Trong TĐT, bên cạnh các nhà thơ nam với thành tựu nổi bật, vang danh cổ kim như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, còn có sự đóng góp của các nhà thơ nữ, tiêu biểu là Tiết Đào, Ngư Huyền Cơ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Anh Tuấn
THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI NHÂN
TRONG TOÀN ĐƯỜNG THI
(SO SÁNH VỚI THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI
NHÂN TRONG MANYOSHU)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Anh Tuấn
THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI NHÂN
TRONG TOÀN ĐƯỜNG THI
(SO SÁNH VỚI THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI
NHÂN TRONG MANYOSHU)
Chuyên ngành: Trung Quốc học
Mã số: 62 31 06 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Trần Nho Thìn
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên
đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu,
số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan, rõ ràng về mặt xuất xứ Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 3 năm thực hiện, luận án tiến sĩ “Thơ ca của các nữ thi nhân trong
Toàn Đường Thi (so sánh với thơ ca của các nữ thi nhân trong Manyoshu)” của tôi
cuối cùng đã được hoàn thành Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi không thể không kể đến sự quan tâm, ủng hộ và giúp đỡ của gia đình, thầy
cô, đồng nghiệp và bạn bè trong suốt quãng thời gian ấy
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Trần Nho Thìn, người hướng dẫn khoa học của tôi Đối với bản thân tôi – một nghiên cứu sinh trẻ tuổi với rất nhiều thiếu sót, non nớt về kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghiên cứu, việc được thầy nhận hướng dẫn quả thực đã là một điều may mắn Càng may mắn hơn khi thầy luôn tận tình giảng giải cho tôi những kiến thức
về văn học đầy mới mẻ, cẩn thận chỉnh sửa từng câu chữ trong bản thảo luận án còn yếu kém của tôi và khích lệ tôi mỗi khi bế tắc trong quá trình nghiên cứu đầy gian nan, thử thách
Thứ đến, tôi muốn dành lời tri ân đến các thầy cô trong bộ môn Trung Quốc học và bộ môn Nhật Bản học thuộc Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nếu không có sự động viên, giúp đỡ của thầy cô trong những năm qua, đặc biệt là ngày tháng khó khăn, lạc lối sau tốt nghiệp, chắc chắn tôi đã không thể tiếp tục việc học nghiên cứu sinh và thực hiện ước mơ nghiên cứu khoa học của mình
Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản và Trung tâm Giao lưu Văn hoá Nhật Bản tại Việt Nam đã dành cho tôi nhiều cơ hội quý giá để học tập, nghiên cứu tại Nhật Bản và làm việc bên ban giám đốc và các đồng nghiệp đáng mến
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình của tôi
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2019
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
BẢNG GIẢI THÍCH TỪ NGỮ 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13
5 Đóng góp mới của luận án 15
6 Cấu trúc của luận án 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 18
1.1 Nghiên cứu về thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi 18
1.1.1 Khái lược về Toàn Đường Thi và tình hình nghiên cứu thơ Đường tại Việt Nam 18
1.1.2 Vị trí của thơ nữ trong Toàn Đường Thi và tình hình nghiên cứu thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi trên thế giới 21
1.2 Nghiên cứu về thơ ca của các nữ thi nhân trong Manyoshu 33
1.1.1 Khái lược về Manyoshu và tình hình nghiên cứu Manyoshu tại Việt Nam 33
1.1.2 Vị trí của thơ nữ trong Manyoshu và tình hình nghiên cứu thơ ca của các nữ thi nhân trong Manyoshu trên thế giới 35
1.3 Nghiên cứu so sánh thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi và Manyoshu 40
Tiểu kết 41
CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI NGŨ NỮ 43
Trang 6THI NHÂN TRONG BỐI CẢNH THỜI ĐƯỜNG - NGŨ
ĐẠI
2.1 Khái quát bối cảnh thời Đường - Ngũ đại 43
2.1.1 Sự phát triển của thành thị và ảnh hưởng của nó đến thơ Đường và đội ngũ nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại 43
2.1.2 Binh dịch, chiến tranh và ảnh hưởng của chúng đến cuộc sống người phụ nữ, thơ Đường và đội ngũ nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại 47
2.1.3 Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo trong bối cảnh cởi mở tư tưởng và ảnh hưởng của chúng đến thơ Đường và đội ngũ nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại 54
2.2 Sự hình thành và phát triển của các loại hình nữ thi nhân 58
2.2.1 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ thi nhân cung đình 60
2.2.2 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ thi nhân gia đình 71
2.2.3 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ thi nhân kỹ nữ 84
2.2.4 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ thi nhân nữ quan và ni cô 89
Tiểu kết 96
CHƯƠNG 3 TRẢI NGHIỆM NHÂN SINH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI NHÂN TRONG TOÀN ĐƯỜNG THI 98
3.1 Trải nghiệm nhân sinh của phụ nữ cung đình 98
3.1.1 Đời sống tâm lý - tình cảm 98
3.1.2 Đời sống sinh hoạt và giao lưu xã hội 105
3.2 Trải nghiệm nhân sinh của phụ nữ gia đình 114
3.2.1 Đời sống tâm lý - tình cảm 114
3.2.2 Đời sống sinh hoạt và giao lưu xã hội 127
3.3 Trải nghiệm nhân sinh của kỹ nữ 128
3.3.1 Đời sống tâm lý - tình cảm 128
3.3.2 Đời sống sinh hoạt và giao lưu xã hội 133
Trang 73.4 Trải nghiệm nhân sinh của nữ quan, ni cô 138
3.4.1 Đời sống tâm lý - tình cảm 138
3.4.2 Đời sống sinh hoạt và giao lưu xã hội 145
Tiểu kết 147
CHƯƠNG 4 SO SÁNH THƠ CA CỦA CÁC NỮ THI NHÂN TRONG TOÀN ĐƯỜNG THI VÀ MANYOSHU 150
4.1 Về sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ tác gia 151
4.1.1 Những điểm tương đồng 151
4.1.1 Những điểm khác biệt 155
4.2 Về những trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ được phản ánh trong thơ ca của các nữ thi nhân 161
4.2.1 Đời sống tâm lý – tình cảm 161
4.2.2 Đời sống sinh hoạt và giao lưu xã hội 174
Tiểu kết 183
KẾT LUẬN 185
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 187
TÀI LIỆU THAM KHẢO 188 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Tên bảng Nội dung Trang
Bảng 1.1 Một số nghiên cứu tổng quan về thơ ca của các nữ tác gia trong
Bảng 2.2 Khoảng cách giữa sĩ tử, du tử đi xa và người vợ ở nhà qua một
số bài thơ Đường
74
Bảng 2.3 Khoảng cách giữa thương nhân buôn bán nơi xa và người vợ ở
nhà qua một số bài thơ Đường
Bảng 4.2 Một số phương diện trong đời sống sinh hoạt của người phụ nữ
được phản ánh trong thơ ca của các nữ thi nhân trong TĐT và MYS
176
Trang 9BẢNG GIẢI THÍCH TỪ NGỮ STT Từ ngữ Nội dung Phạm
Nhật Bản
Nhật Bản
Nhật Bản
(妓女 jìnǚ)
Phụ nữ làm nghề ca múa, đàn hát, kết hợp phục vụ nhu cầu tình dục cho đàn ông Kỹ nữ thời Đường chủ yếu gồm 4 loại: cung kỹ, quan kỹ, thị kỹ và gia kỹ
Do Toàn Đường Thi không chép lại thơ ca của các
cung kỹ, còn gia kỹ đã được xếp vào nhóm phụ nữ gia đình nên khái niệm kỹ nữ trong luận án chỉ bao gồm quan kỹ và thị kỹ
Trung Quốc
8 Nữ quan Một nhóm nữ tác gia trong Toàn Đường Thi gồm Trung
Trang 10(女冠 nǚguān) những phụ nữ xuất gia tu theo Đạo giáo, sống ở các
đạo quán, còn được gọi là nữ đạo sĩ hoặc đạo cô
10 Phụ nữ cung
đình
Phụ nữ sống trong cung, bao gồm nữ hoàng, hoàng hậu, phi tần, nữ quan, cung nữ hoặc phụ nữ tuy không sống trong cung song có huyết thống hoàng thất (công chúa, quận chúa)
Trung Quốc, Nhật Bản
11 Phụ nữ gia đình Phụ nữ sống trong gia đình quan lại và thường dân,
bao gồm tỳ thiếp, gia kỹ, vợ con của quan lại, thương nhân, thư sinh, quân lính và phụ nữ bình dân
Trung Quốc, Nhật Bản
12 Quan kỹ
(官妓 guānjì)
Kỹ nữ chịu sự quản lý của quan phủ địa phương, biểu diễn và hầu hạ quan lại địa phương, nhưng thường không phục vụ nhu cầu chăn gối của quan lại
Trung Quốc
14 thái nữ
(采女 uneme)
Nữ quan hầu hạ hoàng thất Nhật Bản, thường xuất thân là con nhà quí tộc, hào tộc địa phương, có nhan sắc, giỏi thơ ca, múa hát
Nhật Bản
do người vợ chăm sóc
Nhật Bản
16 Thị kỹ Kỹ nữ sống ở thành thị, đã đăng ký hành nghề với
chính quyền, vừa biểu diễn nghệ thuật vừa công khai
Trung Quốc
Trang 11(市妓 shìjì) phục vụ nhu cầu tình dục cho khách
17 Tương văn
(相聞 somon)
Thể thơ trao đổi thông tin, tình cảm giữa người yêu,
người thân và bạn bè trong Manyoshu
Nhật Bản
19 Thời Đường -
Ngũ đại
Chỉ khoảng thời gian lịch sử bao gồm cả thời Đường (618 - 907) và thời Ngũ đại - Thập Quốc (907 - 960)
ở Trung Quốc Việc sử dụng khái niệm này trong
luận án bắt nguồn từ thực tế rằng Toàn Đường Thi
tuy mang nghĩa là "toàn bộ thơ ca thời Đường" song bao gồm cả thơ ca do các thi nhân thời Ngũ đại - Thập Quốc sáng tác Vì vậy, trong luận án này, nếu phạm vi tác giả - tác phẩm được nói đến bao gồm cả thời Ngũ đại - Thập Quốc, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm thời Đường - Ngũ đại để đảm bảo tính chính xác, thay cho khái niệm thời Đường
20 Thời Asuka -
Nara
Chỉ khoảng thời gian lịch sử bao gồm cả thời Asuka (538 - 710) và thời Nara (710 - 794) ở Nhật Bản
Việc sử dụng khái niệm này trong luận án bắt nguồn
từ thực tế rằng Manyoshu tập hợp thơ ca suốt 4 thế
kỷ từ thế kỷ IV đến thế kỷ IX, không ứng với một thời kỳ lịch sử riêng rẽ nào Chính vì vậy, căn cứ vào
thực tế khảo sát niên đại của các nữ tác gia trong Manyoshu (trừ hoàng hậu Iwanohime, toàn bộ nữ thi
nhân trong Manyoshu đều sống trong thời Asuka và thời Nara), chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm "thời Asuka - Nara" với tư cách là thời kỳ lịch sử tương
Trang 12ứng với thơ ca của các nữ thi nhân trong bộ tổng tập này
Trang 13DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Là một bộ phận hữu cơ của văn hóa, văn học hàm chứa những thông tin quan trọng về văn hóa, về đất nước và con người của một dân tộc, một quốc gia Do đó, khi nghiên cứu văn hóa, có một hướng tiếp cận quan trọng - tiếp cận từ góc độ văn học Văn học Trung Quốc là một nền văn học lớn với nhiều thành tựu rực rỡ trên nhiều phương diện như thể loại, tác gia, tác phẩm, trường phái Trong lịch sử hàng ngàn năm của nền văn học này, mỗi thời kỳ đều để lại dấu ấn với một thể loại văn học đặc trưng, như tản văn triết học thời Tiên Tần, phú thời Hán, từ thời Tống, hý khúc thời Nguyên hay tiểu thuyết chương hồi thời Minh Thanh Đặc biệt, thời Đường được coi là một mốc son quan trọng của văn học Trung Quốc với sự nở rộ của lĩnh vực thơ ca Điều này được biểu hiện ở đội ngũ tác gia đông đảo thuộc nhiều tầng lớp khác nhau; ở khối lượng thi phẩm đồ sộ; ở trường phái sáng tác và phong cách nghệ thuật đa dạng; ở đề tài phong phú; ở thể thơ và luật thơ hoàn bị…
Những thành tựu này được phản ánh tập trung nhất trong Toàn Đường Thi (sau đây được viết tắt là TĐT), bộ tổng tập thi ca được biên soạn vào thời Thanh bao gồm
48.900 thi phẩm của hơn 2.200 nhà thơ
Trong TĐT, bên cạnh các nhà thơ nam với thành tựu nổi bật, vang danh cổ
kim như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, còn có sự đóng góp của các nhà thơ nữ, tiêu biểu là Tiết Đào, Ngư Huyền Cơ, Lý Dã,… Nếu nhìn vào số lượng hơn 48.000 bài thơ của hơn 2.000 nam thi nhân, thì con số 687 bài thơ do 129 nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại sáng tác có thể còn khiêm tốn, song nếu đặt trong dòng chảy lịch
sử văn học nữ của Trung Quốc, thì nhóm tác phẩm của các nữ thi nhân đã đánh dấu một sự phát triển khó phủ nhận Trước hết, các tác phẩm này đóng góp về số lượng thi phẩm và tạo nên sự toàn diện của bức tranh chung của kho tàng thơ ca thời Đường, phản ánh chân thực cuộc sống và tâm hồn của người phụ nữ Mặt khác, trong hoàn cảnh xã hội nam quyền đương thời, khi người phụ nữ bị gạt ra bên lề, bị tước quyền học hành, bị hạn chế phát ngôn về quyền sống riêng tư, về tình yêu nam
nữ, ít có cơ hội bộc lộ thế giới nội tâm sâu kín, thì tiếng thơ của 129 tác giả nữ là
Trang 15một bước tiến đột phá trên hành trình lâu dài tiệm cận tư tưởng nữ quyền Bước tiến này cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và xứng đáng
Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù nghiên cứu về văn học phụ nữ (bao gồm người phụ nữ trong văn học và tác giả nữ trong lịch sử văn học) đang ngày càng nhận được sự quan tâm của giới học thuật và trở thành một khuynh hướng nghiên cứu đầy tiềm năng trên thế giới, việc nghiên cứu các tác giả nữ của nước ngoài nói chung, các tác giả nữ Trung Quốc nói riêng, đặc biệt tại Việt Nam hiện nay, vẫn gần như là vùng trắng
Thực tế trên đã thôi thúc tác giả luận án lựa chọn nghiên cứu thơ ca của các
nữ thi nhân trong TĐT làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn làm rõ được những
đặc trưng của hiện tượng văn học độc đáo này, từ đó đưa ra nhận thức khách quan
về người phụ nữ thời Đường - Ngũ đại và đánh giá toàn diện hơn về thơ ca cổ điển Trung Quốc Luận án tiếp cận vấn đề từ góc độ nghiên cứu khu vực học, cụ thể là Trung Quốc học, nên thơ ca của các nữ thi nhân trong TĐT được khảo sát trong cách nhìn nhận mang tính liên ngành để tìm ra những đặc trưng văn hoá - xã hội của Trung Quốc, thay vì chỉ tập trung vào các khía cạnh chuyên biệt của khoa nghiên cứu văn học Thông qua cách tiếp cận này, tác giả luận án mong muốn đưa ra đóng góp riêng đối với lĩnh vực nghiên cứu thơ ca cổ điển Trung Quốc
Mặt khác, cũng xuất phát từ cách tiếp cận khu vực học, luận án chú trọng phương pháp so sánh đối chiếu, làm nổi bật tính phổ quát và tính đặc trưng của thơ
ca của các nữ thi nhân trong TĐT trong nền thơ ca cổ điển của khu vực Đông Á
Tác giả luận án mong muốn thông qua phương pháp này tìm hiểu một cách khách quan hơn về thành tựu của văn học Trung Quốc, tránh được những lập luận chủ quan, thiên kiến khi tập trung tiếp cận bộ phận Việc tìm ra những đặc điểm chung mang tính phổ quát của khu vực và xuyên khu vực, thời đại và xuyên thời đại, cũng như nét riêng độc đáo của từng quốc gia, dân tộc sẽ góp phần làm sáng rõ tính toàn diện và đa dạng của nền văn học Đông Á thời cổ đại Thông thường, đứng từ góc độ tác giả luận án thì đối tượng so sánh lý tưởng nhất là thơ ca của các nữ thi nhân Việt Nam đồng đại Tuy nhiên, do ở Việt Nam thời kỳ này chưa có tác phẩm thơ ca
Trang 16tương đồng để so sánh với thơ ca của các nữ tác gia trong TĐT nên tác giả đã lựa chọn thơ ca của các nữ tác gia Nhật Bản trong Manyoshu (sau đây được viết tắt là MYS) làm đối tượng so sánh MYS là bộ tổng tập thi ca lớn nhất trong lịch sử văn
học cổ đại Nhật Bản, có đóng góp không kém phần quan trọng trong kho tàng văn học Đông Á nói chung Bên cạnh đó, số lượng nữ thi nhân và thi phẩm trong hai bộ thi tuyển này cũng chênh lệch không nhiều Qua việc so sánh đối chiếu hai bộ thi tuyển, chúng tôi hy vọng sẽ làm nổi bật những giá trị của thơ ca của các nữ tác gia
trong TĐT và tìm hiểu về mối quan hệ tiếp biến giữa hai nền văn học Trung Quốc
và Nhật Bản được thể hiện trong thi phẩm của các nhà thơ nữ Mặt khác, những kết quả nghiên cứu so sánh còn có giá trị gợi mở về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đối với văn học nữ của Việt Nam, dù là văn học của các giai đoạn sau
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm sáng rõ những đặc điểm của thơ ca do các nữ thi
nhân sáng tác trong TĐT trên hai phương diện chủ thể sáng tạo và nội dung thi
phẩm, đồng thời đặt những đặc trưng ấy trong bối cảnh văn hoá, xã hội đương thời
để lý giải và đánh giá đóng góp của các tác giả cũng như vị trí của thơ ca do nữ giới sáng tác trong bối cảnh đương thời, từ đó đem lại một cái nhìn toàn diện hơn về thơ
ca thời Đường Bên cạnh đó, qua so sánh, đối chiếu thơ ca do nữ giới sáng tác trong
TĐT và MYS, luận án sẽ làm sáng tỏ những giá trị phổ biến (toàn nhân loại, vượt
thời gian) và đặc thù (dân tộc, thời đại) trong thơ ca của các nữ thi nhân Trung
Quốc thời Đường - Ngũ đại
Để thực hiện mục đích trên, luận án sẽ triển khai các nhiệm vụ sau: (1) Làm
rõ sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ thi nhân trong TĐT trong bối cảnh xã
hội thời Đường - Ngũ đại; (2) Khảo cứu nội dung cơ bản và đặc trưng trong thơ ca
của các nữ tác gia trong TĐT với trọng tâm là trải nghiệm nhân sinh của người phụ
nữ đương thời; (3) So sánh thơ ca của các nữ tác gia trong TĐT và MYS để làm nổi
bật nét tương đồng và khác biệt, từ đó chỉ ra những giá trị phổ biến (toàn nhân loại, vượt thời gian) và đặc thù (dân tộc, thời đại) trong thơ ca của các nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại
Trang 173 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng, luận án nghiên cứu thơ ca của các nữ thi nhân trong TĐT và MYS Trong đó, thơ ca của các nữ thi nhân trong TĐT là đối tượng nghiên cứu chính, thơ ca của các nữ thi nhân trong MYS là đối tượng nghiên cứu phụ mang tính
đối chiếu, làm nổi bật các đặc điểm phổ biến và đặc thù của thơ ca nữ giới trong
TĐT
Về phạm vi văn bản, luận án sẽ khảo sát trên cơ sở bộ TĐT do nhóm Tào
Dần thời Thanh biên soạn (Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1960), kết hợp đối chiếu
với Hiệu đính và chú thích TĐT do Trần Di Hân chủ biên (NXB Văn hóa Nghệ thuật, Thượng Hải, 2007) và TĐT bổ biên do Trần Thượng Quân biên soạn (Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1992); và công trình Hiệu đính, chú thích MYS do
Nakanishi Susumu thực hiện (Kodansha, Tokyo, 1987), kết hợp đối chiếu với bản điện tử của Trường Đại học Virginia, Hoa Kỳ
Về phạm vi không gian và thời gian, khoảng thời gian mà luận án nghiên cứu
là thời Đường - Ngũ đại ở Trung Quốc (618 - 960) ở Trung Quốc và thời Asuka -
Nara ở Nhật Bản (592 - 794), thời đại đã sản sinh ra những nhà thơ nữ trong TĐT
và MYS Không gian nghiên cứu của luận án là lãnh thổ Trung Quốc và lãnh thổ Nhật Bản trong hai thời kỳ tương ứng, nơi các nhà thơ nữ trong TĐT và MYS sống
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Tuy đối tượng nghiên cứu của luận án là thơ ca của các nữ thi nhân trong
TĐT và so sánh với MYS, song xuất phát từ đặc điểm của chuyên ngành Trung
Quốc học theo định hướng khu vực học, nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành, kết hợp một số phương pháp chuyên ngành truyền thống của một
số lĩnh vực liên quan đến đề tài luận án, như văn học, sử học, xã hội học (đặc biệt là nghiên cứu giới - gender studies), nhằm chỉ ra đặc trưng và giá trị của thơ ca do nữ
giới sáng tác trong TĐT Phương pháp liên ngành này đóng vai trò chủ đạo và nâng
cao hiệu quả của phương pháp chuyên ngành đơn lẻ
Trước hết, tác giả lựa chọn phương pháp logic, lịch đại và so sánh đồng đại
Trang 18của nghiên cứu lịch sử Cụ thể, luận án sử dụng phương pháp logic, lịch đại khi phân tích các sự kiện theo trình tự thời gian lịch sử Phương pháp so sánh đồng đại được áp dụng nhằm chỉ ra đặc điểm hình thành, phát triển của đội ngũ tác gia và trải
nghiệm nhân sinh của người phụ nữ thể hiện qua TĐT và MYS trong bối cảnh xã hội
đương thời
Bên cạnh đó, luận án sử dụng phương pháp loại hình học tác giả của nghiên cứu văn học kết hợp với phương pháp khảo cứu bối cảnh và đặc điểm giới của xã hội học Phương pháp loại hình học tác giả của văn học được áp dụng nhằm phân
tích bốn nhóm nữ tác gia cụ thể xuất hiện trong TĐT và MYS (phụ nữ cung đình,
phụ nữ gia đình, kỹ nữ - du nữ và nữ quan - ni cô) với thành phần xuất thân đa
dạng Việc đặt các nữ tác giả trong TĐT trong bối cảnh xã hội nói chung và trong
đặc điểm của từng nhóm với nền giáo dục mà họ nhận được, giúp luận án chỉ ra
“trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ” Chúng tôi đặc biệt chú ý đến lý thuyết nghiên cứu về giới với tư tưởng chủ đạo: phân tích và đánh giá thơ ca phụ nữ trong bối cảnh văn hoá ứng xử giới đương thời, nơi các tác giả nữ và hình tượng nhân vật
nữ trong thơ phải chịu đồng thời hai tầng áp bức (giai cấp và giới tính) của chế độ quân chủ và nam quyền mang nặng tính bất bình đẳng tồn tại phổ biến trong lịch sử nhân loại
Mặt khác, tuy không thuộc chuyên ngành văn học so sánh, luận án cũng sử dụng lý luận của bộ môn này ở một mức độ nhất định nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi sẽ nghiên cứu song song hai nhóm thi phẩm của các
nữ thi nhân trong TĐT và MYS để chỉ ra những nét đặc trưng, những giá trị phổ biến
và đặc thù của thơ nữ trong TĐT, thay vì nghiên cứu ảnh hưởng của thơ nữ trong TĐT đến thơ nữ trong MYS, một hướng đi rất được quan tâm và đã đạt được một số
thành quả nhất định trên cơ sở khảo sát thơ ca của các nhà thơ nam giới song lại không có cơ sở khi áp dụng vào trường hợp thi phẩm của đội ngũ nữ thi nhân trong hai bộ tổng tập thơ ca
Bên cạnh các phương pháp định tính nêu trên, luận án còn mạnh dạn áp dụng phương pháp định lượng nhằm nâng cao tính thuyết phục cho các luận điểm của tác
Trang 19giả về đặc điểm hình thành, phát triển của đội ngũ nữ tác giả Phương pháp này giúp tránh thái độ võ đoán và nhận định mang cảm tính chung chung Tác giả áp dụng
phương pháp thống kê đối với toàn bộ 1.109 bài thơ của 251 nữ thi nhân trong TĐT
và MYS trên nhiều phương diện, như số lượng nữ thi nhân, tác phẩm, tỉ lệ các bài
thơ theo từng trải nghiệm nhân sinh
Ngoài ra, luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu trường hợp đặc thù của khu vực học khi lựa chọn phân tích sâu một số tác giả và bài thơ tiêu biểu, nhằm giúp người đọc có được hình dung cụ thể hơn về từng vấn đề được phân tích
4.2 Nguồn tư liệu
Tư liệu gốc được sử dụng trong luận án gồm: Văn bản của hai bộ tổng tập thi
ca TĐT và MYS, cùng các sử liệu gốc có liên quan đến thời Đường ở Trung Quốc và thời kỳ Asuka - Nara ở Nhật Bản, ví dụ: Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Đường luật sớ nghị, Kojiki, Nihonshoki,…
Tài liệu tham khảo gồm các nghiên cứu đi trước về thơ ca của các nữ tác gia
trong TĐT và MYS với ba phân nhóm chính: Nghiên cứu về toàn bộ thơ ca của các
nữ thi nhân trong hai bộ tổng tập thi ca; Nghiên cứu về một loại hình nữ tác gia trong hai bộ tổng tập; Nghiên cứu trường hợp một tác gia cụ thể
Các nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc thời Đường - Ngũ đại và lịch sử Nhật Bản thời kỳ Asuka - Nara cũng được tham khảo khi thực hiện luận án, đặc biệt là những công trình liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của người phụ nữ trong
xã hội đương thời
Bên cạnh đó, tác giả đã đối chiếu một số bản dịch TĐT và MYS bằng tiếng
Việt, tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật và các bộ từ điển giám thưởng thi phẩm trong hai bộ tổng tập thi ca
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam khảo sát toàn bộ 129 nữ tác gia và 687
thi phẩm của họ trong TĐT để đưa ra những đặc trưng về sự hình thành, phát triển
của đội ngũ nữ thi nhân và trải nghiệm nhân sinh của phụ nữ thời Đường - Ngũ đại được thể hiện trong những bài thơ ấy, thay vì chỉ nghiên cứu một bộ phận nhỏ thi
Trang 20phẩm đặc sắc hoặc các nữ thi nhân nổi tiếng
- Với tiền đề coi thơ ca là sự phản ánh trải nghiệm nhân sinh của các nữ tác gia, luận án là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam hệ thống được nội dung cơ bản của 687 thi phẩm thuộc phạm vi khảo sát, đồng thời làm rõ giá trị và lý giải nguyên nhân tồn tại của chúng dựa trên bối cảnh văn hoá xã hội đương thời nói chung và hoàn cảnh sống của từng tầng lớp phụ nữ, từng cá nhân tác giả nói riêng
- Luận án là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam tiến hành so sánh thơ ca của các nữ thi
nhân trong TĐT và MYS, hai bộ tổng tập thi ca lớn của Trung Quốc và Nhật Bản
thời cổ đại, từ đó chỉ ra những giá trị phổ biến (nhân loại, vượt thời gian) và đặc thù (dân tộc, thời đại) về sự hình thành, phát triển đội ngũ tác gia và trải nghiệm nhân sinh trong thơ của họ
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu: Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu
sơ lược về TĐT và MYS, sau đó tập trung làm rõ tình hình nghiên cứu thơ ca của
các nữ thi nhân trong hai bộ tổng tập thi ca theo những khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu (nghiên cứu tổng quan, nghiên cứu bộ phận, nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu so sánh), đồng thời đánh giá một số công trình nổi bật về thơ nữ trong
TĐT và MYS, từ đó khái quát những thành tựu đã đạt được, những khoảng trống còn
bỏ ngỏ và khả năng đóng góp của luận án
Chương 2 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ nữ thi nhân trong bối cảnh thời Đường - Ngũ đại: Trong chương này, trước hết chúng tôi sẽ khái quát sơ
lược về bối cảnh thời Đường - Ngũ đại trên một vài phương diện có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của thơ Đường, đến cuộc sống của người phụ nữ và đội ngũ
nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại, coi đây là tiền đề để đi sâu nghiên cứu sự hình và
phát triển của đội ngũ nữ thi nhân trong TĐT Tiếp đến, áp dụng phương pháp loại
hình học và liên ngành, chúng tôi sẽ làm rõ hoàn cảnh sống của bốn nhóm phụ nữ thời Đường - Ngũ đại, tương ứng với bốn loại hình nữ tác giả, để hiểu được nền tảng văn hoá góp phần hình thành năng lực sáng tác cũng như bối cảnh đời sống đã
Trang 21kích thích nữ giới làm thơ và ảnh hưởng đến nội dung thi phẩm của họ Bên cạnh
đó, chúng tôi cũng sẽ khái quát tình hình sáng tác của các nữ thi nhân trong TĐT
thông qua việc thống kê số lượng nữ tác gia và thi phẩm nói chung và của từng loại hình nữ tác giả nói riêng, đồng thời tiến hành phân kỳ và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi về đội ngũ sáng tác trong các giai đoạn đó dựa vào bối cảnh văn hoá, xã hội đương thời Ngoài ra, ở phần đầu của chương này, chúng tôi còn khái quát sơ lược bối cảnh thời Đường - Ngũ đại trên một số phương diện có ảnh hưởng mật thiết đến sự phát triển của thơ Đường nói chung và sự hình thành đội ngũ nữ thi nhân trong TĐT nói riêng để làm sáng rõ thêm nội dung được nghiên cứu
Chương 3 Trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ trong thơ ca các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi: Trong chương này, áp dụng phương pháp loại hình
học, liên ngành và so sánh, chúng tôi sẽ khảo sát toàn bộ thi phẩm do các nhà thơ
nữ sáng tác trong TĐT, từ đó hệ thống hoá nội dung của chúng với trọng tâm là
những trải nghiệm nhân sinh của bốn tầng lớp phụ nữ thời Đường - Ngũ đại, đồng thời đặt những trải nghiệm này trong bối cảnh văn hoá, xã hội đương thời để lý giải
sự tồn tại của chúng, đánh giá đóng góp của đội ngũ nữ tác giả và vị trí của thơ ca phụ nữ
Chương 4 So sánh thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi và Manyoshu: Trong chương này, áp dụng phương pháp so sánh và liên ngành, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh thơ ca do nữ giới sáng tác trong TĐT và MYS để chỉ ra và lý
giải sự tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng, từ đó làm nổi bật những giá trị phổ biến (toàn nhân loại, vượt thời gian) và đặc thù (dân tộc, thời đại) trong thơ ca của các nữ thi nhân Trung Quốc thời Đường - Ngũ đại
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi
1.1.1 Khái lược về Toàn Đường Thi và tình hình nghiên cứu thơ Đường tại
Việt Nam
TĐT là bộ tổng tập thi ca do nhóm Tào Dần, Bành Định Cầu phụng mệnh
hoàng đế Khang Hy triều Thanh tiến hành biên soạn Trên cơ sở kế thừa thành quả sưu tầm thơ Đường và biên soạn tuyển tập do các học giả đời trước thực hiện, trong
đó chủ yếu là Đường âm thống thiêm của Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645) thời Minh
và Đường thi của Quý Chấn Nghi (1630 - 1674) thời Thanh, quá trình biên soạn TĐT đã diễn ra khá nhanh Chỉ trong vòng hơn một năm (từ 5/1704 đến 10/1705),
bộ sách này đã được hoàn thành với quy mô lên đến 900 quyển [13, 110-111], gồm
48.900 thi phẩm của hơn 2.200 nhà thơ [119, 346] Xét về cấu trúc, TĐT được triển
khai theo từng nhóm tác giả dựa trên nghề nghiệp, địa vị xã hội tương đối đồng nhất như đế vương, hậu phi, quan lại, văn nhân sĩ phu, phụ nữ khuê các, tăng, đạo sĩ Ngoài ra, còn có những cụm thơ mang tính thể loại như nhạc chương, nhạc phủ, ca, ngữ, dao, tửu lệnh, chiêm từ Nhìn chung, tiểu sử và trước tác của các nhà thơ được trình bày tương đối độc lập, hết tác giả này mới chuyển sang tác giả khác, ví dụ: Đường Thái Tông (quyển 1); Đường Cao Tông, Đường Trung Tông, Đường Duệ Tông (quyển 2)… Điều này tạo thuận lợi cho việc thưởng thức hoặc nghiên cứu thi phẩm của từng nhà thơ cụ thể
Là một nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá Trung Quốc nói chung
và văn học Trung Quốc nói riêng, Việt Nam đã tiếp xúc và tiếp nhận thơ Đường1tương đối sớm Ngay từ thời Đường, đã có một số nhà thơ Trung Quốc đến và sáng tác thơ ca tại Việt Nam (khi đó là Giao Châu - An Nam), điển hình là Thẩm Thuyên
Kỳ với các thi phẩm Sơ đạt Hoan Châu, Độ An Hải nhập Long Biên, Nhập Quỷ
1 Tại Việt Nam, khái niệm "thơ Đường" có thể được hiểu theo hai nghĩa: Một là thơ ca do các thi nhân Trung Quốc sống vào thời Đường (đôi khi bao gồm cả thời Ngũ đại - Thập Quốc) sáng tác, được thu thập trong
Toàn Đường Thi; Hai là thơ viết theo thể Đường luật của các tác giả Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều
Tiên, không có giới hạn về thời đại (ví dụ: thơ Đường Đông Mỹ, thơ Đường Nam Định ) Trong luận án này, "thơ Đường" được chúng tôi sử dụng theo nghĩa thứ nhất
Trang 23Môn quan và Cao Biền với các thi phẩm Phó An Nam khước ký đài ty, An Nam tống Tào Biệt Sắc quy triều Tiếp đó, trong suốt kỷ nguyên phong kiến độc lập, các nhà
thơ Việt Nam không chỉ đọc và bình luận thơ của các thi nhân thời Đường và thơ Đường luật của các nhà thơ thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh mà còn nắm vững phép làm thơ Đường luật để cho ra đời không ít thi phẩm Đến thời hiện đại, tuy thơ Đường luật không còn giữ được vị thế như trước trong nền văn học Việt Nam, song hoạt động nghiên cứu thơ Đường dưới ánh sáng phương pháp luận phương Tây vẫn được tiếp tục với không ít thành tựu Theo quan sát của chúng tôi, các công trình nghiên cứu về thơ Đường của Việt Nam hiện có thể chia làm 3 khuynh hướng: (1) Nghiên cứu khái quát về thơ Đường: Nghiên cứu khái quát về thơ Đường ở Việt
Nam có số lượng không nhiều Ngoài chuyên khảo Diện mạo thơ Đường (Lê Đức
Niệm, 1995) [19], đa phần chỉ là một chương trong các công trình văn học sử hoặc
là phần mở đầu trong các tuyển tập biên dịch thơ Đường sang tiếng Việt Trong đó, các nhà nghiên cứu (hay dịch giả) thường trình bày khái quát về lịch sử thời Đường với trọng tâm là những nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của thơ Đường luật và sự thịnh vượng của thơ ca đương thời, về tiến trình phát triển của thơ Đường với các giai đoạn Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường và Vãn Đường, về những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật của thơ Đường, về một số gương mặt tiêu biểu như Lý Bạch hay Đỗ Phủ và về luật thơ Tuy nhiên, do tính chất giới thiệu là chính nên khuynh hướng này ít khi đem lại những phát hiện và nhận thức mới của nhà nghiên cứu mà thường được dựa trên hiểu biết thông thường hoặc sử dụng thành quả nghiên cứu của học giả nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc)
(2) Nghiên cứu một bộ phận thi phẩm hoặc một khía cạnh của thơ Đường: Đây là nhóm có số lượng lớn nhất và chiếm địa vị chủ đạo trong nghiên cứu thơ Đường ở Việt Nam Việc phân chia thơ Đường thành các bộ phận khác nhau thường được căn cứ vào nội dung thi phẩm như thơ điền viên, thơ biên tái, thơ vịnh vật, thơ du tiên trong khi việc lựa chọn các khía cạnh lại thường căn cứ vào các yếu tố nghệ
thuật (thi pháp) Điển hình cho nhóm thứ nhất là các công trình như: Thơ khuê phụ đời Đường (Lương Huyền Thanh, 2014) [25]; Thơ điền viên đời Đường (Đỗ Thị Hà
Trang 24Giang, 2014) [11]; Thơ du tiên đời Đường (Nguyễn Thị Tuyết, 2017) [32]; Trong khi đó, các công trình đại diện cho nhóm thứ hai có thể kể đến: Thi pháp thơ Đường (Nguyễn Thị Bích Hải, 1995) [12], Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường (Nguyễn Sĩ Đại, 1995) [8], Về thi pháp thơ Đường (Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử, 1997) [22], Thi pháp thơ Đường (Nguyễn Đình Phức, 2013) [24], "Thử
tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường" (Nhữ Thành, 1982) [26], "Sự tiếp biến ngôn ngữ thiền Phật giáo trong thơ Đường" (Đinh Vũ Thuỳ Trang, 2009) [28], "Về tư duy nghệ thuật của thơ Đường" (Trần Lê Bảo, 2009) [2] Điểm đáng chú ý là, tuy các công trình thuộc khuynh hướng này đa phần chỉ khảo sát một phạm vi văn bản tương đối hạn chế (cụ thể là các bản dịch thơ Đường bằng tiếng Việt, vốn không
bao gồm toàn bộ 48.900 bài thơ trong TĐT mà chỉ giới hạn từ vài trăm đến hơn
1.000 bài) song do áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại của phương Tây, thay vì phương pháp phê điểm, bình điểm thời cổ đại, chúng vẫn có những đóng góp nhất định khi đem lại nhiều kiến giải mới về thơ Đường trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật
(3) Nghiên cứu thi phẩm của một tác gia cụ thể: Đây cũng là một khuynh hướng được nhiều học giả Việt Nam quan tâm Tuy nhiên, do hạn chế của nguồn thi phẩm làm tư liệu khảo sát và nhận thức về vai trò của các thi nhân trong lịch sử văn học Trung Quốc nói chung và tiến trình phát triển của thơ Đường nói riêng, các công trình thuộc khuynh hướng này mới chỉ tập trung khảo sát một số nhà thơ lớn như Lý
Bạch và Đỗ Phủ, ví dụ: Thơ Đỗ Phủ (Trần Xuân Đề, 1975) [9], Đỗ Phủ nhà thơ dân đen (Phan Ngọc, 1990) [21], Thơ tứ tuyệt Lý Bạch - phong cách và thể loại (Phạm Hải Anh, 1996) [1], Thi pháp thơ Lý Bạch một số phương diện chủ yếu (Trần Trung
Hỷ, 2002) [16] Các nhà thơ ít tên tuổi với số lượng trước tác khiêm tốn chưa được coi là đối tượng cần lưu tâm nghiên cứu
Nhìn chung, nghiên cứu về thơ Đường tuy không chiếm địa vị chủ đạo trong lĩnh vực nghiên cứu văn học nước ngoài tại Việt Nam song cũng khá đa dạng, phong phú với số lượng không nhỏ Tuy nhiên, liên quan trực tiếp đến đề tài luận
án, chúng tôi nhận thấy tại Việt Nam bộ phận thơ ca do nữ giới sáng tác vẫn chưa
Trang 25được chú ý khi chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về mảng thơ này Công trình duy nhất đề cập đến các bài thơ do phụ nữ thời Đường sáng tác là luận án tiến
sĩ Thơ khuê phụ đời Đường của Lương Huyền Thanh (2014) [25] Trong nghiên
cứu của mình, tác giả đã khảo sát một số bài thơ viết về trải nghiệm tình yêu của người phụ nữ do các nhà thơ nữ thời Đường sáng tác với tư cách là một bộ phận nhỏ trong tổng thể mảng thơ khuê phụ thời Đường (bao gồm cả thơ khuê phụ do nam giới và nữ giới sáng tác) Tuy nhiên, do chủ đích của tác giả là hình tượng người khuê phụ trong các bài thơ thuộc mảng chủ đề này nên bộ phận thơ do nữ giới sáng tác không được khảo sát một cách toàn diện và sâu sắc Mặt khác, do
thiếu thông tin về lực lượng tác giả nữ trong TĐT cũng như những hạn chế trong
việc dịch thi phẩm của họ sang tiếng Việt nên việc ứng dụng góc độ giới - một hướng đi mới mẻ và đã đạt được một số thành tựu nhất định trong nghiên cứu tác phẩm của các nhà văn nữ hiện đại và đương đại - vào nghiên cứu mảng thi phẩm cổ điển này cũng chưa được giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam đề ra và thực hiện Chính vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu thơ ca của các nữ thi nhân thời Đường -
Ngũ đại trong TĐT với hướng tiếp cận giới sẽ góp phần lấp khoảng trống trong
nghiên cứu thơ nữ thời Đường - Ngũ đại nói riêng và thơ nữ cổ điển Trung Quốc nói chung tại Việt Nam
1.1.2 Vị trí của thơ nữ trong Toàn Đường Thi và tình hình nghiên cứu thơ ca của các nữ thi nhân trong Toàn Đường Thi trên thế giới
Trong TĐT, thơ ca của các nhà thơ nữ thời Đường - Ngũ đại chủ yếu tập
trung trong các quyển 5, 7, 9, 797, 798, 799, 800, 801, 802, 803, 804 và 805, ngoài
ra còn có một lượng nhỏ thuộc quyển 12, 13, 15, 888 và phần bổ di Trong đó, các quyển 5, 7, 9, 797, 798 sưu tập thơ của phụ nữ cung đình; các quyển 799, 800, 801 ghi lại thơ của phụ nữ gia đình; quyển 802 và 803 là thơ của kỹ nữ; quyển 804 và
805 là thơ được viết bởi các nữ quan, ni cô
Bàn về mảng trước tác này, trước hết, phải khẳng định rằng nghiên cứu thơ
ca của các nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại được giới phê bình Trung Quốc tiến
hành từ rất sớm, tiêu biểu là Chung Tinh thời Minh với tác phẩm Danh viện thi quy
Trang 26[52] Tuy nhiên, do đặc trưng của phương pháp phê điểm, bình điểm thời cổ đại, các công trình này không tập trung tìm hiểu đặc điểm tổng quát về nội dung của thơ nữ, cũng không đi sâu vào sự hình thành đội ngũ tác giả, mà đạt thành tựu chủ yếu trên phương diện chú giải câu chữ và bình luận cách dùng từ ngữ, biện pháp nghệ thuật của từng thi phẩm cụ thể Phải đến thời hiện đại, công tác nghiên cứu thơ ca của các
nữ tác gia trong TĐT từ góc nhìn hệ thống mới bắt đầu được thực hiện với sự tham
gia của cả giới học giả Trung Quốc và quốc tế Hiện nay, đã có khá nhiều nghiên cứu về thơ ca của các nhà thơ nữ thời Đường - Ngũ đại được tiến hành công phu, bao gồm cả sách chuyên khảo, luận văn và bài báo khoa học với 3 khuynh hướng chính là tổng quan, bộ phận và trường hợp Dưới đây, chúng tôi sẽ tiến hành khảo
sát tình hình nghiên cứu thơ nữ trong TĐT trên 3 khuynh hướng này, đồng thời đi
sâu phân tích một số công trình tiêu biểu cho từng khuynh hướng
1.1.2.1 Khuynh hướng nghiên cứu tổng quan
Khái niệm “nghiên cứu tổng quan” được chúng tôi sử dụng ở đây chỉ các
nghiên cứu khảo sát toàn bộ các nữ thi nhân xuất hiện trong TĐT, dù nhà nghiên
cứu không phải bao giờ cũng thống kê được một cách đầy đủ số tác gia nữ và lượng thi phẩm của họ, đồng thời triển khai khảo sát cặn kẽ từng tác gia, từng thi phẩm trong số này Nếu đánh giá dựa trên hình thức công bố của các nghiên cứu hữu quan, có thể thấy do dung lượng hạn chế, các công trình thuộc loại bài báo khoa học mới chỉ đơn thuần nêu lên vấn đề và điểm qua một số nét rất sơ lược như đội ngũ sáng tác đông đảo, số lượng tác phẩm lớn và các tác giả nổi bật như Tiết Đào và Ngư Huyền Cơ, chưa có những phân tích đầy đủ về đặc trưng nội dung và hình thức của thơ ca phụ nữ thời Đường Trong khi đó, thông qua việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu văn học của phương Tây, các công trình thuộc loại sách chuyên khảo và luận văn đã trình bày và phân tích cụ thể nhiều khía cạnh của thơ ca phụ nữ thời Đường Điểm đáng chú ý là việc sử dụng phổ biến và hiệu quả phương pháp loại hình học tác giả văn học để phân loại và đánh giá các đặc trưng thơ ca của các tầng lớp phụ nữ trong xã hội thời Đường, gồm: phụ nữ cung đình, phụ nữ gia đình,
nữ quan và kỹ nữ Sau đây là một số công trình tiêu biểu cho khuynh hướng này:
Trang 27(1) Tác phẩm đầu tiên nghiên cứu thơ ca của các nữ tác gia trong TĐT là Các nữ thi nhân thời Đường (Thần Châu Quốc Quang xã, 1931) [79] của học giả Lục Tinh
Thanh2 thời cận đại Nét đặc sắc của cuốn sách là đã tiến hành phân kỳ được 2 giai đoạn phát triển của thơ ca phụ nữ thời Đường với giai đoạn Sơ - Thịnh Đường thuộc về các phụ nữ cung đình và giai đoạn Trung - Vãn Đường thuộc về các phụ
nữ gia đình, nữ quan và kỹ nữ Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số kiến giải
sơ lược về nguyên nhân tạo nên sự chuyển biến đội ngũ nữ tác gia trong hai giai đoạn này Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu đặc điểm nội dung của thi phẩm, Lục Tinh Thanh chỉ lựa chọn phân tích sâu về 3 nhà thơ đại diện cho từng loại hình tác gia: Thượng Quan Uyển Nhi đại diện cho phụ nữ cung đình, Ngư Huyền Cơ đại diện cho nữ quan, Tiết Đào đại diện cho kỹ nữ Đối với các nhà thơ khác, học giả
này chỉ giới thiệu sơ lược về tiểu sử và trích lại một số thi phẩm Vì vậy, Các nữ thi nhân thời Đường mới dừng lại ở một cuốn sách khơi nguồn, gợi mở Các nhà
nghiên cứu sau này cần tiến hành áp dụng các lí thuyết nghiên cứu văn học để đào sâu hơn về đề tài
(2) So với Các nữ thi nhân thời Đường của Lục Tinh Thanh, chuyên khảo Nghiên cứu nữ thi nhân thời Đường (Học viện Văn hoá Trung Quốc, 1978) [128] của
Trương Huệ Quyên3 có thể xem là bước chuyển mình đầu tiên về phương pháp nghiên cứu Mặc dù vẫn dành một dung lượng lớn của chuyên khảo để trình bày tiểu sử và liệt kê trước tác của toàn bộ 106 nữ thi nhân, song trong chương cuối, tác giả đã bắt đầu tiến hành khái quát hoá một số đặc trưng về nội dung và hình thức của mảng thi phẩm này Cụ thể, trên phương diện nội dung, Trương Huệ Quyên đã nêu lên được một số chủ đề chính trong thơ ca phụ nữ thời Đường, gồm cung oán, khuê tình, vịnh vật, biên tái, dân tục, tụng tán và tả cảnh Tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở mức chỉ điểm và liệt kê một vài ví dụ, chưa có những phân tích sâu đối với những tác phẩm cụ thể, đồng thời cũng chưa lý giải được sự tồn tại của các đề tài trong mối liên hệ với bối cảnh văn hoá - xã hội đương thời và đánh giá ý nghĩa của các chủ đề đó Trong khi đó, trên phương diện nghệ thuật, với hướng triển khai
2 Lục Tinh Thanh (1907-1993): Giảng viên Trường Sư phạm nữ sinh Bắc Kinh
3 Trương Huệ Quyên: Tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Văn hoá Trung Quốc (Đài Loan) (1978)
Trang 28thiên về mặt ngôn ngữ học, tác giả đưa ra 3 luận điểm chính: (1) Thơ của phụ nữ không có độ sâu rộng, hùng hồn như thơ của các nhà thơ nam, ngược lại có phần nông cạn, thô thiển; (2) Các nhà thơ nữ thường sử dụng phép song quan ngữ, phép nối đuôi, phép hồi văn, phép đối và điển cố; (3) Thể thơ hoàn bị, trong đó các thể thơ ngắn như thất ngôn tuyệt cú và ngũ ngôn tuyệt cú chiếm ưu thế Có thể thấy, nhận xét như vậy có những điểm chính xác song đôi khi khá phiến diện khi quy chụp thơ ca của các nữ thi nhân nông cạn và thô thiển hơn thơ ca của các nhà thơ nam Mặt khác, do các nhà thơ nam cũng sử dụng các biện pháp tu từ và thể thơ với khuynh hướng tương tự nên những khái quát của tác giả không thể hiện hết được những đặc trưng mang tính văn hoá - xã hội của thơ ca phụ nữ thời Đường Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, tuy đã chú ý đến đời sống của phụ nữ thời Đường - Ngũ đại như một bối cảnh phát triển của thơ ca phụ nữ song Trương Huệ Quyên mới chỉ dừng ở mứ độ trình bày, mô tả mà chưa kết nối được các thông tin ấy với
sự hình thành và phát triển của đội ngũ sáng tác
(3) Với dung lượng 343 trang, chuyên khảo Nghiên cứu chốn màn khuê - Các nữ thi nhân thời Đường (NXB Văn nghệ Hồ Nam, 1991) [114] của Tô Giả Thông4 có thể coi là nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về thơ ca phụ nữ thời Đường tính đến thời điểm hiện tại Áp dụng hai phương pháp văn hoá học và loại hình học, Tô Giả Thông đã phân các nữ thi nhân thời Đường thành 12 loại, gồm: hoàng đế - hoàng hậu - công chúa, phi tần, phụ nữ cung đình, cung nữ, phụ nữ quan lại, cơ thiếp, phụ nữ bị bỏ rơi, phụ nữ nhớ chồng, phụ nữ có chồng là thương nhân, phụ nữ có chồng đi lính,
kỹ nữ, nữ quan - ni cô và dành hai chương để nghiên cứu riêng trường hợp của Tiết Đào và Ngư Huyền Cơ, đồng thời phân tích hoàn cảnh sống của từng nhóm để đối chiếu với đặc điểm thơ ca của họ Đây là một cách tiếp cận khá hay và chi tiết, cho thấy tác giả đã dụng công đào sâu nghiên cứu đề tài của mình, dù xét về tiêu chí phân loại có một số điểm chưa thực sự rõ ràng, ví dụ: nhóm phụ nữ bị bỏ rơi nhấn mạnh đến tình trạng hôn nhân; nhóm phụ nữ nhớ chồng nhấn mạnh đến trạng thái cảm xúc; nhóm cơ thiếp nhấn mạnh đến địa vị trong hôn nhân; Mặt khác, trong
4 Tô Giả Thông (1932-): Giáo sư tại Đại học Vũ Hán, chủ tịch Hội Nghiên cứu Đỗ Phủ Trung Quốc, chủ tịch Hội Thi từ học Hồ Bắc
Trang 29từng chương, do Tô Giả Thông đi theo hướng phân tích thi phẩm của từng nữ tác giả nên người đọc cần phải tự tổng kết đặc trưng thơ ca của từng kiểu phụ nữ nếu muốn có được một cái nhìn mang tính khái quát Bên cạnh đó, mặc dù nghiên cứu theo từng tác gia và chú ý bổ sung thêm một số tác gia - tác phẩm không xuất hiện
trong TĐT như Tô thị chức cẩm hồi văn ký của Võ Tắc Thiên, Tô Giả Thông vẫn bỏ
qua 59 bài giao miếu ca từ của Võ Tắc Thiên và Vi hoàng hậu được ghi lại trong
TĐT, một mảng thơ rất có giá trị trong tổng thể thơ ca phụ nữ thời Đường
(4) Với dung lượng 320 trang, chuyên khảo Bích ngọc hồng tiên tả tự tuỳ - Tổng luận về thơ ca của phụ nữ thời Đường (Tú Uy tư tấn, 2004) [91] của Nghiêm Kỷ
Hoa5 là một công trình dầy dặn không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu thơ ca
các nữ tác gia trong TĐT Áp dụng phương pháp văn hoá học và loại hình học,
trong chương 1, Nghiêm Kỷ Hoa trình bày tình hình phát triển của thơ Đường và hoàn cảnh sống của người phụ nữ thời Đường, coi đây là nhân tố quan trọng ảnh hướng đến sự phát triển và các đặc điểm của thơ ca phụ nữ, còn trong 5 chương sau, tác giả tập trung khảo sát thơ ca của các nữ tác gia thời Đường theo 5 loại hình nữ tác gia: Phụ nữ cung đình, phụ nữ khuê các, nữ quan và ni cô, kỹ nữ, thần nữ - ma
nữ - tiên nữ So với cách phân loại của Tô Giả Thông, cách phân loại của Nghiêm
Kỷ Hoa có xu hướng khái quát hơn (5 so với 12 loại hình nữ thi nhân) và có sự bổ sung loại hình thần nữ - ma nữ - tiên nữ Tuy nhiên trong quá trình triển khai cụ thể
ở từng chương, tác giả vẫn phân tích thơ ca của từng tác gia cụ thể mà thiếu đi một cái nhìn tổng quát đối với thơ ca của từng nhóm nữ tác gia, bao gồm cả đội ngũ sáng tác, tiến trình phát triển, bối cảnh sống và đặc trưng nội dung thi phẩm Mặt khác, có thể thấy, dù đưa ra bảng thống kê được 127 nữ thi nhân xuất hiện trong các
quyển 5, 7, 9, 797-805 của TĐT song trong quá trình triển khai theo hướng chi tiết
đến từng tác gia, tác giả vẫn chưa khai thác hết thi phẩm của toàn bộ các nhà thơ,
mà chỉ tập trung khảo sát đặc trưng nội dung và nghệ thuật trong trước tác của một
số nữ thi nhân nổi bật như Tiết Đào, Ngư Huyền Cơ Đối với với các tác gia còn lại, học giả này đôi khi chỉ thuật lại tiểu sử và trích thơ của thi nhân, không có những
5 Nghiêm Kỷ Hoa: Tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Văn hoá Trung Quốc (Đài Loan), hiện là phó giáo sư tại Đại học Văn hoá Trung Quốc (Đài Loan)
Trang 30phân tích hay bình luận cụ thể
(5) Áp dụng kết hợp phương pháp văn hoá học và thi pháp học của phương Tây,
luận án tiến sĩ Nghiên cứu thơ ca nữ tính thời Đường (Đại học Chiết Giang, 2005)
[66] của Du Thế Phần6 có hướng triển khai khá độc đáo Cụ thể, trên phương diện nội dung, tác giả tập trung đi sâu phân tích hai nhóm chủ đề: (1) Đề tài có tính xã hội, thể hiện giá trị của người phụ nữ; (2) Đề tài về sự áp bức giới tính xuất phát từ nền tảng luân lý Có thể thấy, cách lựa chọn này khá hữu hiệu trong việc khái quát hoá hình tượng phụ nữ thời Đường Song cũng chính do nghiên cứu theo hướng chọn lọc thay vì nghiên cứu toàn thể, chúng ta sẽ không thể nắm bắt được một cách
đầy đủ các nội dung của thơ ca phụ nữ trong TĐT Trên phương diện nghệ thuật, Du
Thế Phần nghiên cứu không gian nghệ thuật dưới hai chiều cạnh: không gian hiện thực (không gian xã hội) và không gian sinh hoạt và thời gian nghệ thuật theo hai hướng: hướng về quá khứ và hướng về tương lai, đồng thời lý giải nội hàm văn hoá
và giá trị nghệ thuật của từng kiểu không gian, thời gian Đây có thể xem là một sáng tạo của Du Thế Phần khi vận dụng một cách tiếp cận riêng so với các nghiên cứu cùng chủ đề, mặc dù thi pháp học không phải quá mới mẻ Cũng cần chú ý rằng, phạm vi nghiên cứu của Du Thế Phần không chỉ giới hạn trong phạm vi thơ ca
do các nhà thơ nữ sáng tác mà còn bao gồm cả thi phẩm do các nhà thơ nam giới viết về phụ nữ Vì vậy, những kết quả mà tác giả đưa ra đều là sự khái quát từ cả hai
bộ phận tác phẩm nêu trên, không đại diện riêng cho người phụ nữ thời Đường Nếu
muốn hiểu được thơ ca của các nữ tác gia trong TĐT dựa trên tác phẩm này, người
Trang 31bản học đã khảo cứu chi tiết việc thu thập thơ ca của phụ nữ thời Đường - Ngũ đại trong các bộ thi tuyển cổ của Trung Quốc suốt từ thời Đường đến thời Thanh được
tập hợp trong Tứ khố toàn thư, ví dụ: Trung hưng gian khí tập, Đường âm thập tứ quyển, Danh viện thi quy,… Phần thứ hai đi theo hướng phân kỳ lịch đại, tiến hành
thống kê và chia lịch sử nghiên cứu thơ ca phụ nữ thời Đường - Ngũ đại thành 3 giai đoạn lớn Đây có thể xem là đóng góp quan trọng nhất của luận án này so với các công trình cùng loại Cuối cùng, trong phần thứ ba, cũng là phần quan trọng nhất của công trình, với hướng tiếp cận văn học sử và loại hình học tác giả văn học, tác giả đã phân chia 95 nữ thi nhân trong phạm vi khảo sát của mình vào 6 khoảng thời gian, tương ứng với các giai đoạn Sơ Đường, Thịnh Đường, Đại Lịch, Trung Đường, Vãn Đường, Ngũ đại, mỗi giai đoạn lại tiếp tục chia thành các nhóm nữ tác giả như cung đình, quan lại, bình dân, kỹ nữ, nữ quan để tiến hành phân tích Tác giả cũng đã bước đầu chỉ ra sự biến đổi trong đội ngũ nữ thi nhân giữa các giai đoạn Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, Quách Hải Văn vẫn đi theo lối mòn diễn giải tiểu sử và bình giá trước tác của từng nữ thi nhân nên vẫn chưa làm bật lên được các đặc trưng của thơ ca phụ nữ trong mỗi giai đoạn Vấn đề nội dung và nghệ thuật của các thi phẩm chỉ được trình bày trong một dung lượng khá hạn chế (11 trang) Cụ thể, về nội dung, tác giả mặc dù đã bước đầu chỉ ra các đề tài gồm tế tự, ứng chế phụng hoạ, biên tái, sơn thuỷ, vịnh sử, lý tưởng chính trị, đời sống phụ nữ lao động, tình yêu, đời sống cung đình song cũng mới chỉ liệt kê một hai bài thơ có liên quan, chưa đi sâu phân tích Về hình thức, ông cũng mới dừng lại ở việc khẳng định sự hoàn bị về thể thơ và ưu thế của luật thi Các yếu tố hình thức khác chưa được đề cập đến
(7) Tuy có cách phân loại khác nhau song luận văn thạc sĩ Nghiên cứu thơ ca của các nhà thơ nữ trong thơ Đường (Đại học Phụ Nhân, 2009) [102] của Tăng Vịnh
Thi8 và Nghiên cứu các nhà thơ nữ thời Đường (Đại học Sơn Đông, 2015) [64] của
Dương Tuyết9 đều đã chỉ ra được một số nội dung quan trọng trong thơ ca của các
nhà thơ nữ trong TĐT, đồng thời phân tích, đánh giá đặc trưng và giá trị nội dung
8 Tăng Vịnh Thi: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học Phụ Nhân (Đài Loan) (2009)
9 Dương Tuyết: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học Sơn Đông (2015)
Trang 32của mảng thi phẩm này một cách tương đối thống nhất và liền mạch, thay vì cách tiếp cận theo từng tác giả như nhiều nghiên cứu khác Riêng Dương Tuyết còn chú
ý đề cập đến đặc điểm nghệ thuật của thơ ca phụ nữ trong TĐT trên 3 phương diện
cách thức biểu đạt tình cảm, cách thức lựa chọn hình tượng và tâm thái đối thoại Tuy nhiên, do phạm vi xử lý văn bản của hai nhà nghiên cứu này chỉ giới hạn trong một lượng tác giả và tác phẩm tương đối nhỏ, cách tiếp cận vấn đề lại đi theo hướng văn học truyền thống, không chú ý đến các giá trị lịch sử của văn bản văn học nên luận văn của họ vẫn chưa bao quát đầy đủ nội dung và đưa ra những đánh giá đa chiều về giá trị của thơ ca do các nữ thi nhân thời Đường sáng tác
Để có được một cái nhìn khái quát, tạo tiền đề cho việc kế thừa thành quả hoặc đi sâu nghiên cứu những khoảng trống còn bỏ ngỏ nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi xin được tóm tắt nội dung của những nghiên cứu tổng quan nêu trên trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Một số nghiên cứu tổng quan về thơ ca của các nữ tác gia trong TĐT
vi khảo sát
Nghiên cứu
về đội ngũ sáng tác
Nghiên cứu về nội dung của thi phẩm
Nghiên cứu về nghệ thuật của thi phẩm
Các nữ thi nhân thời
thống, theo từng tác giả và thi phẩm
Không đề cập
Nghiên cứu nữ thi
nhân thời Đường
105 nữ thi nhân
Không tiến hành
thành 7 nhóm, khá bao quát
Tiếp cận trên phương diện thể thơ, biện pháp tu
Sơ lược, theo
hình tác giả, không phân
kỳ
thống, theo từng tác giả và thi phẩm
Áp dụng cho từng bài thơ đơn
lẻ, thiếu tính khái quát hoá
Chi tiết, theo
hình tác giả, không phân
kỳ
thống, theo từng tác giả và thi phẩm
Chỉ áp dụng cho các tác gia lớn
Nghiên cứu thơ ca nữ Không Không tiến Hệ thống Tiếp cận trên
Trang 33tính thời Đường rõ hành thành 2 nhóm,
chưa bao quát phương không gian và diện
thời gian nghệ thuật
thành 9 nhóm, khá bao quát
Tiếp cận trên phương diện thể thơ
Nghiên cứu thơ ca
của các nhà thơ nữ
trong thơ Đường
59 nữ thi nhân
Sơ lược, theo
hình tác giả, không phân
kỳ
thành 6 nhóm, chưa bao quát
kỳ
thành 7 nhóm, khá bao quát
pháp tiếp cận thống nhất
Nguồn: Tác giả tổng hợp trên cơ sở khảo sát các công trình được nêu trong bảng Như vậy, các nghiên cứu tổng quan chưa khảo sát toàn bộ thi phẩm, đa phần chưa
đi sâu vào đội ngũ sáng tác theo từng loại hình tác giả và thường không tiến hành phân kỳ cũng như lý giải sự biến đổi về lực lượng sáng tác giữa các giai đoạn, hơn thế không đưa ra một hệ thống hoàn chỉnh để nghiên cứu nội dung thi phẩm của các
nhà thơ nữ trong TĐT với trọng tâm là trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ
1.1.2.2 Khuynh hướng nghiên cứu bộ phận
Cách tiếp cận phổ biến trong khuynh hướng nghiên cứu bộ phận thơ ca của các nữ thi nhân thời Đường - Ngũ đại là lựa chọn một loại hình nữ tác gia để đi sâu tìm hiểu, thường là phụ nữ cung đình, phụ nữ gia đình, nữ quan và kỹ nữ, thậm chí
có thể ở cấp độ chi tiết hơn như hậu phi, cung nữ, chinh phụ (vợ của người lính xa nhà), thương phụ (vợ của thương nhân), khí phụ (phụ nữ bị chồng bỏ), quan kỹ, thị kỹ,… Khác với khuynh hướng nghiên cứu tổng quan, các nghiên cứu thuộc nhóm này do có phạm vi khảo sát nhỏ hơn nên có thể triển khai tương đối hoàn chỉnh ở cả cấp độ bài báo khoa học hay sách/luận văn Tuy nhiên, do sự chênh lệch giữa về khối lượng thi phẩm, mức độ hấp dẫn của đối tượng nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về kỹ nữ, nữ quan và phụ nữ cung đình xuất hiện nhiều hơn hẳn so với
Trang 34các công trình nghiên cứu về phụ nữ gia đình Bên cạnh đó, nhờ đối tượng được khoanh vùng cụ thể nên các nghiên cứu có liên quan đều khảo sát tương đối chi tiết
về hoàn cảnh sống của các tác giả thuộc phạm vi khảo sát Sau đây, chúng tôi sẽ đi sâu đánh giá một số công trình tiêu biểu trong nghiên cứu thơ ca của phụ nữ cung đình và kỹ nữ thời Đường - Ngũ đại10:
(1) Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu sáng tác thơ ca của phụ nữ cung đình thời Đường
(Học viện Kỹ thuật công nghiệp Thiểm Tây, 2013) [130] của Trương Hồng11 là nghiên cứu khá dày dặn về mảng trước tác của phụ nữ cung đình Trong dung lượng
96 trang, trước hết tác giả đã đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh sống của tầng lớp phụ nữ này trên hai khía cạnh giáo dục và giao lưu xã hội với nguồn sử liệu dẫn chứng khá
cụ thể, chi tiết Tuy nhiên, có thể thấy hai khía cạnh này chưa bao quát hết cuộc sống vật chất và tinh thần của phụ nữ cung đình, nhất là khi bản thân khái niệm phụ
nữ cung đình đã bao gồm trong đó nhiều thành phần như hoàng đế, hậu phi, công chúa, nữ quan, cung nữ,… Tiếp đến, trong chương 2 bàn về các nội dung chính trong thơ phụ nữ cung đình, trên cơ sở khảo sát thi phẩm của 16 trên tổng số 20 nữ thi nhân cung đình thời Đường, Trương Hồng đã đưa ra một hệ thống gồm 5 nhóm
tế tự giao miếu, khuê oán u tình, tả cảnh tự tình, tặng thơ khích lệ và nghe kinh chơi núi để đi sâu phân tích các thi phẩm Dù còn một số điểm cần bàn thêm về cách phân loại nội dung và triển khai phân tích, song chúng ta cần đánh giá cao sự chú ý của tác giả đến mảng giao miếu ca từ của Võ Tắc Thiên và Vi hoàng hậu trong nhóm nội dung tế tự giao miếu, một vấn đề thường bị các nghiên cứu tổng quan bỏ qua (trừ công trình của Nghiêm Kỷ Hoa và Quách Hải Văn, tuy dung lượng triển khai còn ít, mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu tên và liệt kê thi phẩm) Riêng ở chương
10 Tiêu chí quan trọng nhất trong việc lựa chọn công trình tiêu biểu ở đây là phân loại tác giả vào đúng loại
hình, vì vậy một số công trình tuy có dung lượng lớn, phân tích khá chi tiết như Nghiên cứu các nữ quan thời
Đường và thơ ca của họ của Triệu Lợi (2002), Nghiên cứu thơ của các nữ quan thời Đường của Đại Hiểu
Đông (2006), Nghiên cứu sáng tác thơ của nữ quan thời Đường của Lưu Thần Lệ (2016), Nghiên cứu thơ ca
của các kỹ nữ thời Đường của Thạch Nghi Sơn (2006), song do xếp nhầm thi nhân vào loại hình không phù
hợp (Triệu Lợi, Đại Hiểu Đông, Lưu Thần Lệ đều coi Tiết Đào là nữ quan, Thạch Nghi Sơn coi Ngư Huyền
Cơ và Lý Dã là kỹ nữ) nên không thuộc phạm vi giới thiệu, đánh giá của chúng tôi Riêng thơ ca của phụ nữ gia đình, do chưa có một nghiên cứu nào có dung lượng đủ lớn và có tính hệ thống nên chúng tôi cũng không giới thiệu ở đây
11 Trương Hồng: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Học viện Khoa học Kỹ thuật Thiểm Tây (2013)
Trang 353, tuy tác giả không đề cập trực tiếp đến vấn đề đặc sắc nghệ thuật trong thơ ca của các nữ thi nhân cung đình, song thông qua những tâm thái sáng tác được trình bày, chúng ta có thể nắm bắt được 3 phong cách/giọng điệu thơ khác nhau của nhóm tác giả này, cụ thể là: giọng điệu nam tính hoá, giọng điệu ca ngợi bề trên và giọng điệu thuần tuý nữ tính
(2) Trong một dung lượng không quá dài (59 trang), luận văn thạc sĩ Nghiên cứu thơ nhạc kỹ thời Đường (Đại học Sư phạm Nội Mông, 2010) [144] của Vương Hiểu
Hà12 đã trình bày một cách tương đối chi tiết về nguồn gốc, tiến trình phát triển, hoàn cảnh sống và nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của lực lượng kỹ nữ thời Đường, một vấn đề chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Mặt khác, tác giả cũng đã thống kê và khảo sát được đầy đủ số lượng nhà thơ kỹ nữ và trước
tác của họ trong TĐT Tuy vậy, trên phương diện nội dung thi phẩm, Vương Hiểu
Hà mới chỉ tập trung vào hai mảng khát vọng tình yêu tự do và tâm sự về số phận thê lương đau khổ, rõ ràng chưa bao quát hết các nội dung xuất hiện trong thơ kỹ nữ thời Đường Tương tự, trên phương diện nghệ thuật, tác giả này mới tiếp cận thơ kỹ
nữ từ khía cạnh phong cách với hai khuynh hướng chính là thuần nữ tính và nam tính hoá
Nhìn chung, bên cạnh ưu điểm là đã đi sâu nghiên cứu hoàn cảnh sống của các loại hình tác giả và thống kê tương đối đầy đủ về đội ngũ thi nhân, những công trình thuộc khuynh hướng nghiên cứu bộ phận vẫn chưa khảo sát đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật trong thi phẩm của họ mà mới tập trung vào những bài thơ hay, tiêu biểu Hướng đi này khá phù hợp với định hướng nghiên cứu thẩm mỹ trong văn học song sẽ khó đem lại cho chúng ta một cái nhìn toàn thể về thơ ca của phụ nữ thời Đường Mặt khác, hệ thống nội dung dành riêng cho từng loại hình nữ tác gia cũng khiến việc nghiên cứu đồng thời phụ nữ cung đình, phụ nữ gia đình, kỹ nữ và
nữ quan, ni cô là điều không dễ thực hiện do thiếu một khung phân loại thống nhất
1.1.2.3 Khuynh hướng nghiên cứu trường hợp
Khuynh hướng nghiên cứu trường hợp (case study) có đối tượng là thơ ca
12 Vương Hiểu Hà: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học Sư phạm Nội Mông (2010), hiện là giảng viên tại Đại học Kinh tế và Tài chính Nội Mông
Trang 36của một nữ tác gia cụ thể Các công trình thuộc nhóm này có số lượng nhiều hơn hẳn hai khuynh hướng tổng quan và bộ phận, hơn thế còn thịnh hành ở cả trong và ngoài lãnh thổ Trung Quốc Tuy nhiên, phần lớn nghiên cứu trường hợp mới chỉ hướng đến các nữ thi nhân có số lượng thi phẩm lớn, được nhiều người biết đến như Tiết Đào và Ngư Huyền Cơ Ví dụ, về tác gia Tiết Đào, có thể kể đến các nghiên
cứu như: Nghiên cứu Tiết Đào và thi phẩm của bà (Tô San Ngọc, 1994) [113]; Nghiên cứu con người và thơ ca của Tiết Đào (Doãn Diễm Huy, 2005) [56]; Nghiên cứu thơ ca của Tiết Đào (Uông Tiểu Yến, 2009) [139]; Tế nịch phong quang ngã độc tri: Nghiên cứu nữ thi nhân thời Trung Đường Tiết Đào (Ứng Khắc Vinh,
2014) [138]; Về tác gia Ngư Huyền Cơ, cũng có một số công trình đáng chú ý
như: Nghiên cứu nhà thơ nữ quan thời Đường Ngư Huyền Cơ (Hoàng Tuyển My, 2005) [71]; Nghiên cứu thơ ca của Ngư Huyền Cơ (Dương Khải Lệ, 2010) [62]; Nan đắc hữu tâm lang: Thơ và tình của Ngư Huyền Cơ (Trần Trung Đào - Lý Ngạn
Tường, 2014) [116];… Riêng trường hợp Võ Tắc Thiên, tuy không được đánh giá cao về tài năng văn chương, song với tư cách là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, thơ ca của bà cũng được quan tâm nghiên cứu ở một mức độ nhất
định: Nghiên cứu thơ ca của Võ Tắc Thiên (Lộ Vinh, 2001) [77]; Nghiên cứu Võ Tắc Thiên và thơ ca của bà (Trình Lợi, 2006) [125];…
Sau đây, chúng tôi sẽ đánh giá sơ lược về hai công trình tiêu biểu trong nghiên cứu trường hợp thơ Tiết Đào và thơ Ngư Huyền Cơ:
(1) Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu thơ ca của Tiết Đào (Đại học Dương Châu, 2009)
[139] của Uông Tiểu Yến13 có ưu điểm là đi sâu nghiên cứu cả tiểu sử của Tiết Đào
và hoàn cảnh sống của quan kỹ thời Đường với tư cách là các nhân tố ảnh hưởng đến bối cảnh sáng tác, nội dung sáng tác và nghệ thuật thơ của bà Hệ thống nội dung được nêu ra gồm thù tặng xướng hoạ, sơn thuỷ kỷ hành, vịnh vật và biên tái cũng có tính hợp lý nhất định nếu đọc kỹ phần triển khai phân tích của tác giả Tuy nhiên, cách đặt tiêu đề cho hệ thống nhóm nội dung và các nội dung cụ thể trong từng nhóm nội dung chưa thực sự rõ ràng, ít nhiều gây khó khăn cho người đọc nếu
13 Uông Tiểu Yến: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học Dương Châu (2009)
Trang 37muốn có được một cái nhìn hệ thống và mạch lạc về nội dung trong thơ ca của Tiết Đào, ví dụ: Nhóm thơ vịnh vật gồm các tiểu loại như vịnh thân thế, vịnh tình yêu và vịnh tiết tháo; Nhóm thơ sơn thuỷ kỷ hành lại chứa thơ vịnh hoài, hơn thế còn được đặt song song với thơ tả cảnh… Về mặt nghệ thuật, tương tự như nhiều học giả khác, Uông Tiểu Yến cũng lựa chọn tiếp cận thi phẩm từ khía cạnh phong cách với hai khuynh hướng chủ đạo là thuần nữ tính và nam tính hoá, đồng thời đánh giá sơ lược về trình độ sử dụng điển cố của Tiết Đào
(2) Tương tự như đa số nghiên cứu bộ phận và trường hợp, luận văn thạc sĩ Nghiên cứu nhà thơ nữ quan thời Đường Ngư Huyền Cơ (Đại học Nam Hoa, 2005) [71] của
Hoàng Tuyển My14 dành một dung lượng khá lớn cho việc nghiên cứu hoàn cảnh sống của các nữ quan thời Đường nói chung và trải nghiệm cuộc đời của Ngư Huyền Cơ trong mối quan hệ với sáng tác của bà nói riêng Trên cơ sở này, tác giả
đã triển khai phân tích nội dung thi phẩm theo một hướng đi mới, cụ thể là phân chia sáng tác của Ngư Huyền Cơ thành 3 giai đoạn khác nhau với những đặc trưng riêng Đây là một hướng đi đúng đắn và sáng tạo, song cũng có hạn chế nhất định vì chỉ thích hợp để khảo sát các tác gia có tiểu sử rõ ràng với những bước ngoặt rõ rệt trong cuộc đời, đồng thời sở hữu một lượng thi phẩm lớn Phương pháp này sẽ trở nên bất khả thi với các nữ thi nhân có tiểu sử không rõ ràng, số lượng thi phẩm ít,
vốn chiếm đa số trong TĐT
1.2 Nghiên cứu về thơ ca của các nữ thi nhân trong Manyoshu
1.2.1 Khái lược về Manyoshu và tình hình nghiên cứu Manyoshu tại Việt Nam
MYS là bộ tổng tập thi ca gồm 20 quyển, do Otomo no Yakamochi cùng một
số người khác phụng mệnh Thiên hoàng Junnin thời Nara tiến hành biên soạn năm
759 Đây là bộ tổng tập waka có quy mô lớn nhất trong lịch sử văn học Nhật Bản, thu thập 4.516 bài thơ của hơn 450 tác gia được định danh và hàng trăm nhà thơ vô
danh [42, 57] Xét về cấu trúc, khác với TĐT triển khai theo từng nhóm tác giả dựa trên nghề nghiệp và địa vị xã hội khá rành mạch, MYS lại phân chia thi phẩm theo
niên đại, thể loại và đề tài, ví dụ: (1) Theo thể loại: Quyển 1, 5, 6 chỉ gồm zoka;
14 Hoàng Tuyển My: Tốt nghiệp thạc sĩ tại Đại học Nam Hoa (Đài Loan) (2005)
Trang 38Quyển 4 chỉ có somon; Quyển 9 có cả somon, banka và zoka; Quyển 10 có somon
và zoka15; (2) Theo niên đại: Quyển 2 là thơ viết trong giai đoạn 658 - 715; Quyển
17 là thơ viết vào giai đoạn 730 - 748; (3) Theo đề tài: Thơ trong quyển 8 và 10 được chia theo bốn mùa xuân hạ thu đông,… Sự phức tạp này một phần xuất phát
từ tính chất đối đáp của thể somon vốn chiếm tỷ lệ tương đối cao trong MYS khi các
bài thơ dùng để trò chuyện tâm tình của các tác giả thường được xếp cạnh nhau để tạo nên một cụm thơ liền mạch Kết quả, thơ của một thi nhân có thể xuất hiện trong một hoặc nhiều tập thơ khác nhau
Khác với thơ Đường, nghiên cứu waka trong MYS ở Việt Nam hiện mới
dừng lại với giai đoạn giới thiệu ban đầu với số lượng công trình khá khiêm tốn và không hình thành nên một khuynh hướng nghiên cứu cụ thể nào Đa phần các
nghiên cứu về MYS được công bố dưới dạng bài báo khoa học với dung lượng nhỏ, như "Manyoshu (Vạn diệp tập) hay là thơ ca từ mọi nẻo đường đời" (Nhật Chiêu,
1997) [4] hoặc một vài chương sách trong các công trình văn học sử như chương
"Thơ ca từ mọi nẻo đường đời Manyoshu (Vạn diệp tập)" trong Văn học Nhật Bản
từ khởi thuỷ đến 1868 (Nhật Chiêu, 2000) [5], chương "Cái đẹp của thơ waka trong thi tuyển tối cổ Nhật Bản: Vạn diệp tập (Manyoshu)" trong Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản (Nguyễn Nam Trân, 2011) [29] Đáng chú ý chỉ có bản thảo Nhập môn Manyoshu do Nguyễn Nam Trân biên soạn, hiện được lưu trữ tại Thư viện Bộ
môn Nhật Bản học, Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội [30] Với dung lượng hơn 400 trang, tác giả đã
cung cấp nhiều thông tin quý giá về MYS trên các phương diện cấu trúc tác phẩm,
tiến trình phát triển, các nhà thơ tiêu biểu, các hướng nghiên cứu chính, giá trị và ảnh hưởng Đặc biệt, tác giả bản thảo đã dụng công dịch một lượng lớn thi phẩm
trong MYS từ nguyên tác tiếng Nhật ra tiếng Việt, góp phần quan trọng trong việc
đưa waka Nhật Bản thời cổ đại đến gần hơn với độc giả Việt Nam
Trong bối cảnh MYS còn chưa được các học giả Việt Nam quan tâm đúng
15 Zoka, somon và banka là ba thể loại chính trong MYS, thường được gọi là “budate” Trong đó, somon dùng
để đối đáp tâm tình giữa người yêu hoặc bạn bè và người thân trong gia đình, banka là thơ ai điếu người đã khuất còn zoka đề cập đến nhiều vấn đề xã hội
Trang 39mức, việc nghiên cứu thơ ca của các nhà thơ nữ trong bộ tổng tập thơ ca này hầu như chưa được đặt ra, trừ trường hợp phân tích và giới thiệu thơ của một số nhà thơ
nữ tiêu biểu do Nguyễn Nam Trân thực hiện trong công trình Nhập môn Manyoshu
nêu trên16 Thực trạng này cho thấy, tại Việt Nam, nghiên cứu thơ ca của các nữ thi
nhân trong MYS với tư cách là một công trình độc lập cũng đã góp phần nhất định trong việc gia tăng tri thức về MYS nói riêng và thơ ca cổ điển Nhật Bản nói chung
1.2.2 Vị trí của thơ nữ trong Manyoshu và tình hình nghiên cứu thơ ca của các
nữ thi nhân trong Manyoshu trên thế giới
Trong MYS, thơ ca của các nhà thơ nữ trải rộng ở 16 quyển (trừ quyển 7, 10,
11 và 14), nhiều nhất là quyển 4 (149 bài), quyển 8 (61 bài) và quyển 2 (46 bài) (tổng tỷ lệ: 60,7%) Xét theo từng loại hình nữ tác gia, quyển 1 và 2 chủ yếu chép thơ của phụ nữ cung đình (58/71 bài), thơ của phụ nữ gia đình xuất hiện trong nhiều trong quyển 4 và 8, thơ của du nữ rải rác trong nhiều quyển với số lượng ít, còn ni
cô chỉ xuất hiện trong quyển 8
Tương tự như thơ ca của các nữ thi nhân trong TĐT, việc nghiên cứu thơ ca của các nhà thơ nữ trong MYS trên thế giới được tiến hành từ rất sớm với số lượng
lên đến hàng trăm nghiên cứu, gồm cả sách chuyên khảo và bài báo khoa học Dưới đây, chúng tôi sẽ khái quát tình hình nghiên cứu mảng trước tác này theo 3 khuynh hướng tổng quan, bộ phận và trường hợp:
1.2.2.1 Khuynh hướng nghiên cứu tổng quan
Nhà nghiên cứu Seki Misao17 được coi là người tiên phong trong việc nghiên
cứu thơ ca của các nhà thơ nữ trong MYS của Nhật Bản khi cho ra đời tác phẩm Các nhà thơ nữ xuất hiện trong MYS và thơ ca của họ (Hakubunkan, 1929) [187] Sau
bà, hàng loạt các tác phẩm nghiên cứu tổng quan về thơ ca của các nhà thơ nữ trong
MYS đã ra đời Trong các tác phẩm này, các nhà nghiên cứu đi trước đã phân tích
kỹ nhiều thi phẩm của các nhà thơ nữ trong MYS, từ đó giúp người đọc hình dung
16 Trong công trình này, tác giả Nguyễn Nam Trân đã giới thiệu đến độc giả Việt Nam 90 thi phẩm của 30
nhà thơ nữ trong MYS
17 Seki Misao (1893-1973): Nhà nghiên cứu văn học, nhà thơ thời Showa, tốt nghiệp Trường Sư phạm cao đẳng nữ sinh Tokyo (nay là Trường Đại học Nữ sinh Ocha no Mizu)
Trang 40được không chỉ thế giới nội tâm của họ, mà còn khắc hoạ hình ảnh người phụ nữ và
xã hội Nhật Bản thời cổ đại Đặc biệt các nhà nghiên cứu Nhật Bản thường lựa chọn phương pháp tiếp cận sử học và dân tục học để khảo sát văn bản thơ ca, từ đó phát hiện hoặc kiểm chứng nhiều vấn đề lịch sử Sau đây, xin được giới thiệu và đánh giá một số công trình tiêu biểu:
(1) Các nhà thơ nữ xuất hiện trong MYS và thơ ca của họ (Seki Misao, 1929) [187], Giải thích và bình luận các tác gia trong MYS (tập 7): Các nhà thơ nữ (Kawada
Jun18, 1936) [164], Thơ ca của phụ nữ trong MYS (Hội Ofu thuộc Đại học Nữ sinh
Nhật Bản, 1940) [177] là 3 công trình mở đầu cho lĩnh vực nghiên cứu thơ ca của
các nữ thi nhân trong MYS tại Nhật Bản Tuy nhiên, do đi theo hướng giải thích và
bình luận từng tác giả và từng thi phẩm của họ nên những tác phẩm này chưa giúp độc giả có được một cái nhìn tổng thể về những đặc điểm và giá trị của thơ ca các
nữ tác gia trong MYS, dù cả ba học giả đều đã thống kê và phân tích được một cách tương đối đầy đủ các nữ tác gia trong MYS và toàn bộ thi phẩm của họ (lần lượt là
105, 93 và 117 tác gia), điều mà nhiều nghiên cứu đi theo hướng này về sau không thực hiện được
(2) Áp dụng phương pháp loại hình học, Phụ nữ trong MYS (Kodansha, 1978) [157]
của Higuchi Kiyoyuki19 là công trình đầu tiên thoát khỏi hướng nghiên cứu chi tiết
từng thi phẩm của các nữ tác gia trong MYS Cụ thể, Higuchi đã phân loại các nữ tác gia trong MYS thành 3 nhóm: Phụ nữ cung đình, phụ nữ bình dân và du nữ
Điểm đặc sắc nổi bật của cuốn sách là tác giả đã khai thác sâu nhiều khía cạnh văn hoá học của các thi phẩm, ví dụ như: tín ngưỡng (chương 6), lao động (chương 7), tình yêu - hôn nhân (chương 8) Có thể thấy, tuy được viết cách đây khá lâu, song hướng tiếp cận này đến nay vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm của các học giả trên
thế giới Dù vậy, Phụ nữ trong MYS không tiến hành thống kê, phân loại được một cách đầy đủ các nữ thi nhân trong MYS và thi phẩm của họ Các phân tích sâu về