đến những bộ giáo trình về văn học dân gian của các trường đại học [52], [105], [153]
và hàng loạt những chuyên khảo đã mở ra các hướng tiếp cận khác nhau về tác phẩm, thể loại, kiểu truyện, đề tài xuất hiện ngày một nhiều
Riêng về đổng dao, một bộ phận thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em ra đời rất sớm và lưu truyền khá rộng rãi song công việc sưu tầm và nghiên cứu chúng lại chưa được các học giả đầu tư một cách thích đáng như những thể loại văn học dân gian khác Vì vậy, những giá trị nội dung và nghệ thuật của bộ phận sáng tác dân gian này chưa được khám phá và lý giải một cách đầy đủ, thấu đáo Đặt vấn
đề tìm hiểu về đồng dao, chúng tôi thiết nghĩ sẽ là một hướng đi mới mẻ và đầy kết quả thú vị bổ ích Nó giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn
về bản chất của bộ phận văn học dân gian thiếu nhi đặc sắc và hấp dẫn này
1.2 Có một bộ phận vãn học hiện đại cùng hướng về đối tượng tác động như đồng dao, đó là thơ thiếu nhi Phải chăng chúng có mối quan hệ gần gũi về các phương diện nghệ thuật loại hình, về bản chất thể loại, phương pháp sáng tác, phương thức phản ánh, tư duy nghệ thuật, chức nãnơ tư tưởng thẩm mỹ xuất phát
Trang 5từ đặc điểm của một kiểu sáng tạo nghệ thuật có cùng một đối tượng phục vụ ở
những thời kỳ lịch sử khác nhau? Điều này khiến chúng tôi nghĩ tới việc đặt đổng
dao trong dòng chảy của văn học nghệ thuật, trong sự vận động của lịch sử vãn học, bên cạnh sự phát triển của thơ thiếu nhi để nghiên cứu Tìm hiểu đồng dao trong sự so sánh, đối chiếu với thơ thiếu nhi là một việc làm mang tính thời sự thiết thực N ó nằm trong xu hướng có tính quy luật về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, một vấn để đang được giới nghiên cứu ngữ vãn và folklore gần đây hết sức quan tâm Vì vậy, nghiên cứu đồng dao trong mối quan
hệ với thơ thiếu nhi còn có thể giúp chúng ta phát hiện ra vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của nhà văn hiện đại cũng như vấn đề tiếp thu và sáng tạo vốn văn học dân gian cổ truyền đối với các nhà văn trong thời đại hiện nay.
1.3 Thi pháp vãn học nói chung, thi pháp văn học dân gian nói riêng đang
là vấn đề được các học giả quan tâm và đầu tư nghiên cứu V iệc vận dụng ánh sáng của lý thuyết thi pháp vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực văn học cụ thể đặc biệt được các nhà nghiên cứu nhiệt tình hưởng ứng và trên thực tế đã gặt hái được những thành tựu đáng kể Có thể kể đến các công trình nghiên cứu được nhiều người biết đến nhừ: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của
Phan Ngọc [85]; Thi pháp thơTốHữu, Thi pháp Truyện Kiều, của Trần Đình Sử, [109], [112]; Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính [63J; Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào [22] Điều đó cho thấy rằng, thi pháp học
đang mở ra một chân trời rộng lớn cho ngành nghiên cứu văn học Đề tài này
được thực hiện dưới góc độ thi pháp học, theo chúng tồi là một hướng đi đầy triển vọng và mang ý nghĩa khoa học thiết thực của sự thẩm định và sáng tạo nghệ thuật.
1.4 Trong thực tế giảng dạy ở nhiều trường Đại học hiện nay, thi pháp học
và việc ứng dụng nó vào các cồng trình nghiên cứu khoa học cụ thể khồng còn là vấn đề xa lạ đối với tập thể giảng viên và sinh viên khoa ngữ vãn cũng như các
khoa, ngành liên quan Lựa chọn đề tài Thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi vì vậy còn là một việc làm hữu ích đối với ban thân tác giả là người
t r ự c t i ế p g i ả n g d ạ y p h â n m ô n Vân h ọ c thiếu n h i ờ m ộ t t r ư ờ n g đ ạ i h ọ c T r ê n t h ự c
Trang 6tế nghiên cứu và giảng dạy vân học, thi pháp đóng vai trò tiền đề, góp phần quan trọng quyết định giá trị nghiên cứu cũng như chất lượng giảng dạy tác phẩm văn học Chúng đem đến cho sự nhận thức văn chương những kết luận khoa học có sức thuyết phục.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của đồng dao trong sáng tác thơ thiếu nhi hiện đại, từ
đó góp phần làm sáng tỏ vấn đề về mối quan hệ giữa văn học dân gian và vãn học viết.
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đề tài Thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiêĩi nhi đề cập tới hai
lĩnh vực của khoa nghiên cứu văn học: văn học cổ truyền - thơ ca dân gian thiếu nhi và văn học hiện đại - thơ thiếu nhi Tuy nhiên, đề tài không trực tiếp nghiên
cứu thơ thiếu nhi mà tập trung đi vào xem xét mối quan hệ giữa đổng dao và thơ thiếu nhi Trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi xin điểm qua lịch sử nghiên cứu của đồng dao và thơ thiếu nhi trên một số bình diện có liên quan đến
đề tài luận án.
3.1 Về vấn đề ng hiên cún đồng dao
Tuy chưa có chuyên luận nào đi sâu nghiên cứu vấn đề thi pháp đồng dao nhưng các nhà folklore học đi trước đã tuỳ theo mục đích, khuồn khổ, nội dung bài viết của mình ở khía cạnh này hay khía cạnh khác đểu có đề cấp một số đặc điểm nghệ thuật của đổng dao hay một vài yếu tố thi pháp đồng dao Chúns; tôi xin phân loại như sau:
Trang 73.1.1 N h ũ n g bài viết về đồng dao m ang tín h chấ t giới th iệ u
Những bài viết này hoặc là lời tựa cho một cuốn sách sưu tầm biên soạn ca
dao - đồng dao hoặc là những phát hiện mới, hay những ý kiến bổ sung về văn bản, nội dung của một tác phẩm đồng dao
Nguyễn Văn Vĩnh (1935), Trẻ con hát trẻ con chơi, Tứ dân văn uyển, Số 1,
Nạười yêu thơ, Văn nghệ (1977) (41), Hà Nội [172, tr.731 ].
Vũ Ngọc Phan (1997), Hát vui chơi, trong cuốn sách Tục ngữ ca dao dân ca
Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội [182,740].
Nghiêm Đa Văn (1995), Vị trí của đồng dao, Tạp chí Vì trẻ thơ, (6), [172,
ý nghĩa nội dung của một bài đồng dao mới sưu tập, bước đầu có đề cập tới vấn
đề nguồn gốc và phân loại đồng dao Tác giả của các bài viết này cũng mới chỉ dừng lại ở việc ghi lại một số cảm xúc suy nghĩ mang tính chất cảm thụ văn học chứ chưa đặt vấn đề nghiên cứu đồng dao một cách hệ thống.
3.1.2 Nhũng công trình mang tính chát nghiên cứu
Nhận thức rõ tính cấp thiết của công tác sưu tầm, nghiên cứu đồng dao, một
số nhà folklore học đã đặt vấn đề tìm hiểu những hình thức biểu hiện nghệ thuật đổng dao trong mối quan hệ biện chứng với nội dung phản ánh, đổng thời nêu lên
Trang 8những đặc trưng của bộ phận văn học dân gian thiếu nhi phong phú và hấp dẫn này Ở phương diện này, tác giả Vũ Ngọc Khánh có hai bài viết tương đối cồng phu.
Bài thứ 1: Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam (1974), Tạp chí Văn
Về phươnạ pháp sánq tác, tác giả cho rằng đồng dao cũng có tính truyền
miệng, tính tập thể và tính dị bản như tục ngữ, ca dao nhưng tính dị bản ở đồng dao có phần "phóng túng" hơn, "tự do " hơn
v ề c h ứ c n ă n ạ , đồng dao có tác dụng chủ yếu là thoả mãn nhu cầu vui chơi của trẻ, đổng thời dạy trẻ một số tri thức khoa học, bên cạnh chức năng thẩm mỹ
và giáo dục
Về cấu tạo, cấu tạo đồng dao có những nét độc đáo, đáng chú ý là hiện
tượng câu mở đầu một bài đồng dao Tác giả đưa ra nhận xét đồng dao thường không tập trung vào một đề tài nhất định và thường gắn với trò chơi
Nguyễn Hữu Thu (1987) có bài viết Hát ru và hệ thống diễn xướng đồng dao (Mẹ hát ru con, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, Tr.46-64) Trong bài viết này tác giả
chủ yếu đi vào tìm hiểu mối quan hệ giữa tiếng hát ru và hệ thống diễn xướng đổng dao Theo tác giả "đồng dao là sự tiếp nối chức nãng của tiếng hát mẹ ru con, nhưng ở một cấp độ kỹ thuật cao hơn" [172, tr.733J Như vậy, ở bài viết này
Trang 96tác giả chủ yếu tìm hiểu đổng dao về phương diện diễn xướng Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã nêu ra một số đặc điểm đổng dao như kết cấu
"lượn vòng", kết cấu "phản hồi", kết cấu bằng nhiều thể thơ hai chữ, bốn chữ, năm chữ, tiết tấu nhịp ngắn gọn, giàu nhạc điệu Tác giả quan niệm đây là những đặc điểm về hình thức nghệ thuật đồng dao có tác động tích cực đến quá trình diễn xướng đồng dao
Phan Đăng Nhật (1992) với bài viết Lời đồng dao tronẹ trò chơi cổ truyền của trẻ em (Tạp chí Giáo dục Mầm non 3, Tr.13-15, Hà Nội) thông qua việc
nghiên cứu lời của một số tác phẩm đồng dao, đưa ra nhận xét "đồng dao thực chất là ngôn ngữ có tính thơ ca, có vần, có nhịp nhưng niêm luật còn lỏng lẻoM[172, tr.761 ]
Trong các bộ giáo trình văn học dân gian dùng cho các trường đại học, duy
chỉ có cuốn Văn học dân gian Việt Nam tập II của Hoàng Tiến Tựu [155] dành
một phần nhỏ trong chương nghiên cứu về ca dao để giới thiệu đồng dao Trong những số trang ít ỏi này tác giả trình bày quan niệm của mình về đồng dao, đưa
ra cách phân loại đổng dao và đặt vấn đề nghiên cứu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Tuy nhiên, vấn đề nghệ thuật đổng dao lại chưa được tác giả công trình tập trung nghiên cứu
Như vậy, cho đến nay chưa có một cồng trình chuyên khảo chuyên sâu nào nghiên cứu đồng dao với tư cách là một cá thể tồn tại độc lập một cách toàn diện
và hệ thống Các học giả đi trước hoặc khai thác đồng dao trên phương diện nội dung, chức năng phản ánh hiện thực hoặc tìm hiểu một vài đặc điểm nghệ thuật của đồng dao, vì thế chưa đưa ra được một cách nhìn nhận thật khái quát và đánh giá đúng bản chất đặc trưng của đồng dao Chúng tôi quan niệm đồng dao là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm sự cấu thành của những yếu tố trong một hệ thống cấu trúc toàn vẹn VI vậy, chỉ có thể dưới ánh sáng thi pháp học, đồng dao mới được nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu đúng như bản thân nó đã từng tồn tại
Trang 103.2 Về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ đồng dao và thơ thiếu nhi
Trong lĩnh vực thơ ca hiện đại, việc tìm hiểu ảnh hưởng của văn học dân gian trong sáng tác của các nhà thơ đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và mang lại kết quả đáng kể Tuy nhiên, đối với lĩnh vực một số bộ phận thơ cho thiếu nhi, giới nghiên cứu folklore nước ta lại chưa thực sự thể hiện sự quan tâm,
để ý Chưa có một công trình nào chính thức đặt vấn đề tìm hiểu vai trò của văn học dân gian nói chung, đồng dao nói riêng trong sáng tác thơ cho thiếu nhi Một
số nhà nghiên cứu văn học quan tâm đến đời sống tinh thần của các em, lo lắng
về sinh mệnh cuả folklore thiếu nhi trong tình hình hiện nay đã lên tiếng kêu gọi gìn giữ, lưu truyền và phát huy tác dụng của đồng dao trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ thơ cũng như trong sáng tác thơ ca cho thiếu nhi
Lã Thị Bắc Lý với bài viết Bước đầu tìm hiểu đồng dao trong hệ thống nghiên cứu thơ cho nhi đồng [79] đã khẳng định đồng dao như "một thể loại đặc
sắc của thơ cho nhi đồng" Từ việc nêu ra một số nội dung của đồng dao, tác giả nhấn mạnh, đồng dao "đứng vào vị trí quan trọng của thơ thiếu nhi", đổng thời đề xuất ý kiến nên dạy đổng dao và sáng tác thêm nhiều đồng dao mới cho các em Tác giả tỏ ý hoan nghênh một số "bài đổng dao cũ được cải biên với nội dung
mới có ý nghĩa" như Xỉa cá mè, Nu na nu nống I I hoặc “những bài phóng tác theo đồng dao khá thành công” như Bắp cải xanh của Phạm Hổ, hay Chim gọi mùa
của Quang Huy
Trần Hoà Bình trong bài Từ những bài đồng dao đến thơ cho các em hôm
đến đề xuất thơ thiếu nhi "nên có cái duyên, cái cốt cách" của những bài hát trẻ con ấy Tác giả đánh giá cao những sáng tác thơ của Trần Đăng Khoa, Võ Quảng trên cơ sở tiếp thu một cách sáng tạo "những ưu điểm của truyền thống", đồng thời tỏ thái độ không đồng tình với xu hướng sáng tác thơ thiếu nhi tuy "tiếp nhận phong cách dân gian" nhưng sự đổi mới không đáng kể, do đó hiệu quả chưa cao, có cảm giác như những bài sưu tầm [172, tr.758 J
Trang 118Tuy các công trình nghiên cứu trên không đặt vấn đề trực tiếp nghiên cứu về mối quan hệ giữa đổng dao và thơ thiếu nhi nhưng qua nội dung các bài viết cho chúng ta thấy rằng ảnh hưởng của đồng dao đối với thơ thiếu nhi cũng như việc tiếp thu phong cách dân gian truyền thống của các nhà sáng tác thơ cho thiếu nhi
là một hiện thực
Như vậy, trong số những tài liệu chúng tôi có được chưa có đề tài nào trùng tên với đề tài chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Mặc dù trên thực tế trong một số bài viết về đồng dao hay một số công trình nghiên cứu các thể loại văn học dân gian khác có liên quan tới đồng dao, về mối quan hệ đổng dao với thơ thiếu nhi, ít hoặc nhiều, trực tiếp hay gián tiếp có đề cập một vài đặc điểm tính chất của vấn
đề nghiên cứu Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, ứng dụng lý thuyết thi pháp vào việc nghiên cứu một vấn đề cụ thể, chúng tôi tiến hành đề tài thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi như một sự khẳng định cho hướng nghiên cứu này, đổng thời hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm văn học thiếu nhi ở nhà trường bậc đại học và phổ thông
4 Phạm vi đối tượng nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài thi pháp đổng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi bao gồm hai nội dung chủ yếu:
- Nghiên cứu thi pháp đồng dao
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao với thơ thiếu nhi
Tuy nhiên trước khi nghiên cứu thi pháp đồng dao và tìm hiểu mối quan hệ với thơ thiếu nhi, chúng tồi cần phải giải quyêt một số vấn đề liên quan: thi pháp, thi pháp văn học dân gian; sự có mặt của hai bộ phận văn học thiêu nhi - đồng dao và thơ thiếu nhi; mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao và thơ thiếu nhi
Về đặc điểm nghệ thuật thi pháp đồng dao chúng tôi chí giới hạn đối tượng
nghiên cứu của luận án ở đồng dao cổ truyền người Việt, bởi chúng tôi quan niệm
rằng đổng dao người Việt chiếm số lượng tương đối lớn có thể đại diện tiêu biểu
Trang 12cho những đạc trưng thi pháp của đồng dao truyền thống nói chung Mặt khác lựa chọn đối tượng nghiên cứu là đồng dao người Việt trong quá trình nghiên cứu sẽ
dễ dàng có được những kết quả mang tính thống nhất, tránh được những kết luận trái ngược hay đối lập Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể người viết có thể
so sánh đối chiếu với đồng dao một số dân tộc thiểu số
Về vấn đề tìm hiểu mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao và thơ thiếu nhi
chúng tôi quan niêm rằng, luận án chỉ dừng lại ở việc phát hiện nhữnẹ biểu hiện của đồng dao trong thơ thiếu nhi trên cơ sở những yếu tố thi pháp đồng dao ở phần trước của luận án Từ đó luận án tiến tới lý giải, đánh giá hiệu quả tư tưởng thẩm mỹ của sự kế thừa và cách tân vốn văn học truyền thốnạ trong sánạ tác của một số nhà thơ thiếu nhi hiện đại Luận án không đặt ra yêu cầu đi sâu nghiên
cứu toàn bộ nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ thiếu nhi Tuy nhiên thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa đồng dao và thơ thiếu nhi, đồng thời một số đặc điểm nghệ thuật thơ thiếu nhi trong mối quan hệ biện chứng với nội dung phản ánh của nó cũng được bộc lộ
4.2 Giới hạn tư liệu khảo sát
Trên thực tế đồng dao được sưu tầm và biên soạn tương đối muộn Nguyên nhân một phần ở tính phức tạp của thực thể bản thân đồng dao Các nhà sun tầm không tách thành một bộ phận thơ ca dân gian riêng biệt mà để chúng tồn tại cùng với một số thể loại thơ ca dân gian khác như nó vốn có: ca dao, vè, hát ru Ngoài ra, đây là bộ phận thơ ca dành cho trẻ em nên ít được các nhà sưu tầm nghiên cứu chú trọng, đặc biệt dưới chế độ xã hội cũ Vì vậy phần lớn đồng dao được lưu truyền trong sinh hoạt vui chơi ca hát của trẻ Bộ phận đồng dao nằm ngoài văn bản sưu tầm đến thời điểm hiện nay có thể còn tương đối lớn Tuy nhiên, chúng tôi xác định, đối tượng khảo sát của thi pháp đồng dao trong luận
án của chúng tôi chỉ tập trung ở số lượng đồng dao đã được vãn bản hoá Bởi theo chúng tôi đây là tư liệu đổng dao có độ tin cậy nhất định do đã qua sự chọn lọc
và định giá của các nhà sưu tầm nghiên cứu Chúng tồi sử dụng sách Đồng dao
và trò chơi trẻ em người Việt làm tư liệu khảo sát chính [172] Đây là tư liệu tập
Trang 1310hợp được một khối lượng lớn nhất về đổng dao Theo các nhà biên soạn, tổng số sách dùng để biên soạn lên tới 39 cuốn (43 tập) Trong đó sách Hán nôm gồm 7 cuốn, sách sun tầm bằng chữ quốc ngữ là 32 cuốn [172, tr.8] Như vậy có thể nói đây là cuốn sách đầy đủ nhất sưu tập về đổng dao từ trước đến nay Chúng tôi chỉ
sử dụng các văn bản đồng dao ở Phần một, Mục I (đồng dao dân gian, gồm 567 bài) Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện ra rằng, còn có khá nhiều bài đồng dao tồn tại ở ngoài cuốn sách nêu trên Vì vậy, bên cạnh nguồn tư liệu đổng dao trong
cuốn Đồnq dao và trò chơi trẻ em người Việt, chúng tồi còn tham khảo thêm một
số cuốn khác, kể cả đổng dao các dân tộc thiểu số [171], [170], [181],[173]
Ngoài ra còn có một số tác phẩm đồng dao được trích dẫn trong các bài phê bình nghiên cứu của nhiều tác giả
3.2.2 Về thơ thiếu nhi
Chúng tôi lựa chọn những tác phẩm thơ thiếu nhi hiện đại chịu ảnh hưởng của đồng dao từ các tuyển tập thơ và các tập thơ của các tác giả thơ thiếu nhi từ đầu thế kỷ XX đến nay Đặc biệt đáng chú ý là các tập thơ:
- Bài hát trẻ con (Nam Hương) [xem 172]
- Nhi đồnq lạc viên (Nguyễn Văn Ngọc) [xem 172]
- Thi ca bình dân (Nguyễn Tấn Long, Phan Canh) [xem 172]
- Thơ ca mẫu giáo [xem 172]
- Mấy vần tươi sáng [xem 172]
- Bàn tay của bé [xem 172]
- Gió từ đâu (Quang Huy) [175]
- Tuyển tập thơ thiếu nhi (1945 - 1985) [184]
- Văn học cho thiếu nhi (phần thơ) [287]
- Em kể chuyện này (nhiều tác giả) [174]
- Ông mặt trời (Ngô Thị Bích Hiền) [178]
- Hai nẹôi sao đỏ (nhiều tác giả) [ 177J
- Thơ Võ Quảng [186]
- Thơ Phạm Hổ [183]
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tồi chủ yêu sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thốnq trong quá trình
nghiên cứu về thi pháp đồng dao Chúng tôi quan niệm mỗi đơn vị tác phẩm đồng dao là một tập hợp các yếu tố theo một tổ chức nhất định tạo nên một chỉnh thể thống nhất, trong đó các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chịu ảnh hưởng của môi trường diễn xướng Theo nguyên tắc tiếp cận hệ thống, không được coi đối tượng nghiên cứu như là một hiện tượng đơn nhất, tồn tại độc lập đơn lẻ, hay không được tách từng yếu tố, từng bộ phận ra để nghiên cứu mà chúng luôn chịu sự tác động chi phối lẫn nhau Bên cạnh đó, lý luận về thi pháp cũng cho phép xem xét đối tượng bao gồm việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ song phải luôn luôn đặt chúng trong một hệ thống nhất định Bởi tất cả các yếu tố của tác phẩm đều thống nhất với nhau Thi pháp là một hệ thống những yếu tố của hình thức nghệ thuật liên kết chặt chẽ với nhau trong mối quan
hệ biện chứng với nội dung tác phẩm, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật
Phương pháp thứ hai mà chúng tôi coi trọng trong quá trình nghiên cứu về
mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao với thơ thiếu nhi là phương pháp so sánh - lịch sử Chúng tôi cho rằng đồng dao và thơ thiếu nhi là những hiện tượng văn
học đồng loại nhưng lại không cùng niên đại với nhau Từ đồng dao đến thơ thiếu nhi cách xa nhau về mặt thời gian nhưng gần gũi nhau về nhiều phương diện
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ trong quá trình nghiên cứu như phân tích, so sánh, miêu tả Bởi chỉ có thể bằng các phương pháp
đó mới đi sâu vào mổ xẻ đối tượng để rút ra được những đặc điểm của chúng Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại cũng được áp dụng tích cực trong quá trình xử lý tư liệu
- Thơ Trần Đăng Khoa [176]
Trang 156 Đóng góp của luận án
6.1 Ý nghĩa k h o a học
Lần đầu tiên, đồng dao được nghiên cứu xem xét dưới ánh sáng thi pháp học
sẽ là một đóng góp mới, tích cực khả quan vào khoa học nghiên cứu văn học dân gian
Nghiên cứu mối quan hệ giữa đồng dao với thơ thiếu nhi là một việc làm có
ý nghĩa ^nhằm khẳng định hệ thống lý thuyết về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết Ngoài ra còn có thể khám phá ra quy luật tiếp thu, sáng tạo vốn vãn hoá cổ truyền đối với các nhà sáng tác nghệ thuật hiện đại
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi nhằm giúp người đọc tiếp xúc với cái hay cái đẹp của một mảng văn hoá truyền thống và văn hoá hiện đại của người Việt, đổng thời giáo dục ý thức coi trọng giá trị văn hoá
cổ truyền đối với thế hệ trẻ trong thời hiện đại Đặc biệt, nó có ý nghĩa thiết thực trong việc phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy của bản thân ở một trường đại học
7 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, luận án được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2: Thi pháp đồng dao
Chương 3: Mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao và thơ thiếu nhi
Trang 161.1 T h i pháp và th i pháp văn học dản gian
1.1.1 T h i pháp và th i pháp học
Thi pháp học là khoa học về thi pháp Mặc dù ra đời cách đây hai mươi tư thế kỷ, nhưng đến nay nó vẫn là bộ môn đầy mới mẻ và hấp dẫn của ngành nghiên cứu văn học Bằng chứng là hàng loạt các công trình nghiên cứu khồng ngừng ra đời và luôn luôn đạt được những thành tựu xuất sắc Điều đó cũng đổng thời cho thấy rằng vấn đề thi pháp về nội hàm cũng như ngoại diên luôn được mở rộng, đào sâu, bổ sung và chỉnh lý về một phương diện khác có thể nói, trong thực tế có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về thi pháp học thì có bấy nhiêu cách hiểu về khái niệm thi pháp và mức độ sử dụng chúng trong từng hiện tượng văn học cũng không giống nhau Điều này là hiển nhiên bởi từ khi ra đời đến nay, khoa học về thi pháp khồng ngừng trưởng thành và phát triển Ngoài ra còn phải
kể đến việc các nhà nghiên cứu đã tùy theo mục đích và nội dung vấn đề nghiên cứu của mình mà khai thác khái niệm thi pháp theo các mức độ rộng hẹp, nông sâu khác nhau
Sự ra đời của thi pháp học gắn liền với tên tuổi của Aristote (384-322 tr CN)
với cồng trình từng được dịch ra tiếng Việt là Nghệ thuật thi ca Ban đầu thi pháp
được Aristote dùng chỉ bao hàm nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ thơ, bởi thơ ca là hình thức đầu tiên của văn học thời sơ khai Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, khoa học này mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ Đặc biệt với sự đóng góp của các nhà bác học Nga và các nhà khoa học Liên Xồ (cũ) đã đưa ngành nghiên cứu văn học này lên đỉnh cao Đến nay thi pháp học khồng còn bó hẹp ở việc nghiên cứu nghệ thuật thơ ca mà trở thành một ngành khoa học với phạm vi nghiên cứu tương đối rộng rãi: thi pháp học đại cương, thi pháp học lịch sử và thi pháp học chuyên biệt Tuy nhiên ở Việt Nam, mãi những năm tám mươi của thể kỷ XX thi pháp học mới được một số tác giả đầu tư nghiên cứu Mặc dầu vậy, ngành khoa học còn non trẻ này đã tiến những bước dài, khẳng định tính ưu việt của mình Đặc biệt trong khoảng mươi năm lại đây, thi pháp học thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu văn học Hàng trăm cồng trình nghiên cứu
CHƯƠNG 1: MỘT s ố VÂN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG
Trang 17về thi pháp và thi pháp văn học ra đời Kế thừa thành tựu của những học giả đi trước, đề tài chúng tôi với tính chất vận dụng lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu
một vấn để vãn học, cụ thể là Thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi Vì vậy chúng tồi không đặt ra cho mình mục đích tìm hiểu sâu về lịch sử thi
pháp học hay tranh luận vể khái niệm thi pháp, ở đây chỉ đưa ra một số định nghĩa vể thi pháp mà theo chúng tôi là bao quát và sát thực hơn cả Và quan trọng hơn định nghĩa ấy phải được soi sáng trong suốt quá trình vận dụng nó vào cồng trình nghiên cứu của bản thân, nhưng đồng thời lại phải luôn có cái nhìn biện chứng và linh động đối với nó
Có thể xem phát biểu của Viện sĩ M.B Khrapchencô là một quan niệm có tính tổng quát về thi pháp học Theo tác giả "nếu như không đòi hỏi một định nghĩa trọn vẹn, bao trùm được tất cả, (U) có thể xác định thi pháp như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện một cách nghệ thuật cũng như khám phá đời sống một cách hình tượng" [51, tr.247] Tương tự cách hiểu trên còn có định nghĩa: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học" [29, tr.206] Cũng theo quan niệm này đối tượng của thi pháp học vồ cùng rộng lớn, cụ thể:
- Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp, có thể nói tới thi pháp tác phẩm
cụ thể, thi pháp sáng tác của một nhà văn, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn họcmột dân tộc, thị pháp vãn học một thời đại, một thời kỳ lịch sử
- Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian thời gian, thi pháp ngồn ngữ
Như vậy, thi pháp học là một ngành chuyên biệt của nghiên cứu vãn học, lấy thi pháp làm đối tượng nghiên cứu Thi pháp là nghệ thuật của văn học Hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và sử dụng, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để làm nên các tác phẩm vãn học - nghĩa là toàn bộ hình thức nghệ thuật được nhà văn sáng tạo thể hiện nội
Trang 18dung tác phẩm được gọi là thi pháp [101, tr.6] Với quan niệm trên thi pháp có những đặc điểm sau:
1 Tính quan niệm của thi pháp
Nói đến thi pháp là nói đến cái quan niệm riêng của tác giả về thế giới và con người Thi pháp biểu hiện trong văn học nghệ thuật không phải dưới hình thức là những hiện tượng ngẫu nhiên, tuỳ hứng mà bao giờ nó cũng gắn liền với cách thể hiện của nhà văn theo một quan niệm nhất định, chi phối việc lựa chọn của nhà văn trong việc thể hiện các phương tiện và phương thức nghệ thuật, tạo nên sự nhất quán của tất cả các yếu tố cụ thể, cảm tính của hình tượng, các yếu tố phương tiện kỹ thuật biểu đ ạt
2 Tính hệ thống của thi pháp
Khi nói tất cả các yếu tố hình thức nghệ thuật của tác phẩm đều nhất quán với nhau thì cũng có nghĩa là nói đến tính hệ thống của thi pháp Thi pháp luồn luôn xem các hiện tượng văn học như là một cấu trúc, chỉnh thể thống nhất giữa các thành tố, các cấp độ nghệ thuật Thi pháp không bao giờ xem xét các đơn vị cấu trúc bên trong của một hiện tượng văn học như là những yếu tố tồn tại một cách độc lập, riêng lẻ mà chúng bao giờ cũng có quan hệ qua lại, chi phối lẫn nhau tồn tại theo một quy luật nhất định
Như vậy, nghiên cứu thi pháp một hiện tượng văn học chính là quá trình thực hiện hai nhiệm vụ nêu trên
1.1.2 Thi pháp vãn học dân gian
Thi pháp vãn học dân gian là một thành tố nằm trong chỉnh thể của thi pháp văn học Có thể nói trong lịch sử nền thi pháp học thế giới, miền gặt hái được nhiểu thành tựu nhất chính là văn học dân gian Hầu hết những công trình thi pháp có tiếng vang đều đề cập tới văn học dân gian Theo Chu Xuân Diên thì "thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các mồtíp và cấu tạo cốt truyện, cách mô tả diện mạo bên ngoài và tâm lí bên trong của nhân vật đến việc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể loại và những đặc điểm dân tộc của thi pháp văn học
Trang 19dân gian nói chung, nghiên cứu thi pháp vãn học dan gian còn bao gồm cả việc khảo sát những đạc điểm phong cách cá nhân của từng người sáng tạo và diễn xướng trong mối quan hệ với những đạc điểm thi pháp truyền thống".[17]
Mặt khác, nói đến thi pháp văn học dân gian là nói đến thi pháp của các thể loại, có những đặc điểm của thi pháp thể loại này lại không tiêu biểu điển hình cho thi pháp của thể loại kia Vì vậy, trong quá trình khảo sát thi pháp đồng dao, một số dấu hiệu thi pháp không được bàn tới cũng là một lẽ đương nhiên Ví dụ khi đề cập tới chức nãng tư tưởng cùa tác phẩm vãn học thường đặt ra vấn đề vể quan niệm nghệ thuật của tác giả về con người và cuộc đời Con người ở đây được nhìn nhận dưới góc độ là một thành viên của xã hội trong sự tổng hoà của các mối quan hệ trong cuộc sống Song ở đồng dao, chức nãng phản ánh hiện thực xã hội, vấn đề đấu tranh giai cấp, mối quan hệ giữa người và người không
phải là những yêu cầu chủ yếu Do vậy về yếu tố thi pháp nhân vật (kể cả những
nhân v ậ t tư ợnạ trư n ẹ, n ẹụ ý n ó i v ề con người và c u ộ c số n g co n n gư ời) không
được đật ra tronẹ luận án này Tuy nhiên, căn cứ vào đặc trưng thể loại, một số
vấn đề có liên quan đến thi pháp nhân vật sẽ được chúng tôi đề cập trong một số
nội dung của luận án, đặc biệt tập trung ở mục 2.3.3 Nhân cách hoá đồng dao và
m ụ c 3 2 3 3 S ử d ụ n ẹ m ộ t s ố hình ảnh ngh ệ thuật.
Ngoài ra đồng dao là một hiện tượng loại biệt, bao gồm các tác phẩm ở các thể loại của thơ ca dân gian và trong chừng mực nhất định mang những đặc điểm của thi pháp thể loại đó, song khồng phải là hoàn toàn trùng khít Ớ đồng dao chứa đựng những nghệ thuật đặc thù làm nên tính chất riêng biệt của thi pháp đồng dao bên cạnh những đặc điểm có tính chất giao thoa giữa các thể loại văn học dân gian khác Chính đặc điểm này làm nên tính chất phức tạp cho đồng dao, gây khó khăn cho chúng tôi trong quá trình khảo sát những đặc điểm tiêu biểu của thi pháp đổng dao Ví dụ, khi xét về các phương tiện nghệ thuật đồng dao chúng tôi thấy rằng nhân cách hoá đều cùng tổn tại ở cả đổng dao và ca dao Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đi tới kết luận rằng đối với đổng dao, nhân cách hoá đóng vai trò ỉà phương tiện tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu điển hình và khái quát còn đối với ca dao lại là so sánh, ví von Vì vậy, chúng tôi chí đi vào kháo
Trang 20sát biện pháp tu từ nhân cách hoá mà không đi vào biện pháp so sánh hay ẩn
dụ Tương tự, chúng tôi cho rằng về thể thơ, thể lục bát là tiêu biểu điển hình cho ca dao, còn đổng dao lại là thể bốn chữ
Hơn nữa, chúng ta đều cho rằng trên quan điểm triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều tổn tại và vận động thồng qua thời gian và không gian Các yếu tố không gian, thời gian đi vào tác phẩm vãn học mang quan niệm của tác giả và trở thành không gian, thời gian nghệ thuật Tuy nhiên đối với đổng dao, hình tượng th ờ i g ia n lại k h ôn ạ p h ả i là điểm mạnh của các yếu tố cấu thành thi pháp đồnq dao Nó khônq được khái
gian khác.Vì vậy chúng tôi cũng không đưa chúng vào hệ thống các yếu tố cấu thành thi pháp đồng dao để nghiên cứu Riêng về vấn đề không gian nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy rằng khồng gian trong đồng dao chủ yếu gắn liền với không gian của môi trường diễn xướng, khồng gian của khung cảnh làng quê nông thồn
Việt Nam Trong luận án này chúng tồi không đặt vấn đề đi sâu tìm hiểu hình tượng không gian đồng dao mà chỉ đề cập trong những trường hợp cụ thể của một
số vấn đề có liên quan trong quá trình nghiên cứu các yếu tố thi pháp nghệ thuật của đổng dao Tuy nhiên, thi pháp đồng dao là một vấn đề rất rộng, chúng tồi chỉ tập trung đi vào những vấn để cụ thể mang tính tiêu biểu, điển hình bao gồm các
yếu tố: kết cấu, thể thơ, ngôn ngữ.
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu thi pháp đồng dao, chúng tôi luôn chú
ý rằng "thi pháp khồng đơn thuần là những yếu tố hình thức, cần hết sức coi
trọng ý nghĩa nội dung của thi pháp văn học dân gian"[14] Trong Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Trần Đình Sử cũng hơn một lần nhắc lại ý “hình thức
mang tính nội dung" [110, tr.22-25] Như vậy việc khám phá "các phương thức phương tiện nghệ thuật" được thể hiện trong đồng dao phải luồn được gắn liền với chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống Bởi suy cho cùng mọi tác phẩm đều nhằm mục đích cao nhất là miêu tả cuộc sống như nó vốn có Do vậy, nghiên cứu
về thi pháp đồng dao là quá trình nhận diện đánh giá một <jn^'£McTi;,qiian-gia lểị ị nghê thuât của đổn-g dao trong mối quan hệ biên chứng vớíTỉồ^âatìg^ :: '
n I
Trang 211.1.3 Thi pháp văn học dân gian và thi pháp vãn học viết
Để trả lời câu hỏi Thi pháp là gì? N.I Crápxop (1906-1980) nhà folklore học Xô Viết nổi tiếng đã đưa ra cách hiểu chung cho cả hai khái niệm thi pháp vãn học dân gian và thi pháp văn học viết như sau:
"Thi pháp với tư cách là tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của tác phẩm ngôn ngữ bao gồm:
a, Những đặc điểm của cấu trúc tác phẩm
b, Hệ thống những phương tiện phản ánh, nhờ những phương tiện này mà văn học viết và văn học dân gian xây dựng những bức tranh về cuộc sống, những hình tượng về con người và tái tạo những hiện tượng khác nhau của thực tại (các
sự kiện lịch sử, sinh hoạt và đạo đức của con người, thiên nhiên)
c, Những chức năng tư tưởng thẩm mỹ của cấu trúc tác phẩm và những chức năng tư tưởng - thẫm mỹ của các phương tiện thể hiện tác phẩm (sự thể hiện một cách xúc cảm trướe hiện thực, sự đánh giá những sự kiện và hành vi của nhân vật,
sự khám phá ý đổ sáng tạo cùng giá trị tư tưởng - nghệ thuật và tay nghề sáng tạo
ra tác phẩm)
Theo N.I Crapxop, văn học dân gian và vãn học viết có nhiều cái chung, nhưng đổng thời văn học dân gian cũng có đặc điểm riêng: là sáng tạo của quần chúng nhân dân Ông lại chỉ ra rằng thi pháp vãn học dân gian còn là những đặc điểm của hình thức, của cách thức thể hiện và biểu hiện riêng của từng nghệ nhân Cuối cùng, thi pháp bao gồm cả những đặc điểm dân tộc” [14, tr.28]
Như vậy, thi pháp văn học dân gian và thi pháp văn học viết đều có những điểm chung Nói đến thi pháp văn học dân gian hay thi pháp văn học viết đều có nghĩa là nói đến phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm, là những nguyên tắc, cách thức chi phối việc sáng tạo nên cái phần hình thức mang tính nội dung đó, đều là thi pháp của những tác phẩm ngôn từ văn học Mặt khác, chúng ta cũng thấy rõ sự khác nhau giữa thi pháp của hai bộ phận văn học này
Nói đến thi pháp văn học viết trước hết là nói đến sự xem xét, tìm ra những đặc trưng nghệ thuật của từng tác giả, tác phẩm, trào lưu, khuynh hướng nghệ
Trang 22thuật; còn nói đến thi pháp văn học dân gian trước hết và chủ yếu là nói đến thi pháp của từng thể loại Thi pháp văn học dân gian là thi pháp của những thể loại vãn học dân gian Những gì tạo nên đặc trưng nghệ thuật của văn học dân gian một mặt là chung cho tất cả những tác phẩm thuộc cùng một thể loại, mặt khác là riêng cho thể loại này khi so sánh với thể loại khác Ngoài ra, ở văn học dân gian còn tồn tại một số yếu tố, hình thức nghệ thuật mà vãn học viết không có như hình thức diễn xướng, tính dịch chuyển của văn bản, vai trò của người biểu diễn, mối quan hệ của người diễn xướng với vãn bản và công chúng thưởng thức
Điểm tương đổng và khác biệt giữa thi pháp vãn học dân gian và thi pháp vãn học viết sẽ là sơ sở quan trọng và chủ yếu giúp chúng ta xác định tìm hiểu về mối quan hệ giữa thi pháp đồng dao và thơ thiếu nhi
1.2 Đồng dao
1.2.1 Khái niệm đồng dao
Đổng dao là bộ phận văn học dân gian xuất hiện rất sớm và lưu truyền tương đối rộng rãi Không ai trong chúng ta lúc còn bé lại không thuộc một vài bài hát đồng dao và một số trò chơi trẻ em Mặc dù vậy, chưa có một công trình nghiên cứu folklore nào tìm hiểu đồng dao một cách chuyên sâu và hoàn chỉnh Vì vậy, xung quanh khái niệm đổng dao còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau và đồng dao vẫn là vấn đề mang tính thời sự, các tác giả vãn học dân gian chưa đi đến ý kiến thống nhất
Cuốn sách giới thiệu và sưu tầm đổng dao sớm nhất là của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh [172, tr.662] Tuy nhiên, trong phần khảo luận, ông không dùng thuật
ngữ "đồng dao" mà gọi là "trẻ con hát, trẻ con chơi' Theo ồng, những "câu hát
trẻ con" bao gồm những câu "vừa hát vừa chơi"sau là đến những câu hát không phải có cuộc chơi "và" thứ ba nữa là đến những câu ru trẻ ngủ” Như vậy, những tác phẩm văn học dân gian được trẻ em truyền miệng, được trẻ em hát, trẻ em chơi và được dùng để ru trẻ ngủ đều được Nguyễn Văn Vĩnh xếp vào chung một loại tác phẩm Các nhà nghiên cứu đổng dao sau này đã sử dụng tư liệu từ công trình sưu tập đổng dao của Nguyễn Văn VTnh
Trang 23Nhà giáo Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu cho rằng, đồng dao là "các bài hát của trẻ con" với cái nghĩa của từ dao là "bài hát khồng
có chương khúc" [172, tr.753] Như vậy, tác giả này khồng xác định rõ đồng dao
thuộc thể loại vãn học dân gian nào Doãn Quốc Sĩ, trong lời mở đầu tập Ca dao nhi đồng xác định "đồng dao là ca dao nhi đổng" [172, tr.671] Tuy nhiên trong
quá trình phân loại đổng dao, tác giả lại chia chúng thành nhiều lĩnh vực, thuộc diện rộng: những bài hát luận lí, những bài hát vui, con cò trong ca dao Việt Nam, những bài nói về nếp sống nông nghiệp và tập tục xưa, những bài hát áp dụng trong trò chơi với trẻ con, câu đố, bài hát trẻ em của tác giả Nam Hương Như vậy, tuy gọi là "ca dao nhi đồng" nhưng các tác phẩm này lại trải rộng trên nhiều thể loại như:-tục ngữ, câu đố, ca dao của cả tác giả vô danh và có tên
Nguyễn Tấn Long và Phan Canh trong Thi ca bình dân, tập IV ở mục Đồng dao, định nghĩa "đổng dao tức là ca dao nhi đổng" [172, tr.683] Theo các tác
giả, đồng dao được dùng để chỉ một bộ phận của thể loại ca dao Nhà văn Vũ
Ngọc Phan trong cuốn Tục nqữ ca dao dân ca Việt Nam [182] có hai mục: Hát vui chơi và Hát ru em, gồm những tác phẩm đồng dao có chung đối tượng phục
vụ là trẻ em mà không giới thuyết về tên gọi của hai loại tác phẩm này
Vũ Ngọc Khánh không sử dụng cụm từ "bài hát trẻ em" mà dùng thuật ngữ
"đồnẹ dao" để chỉ những lời ca dân gian trẻ em và "loại trừ những câu sấm mà
trước đây các nhà nho xếp vào đổng dao" Theo tác giả đồng dao cũng là một thể loại vãn học dân gian tương đồng với tục ngữ, ca dao [172, tr.713]
Trần Hoà Bình trong bài viết Từ những bài đồng dao đến thơ cho các em hôm nay cho rằng "trong kho tàng văn nghệ dân gian cùa dân tộc nào cũng có
những bài hát dành riêng cho trẻ em đó là những bài đổng dao" [172, tr.753] Như vậy với tác giả này, những tác phẩm dân gian nào được trẻ ca hát thì gọi là đồng dao, hay nói cách khác, đó là những "bài hát trẻ em"
Là một thành phần trong kho tàng vãn học dân gian nước nhà song đồng dao khồng được các nhà nghiên cứu văn học thực sự bàn đến nhiều Cuốn vãn học sử được coi là biên soạn tương đối công phu và có nhiều đóng góp là hai tập
Trang 24Văn học dân gian của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên [52] Tuy nhiên, công trình này cũng không có phần nào dành riêng để bàn đến đồng dao Cuốn Văn học dân gian Việt Nam [105] xuất bản gần đây của tập thể tác giả do Lê Chí Quế chủ biên cũng không nhắc tới đổng dao Riêng cuốn Văn học dân gian Việt Nam
[155], tác giả Hoàng Tiến Tựu trong khi nghiên cứu về thể loại ca dao đã dành một phần giới thiệu tương đối gọn về đổng dao Theo tác giả, đổng dao còn có thể gọi là ca dao trẻ em và không xếp bài hát ru con hay ru em vào bộ phận này Tác giả đưa ra định nghĩa vắn tắt "đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ
em" [155, tr.143] Chúng bao gồm cả những bài vè (vè kể chim, kể quả ), bài ca gọi trâu, gọi nghé và một số lời sấm truyền, sấm ký Vậy, tuy coi đổng dao là một bộ phận của ca dao, song trong quá trình phân tích, phân ỉoại, tác giả lại mở rộng sang cả một số thể loại văn học dân gian như vè Một quan niệm tương đối
thống nhất và cụ thể về đồng dao là của Trần Đức Ngôn trong cuốn Văn học
một thể loại văn học dân gian riêng biệt Đây là khái niệm tập hợp những tác
phẩm từ vài thể loại khác nhau Chúng bao gồm ca dao cho thiếu nhi (những bài hát ru, những bài ca vui chơi) và những bài vè cho thiếu nhi [86, tr.41 ]
Ngoài ra, còn có một định nghĩa tương đối dài về đồng dao: "Đồng dao là những bài hát truyền m iệng trẻ em lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên Vốn là những sáng tác dân gian không rõ tên tác giả, về sau từ vần điệu của loại hình này một
số sáng tác những bài thơ cho trẻ em hát có tên tác giả cũng được các nhà nghiên cứu gọi là đồng dao" [172, tr.5J Trong phần tuyển tác phẩm gọi là đồng dao, tập thể tác giả công trình biên soạn này sưu tầm một số lượng lớn, rộng rãi tác phẩm
ở nhiều thể loại: vè, ca dao, những lời sấm truyền, sấm ký và một số tác phẩm thơ
Trang 251 Một số nhà nghiên cứu cho rằng đồng dao là những tác phẩm văn học dân
gian, không thuộc vào một thể loại cụ thể nào được trẻ em truyền miệng.
2 Một số nhà nghiên cứu xác định “đổng dao là ca dao nhi đồng” Chúng
bao gồm những lời hát dân gian thuộc một số thể loại văn học dân gian nhất định
và trẻ em nhất thiết phải là chủ thể chủ yếu và đích thực của sự sáng tạo và diễn xướng V í dụ, một số tác phẩm hát ru tuy đối tượng hướng tới là trẻ em nhưng chủ thể diễn xướng khồng phải là trẻ em nên không thuộc vào đồng dao Hay, những lời sấm truyền, sấm ký cũng không phải là đổng dao.
3 Một số ý kiến khác lại quan niệm đồng dao là những bài hát truyền miệng
trẻ em thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm cả những tác phẩm văn học dân gian và những tác phẩm vãn học viết hiện đại mang phong cách đồng dao.
Theo chúng tôi, đồng dao không thuộc vào một thể loại văn học dân gian cụ thể nào, chúnẹ là nhữnq tác phẩm thơ ca dân gian được trẻ em truyền miệng.
Khái niệm đổng dao bao gồm tất cả các những sáng tác do người lớn sáng tác riêng cho trẻ em hoặc cũng do chính các em sáng tác và lưu truyền Dù ở thể loại nào, đồng dao về nội dung và hình thức nghệ thuật phải phù hợp với thế giới
quan, tâm sinh lý và trình độ nhận thức của trẻ; đặc biệt phải do các em trực tiếp
dùng của N ồvicôva) [97, tr 140], là một tập hợp tác phẩm từ một số thể loại thơ
ca dân gian khác nhau.
1.2.2 Phân loại đồng dao
Bất kỳ một sự phân loại nào cũng nhằm mục đích chia tách đối tượng ra thành từng kiểu, dạng để có điều kiện nghiên cứu phân tích sâu hơn Tuy nhiên với đồng dao, việc phân loại khồng phải bao giờ cũng thống nhất và không giống với cách phân loại của bất kỳ thể loại văn học dân gian nào khác Bởi lẽ, thứ nhất, đồng dao không phải là một thể loại văn học dân gian độc lập riêng biệt nên nó không tập trung phản ánh một tư tưởng nhất định nào cả Tuỳ theo quan niệm của
mỗi nhà nghiên cứu vể sự mở rộng hay bó hẹp giới hạn của đồng dao mà phân ra
các bộ phạn khác nhau Thứ hai, đồng dao với chức năng chủ yếu là để "trẻ con
Trang 26hát, trẻ con chơi" nên nó được sáng tạo theo kiểu âm vang tự nhiên của tâm hổn tình cảm, gặp đâu nói đó, thuận miệng thuận tai là được Vì vậy, các nhà nghiên cứu thường khó khăn trong việc phân loại đổng dao Đã từng tồn tại nhiều cách phân loại đồng dao khác nhau, tiêu chí phân loại cũng không giống nhau.
Nguyễn Văn Vĩnh căn cứ vào chức nãng "trẻ con hát, trẻ con chơi" nên chia đồng dao ra làm ba mục:
1 Trước hết là những câu vừa hát vừa chơi
2 Sau là đến những câu hát không phải có cuộc chơi
3 Thứ ba nữa là đến những câu ru trẻ ngủ [172, tr.662]
Tác giả phân loại theo cách này chủ yếu dựa vào hình thức diễn xướng khi trẻ lưu truyền đồng dao Nó có ưu điểm ở chỗ bao hàm hết thảy mọi tác phẩm của đổng dao, các mục không chổng chéo nhau
Doãn Quốc Sỹ gọi là "ca dao nhi đổng" và đưa ra cách phân loại sau:
A, Những bài hát luân lý
B, Những bài hát vui
c, Con cò trong ca dao Việt Nam
D, Những bài hát nói về nếp sống nồng nghiệp và những tập tục xưa
E, Linh tinh
F, Những trò chơi nhi đổng
G, Những câu đố
H, Bài hát trẻ em Nam Hương [172, tr.671 ]
Có thể thấy tác giả phân ra quá nhiều loại Xem xét kỹ chúng ta còn thấy một số loại chổng chéo, trùng lặp nhau do tiêu chí phân chia thiếu nhất quán Ngoài ra, nó còn bộc lộ sự mâu thuẫn trong quan niệm của tác giả, gọi là "ca dao nhi đổng" nhưng lại bao gồm cả câu đố và thậm chí cả những tác phẩm có tên tác giả
Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân í>ian Việt Nam phân đồng
dao thành các bộ phận sau:
Trang 27a, Bộ phận đồng dao gắn với công việc trẻ em phải đảm nhiệm hằng ngày, như việc chăn trâu bò, việc giữ em.
b, Bộ phận đồng dao gắn với các trò chơi của trẻ em
c, Bộ phận đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết, học hỏi mở mang trí tuệ
d, Sấm truyền, sấm ký do trẻ em hát [155, tr.144]
Cách phân loại này tuy không chồng chéo giữa các bộ phận nhưng lại không triệt để Tại sao xuất hiện các bộ phận đổng dao gắn với công việc trẻ em phải đảm nhiệm mà bỏ qua bộ phận đổng dao hát vui chơi (?)
Tập thể soạn giả cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em nẹười Việt [172, tr.6] đã sắp xếp đồng dao thành ba mục lớn:
A, Đồng dao (xếp theo chủ đề)
+ Về thế giới quanh ta và cuộc sống
+ Quan hệ gia đình và xã hội
+ Lao động và nghề nghiệp
+ Châm biếm và hài hước
B, Đổng dao - Chị ru em
c, Đổng dao - Hát vui chơi [155, tr 144]
Các tác giả cuốn sách này giải thích rằng "có thể nội dung những bài này
(hát ru) cũng phản ánh bốn mục ở chủ đề A Khi đã sắp xếp các bài Chị ru em ở
phần B, sẽ không giới thiệu những tác phẩm đó ở phần A" Cách phân loại này thuận tiện cho công việc biên soạn hơn là công việc phân tích nghiên cứu
Kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi phân chia đổng dao thành các bộ phận sau
Căn cứ vào chức năng diễn xướng có thể phân đồng dao thành hai bộ phận:
1, Bộ phận đồng dao gắn với trò chơi
2, Bộ phận đổng dao không gắn với trò chơi
Căn cứ vào nội dung phản ánh có thể phân đổng dao thành các bộ phận:
1, Những bài hát vui chơi
2, Những bài hát có tính học hỏi hiểu biết, mở mang trí tuệ
Trang 283, Những bài hát gắn với cồng việc cùa trẻ như hát ru, bài ca gọi trâu, gọi nghé LI
1.2.3 Tác giả đồng dao
Đồng dao là những tác phẩm thơ ca dân gian dành cho trẻ em Như vậy đối tượng phục vụ của nó là trẻ em chứ không phải là người lớn Khảo sát tư liệu đồng dao chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng phần lớn đồng dao dành riêng cho trẻ,
để trẻ hát trẻ chơi, song có một bộ phận đồng dao mà cả trẻ con và người lớn đều
có thể sử dụng, có điéu trẻ con sử dụng theo cách trẻ con, còn người lớn sử dụng theo cách của người lớn Vậy tác giả đồng dao là ai? Người lớn hay trẻ con hay
cả hai Tìm hiểu vấn để sáng tác đổng dao liên quan đến nguồn gốc ra đời của
nó Đây là một việc làm tương đối khó khăn, bởi đồng dao xuất hiện khá sớm, được xem là những hình thức thơ ca đầu tiên của thơ ca cổ Mặt khác, đa số chúng đến nay không còn giữ nguyên như ban đầu nữa Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung và hình thức của đồng dao, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét dưới đây
sự hiểu biết và tầm nhận thức của trẻ Có nhiều khả năng chúng vốn là hình thức thơ ca dân gian của người lớn, về sau du nhập vào thế giới đồng dao Đó là những bài ca dao ngụ ngôn, ca dao đấu tranh giai cấp chống phong kiến, những bài vè
nói ngược I I Ví dụ: Bài ca Con kiến mà leo cành đào\ 1 được Vũ Ngọc Phan xếp vào phần Ca dao lịch sử và cho rằng đây là “cảnh người nông dân nước ta vào
thời kỳ phong kiến, cát cứ phân quyền”, phản ánh “một cuộc đời tù túng quẩn quanh một chỗ” [182, tr.29] Con kiến trong sự nhìn nhận của người lớn là một
ẩn dụ về con người và sự "leo ra leo vào” của nó tượng trưng cho cuộc sống khônơ có lối thoát Song với trẻ em, các em lại tìm thấy ở bài ca dao này với kết
Trang 29Cấu vòng tròn, với điệp từ điệp ngữ miêu tả hoạt động của con kiến thật ngộ nghĩnh, các em rất thích thú và sử dụng nó trong các cuộc vui chơi, hát mãi mà khồng chán chơi mãi đên bao lâu cũng được Chính vì vậy bài ca này còn được
Vũ Ngọc Phan xêp vào ô mục Hát vui chơi và nghiễm nhiên nó trở thành đồng
dao
Một số bài vè nói ngược chứa đựng những ẩn dụ, ẩn ý sâu xa vể những nghịch cảnh, những trớ trêu trong đời sống xã hội, người đời đã mượn hình ảnh thê giới loài vật để phản ánh cuộc sống bất công của xã hội loài người Những tác phẩm thuộc loại nặy trẻ thơ chưa đủ vốn sống để hiểu hết những điểu bóng xa xôi trước hiện trạng xã hội, nhưng các em tìm thấy trong đó những hình ảnh ngộ nghĩnh, tương phản trái khoáy, gây sự bất ngờ lý thú cho trẻ Ấn tượng đó giúp trẻ dễ nhớ dễ thuộc, kích thích tính tò mò ham hiểu biết của trẻ, vì vậy trẻ rất thích đọc, thích hát và trở thành món ăn tinh thần của trẻ thơ
Một bộ phận đổng dao liên quan tới ma thuật, phù chú và quan niệm thần linh
của người cổ đại Các bài Lạy trời mưa xuống, Lạy ông nắng lên □ có quan hệ với dân ca nghi lễ của người lớn Một số bài gắn với trò chơi phụ đồng như Phụ đồng ếch, Phụ đồnq chổi, Phụ đồng vung\ ỉcó thể ban đầu là những hình thức ma
thuật, phù chú với quan niệm duy tâm, mê tín của nhân dân thời xưa nhưng dần dần cùng với sự biến hoá của lịch sử tính chất phù chú ma thuật của chúng bị mất
đi chỉ còn lại yếu tố trò chơi và nghệ thuật được bảo tổn, trẻ em sử dụng chúng làm chức nãng chủ yếu
Ngoài ra còn có một bộ phận sấm truyền, sấm ký cũng trở thành đồng dao Sấm truyền, sấm ký là những lời có tính chất thần bí, báo trước những sự kiện sắp hoặc sẽ xẩy ra Chúng thường là những ẩn ngữ để dự đoán những điều tốt xấu cho hiện tại và tương lai liên quan đến những nhân vật lịch sử hoậc một triều đại phong kiến, cũng có thể cho một giai đoạn hiện thực của xã hộil Những lời sấm truyền, sấm ký này thường phản ánh những vấn đề lớn lao của xã hội, nên người lớn đã sáng tác những bài đổng dao mang tính chất tiên đoán dạy cho trẻ hát khi muốn gây ảnh hưởng vể một vấn đề chính trị - xã hội nhất định Trẻ em vốn thích
Trang 30vui chơi ca hát, dễ mô phỏng bắt chước nên trở thành mồi giới tự nhiên truyền bá
những lời hát dân gian hết sức thuận lợi Do đó, nhữnq lời sấm truyền, sấm kỷ được trẻ em hát cũng trở thành đồng dao Do tính chất ẩn ngữ của những lời
đồng dao này nên trẻ không hiểu và trong quá trình truyền khẩu, bị sửa đổi, bị
mất mát mà trở thành nhiều dự đoán khác nhau Bài Chi chi chành chành trẻ mỗi
vùng hát mỗi khác (xem thêm Vũ Ngọc Khánh [181,tr.25 - 29], [172,tr.713]) Theo học giả Nguyễn Vãn Tố, bài ca vừa dẫn “phản ánh một cách kín đáo những
sự kiện bi thảm xẩy ra vào năm 1885, sau khi vua Tự Đức mất (1883)” Còn Nguyễn Văn Huyên cho rằng bài ca là “một lời sấm cổ báo trước tương lai của nước ta sau khi triều đình nhà Lê sụp đổ” [ 172,tr.781-789] Không chỉ ở Việt Nam mà ở Trung Quốc thời xưa cũng có những bài đồng dao ỉà sấm truyền, sấm
ký của người lớn sáng tác ra dạy trẻ con hát để tiên báo về thời cuộc Theo Trần
Lê Bảo, trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung có cả thảy tám bài đồng
dao như vậy [2,t r 4 4 - 4 9 ] .
cho trẻ
Rất nhiều bài đổng dao được người lớn sáng tác ra để nhằm phục vụ trẻ con hát trẻ con chơi Vì đối tượng hướng đến của bộ phận đổng dao này là trẻ em nên nội dung của nó rất vui tươi, ngộ nghĩnh phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, trình
độ nhận thức của trẻ Để cung cấp cho trẻ một số kiến thức về khoa học thườnơ thức, giúp trẻ vừa học vừa chơi người ta có thể sáng tác những bài vè kể vật, kể việc Những bài đổng dao này tương đối dài, có khi tới hàng chục câu Trong sinh hoạt gia đình, hát ru em, hoặc hát chơi với em là một hình thức diễn xướng đặc trưng Có rất nhiều bài ca ru em người lớn sáng tác để anh, chị.hát lên trong
cồng việc giữ em Cái ngủ mày ngủ cho lâu, Cái bống là cái bông bang Một số
bài hát vui chơi cũng được người lớn sáng tác, dạy cho các em hát , dần dần trẻ
em lớn hát trẻ em bé bắt chước Trẻ vừa chơi vừa học qua những lời hát đồng dao, tính chất giáo dục cũng được lổng ghép một cách nhẹ nhàng, thoải mái, ví
dụ các bài Coi vỏi con voi, Con qà tục tác lá chanh, Bà còng đi chợ trời mưa Nsười lớn còn sáng tác một số lời đồng dao trong các trò chơi cho trẻ em.
Trang 31Các em hát lời một cách nhịp nhàng, ăn khớp với các hành động thao tác của trò chơi mà không cần quan tâm đến nội dung của các bài hát ấy Tác giả của một số bài hát thuộc loại này chỉ có thể là người lớn bởi trẻ con không thể sáng tác được
các lời của các trò chơi như Thả đỉa ba ba, Rồng rắn lên mâỵ, Chơi ô ăn quanũ
Hình ảnh thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà, thả tội đàn ônạ trong câu hát mang tính
tín ngưỡng của dân tộc Việt quan niệm về linh hồn của người chết đuối Hoặc
câu hát hết quan hoàn dân, phá chùa lùa dân, kéo quân trỏ về □ ít nhiều có ý
nghĩa xã hội liên quan tới phong trào khởi nghĩa nông dân
Trẻ em là tác giả của một bộ phận đồng dao gắn với các trò chơi, sinh hoạt ca hát của trẻ Để đáp ứng nhu cầu vui chơi ca hát, các em có thể tự biên tự diễn, tự phục vụ bản thân mình Một nhóm các em nhỏ khi bắt được con cào cào, các em
tụ tập nhau lại và cất lên những câu hát có tính chất ứng khẩu tự phát: Cào cào giã ẹạo cho nhanh, tao may áo đỏ áo xanh cho mày\ I Một đám trẻ khác lại ngồi
dăng chân thẳng hàng và đếm qua đếm lại từng chân một, đổng thời đặt lời cho
trò chơi Nu na nu-nống trong khi tưởng tượng ra Cái cống nằm trong, con ong nằm ngoàiì I Hoặc vào đêm trăng sáng, bọn trẻ cùng trông trăng , đếm sao và đặt lời cho bài hát ông giẳng ông giăng , ông sảo ông sao\ I
Một bộ phận đổng dao khác gắn với công việc trẻ phải đảm nhiệm Trẻ khôngchỉ diễn xướng đổng dao trong các cuộc vui chơi ca hát mà cả trong lao động Trong cồng việc chãn trâu cắt cỏ, đôi khi cao hứng các em cũng buột miệng cất
Trang 32lên những lời ca véo von hoà cùng với đất trời thiên nhiên và trở thành những bài
ca mục đồng Những bài này thể hiện tình cảm của những trẻ chăn trâu đối với con vật yêu quý của mình, ví dụ các bài gọi trâu, gọi nghé
Một số bài ca khác mồ phỏng những công việc đơn giản hằng ngày các em giúp bố mẹ Tinh cảm trong sáng chân thực cũng như tấm lòng yêu thương đối với những thành viên trong gia đình của các em được gửi gắm qua những lời ca
đầy tình nghĩa: Trời mưa trời gió, Gánh gánh gồng gồng Những bài đổng dao
này có ý nghĩa khá sâu sắc, giáo dục tình yêu lao động, tình cảm đối với gia đình, lòng hiếu thảol I Cuộc sống gắn bó với lao động đã đem lại cho trẻ những sáng tác đồng dao vừa có tính vui chơi giải trí trong sáng lành mạnh, vừa mang tính giáo dục cao
Những buổi bố mẹ đi làm đồng vắng anh chị phải ở nhà đảm nhiệm công việc giữ em, để ru em ngủ các em cũng đặt ra những bài hát thật ngộ nghĩnh:
Em tôi buồn ngủ buồn nghê Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gàu
Những bài đổng dao Chị hát ru em thể hiện tình cảm thắm thiết của chị em
ruột thịt đồng thời là sự cởi mở tâm hổn của con người với ngoại vật
Những bài ca do trẻ sáng tác lời thơ thường hồn nhiên ngộ nghĩnh câu nọ xọ câu kia, lắm khi phi lý đến nực cười, thậm chí đến cả tư duy ấu trĩ:
Nốc nốc nác nác Nốc mãi cho to Nốc no cho tròn Như hòn bánh rán
Có trước có sau Hai hông bằng nhau Tau về cho sớm
Song cũng có những bài thể hiện sự quan sát tinh tế, độc đáo của trẻ:
Con cua mà có hai càng Đầu tai không có bò ngang cả đời
Trang 33Con cá mà có cái đuôi Hai vi vu vẩy nó bơi rất tài 11
Trên thực tế, một bộ phận đồng dao khó mà xác định được tác giả của nó là trẻ em hay người lớn Để gia nhập vào thế giới đồng dao sinh động và ngộ nghĩnh tác giả dân gian đã học cách tư duy của trẻ, nắm bắt tâm lý của các em, qua đó sáng tác những bài ca được trẻ ưa thích Bên cạnh đó một số sáng tác vốn
là của người lớn nhưng về sau cũng được trẻ tham gia diễn xướng và trong quá trình lưu truyền lời ca đã được sửa chữa, thay đổi theo cách hiểu của trẻ, phục vụ cho các trò chơi của các em vể một phương diện khác, có thể xem quá trinh lưu truyền diễn xướng cũng đồng thời là phương thức sáng tạo của tác phẩm vãn học dân gian Nói tóm lại, bất kỳ tác phẩm thơ ca dân gian nào được trẻ lun truyền diễn xướng thì đều là đồng dao, trẻ em vừa là chủ thể đích thực của diễn xướng đổng dao đổng thời vừa tham gia vào quá trình sáng tác, hứng tác đổng dao
1.2.4 Đồng dao dân gian và đồng dao có tên tác giả
Đổng dao dân gian là những sáng tác khồng có tên tác giả do tập thể nhân dân lao động sáng tạo nên Rất có thể ban đầu một số lời ca là của một cá nhân tác giả nhưng trong quá trình truyền khẩu được đông đảo trẻ em hưởng ứng, tham gia lưu truyền, sửa chữa, bổ sung và trở thành sáng tác tập thể, người sáng tác ban đầu bị lãng quên Tuy nhiên, vai trò cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật dân gian không hề mâu thuẩn với vai trò tập thể Đổng dao dân gian lại bao gồm
đồng dao cổ truyền và đồng dao hiện đại.
Cũng như văn học dân gian nói chung, đồng dao cổ truyền là những tác phẩm đổng dao do quần chúng nhân dân sáng tác kể từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước Còn đồng dao hiện đại là những sáng tác dân gian ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, từ sau Cách mạng tháng Tám xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển về chất, việc nhân dân lao động tiến lên làm chủ xã hội là một dấu hiệu quan trọng có ảnh hưởng quyết định đối với văn học dân gian với tư cách là một loại hình của văn học hiện đại Từ đây văn học dân gian có những thay đổi hết sức căn bản Đổng
Trang 34dao tuy là những câu hát trẻ con nhưng cũng thể hiện những thay đổi trong sáng tạo tác phẩm, kể cả nội dung lẫn hình thức bên cạnh sự duy trì một số đặc tính
của văn học dân gian truyền thống Ví dụ bài ông Liên Xô bà Trunạ Quốc thời kỳ
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, bài Maria là nhà tạo mốt xuất phát từ bộ phim Đem giản tôi-là Maria, hay bà/ Bà Lasát có bát ăn cơm khi Đài truyền hình chiếu bộ phim Tây du kỷ.
Riêng về đổng dao có tên tác giả, có nhiều ý kiến khác nhau và chưa thống nhất quan niệm Đồng dao vốn là những sáng tác dân gian ra đời từ xa xưa nên thường mang nội dung cũ, trong khi nhu cầu thưởng thức của các em ngày càng phong phú hơn nhiều Trước tình hình cuộc sống mới, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải sáng tác thêm nhiều, thật nhiều đồng dao mới cho các em, những kiểu dạng đồng dao phóng tác phù hợp với hiện thực cuộc sống mới và tâm lý của thế hệ mãng non xã hội chủ nghĩa Vì vậy, trên thực tế có không ít bài đổng dao cũ được cải biên với nội dung mới, có ý nghĩa làm bài hát trong các cuộc chơi được các em ưa thích Những bài này được sáng tác theo thể thơ ba chữ, bốn chữ lấy
cảm hứng từ câu mở đầu quen thuộc Dung dăng dung dẻ, Chi chi chành chành, Thả đỉa ba ba, Nu na nu rỉốngỶI nhưng tính chất phiến đoạn rời rạc của nội dung
không còn thay vào đó trẻ em được tiếp xúc với cuộc sống hiện đại, tư duy nhảy cóc, phi logic của đổng dao đã dần mất đi nhường chỗ cho tư duy lý tính:
Dung dăng dung dẻ Bạn trẻ Bắc Nam Múa hát kết đoàn Vui cười khúc khích I I(Dung dăng dung dẻ - Thi ca bình dân)
Bên cạnh đó, một số nhà thơ đã học tập phong cách của đồng dao sáng tác nên
những bài thơ, tập thơ khá thành cồng như Bắp cải xanh của Phạm Hổ, Chợ chim của HCru Thỉnh, Kể cho bé nqhe của Trần Đăng Khoa, Thi ca bình dân của Nguyễn Tấn Long - Phan Canh, Thơ ca mẫu giáo, hay Chim gọi mùa của Quang
Huyl I Một số nhà nghiên cứu cho đây là đồng dao mới Tập thể biên soạn cuốn
Đồnq dao và trò chơi trẻ em người Việt dành hẳn một phần tuyển những bài này
Trang 35và gọi là Đồng dao có tên tác giả [ 172, tr 458] Chúng tôi quan niệm, đồng dao
là sáng tác dân gian thuộc lĩnh vực thơ ca dành cho trẻ em, vì vậy những tác phẩm thơ thiếu nhi của các nhà thơ hiện đại chịu ảnh hưởng phong cách đổng dao đều thuộc vể bộ phận thơ thiếu nhi chứ khồng phải đồng dao Đồng dao dù
cũ hay mới đều không thể có tên tác giả Ngoại trừ trường hợp một số bài đồng dao vốn là sáng tác của cá nhân tác giả nhưng trong quá trình lưu truyền được trẻ
em sử dụng và phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý của trẻ và trở thành những tác
phẩm dân gian hoá Đó là các bài trong cuốn Đồng dao và trẻ em nẹười Việt:
51/42, 18/48,41/90, 2/95, 31/107, 23/116, 23/141, 107/198, 109/199 (Từ đây chúng tôi xin quy ước, ví dụ: 51/42 đọc là bài số 51 trang 42) Chúng tương tự
các bài ca dao Tháp Mười đẹp nhất bông sen\ \, Trên trời mây trắnẹ như bông\ J
vốn của các nhà thơ Bảo Định Giang và Ngô Văn Phú
1.2.5 Diễn xướng đồng dao
Quá trình khép kín của vãn nghệ dân gian bao gồm bốn khâu: tác phẩm, diễn xướng, thưởng thức và hiệu quả nghệ thuật, trong đó diễn xướng là cầu nối trung gian đưa sáng tác đến người thưởng thức tạo nên hiệu quả nghệ thuật cho tác phẩm[166, tr.24] Diễn xướng là biểu hiện sự tồn tại của văn nghệ dân gian trong
đó có đồng dao
Đồng dao chỉ dành cho trẻ em hát Trẻ em trở thành chủ thể đích thực trong quá trình diễn xướng đồng dao Người lớn nếu tham gia vào hát đổng dao cũng chỉ với mục đích làm mẫu cho trẻ hát và chơi Có hai hình thức diễn xướng đồng dao, hoặc là diễn xướng cá nhân, hoặc là diễn xướng tập thể, song với các em
thường là diễn xướng tập thể về phương thức diễn xướng bao gồm hát đồng dao
và hát ảồno dao kèm theo trò chơi Tuy nhiên cách tổ chức diễn xướng đồng dao
rất đơn giản, ngẫu hứng không tuân thủ các quy tắc và định kỳ như sinh hoạt dân
ca trữ tình Hát đổng dao nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi, nô đùa của trẻ Riêng
về đồng dao có trò chơi, mổi trò đều có cách thức chơi riêng Có thể nói tới ba hoàn cảnh tiêu biểu cho diễn xướng đồng dao: diễn xướng trong sinh hoạt gia đình, diễn xướng trong môi trường lao động và diễn xướng trong môi trường tự nhiên
Trang 36Diễn xướng trong sinh hoạt gia đình
Hình thức diễn xướng này thường được áp dụng cho các bài đồng dao Chị hát
ru em, Hát vui chơi và một số trò chơi kèm lời hát đơn giản, yêu cầu người chơi
ít Song có lẽ Chị hát ru em là bộ phận đồng dao tiêu biểu của hình thức diễn
xướng đồng dao trong gia đình Chị có thể hát những bài hát ru để dỗ em ngủ
hoặc hát những bài ca vui chơi để chơi đùa với em hay dạy em tập nói xừ\ư Con
em, anh chị có thể bày trò chơi và cùng hát, cùng chơi với em như Kéo cưa lừa
xẻ, Nu na nu nốngn Diễn xướng trong gia đình vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
vui chơi, giải trí cho trẻ, đổng thời còn là hình thức xây dựng vãn hoá gia đình, bảo lưu và phát huỷ những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống
Diễn xướng trong môi trường lao động
Trẻ em không phải là nhân lực lao động chính của gia đình, tuy nhiên ở nồng thôn Việt Nam, phần lớn trẻ em vẫn phải tham gia lao động cùng với người lớn Công việc chủ yếu của các em là chãn trâu cắt cỏ, phụ giúp bố mẹ trong công việc đổng áng ở lứa tuổi này nhu cầu vui chơi ca hát thuộc về bản chất tâm lý, đặc điểm thẩm mỹ của tuổi thơ, vì vậy trong lao động các em vẫn thường diễn xướng đổng dao Tiêu biểu cho bộ phận đồng dao diễn xướng trong môi trường lao động là những bài ca gọi trâu, gọi nghé Đây là lời hát của trò chơi mô phỏng tiếng me, tiếng nghé của những trẻ mục đồng Tốp này kể lể, khoe khoang về sự chăm sóc ân cần con me của mình, tốp kia cũng đáp lại như thế Lời bài ca thể
hiện tình cảm ưu ái, thân thương của người chủ với con vật mình chãm sóc nuôi
dưỡng Ngoài ra do bản tính vui đùa nghịch ngợm của bọn trẻ, chúng còn bày ra trò giục trâu báng chắc (húc nhau), giục bò báng chắc (húc nhau) Để cổ vũ cho trò chơi này trẻ hát lên những bài ca khích khí nhau, thể hiện sự hiếu thắng của
cả hai phía
Diễn xướnq trong môi trường tự nhiên
Đây là môi trường diễn xướng tiêu biểu cho sinh họat diễn xứơng đồng dao của trẻ Chính tại môi trường này năng lực vui chơi ca hát của các em mới được
Trang 37bộc lộ và thoả mãn một cách tối ưu Thời gian và địa điểm lý tưởng nhất để trẻ thực hành sinh hoạt đổng dao thường vào những đêm trăng sáng mùa hạ hay những ngày nồng nhàn rảnh rỗi, bọn trẻ từ các xóm quây quần nhau lại trên các bãi đất trống, trong các ngõ phố đường làng, bên sân đình, bờ aoũvà cùng vui chơi ca hát, bày trò với nhau Tốp này có thể ngồi chụm vào nhau, tốp kia giàn thành hàng vừa đi vừa hát vang những bài đồng dao vô cùng thích thú Một số em khác lại tập hợp thành từng nhóm nhỏ từ hai, ba em đến chín, mười em và chơi
đủ trò: ô ăn quan, Chồng nụ chồng hoa, Chi chi chành chành, Rồng rắn lên mây, Chuyền thẻl I Chúng vừa chơi vừa hát say sưa hồn nhiên quên cả thời gian, quên
cả mệt nhọc Chơi chán trò này các em lại bày trò khác, hết hát lại chơi, hết chơi đến hát Chính trong khung cảnh này trẻ đã tạo thành một ban hợp xướng thể hiện các giá trị của văn hoá cộng đổng và tạo ra một không khí dân gian, một thứ phong tục tập quán đẹp trong thế giới vui chơi của thiếu niên nhi đồng Riêng đồng dao kèm theo trò chơi là bộ phận thể hiện những đặc điểm có tính chất đặc trưng của diễn xướng đồng dao Sau đây chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một số vấn
đề có liên quan tới hệ thống diễn xướng đồng dao qua các trò chơi có sự đóng góp của lời hát đổng daọ
Trò chơi là một hoạt động mang tính nhân văn, văn hoá - xã hội của loài
người Hai yếu tố trò và chơi quan hệ với nhau, ấn định nhau, muốn chơi phải có trò, trò muốn thực hiện được phải thông qua việc chơi Cụm từ trò chơi bao gồm
cả đồ chơi, trò để chơi, cách thức chơi, luật chơil Đặc biệt đối với một số trò chơi dân gian còn có vai trò của lời hát, với trò chơi dân gian dành cho trẻ chính
là các bài đồng dao Trong khuôn khổ và mục đích của luận án, dưới góc độ ngữ văn học, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu phần lời đồng dao trong các trò chơi dân gian trẻ em, qua đó thấy được vai trò và tác dụng của đồng dao đối với trò chơi dân gian trẻ em
Khảo sát 106 trò chơi ở cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt có 47 trò
chơi có lời đổng dao, chiếm 44,1% Trong đó nhóm trò chơi vận động có 35/57 trò chơi có lời đồng dao, chiếm 61% Nhóm trò chơi khéo léo có 4/33 trò chơi có lời đổng dao, chiếm 14% Nhóm trò chơi trí tuệ có 8/16 trò chơi có lời đồng dao,
Trang 38chiếm 5% Đổng dao gắn bó một cách hữu cơ với trò chơi, thậm chí không thể
thiếu, nếu thiếu thì trò chơi không thực hiện được Điều này liên quan tới đổng dao trong việc tổ chức các trò chơi dân gian Những trò chơi có lời đồng dao các động tác, hành động trong các cồng đoạn của trò chơi phải ăn khớp với câu hát, lời ca một cách nhịp nhàng đều đặn Trò chơi kèm lời hát sẽ khuấy động không khí chơi, làm cho cuộc chơi trở nên sinh động có hồn ở một số trò chơi, lời đồng dao có tác dụng minh hoạ, chỉ dẫn cách thức tổ chức trò chơi, đặc biệt trong các trò chơi trí tuệ, trò chơi khéo léo Mỗi câu hát trong bài đồng dao minh hoạ cho
một động tác của trò chơi Trò chơi Rồng rắn lên mây chẳng khác gì một vở kịch
diễn tả cảnh rồng rắn đi mua thuốc cho con gồm các nhân vật thầy thuốc, rắn và các con Ngược lại một số trò chơi lời đồng dao chỉ có tác dụng phân cách các công đoạn của trò chơi, giữ nhịp cho thao tác chơi mà không biểu thị nội dung của trò chơi Vì vậy có rất nhiều lời đồng dao không cùng nội dung đều có thể
tồn tại cho một trò chơi, như các bài Nu na nu nống, Dung dăng dung dẻ Có khi
lời ca vừa đánh nhịp, vừa đánh dấu thời gian hết một chặng chơi, mỗi chặng gắn liền với một khúc đoạn của bài ca, hết bài là chấm hết một ván chơi, như các bài
trong trò chơi Chaỵền thẻ, Bắt cà cuống, Chồng đống chổng đe Cũng có khi
bài ca giữ vai trò là hiệu lệnh xuất phát cho trò chơi trong quá trình tổ chức cuộc
chơi Ví dụ trò chơi Này cò này cấu khi đọc đến câu cuối E hê chạy thì tất cả
phải nhanh chân chạy, ở một số trò chơi lời đồng dao có nhiệm vụ phân định chức năng, vị trí của các nhân vật trong trò chơi Nếu khi hát hết bài ca, từ cuối cùng rơi vào người nào thì người ấy sẽ được may mắn thoát nạn hoặc được chọn
là người làm chủ trò, nhưng có khi là người phải chịu nạn, ví dụ các trò Chi chi chành chành, Câu ếch, Thả đỉa ba baì I.
Nhìn chung, lời đổng dao trong mối quan hệ với trò chơi dân gian trẻ em giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình diễn xướng đồng dao Với chức năng chính là tổ chức nên các hành động của trò chơi, bài hát của đồng dao đã góp phần hiện thực hoá các quá trình diễn xướng vãn nghệ dân gian của trẻ
Trang 39Vãn học dân gian là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp vì vậy khồng thể tách khâu diễn xướng ra khỏi tổng thể folklore Những điều giới thuyết
về đổng dao ở trên chỉ mang tính chất khái quát nhất, giúp chúng tôi có được cái nhìn cụ thể về một yếu tố cấu tạo nên hệ thống nghệ thuật đặc trưng của thi pháp đồng dao Chúng tôi quan niệm rằng các đặc điểm cấu thành thi pháp đồng dao đều chịu ảnh hưởng của diễn xướng đồng dao Vì vậy, diễn xướng đổng dao sẽ được nghiên cứu đồng thời trong quá trình tìm hiểu các yếu tố thuộc về thi pháp đồng dao
1.3 Thơ thiếu nhi
1 3 1 L ị c h sử h ì n h t h à n h v à p h á t t r i ể n c ủ a t h ơ t h i ế u n h i
Văn học thiếu nhi người Việt gồm hai bộ phận: vãn học dân gian thiếu nhi
và văn học viết thiếu nhi Trong mỗi khu vực lại gồm hai loại tác phẩm: truyện kể
(vãn xuôi) cho thiếu nhi và thơ ca cho thiếu nhi Thuật ngữ thơ thiếu nhi mà
chúng tồi dùng ở đây là nhằm chỉ bộ phận tác phẩm thơ có tên tác giả sáng tác riêng cho đối tượng độc giả nhỏ tuổi, nằm trong khu vực văn học viết thiếu nhi (tương đương với khái niệm "đồng dao"- thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em, nằm trong khu vực văn học dân gian thiếu nhi) Có thể chia quá trình hình thành
và phát triển của thơ thiếu nhi Việt Nam thành hai giai đoạn
1 Trước Cách mạng tháng Tám 1945
Dưới chế độ phong kiến, giai cấp phong kiến không hề nghĩ tới việc sáng tác văn học nói chung, thơ ca nói riêng để phục vụ thiếu nhi Có chăng chỉ là vài
cuốn sách chữ Hán nh ưTam tự kinh, Minh tâm bảo giám,\ I
Kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, văn học thiếu nhi Việt Nam bắt đầu khởi sắc Tuy nhiên, thể loại truyện cho thiếu nhi được quan tâm hơn và có nhiều tác phẩm hơn so với thơ ca cho thiếu nhi Mãi tới những năm đầu thế kỷ XX thơ viết cho thiếu nhi mới ra đời với ý thức sáng tác nhằm phục vụ bạn đọc nhỏ tuổi, mặc
dù những sáng tác này chưa được phổ biến rộng rãi Đạc biệt, dưới chế độ thực dân phong kiến, sự nghiệp sáng tác thơ văn dành cho thiếu nhi ít được quan tâm,
đó là điều tất yếu nằm trong xu thế chung của sự phát triển lịch sử - xã hội
Trang 40Dưới ách thống trị của thực dân, dân tộc ta trở thành dân tộc mất nước, nhân dân
ta trở thành nhân dân nô lệ Chế độ thực dân đã luôn kìm hãm, cấm đoán, thậm chí tước đoạt cả quyển tự do, quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam Tự do
tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do trong sáng tác vãn chương từ đó cũng bị hạn chế Mỗi khi quyền tự do của người cầm bút không còn thì cũng thật khó tìm thấy tự
do cho sáng tác thiếu nhi Thơ thiếu nhi vì vậy cũng cùng chung số phận với vãn học cả dân tộc Tuy nhiên một số nhà thơ, một số học giả đương thời với tấm lòng yêu trẻ, với ý thức sâu sắc về sự nghiệp giáo dục của đất nước hoặc đã phỏng dịch, hoặc đã phóng tác, sáng tác biên soạn sách đọc, sách giáo khoa cho thiếu nhi Nguyễn Vãn Vĩnh được bạn đọc nhỏ tuổi biết đến qua việc phỏng dịch
thơ ngụ ngôn La Phongten Nguyễn Văn Ngọc viết cuốn Đông Tây ngụ nẹôn dựa vào các ý thơ ngụ ngôn nước ngoài và Nhi đồng lạc viên, được coi là sách giáo khoa cho trẻ Tản Đà với hai tập thơ Lên sáu và Lên tám Nam Hương sáng tác tập Bài hát trẻ con Song do hạn chế về thời đại, về thế giới quan nên nội dung tư
tưởng cũng như hình thức nghệ thuật không tránh khỏi những thiếu sót Thơ thiếu nhi thời kỳ này nhằm giáo dục các em một số đạo lý, luân lý thông thường như biết ơn cônp lao cha mẹ, thầy giáo, biết sống hoà thuận, quý trọng bạn bè, chăm chỉ học hành, làm việc nghĩa, sống ngay thẳng, giàu lòng nhân ái Ví dụ:
Gọi thì dạ, bảo thì vâng Con nhà lễ phép nói năng dịu dàng Những câu thồ tục sỗ sàng Giữ mồm ta chớ nói quàng nói xiên
(Cách nói năng - Nhi đồng lạc viên)
Hay:
Bụng dạ quý ngay thẳng Giao thiệp trọng tin thực Lúc vắng như lúc đồng Giữ mình theo phép tắc
(Lên tám - Tản Đà)