CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1.1 Bối cảnh nghiên cứu trên thế giới và trong nước Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế của mỗi quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường. Đặc biệt, tại Việt Nam, thị trường chứng khoán chưa đáp ứng được là kênh dẫn vốn trung dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế thì vai trò của NHTM càng nổi bật, quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng cũng bị tác động mạnh bởi các chu kỳ kinh tế bao gồm các giai đoạn khủng hoảng, suy thoái, phục hồi, tăng trưởng công nghiệp (Marx), vốn là một quy luật quan trọng của nền kinh tế thị trường. Trong năm 2007, kinh tế thế giới đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện, xuất phát từ thị trường bất động sản và cho vay dưới chuẩn tại Mỹ. Khủng hoảng kinh tế là là một giai đoạn của chu kỳ kinh tế (Gordon, 1994) có tác động tiêu cực một cách sâu rộng đến các doanh nghiệp, thị trường tài chính, thị trường ngân hàng… Cuộc khủng hoảng từ Mỹ sau đó lan ra toàn thế giới với đáy của cuộc khủng hoảng là năm 2009 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới là -0,1% (IMF, 2009) hay - 1,67% (WB, 2009), hàng loạt các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, EU có mức tăng trưởng kinh tế âm (IMF, 2009), làm cho sản lượng sản xuất suy giảm, thất nghiệp gia tăng, hoạt động kinh tế lâm vào tình trạng đình đốn, từ đó lan ra các nước khác và toàn cầu (Bùi Tất Thắng, 2009). Nền kinh tế thế giới có dấu hiệu bước sang giai đoạn phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trở lại là 5,4% năm 2010 ( IMF, 2010), 4.30% năm 2010 (WB, 2010). Mức tăng này tương đương với mức tăng năm 2006 là 5,5 % (IMF, 2006), trước giai đoạn khủng hoảng. Điều này chứng tỏ kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi, là một trong bốn giai đoạn của chu kỳ kinh tế. Cũng trong năm 2010, các nền kinh tế trên thế giới đều có mức tăng trưởng ấn tượng: Các nền kinh tế phát triển 3,1%, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi 7,4% (IMF, 2010). Khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều hậu quả nghiệm trọng và lan ra khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Vốn là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tập trung, năm 1986 Việt Nam quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới. Kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh, kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng cao cho đến khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007. Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007 đạt tốc độ bình quân 7,6% (WB, 2007). Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bắt đầu giảm, chỉ đạt 5,7% và chạm đáy vào năm 2009 với tốc độ 5,4% (WB, 2009). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm từ 11,5 tỷ USD năm 2008 còn 10 tỷ USD năm 2009 (Tổng cục Thống kê, 2009). Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, đặc biệt cao trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới. Năm 2008, cán cân thương mại thâm hụt 18 tỷ USD, năm 2009 là 12,9 tỷ USD và năm 2010 giảm còn 12,6 tỷ USD (Tổng cục Hải quan, 2010). Mức thâm hụt cao như vậy gây rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia (IMF, 2010), gây rất nhiều khó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, trong giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát biến động thất thường, tăng giảm với biên độ lớn, phản ánh sự khó khăn của nền kinh tế. Tỷ lệ lạm phát năm 2007 là 8,3%, năm 2008 tăng mạnh lên 22,97%, năm 2009 giảm xuống còn 6,88%, năm 2010 tăng lên lại 9,19%, và tăng mạnh lên 18,58% vào năm 2011 (Tổng cục Thống kê, 2011) và giảm dần trong các năm sau đó. Sở dĩ lạm phát tăng cao vào năm 2011 là do hiệu ứng của gói kích thích kinh tế mà Chính phủ Việt Nam đưa ra vào năm 2009 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai gói kích thích không hiệu quả dẫn đến không đạt được các mục tiêu mà Chính phủ đưa ra, đồng thời làm tín dụng tăng trưởng nóng, hình thành bóng bóng giá cả tài sản, các doanh nghiệp hoạt động khó khăn, đã làm cho lạm phát tăng cao vào năm 2010 và đạt mức rất cao vào năm 2011. Bên cạnh đó, trong khi nền kinh tế các nước khác trên thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi thì kinh tế Việt Nam chỉ thực sự vượt qua khủng hoảng kinh tế sau năm 2011, khi tác dụng phụ của gói kích thích năm 2009 đã bớt ảnh hưởng. Trong lĩnh vực ngân hàng, sau cải cách lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời năm 1988 đã tạo ra sự phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng. Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân được thành lập và phát triển, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường một cách có hiệu quả. Sự chuyển đổi nền kinh tế cùng với việc tham gia các tổ chức quốc tế như IMF, WB, WTO… đã trở thành điều cốt lõi của sự thay đổi về kinh tế và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau giai đoạn phát triển, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh đến kinh tế Việt nam, đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Sự biến động của kinh tế vĩ mô có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng (Nkusu, 2011). Sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, các ngân hàng phải đối mặt với nợ xấu tăng cao, gặp rất nhiều khó khăn về thanh khoản dẫn đến lợi nhuận sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ, không có khả năng hoạt động liên tục mà hậu quả cho đến tận ngày nay vẫn chưa thể giải quyết xong. Theo Reinhart và Rogoff (2010), nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đẩy tăng trưởng tín dụng cao và chấp nhận rủi ro cao dẫn đến nợ xấu tăng cao (Caprio & cộng sự, 2003). Kết quả là các ngân hàng có nợ xấu cao, khó khăn về thanh khoản phải sáp nhập vào ngân hàng khác hoặc được mua lại với giá 0 đồng. Đối với Việt Nam, nếu để cho 1 ngân hàng phá sản thì hậu quả để lại sẽ không thể lường trước được, tác động rất lớn đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây khủng hoảng niềm tin đối với toàn xã hội. Do vậy, giải pháp sáp nhập, mua lại giá 0 đồng đã giúp ổn định hệ thống ngân hàng, lấy lại niềm tin của xã hội, được đánh giá rất cao. Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng đã cho thấy những điểm yếu của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như bóng bóng giá tài sản, sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, lệ thuộc quá nhiều vào tín dụng, đòi hỏi sự cải tổ mạnh mẽ về tư duy quản lý lẫn cơ cấu tổ chức (Amba & Almukharreq, 2013). Điều quan trọng không phải là tốc độ tăng trưởng cao mà là sự ổn định, có thể thích nghi tốt với các biến động của kinh tế thế giới. Bản thân các NHTM cũng phải có sự kiểm soát chặt chẽ hơn, an toàn hơn, tập trung cấp tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì bất động sản, chứng khoán, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Ngân hàng nhà nước, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng, cần định hướng cho các NHTM, giám sát chặt chẽ hoạt động của các NHTM. Sự khỏe mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng cần được đặt lên hàng đầu, thay vì tốc độ tăng trưởng, đòi hỏi sự thay đổi từ bản thân các ngân hàng lẫn cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin, hàm ý chính sách cho lãnh đạo ngân hàng và các nhà hoạch định để xây dựng chiến lược phù hợp cho hệ thống NHTM và đạt được KNSL phù hợp trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cũng như giai đoạn hậu khủng hoảng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM HẢI NAM
KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG
KINH TẾ THẾ GIỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.1.1 Bối cảnh nghiên cứu trên thế giới và trong nước 1
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học 3
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 7
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 8
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
1.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 9
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 9
1.6 KẾT CẤU LUẬN ÁN 12
CHƯƠNG 2CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 13 2.1.1 Khái niệm về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế 13
2.1.2 Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế 14
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 19
Trang 32.2.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của ngân hàng
thương mại 19
2.2.2 Các lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 24
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 26
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 28
2.3.1 Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô 28
2.3.2 Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro tín dụng 29
2.3.3 Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro thanh khoản 29
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 31
2.4.1 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 31
2.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 45
2.5 THẢO LUẬN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC 51
CHƯƠNG 3PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 55
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 55
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
3.2.1 Phương pháp Bayes 56
3.2.2 Tính ưu việt của phương pháp Bayes so với phương pháp tần suất 59
3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 61
3.3.1 Quy trình nghiên cứu 61
3.3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 62
3.3.3 Giả thuyết nghiên cứu 64
3.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 73
3.4.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 73
3.4.2 Kiểm định mô hình 74
CHƯƠNG 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 76
4.1 KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 76
4.1.1 Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến 76
Trang 44.1.2 Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 78
4.1.3 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 82
4.1.4 Phân tích và thảo luận kết quả 86
4.2 KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HẬU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 91
4.2.1 Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến 91
4.2.2 Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 93
4.2.3 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 97
4.2.4 Phân tích và thảo luận kết quả 100
4.3 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 105
4.3.1 Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 105
4.3.2 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 109
4.3.3 So sánh chiều hướng tác động của phương pháp Bayes với phương pháp truyền thống 112
4.3.4 Thảo luận tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam 114
4.4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 115
CHƯƠNG 5KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC KHẢ NĂNG SINH LỜI HỢP LÝ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 122
5.1 KẾT LUẬN 122
5.2 GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC KHẢ NĂNG SINH LỜI HỢP LÝ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 124
5.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại 125
5.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 131
5.3 HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
CÁC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN xiii
PHỤ LỤC xiv
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AN
KÝ HIỆU
VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI ĐẦY ĐỦ
TIẾNG VIỆT TIẾNG ANH
HQKD Hiệu quả kinh doanh
ESS Số lượng mẫu hiệu quả Effective Sample Size
FEM Mô hình tác động cố định Fixed Effects Model
FGLS Phương pháp bình phương bé
nhất tổng quát
Feasible Generalized Least Squares
GMM Mô hình hồi quy moment tổng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế International Monetary Fund KNSL Khả năng sinh lời
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Net Interest Margin
NHTM Ngân hàng thương mại
OLS Bình phương nhỏ nhất thông
thường
Ordinary Least Squares REM Mô hình tác động ngẫu nhiên Random Effects Model
ROA Lợi nhuận trên tổng tài sản Return on Assets
ROE Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return on Equity
RRTD Rủi ro tín dụng
RRTK Rủi ro thanh khoản
WB Ngân hàng Thế giới World Bank
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng kết các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của NHTM 36
Bảng 2.2 Tổng kết các nghiên cứu về tác động của khủng hoảng kinh tế đến KNSL 47
Bảng 3.1 Các mô hình dự kiến 63
Bảng 3.2 Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu 64
Bảng 3.3 Đo lường các biến sử dụng trong mô hình 71
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong giai đoạn 2007 – 2011 76
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 78
Bảng 4.3 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROA 79
Bảng 4.4 Số lượng mẫu hiệu quả 81
Bảng 4.5 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROE 83
Bảng 4.6 Số lượng mẫu hiệu quả 86
Bảng 4.7 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong giai đoạn 2012 – 2018 91
Bảng 4.8 Ma trận hệ số tương quan 93
Bảng 4.9 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROA 93
Bảng 4.10 Số lượng mẫu hiệu quả 94
Bảng 4.11 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROE 97
Bảng 4.12 Số lượng mẫu hiệu quả 97
Bảng 4.13 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROA 105
Bảng 4.14 Số lượng mẫu hiệu quả 106
Bảng 4.15 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROE 109
Bảng 4.16 Số lượng mẫu hiệu quả 109
Bảng 4.17 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROA 113
Bảng 4.18 Tóm tắt kết quả hồi quy biến phụ thuộc ROE 113
Bảng 4.19 So sánh các yếu tố tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam 115
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROA 81
Hình 4.2 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROE 85
Hình 4.3 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROA 96
Hình 4.4 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROE 99
Hình 4.5 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROA 109
Hình 4.6 Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC đối với biến ROE 112
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.1 Bối cảnh nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế của mỗi quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường Đặc biệt, tại Việt Nam, thị trường chứng khoán chưa đáp ứng được là kênh dẫn vốn trung dài hạn chủ yếu cho nền kinh
tế thì vai trò của NHTM càng nổi bật, quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng cũng bị tác động mạnh bởi các chu
kỳ kinh tế bao gồm các giai đoạn khủng hoảng, suy thoái, phục hồi, tăng trưởng công nghiệp (Marx), vốn là một quy luật quan trọng của nền kinh tế thị trường Trong năm 2007, kinh tế thế giới đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện, xuất phát từ thị trường bất động sản và cho vay dưới chuẩn tại Mỹ Khủng hoảng kinh tế là là một giai đoạn của chu kỳ kinh tế (Gordon, 1994) có tác động tiêu cực một cách sâu rộng đến các doanh nghiệp, thị trường tài chính, thị trường ngân hàng… Cuộc khủng hoảng từ Mỹ sau đó lan ra toàn thế giới với đáy của cuộc khủng hoảng là năm 2009 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới là -0,1% (IMF, 2009) hay - 1,67% (WB, 2009), hàng loạt các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật,
EU có mức tăng trưởng kinh tế âm (IMF, 2009), làm cho sản lượng sản xuất suy giảm, thất nghiệp gia tăng, hoạt động kinh tế lâm vào tình trạng đình đốn, từ đó lan ra các nước khác và toàn cầu (Bùi Tất Thắng, 2009) Nền kinh tế thế giới có dấu hiệu bước sang giai đoạn phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trở lại là 5,4% năm 2010 ( IMF, 2010), 4.30% năm 2010 (WB, 2010) Mức tăng này tương đương với mức tăng năm 2006 là 5,5 % (IMF, 2006), trước giai đoạn khủng hoảng Điều này chứng tỏ kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi, là một trong bốn giai đoạn của chu kỳ kinh tế Cũng trong năm 2010, các nền kinh tế trên thế giới đều có mức tăng trưởng ấn tượng: Các nền kinh tế phát triển 3,1%, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi 7,4% (IMF, 2010)
Khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều hậu quả nghiệm trọng và lan ra khắp thế giới, trong đó có Việt Nam Vốn là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tập trung, năm 1986 Việt Nam quyết định
Trang 9chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới Kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh, kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng cao cho đến khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007 đạt tốc độ bình quân 7,6% (WB, 2007)
Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bắt đầu giảm, chỉ đạt 5,7% và chạm đáy vào năm 2009 với tốc độ 5,4% (WB, 2009) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm từ 11,5 tỷ USD năm 2008 còn 10 tỷ USD năm 2009 (Tổng cục Thống kê, 2009) Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, đặc biệt cao trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới Năm 2008, cán cân thương mại thâm hụt 18 tỷ USD, năm 2009 là 12,9 tỷ USD và năm 2010 giảm còn 12,6 tỷ USD (Tổng cục Hải quan, 2010) Mức thâm hụt cao như vậy gây rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia (IMF, 2010), gây rất nhiều khó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Bên cạnh đó, trong giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát biến động thất thường, tăng giảm với biên độ lớn, phản ánh sự khó khăn của nền kinh tế Tỷ lệ lạm phát năm 2007 là 8,3%, năm
2008 tăng mạnh lên 22,97%, năm 2009 giảm xuống còn 6,88%, năm 2010 tăng lên lại 9,19%, và tăng mạnh lên 18,58% vào năm 2011 (Tổng cục Thống kê, 2011) và giảm dần trong các năm sau đó Sở dĩ lạm phát tăng cao vào năm 2011 là do hiệu ứng của gói kích thích kinh tế mà Chính phủ Việt Nam đưa ra vào năm 2009 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc triển khai gói kích thích không hiệu quả dẫn đến không đạt được các mục tiêu mà Chính phủ đưa ra, đồng thời làm tín dụng tăng trưởng nóng, hình thành bóng bóng giá cả tài sản, các doanh nghiệp hoạt động khó khăn, đã làm cho lạm phát tăng cao vào năm 2010 và đạt mức rất cao vào năm 2011 Bên cạnh đó, trong khi nền kinh tế các nước khác trên thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi thì kinh
tế Việt Nam chỉ thực sự vượt qua khủng hoảng kinh tế sau năm 2011, khi tác dụng phụ của gói kích thích năm 2009 đã bớt ảnh hưởng
Trong lĩnh vực ngân hàng, sau cải cách lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời năm 1988 đã tạo ra sự phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân được thành lập và phát triển, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường một cách có hiệu quả Sự chuyển đổi nền kinh tế cùng với việc tham gia các tổ chức quốc tế như IMF, WB, WTO… đã trở thành điều cốt lõi của sự thay đổi về kinh
Trang 10tế và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Tuy nhiên, sau giai đoạn phát triển, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh đến kinh tế Việt nam, đặc biệt là hệ thống ngân hàng Sự biến động của kinh tế vĩ mô có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng (Nkusu, 2011) Sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, các ngân hàng phải đối mặt với nợ xấu tăng cao, gặp rất nhiều khó khăn về thanh khoản dẫn đến lợi nhuận sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ, không có khả năng hoạt động liên tục mà hậu quả cho đến tận ngày nay vẫn chưa thể giải quyết xong Theo Reinhart và Rogoff (2010), nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đẩy tăng trưởng tín dụng cao và chấp nhận rủi ro cao dẫn đến nợ xấu tăng cao (Caprio & cộng sự, 2003) Kết quả là các ngân hàng có nợ xấu cao, khó khăn về thanh khoản phải sáp nhập vào ngân hàng khác hoặc được mua lại với giá 0 đồng Đối với Việt Nam, nếu để cho 1 ngân hàng phá sản thì hậu quả để lại sẽ không thể lường trước được, tác động rất lớn đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây khủng hoảng niềm tin đối với toàn xã hội Do vậy, giải pháp sáp nhập, mua lại giá 0 đồng đã giúp ổn định hệ thống ngân hàng, lấy lại niềm tin của xã hội, được đánh giá rất cao Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng
đã cho thấy những điểm yếu của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như bóng bóng giá tài sản,
sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, lệ thuộc quá nhiều vào tín dụng, đòi hỏi sự cải tổ mạnh mẽ về tư duy quản lý lẫn cơ cấu tổ chức (Amba & Almukharreq, 2013) Điều quan trọng không phải
là tốc độ tăng trưởng cao mà là sự ổn định, có thể thích nghi tốt với các biến động của kinh tế thế giới Bản thân các NHTM cũng phải có sự kiểm soát chặt chẽ hơn, an toàn hơn, tập trung cấp tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì bất động sản, chứng khoán, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Ngân hàng nhà nước, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng, cần định hướng cho các NHTM, giám sát chặt chẽ hoạt động của các NHTM Sự khỏe mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng cần được đặt lên hàng đầu, thay vì tốc độ tăng trưởng, đòi hỏi sự thay đổi từ bản thân các ngân hàng lẫn cơ quan quản lý nhà nước Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin, hàm ý chính sách cho lãnh đạo ngân hàng và các nhà hoạch định để xây dựng chiến lược phù hợp cho hệ thống NHTM và đạt được KNSL phù hợp trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cũng như giai đoạn hậu khủng hoảng
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học
Các nghiên cứu trên thế giới về tác động của khủng hoảng kinh tế đến KNSL của các
Trang 11NHTM hiện nay được thực hiện rải rác ở các khu vực trên thế giới, mỗi khu vực lại có những đặc điểm khác nhau Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, các nghiên cứu này
đã phần nào làm sáng tỏ mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính (một khía cạnh của khủng hoảng kinh tế) đến KNSL của các NHTM
Ở khu vực châu Á, các nghiên cứu có thể kể đến như nghiên cứu của Sufian (2011) về KNSL của các NHTM Hàn Quốc từ năm 1992 đến năm 2003, là giai đoạn xảy ra khủng hoảng tài chính châu Á Nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính tác động tiêu cực đến KNSL của NHTM Hay nghiên cứu của Kamarudin và cộng sự (2016) về tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân tại Bangladesh từ năm 2004 đến năm 2011, so sánh mức độ tác động của khủng hoảng tài chính đến hai khu vực sở hữu tư nhân
và sở hữu nhà nước Kết quả cho thấy, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng nhà nước tăng 3,7%, ngân hàng tư nhân tăng 5,8%, tuy nhiên sau giai đoạn khủng hoảng lại giảm lần lượt là 38,7% và 9,9%
Ở khu vực vùng Vịnh thì có nghiên cứu của Amba và Almukharreq (2013), về tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường tại các nước vùng Vịnh từ năm 2006 đến năm 2013 Nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính tác động tiêu cực đến KNSL đến các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường
Ở khu vực châu Âu, có các nghiên cứu của Pawlowska (2016) tìm hiểu các yếu tố tác động đến KNSL của các NHTM Ba Lan, giai đoạn khủng hoảng và trước khủng hoảng tài chính, từ năm 1997 đến năm 2012 Kết quả cho thấy KNSL trong giai đoạn khủng hoảng giảm nhẹ so với giai đoạn trước khủng hoảng Hay nghiên cứu của Andries và cộng sự (2016), nghiên cứu mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và KNSL của các NHTM Đông và Tây Âu từ năm 2004 đến năm 2013 Kết quả cho thấy khủng hoảng tài chính tác động tiêu cực đến KNSL của NHTM
Ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi có nghiên cứu của Mongid (2016) tìm hiểu về tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các NHTM Hồi giáo tại các nước Trung Đông và Bắc Phi từ năm 2003 đến năm 2011 Kết quả cho thấy khủng hoảng tài chính có tác động tiêu cực đến KNSL của NHTM
Ở khu vực Bắc Mỹ, Chronopoulos và cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các ngân hàng tại Mỹ có tổng tài sản từ 10.000 $ trở lên theo
Trang 12phương pháp GMM Kết quả nghiên cứu cho thấy KNSL của NHTM tốt hơn trong giai đoạn khủng hoảng
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Le (2017) về các yếu tố tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, trong đó sử dụng biến giả để chỉ giai đoạn khủng hoảng trong 2 năm 2008 – 2009 (nhận giá trị 1 cho các năm 2008 và 2009, giá trị 0 cho các năm còn lại) Kết quả cho thấy các ngân hàng có khả năng giảm giá sản phẩm, dịch vụ có KNSL cao Kết quả nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL của các NHTM
Nguyễn Anh Tú và Phạm Trí Nghĩa (2019) tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cận biên (NIM) của 27 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2005-2017 Các tác giả sử dụng biến giả để chỉ giai đoạn khủng hoảng (nhận giá trị 1 cho các năm 2008 và 2009, giá trị 0 cho các năm còn lại) Kết quả cho thấy rủi ro tín dụng, mức ngại rủi ro (risk aversion) và tỉ lệ vốn cho vay cùng chiều với NIM, trong khi đó thanh khoản và chất lượng quản lý ảnh hưởng ngược chiều với NIM Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy, bình quân trong giai đoạn khủng hoảng NIM của các NHTM giảm khoảng 1,5 lần so với thời kỳ kinh tế ổn định
Như vậy, các công trình nghiên cứu trước đây về khủng hoảng kinh tế đến KNSL của NHTM có kết quả không nhất quán Một số công trình cho thấy khủng hoảng kinh tế có tác động tiêu cực (Sufian, 2011; Amba & Almukharreq, 2013; Andries & cộng sự, 2016; Le, 2017; Nguyễn Anh Tú & Phạm Trí Nghĩa, 2019) Một số công trình khác lại cho thấy khủng hoảng kinh tế có tác động tích cực đến KNSL của NHTM (Chronopoulos, cộng sự, 2015; Kamarudin & cộng sự, 2016) Các kết quả khác nhau của các nghiên cứu là do khi đánh giá tác động tức thời của khủng hoảng, kết quả sẽ là tiêu cực Tuy nhiên, khi đánh giá một cách tổng thể dưới tác động của các biện pháp kích thích kinh tế của các chính phủ nhằm vượt qua khủng hoảng, kết quả sẽ là tích cực Hơn nữa, các công trình nghiên cứu trước đây đều sử dụng phương pháp truyền thống như FEM, REM, FGLS, GMM để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Do các phương pháp truyền thống tồn tại nhiều nhược điểm như tự tương quan, nội sinh … nên cần nhiều phương pháp khác nhau để khắc phục các nhược điểm đó Vì vậy, sử dụng nhiều phương pháp ước lượng truyền thống khác nhau nên kết quả có thể sẽ khác nhau
Trang 13đến KNSL của NHTM như nghiên cứu của Le (2017) có liên quan đến đề tài, với mẫu nghiên cứu gồm 40 ngân hàng từ năm 2005 đến năm 2015 và biến giả (D=1) để chỉ khủng hoảng trong hai năm 2008 và 2009 Hay nghiên cứu của Nguyễn Anh Tú và Phạm Trí Nghĩa (2018), với mẫu nghiên cứu gồm 27 ngân hàng từ năm 2005 đến năm 2017 sử dụng biến giả (D=1) để chỉ khủng hoảng trong hai năm 2008 và 2009, tức là đáy của khủng hoảng Theo lược khảo của tác giả, cho tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện nhằm nghiên cứu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, xem xét một cách tổng thể dưới tác động của các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ Việt Nam, đồng thời gắn với cả thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hậu khủng hoảng Đây là khoảng trống khoa học trong nghiên cứu về KNSL của NHTM
Bên cạnh đó, về mặt phương pháp, do các các nghiên cứu trước đây sử dụng các phương pháp hồi quy truyền thống để nghiên cứu các yếu tố tác động đến KNSL của NHTM Các phương pháp này cho phép nghiên cứu tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến KNSL của NHTM nhưng còn tồn tại nhiều nhược điểm Các kết luận khoa học trong thống kê truyền thống (hay tần suất) đều dựa trên bộ dữ liệu mà không quan tâm các thông tin đã biết trước (Nguyễn Ngọc Thạch, 2019) Trong thống kê tần suất, các tham số của tổng thể được coi là các hằng số cố định nhưng chưa biết Nhưng đối với dữ liệu chuỗi thời gian, các tham số này sẽ có sự thay đổi, chính vì vậy, giả định các tham số là hằng số không còn phù hợp Do đó, mở rộng hơn, trong thống kê Bayes, các tham số được giả định như là biến ngẫu nhiên và tuân theo một quy luật phân phối (van de Schoot & Depaoli, 2014; Bolstad & Curran, 2016; Nguyễn Ngọc Thạch, 2019) Các kết luận theo phương pháp Bayes dựa trên thông tin tiên nghiệm kết hợp với bộ dữ liệu thu thập được nên có
độ chính xác cao hơn Đối với thống kê tần suất, cần phải có bộ dữ liệu đủ lớn mới có thể đưa ra kết luận Trong khi đối với thống kê Bayes, việc đưa ra các kết luận không phụ thuộc vào kích cỡ của dữ liệu (Baldwin & Fellingham, 2013; Depaoli & van de Schoot, 2016; Doron & Gaudreau, 2014), khắc phục được nhược điểm của thống kê tần suất Ngoài ra, khác với phương pháp truyền thống áp dụng các cách khác nhau để khắc phục nhược điểm, suy luận Bayes dựa trên một quy tắc xác suất duy nhất, quy tắc Bayes, được áp dụng cho tất cả các mô hình tham số Điều này làm cho cách tiếp cận Bayes trở nên phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc áp dụng và giải thích kết quả Do đó, để nghiên cứu các yếu tố tác động đến KNSL của NHTM trong các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh tế, tác giả sử dụng phương pháp Bayes và thuật toán lấy mẫu Gibbs, là cách tiếp cận mới so với các công trình nghiên cứu trước
Trang 14Chính những lý do về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy tính cấp thiết khi nghiên cứu về KNSL của hệ thống NHTM Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới Ngoài
ra, để tăng giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu, Luận án tiếp cận mục tiêu nghiên cứu theo phương pháp Bayes, xem xét vấn đề này trong thời kỳ hậu khủng hoảng, so sánh với thời kỳ khủng hoảng vì trong thời kỳ hậu khủng hoảng, nhiều NHTM Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, cần phải ổn định hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện khả năng thanh khoản, tránh được nguy cơ phá sản và tăng giá trị ngân hàng Đây chính
là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới” làm Luận án nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của Luận án là nghiên cứu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, các yếu tố kinh tế vi mô, các yếu tố kinh tế vĩ mô đến KNSL của NHTM Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, so sánh các mối quan hệ này với thời kỳ hậu khủng hoảng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, các mục tiêu cụ thể được đặt ra:
- Nghiên cứu nhận diện các yếu tố kinh tế vi mô tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam trong các giai đoạn (pha) của chu kỳ kinh tế: bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và so sánh với thời kỳ hậu khủng hoảng
- Nghiên cứu nhận diện yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và so sánh với thời kỳ hậu khủng hoảng
- Phân tích sự khác biệt về KNSL của các NHTM Việt Nam đạt được trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới so với thời kỳ hậu khủng hoảng
- Gợi ý các giải pháp điều chỉnh KNSL của các NHTM Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, cung cấp kênh tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý trong việc tăng cường hiệu quả tài chính và phát triển vững chắc hệ thống ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế cũng như trong toàn bộ thời kỳ
Trang 151.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, Luận án cần giải quyết các câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
(1) Các yếu tố kinh tế vi mô nào có ảnh hưởng đến KNSL của NHTM Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới? Chiều hướng tác động như thế nào? Có sự khác biệt như thế nào khi so sánh chiều hướng tác động trong thời kỳ khủng hoảng với chiều hướng tác động trong thời kỳ hậu khủng hoảng?
(2) Các yếu tố kinh tế vĩ mô nào có ảnh hưởng đến KNSL của NHTM trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới? Chiều hướng tác động như thế nào? Có sự khác biệt như thế nào khi so sánh chiều hướng tác động trong thời kỳ khủng hoảng với chiều hướng tác động trong thời kỳ hậu khủng hoảng?
(3) Sự khác biệt như thế nào về KNSL của các NHTM Việt Nam đạt được trong thời kỳ khủng hoảng so với thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế thế giới?
(4) Giải pháp nào nhằm điều chỉnh KNSL của các NHTM và phát triển vững chắc hệ thống NHTM Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới?
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến KNSL của các NHTM Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, so sánh chiều hướng tác động của các yếu tố thời kỳ khủng hoảng với thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến KNSL của các NHTM Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu tại 30 NHTM Việt Nam Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tại thời điểm 31/12/2018, tổng số NHTM là 35, trong đó có 31 NHTM cổ phần, 4 NHTM 100% vốn nhà nước Tổng tài sản của 30 NHTM được tác giả sử dụng trong nghiên cứu chiếm xấp xỉ 86% tổng tài sản của các NHTM, đảm bảo tính đại diện cho các NHTM tại Việt Nam
Trang 16Về thời gian: Từ năm 2007 – 2018 Trong đó, tác giả lựa chọn giai đoạn 2007 – 2011 để chỉ bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới Việc lựa chọn khoảng thời gian đến năm 2011 vì cần
độ trễ tác động của các biện pháp kích cầu của Chính phủ và xét trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn nhiều bất ổn đến năm 2011 Giai đoạn 2012 đến năm 2018 để chỉ giai đoạn hậu khủng
hoảng kinh tế
1.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề cập ở trên, Luận án sử dụng phương pháp và
dữ liệu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận án sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh xuyên suốt toàn bộ nội dung của Luận án
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Tác giả xây dựng các mô hình hồi quy tuyến tính Bayes để ước lượng tác động của các yếu tố đến KNSL của NHTM trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và giai đoạn hậu khủng hoảng Cụ thể, nghiên cứu tiến hành xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính Bayes dựa trên cơ sở lý thuyết và mô hình của các nghiên cứu trước và có điều chỉnh phù hợp với đặc thù của hệ thống NHTM Việt Nam nhằm đánh giá tác động của các yếu tố đó đến KNSL của NHTM trong giai đoạn khủng hoảng và giai đoạn hậu khủng hoảng của kinh tế thế giới, tìm hiểu sự khác biệt về KNSL của các NHTM Việt Nam giữa thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hậu khủng hoảng
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes thông qua thuật toán lấy mẫu Gibbs để đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng như thế nào đến KNSL của NHTM trong từng giai đoạn khác nhau Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện kiểm định tự tương quan các chuỗi MCMC của các biến bằng biểu đồ Autocorrelation và Effective sample size (ESS) nhằm đánh giá suy diễn Bayes
là vững
- Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 30 NHTM Việt Nam, số liệu kinh tế vĩ mô của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2018
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Kết quả nghiên cứu trong Luận án có những đóng góp mới về mặt khoa học và thực
Trang 17Về mặt khoa học:
- Thứ nhất, trên cơ sở cách tiếp cận kết hợp các lý thuyết về KNSL và các lý thuyết chu kỳ kinh
tế vả khủng hoảng kinh tế, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa các thời kỳ kinh tế (giai đoạn khủng hoảng và giai đoạn hậu khủng hoảng) và KNSL của NHTM Từ đó tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu: (i) tác động của các yếu tố vi mô đến KNSL; (ii) tác động của các yếu tố
vĩ mô đến KNSL; (iii) tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến KNSL của các NHTM
- Thứ hai, xuất phát từ việc các nghiên cứu trước đây sử dụng các phương pháp ước lượng truyền
thống như FEM, REM, GMM, dẫn đến các kết quả khác nhau khi đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế đến KNSL của NHTM Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính Bayes thông qua thuật toán lấy mẫu Gibbs, là một cách tiếp cận mới, nhằm đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến KNSL của NHTM theo hai giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh tế Kết quả ước lượng theo phương pháp Bayes không bị ảnh hưởng bởi các nhược điểm như phương pháp truyền thống nên có sự nhất quán và đáng tin cậy
- Thứ ba, nghiên cứu tiếp cận theo hướng đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến
KNSL của NHTM Việt Nam trong toàn bộ giai đoạn của khủng hoảng kinh tế, khác với các nghiên cứu trước đã được thực hiện tại Việt Nam, chỉ đánh giá tác động tức thời của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam và chưa đánh giá dưới tác động của các biện pháp kích thích kinh tế của Chính phủ
- Thứ tư, một đóng góp khác của Luận án là so sánh chiều hướng tác động của các yếu tố đến
KNSL của NHTM Việt Nam trong hai giai đoạn, giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng kinh tế thế giới Luận án cung cấp bằng chứng cho thấy chiều hướng tác động khác nhau của các yếu tố khi so sánh giữa hai giai đoạn
Về thực tiễn:
Mặc dù phạm vi nghiên cứu của luận án gắn với bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới (2007 – 2011), tuy nhiên như đã phân tích ở trên, chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế xảy ra theo định kỳ, có tính quy luật không thể tránh khỏi Do đó, những kết quả nghiên cứu và gợi ý chính sách của Luận án không những có ý nghĩa thực tiễn đối với ngân hàng thương mại nhằm đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế mà còn có ý nghĩa trong
Trang 18việc định hướng và dự báo cho những cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới cũng như tại Việt Nam có thể xảy ra trong tương lai
Nghiên cứu là cơ sở khoa học để Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các NHTM có thể đưa ra những chính sách, giải pháp kịp thời và hợp lý nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng vững chắc, đảm bảo việc kinh doanh ngân hàng lành mạnh, hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới và nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, quy mô và vốn ngân hàng có tác động tích cực đến KNSL của NHTM trong từng giai
đoạn và trong toàn bộ thời kỳ Vì vậy, các ngân hàng cần tăng quy mô và vốn với mức độ phù hợp, tùy vào năng lực của từng ngân hàng cụ thể
- Thứ hai, tương tự như quy mô và vốn ngân hàng, dư nợ cho vay được chứng minh có tác động
tích cực đến KNSL của NHTM trong từng giai đoạn và trong toàn bộ thời kỳ Tuy nhiên, các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục cho vay và đa dạng hóa hoạt động kính doanh, tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng, tránh việc phụ thuộc quá nhiều vào một số ít khách hàng và lĩnh vực cho vay cụ thể như chứng khoán, bất động sản
- Thứ ba, tiền gửi khách hàng có tác động tích cực đến KNSL của NHTM trong thời kỳ khủng
hoảng kinh tế nhưng có tác động tiêu cực trong thời kỳ hậu khủng hoảng Vì vậy, ngân hàng cần phân bổ nguồn vốn huy động được qua các kênh khác nhau, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn tương ứng với tiền gửi ngắn hạn mà ngân hàng huy động được và không phụ thuộc nhiều vào hoạt động tín dụng
- Thứ tư, chi phí hoạt động có tác động trái ngược đến KNSL của NHTM trong từng giai đoạn
Vì vậy, ngân hàng có thể tăng chi phí hoạt động nhưng phải sử dụng chi phí một cách có hiệu quả mới có thể đảm bảo hiệu quả tài chính khi chi phí hoạt động gia tăng Năng lực quản lý chi phí hoạt động là yếu tố quan trọng đảm bảo lợi nhuận tăng nhanh hơn so với chi phí bỏ ra
- Thứ năm, mặc dù KNSL của các NHTM tốt hơn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới
Tuy nhiên, việc bùng nổ tín dụng nhưng chất lượng tín dụng kém đã để lại hậu quả lâu dài cho
hệ thống ngân hàng mà cho đến nay vẫn chưa thể giải quyết được, đặc biệt là nợ xấu tăng mạnh trong giai đoạn sau đó Do vậy, chất lượng tín dụng là điều cực kỳ quan trọng Ngân hàng Nhà nước cần giám sát chặt chẽ các NHTM nhằm đảm bảo chất lượng khoản vay và mục đích sử dụng
Trang 19vốn vay, không nên nôn nóng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng quá cao cho hệ thống ngân hàng
mà không giám sát được một cách có hiệu quả
- Thứ sáu, Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập mức tăng trưởng tín dụng hợp lý hơn cho từng ngân
hàng và cho toàn bộ hệ thống ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về mọi mặt khi thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế Chính phủ cần có cách tiếp cận khác trong việc ứng phó với các cuộc khủng hoảng kinh tế tiềm tàng trong tương lai
1.6 KẾT CẤU LUẬN ÁN
Nội dung của Luận án bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
Trang 20kỳ kinh doanh, bao gồm bốn giai đoạn lần lượt: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh Khi suy thoái kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế và dẫn đến khủng hoảng kinh tế
Do đó, chính phủ các nước thường hoạch định những chính sách can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra Vì thế, một số quan điểm mới mà tiêu biểu là Samuelson
và Nordhaus (2007) cho rằng, chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba giai đoạn, lần lượt là giai đoạn suy thoái, giai đoạn phục hồi và giai đoạn hưng thịnh Trong đó, giai đoạn suy thoái là sự suy giảm của GDP thực trong thời gian liên tục hai hoặc hơn hai quý (tốc
độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý)
Gordon (1994) cho rằng chu kỳ kinh tế bao gồm những giai đoạn bành trướng xảy ra hầu như cùng một lúc trong nhiều hoạt động kinh tế, và tiếp theo đó lại có những giai đoạn khủng hoảng và những giai đoạn hồi phục được hòa nhập vào giai đoạn bành trướng của chu kỳ tiếp sau
Begg và cộng sự (2007) cho rằng chu kỳ kinh tế là sự biến động của tổng sản lượng trong ngắn hạn xung quanh đường xu thế của nó (đường xu thế của sản lượng là một tiến trình đều đặn của sản lượng dài hạn khi mà những biến động trong ngắn hạn đã được tính bình quân)
Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ cho rằng suy thoái kinh tế là
sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng đến hơn một năm Suy thoái kinh
tế có thể liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận
Trang 21doanh nghiệp và có thể gắn liền với lạm phát hoặc giảm phát Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế (NBER, 2010)
Giai đoạn phục hồi là khi GDP bắt đầu tăng trở lại và tăng cho đến khi đạt bằng mức GDP trước suy thoái kinh tế Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tiếp kể từ điểm đáy Điểm ngoặt giữa hai giai đoạn suy thoái và giai đoạn phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007)
Giai đoạn hưng thịnh là khi GDP tăng lớn hơn mức GDP đạt lúc trước khi suy thoái xảy
ra thì nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh và giai đoạn hưng thịnh kết thúc bằng sự bắt đầu giai đoạn suy thoái mới Điểm ngoặt từ giai đoạn hưng thịnh sang giai đoạn suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007)
2.1.2 Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế
Lý thuyết chu kỳ kinh tế được nghiên cứu vào đầu thế kỷ 19, với 2 xu hướng chính
Xu hướng thứ nhất, theo quan điểm kinh tế chính trị của Marx (1894), nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa và phương thức chiếm hữu tư nhân mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không thể tránh khỏi Tư bản là giá trị tự gia tăng mà xu hướng mở rộng bành trướng là bản chất cơ bản của nó Mục tiêu của nhà tư bản là tăng giá trị vốn, chứ không phải tiêu dùng Nguyên nhân chính này làm nảy sinh các mâu thuẫn khác giữa tư bản và lao động, sản xuất và tiêu dùng, sự tổ chức sản xuất bài bản bên trong xí nghiệp riêng lẻ và tính vô chính phủ của nền sản xuất
Xu hướng thứ hai, với đại diện là các nhà kinh tế học Sismondi, Rodbertus, Malthus, là những người đầu tiên công nhận khả năng của cuộc khủng hoảng toàn diện – khủng hoảng sản xuất thừa trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Bên cạnh đó, họ đã đặt vấn đề về các nguyên nhân xuất hiện của khủng hoảng kinh tế Sismondi (1819) cho rằng nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế nằm trong mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản Vì vậy, ông gần như hiểu được tính quy luật khách quan của khủng hoảng kinh tế, đó là hiện tượng thường xuyên lập lại Tính không hoàn thiện của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như việc các doanh nhân đưa ra những quyết định sản xuất chỉ chủ yếu dựa trên giá và chi phí mà
Trang 22không biết về các hành động của nhau Kết quả là lượng cung được xác định bởi lượng vốn, chứ không phải lượng cầu Dẫn đến khả năng sản xuất thừa
Theo Malthus (1820), nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là một phần sản phẩm tương ứng về giá trị với lợi nhuận không tìm thấy đủ cầu trên thị trường Luận điểm này giống lý thuyết cầu hiệu quả của Keynes sau này Nhưng theo ông, khủng hoảng kinh tế chỉ
là hiện tượng tạm thời
Rodbertus (1850) nghiên cứu vấn đề phân phối, nhận định rằng khủng hoảng kinh tế xuất phát từ xu hướng thiểu dùng (tiêu dùng không đủ) của giai cấp công nhân do bởi tiền lương tăng chậm hơn cung hàng hóa
Sang thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã thúc đẩy khoa học kinh
tế mở rộng và đi sâu nghiên cứu chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế
Theo trường phái Keynes (1936), xuất phát từ sự tồn tại của sự không chắc chắn không thể suy giảm trong một nền kinh tế sử dụng tiền tệ, kết quả là nền kinh tế có những giai đoạn tăng trưởng nhanh và suy thoái, sau đó là khủng hoảng Trong giai đoạn tăng trưởng chậm, các doanh nghiệp thường tỏ ra bi quan, và trong thời kỳ bùng nổ, họ lại quá lạc quan Khi không tin rằng hoạt động đầu tư của mình sẽ có lợi thì doanh nghiệp giữ tiền mặt và trả bớt nợ (chứ không tăng đầu tư trong dài hạn và giúp nền kinh tế tự điều chỉnh như trong quan điểm cổ điển) Do đó tổng cầu sẽ dịch chuyển giữa đỉnh và đáy của chu kỳ kinh tế chủ yếu tùy vào tính bầy đàn của nhà đầu tư Một khi cầu bắt đầu đi xa khỏi quỹ đạo toàn dụng thì nền kinh tế có thể lao xuống dốc theo hình trôn ốc, và rất khó để đưa nền kinh tế trở về hướng đi toàn dụng nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước Do đó, một trong những hàm ý của quan điểm này là nền kinh tế không tự điều tiết, và chính phủ phải hành động để kích cầu khi nền kinh tế suy yếu, và làm nguội nền kinh tế khi quá nóng Nếu không đủ dòng tiền chảy vào nền kinh tế để giúp cho quá trình tái tài trợ thì tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài và kết quả là khủng hoảng kinh tế xảy ra Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, việc thắt chặt chi tiêu của chính phủ, tâm lý ngại cho vay của các ngân hàng càng làm cho khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn Do vậy, chính phủ cần đẩy mạnh chi tiêu nhằm tăng tổng cầu trong thời kỳ khủng hoảng và thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ tăng trưởng nóng Đối với thị trường tài chính, trong giai đoạn khủng hoảng, ngân hàng trung ương cần hành
Trang 23khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế Quan điểm của Keynes về lãi suất cho rằng, lãi suất không nên giảm xuống thấp hơn một mức nào đó vì khi lãi suất quá thấp, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn thay vì mua trái phiếu, làm cho đầu tư giảm trong khi tình trạng tiết kiệm trở nên quá mức, làm giảm tổng cầu Bên cạnh đó, Keynes còn cho rằng, lãi suất giảm không hẳn sẽ dẫn đến tăng đầu tư Lãi suất giảm, nhưng tiết kiệm chưa chắc đã giảm theo
do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của giảm lãi suất triệt tiêu lẫn nhau Và khi tiết kiệm không giảm thì đầu tư không tăng Đầu tư mang tính chất dài hạn nên không vì lãi suất giảm trong ngắn hạn mà đầu tư sẽ tăng lên Tiết kiệm quá cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh
tế do hộ gia đình giảm tiêu dùng, doanh nghiệp không đầu tư để sản xuất nhiều hàng hóa hơn do
lo ngại không đủ cầu để tiêu thụ hàng hóa mà họ sản xuất ra và không chắc chắn về triển vọng của nền kinh tế
Trường phái tân cổ điển đồng ý với Keynes rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết trong ngắn hạn mà cần có sự can thiệp của chính phủ, nhưng lại bác bỏ quan điểm của Keynes về sự không chắc chắn không thể suy giảm Họ cho rằng thông tin là tốn kém, người lao động sẽ không chấp nhận một mức cắt giảm lương danh nghĩa kể cả khi mức giá chung đang giảm Theo trường phái tân cổ điển, nguyên nhân của sự thu hẹp quy mô đầu tư của các nhà đầu tư cũng như sự không sẵn sàng tiêu dùng của hộ gia đình là vì họ dự đoán thuế sẽ cao hơn trong tương lai để bù đắp thâm hụt ngân sách ngày càng lớn của chính phủ Bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ nhằm thúc đẩy việc làm trong suy thoái đều sẽ dẫn đến lạm phát mà không tăng được sản lượng Do đó, chính phủ chỉ cần giữ cân bằng ngân sách, và ngân hàng trung ương giữ cho cung tiền tăng với tốc độ ổn định của GDP danh nghĩa, người dân sẽ điều chỉnh kỳ vọng hợp lý và nền kinh tế
sẽ tự đi đến mức độ cân bằng
Theo trường phái hậu Keynes, điển hình là Minsky (1975), có một thời điểm mà ở đó hệ thống tài chính thay đổi từ trạng thái ổn định sang trạng thái khủng hoảng (thường được gọi là khoảnh khắc Minsky) Lý thuyết này cho rằng, các cú sốc về tài chính và hành vi sai lầm của các nhà đầu tư là nguyên nhân gây nên các đợt khủng hoảng tài chính Theo đó, khoảnh khắc Minsky
là khi các nhà đầu tư, do tài trợ cho danh mục đầu tư của mình bằng việc vay nợ quá mức, buộc phải bán các tài sản tốt nhất của mình để có thể hoàn trả nợ vay, dẫn đến một sự suy giảm mạnh
cả về giá trị lẫn thanh khoản trên thị trường tài chính Ở bất kỳ chu kỳ đặc thù nào của nền kinh
Trang 24tế, như chu kỳ tín dụng hoặc chu kỳ kinh doanh, thì khoảnh khắc Minsky là thời điểm mà ở đó các nhà đầu tư bắt đầu gặp khó khăn về thanh khoản do vòng xoáy nợ nần gây ra từ việc tài trợ các khoản đầu tư mang tính rủi ro cao Ở điểm này, tâm lý các nhà đầu tư trở nên hoảng loạn dẫn đến làn sóng bán tháo diễn ra do không có nhà đầu tư nào có thể bán được tài sản của mình tại mức giá mà nhà đầu tư chào bán cao được niêm yết trước đó, làm cho giá chào bán sụt giảm nhanh chóng, dẫn đến một suy giảm thanh khoản nặng nề và điều đó kéo theo sự sụp đổ bất ngờ theo chiều thẳng đứng của thị trường tài chính Minsky cho rằng, tính dễ tổn thương được xem
là một đặc tính cơ bản của bất kỳ nền kinh tế tư bản nào Theo đó, tính tổn thương càng cao sẽ càng làm cho rủi ro khủng hoảng tài chính lớn hơn Minsky chia các phương thức tài trợ tài chính của các nhà đầu tư ra làm 3 phần (hay 3 giai đoạn) tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau, đó là giai đoạn tài chính phòng vệ (hedge finance), giai đoạn tài chính đầu cơ (speculative finance), và giai đoạn tài chính Ponzi (Ponzi finance) Trong đó, ở giai đoạn 3, hình thức tài trợ
là tài chính Ponzi, hệ thống tài chính trở nên rủi ro cao nhất và dễ tổn thương nhất Mức độ dễ tổn thương tài chính di chuyển cùng chiều với các chu kỳ kinh tế Sau giai đoạn khủng hoảng, các nhà đầu tư bị thua lỗ nhiều sẽ có xu hướng thận trọng hơn và chọn cách phòng vệ Khi kinh
tế bắt đầu phục hồi trở lại và lợi nhuận mà nhà đầu tư kiếm được bắt đầu tăng lên, họ có khuynh hướng tin rằng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn nữa bằng cách tham gia vào các hoạt động mang tính chất đầu cơ Trong trường hợp này, các nhà đầu tư nhận thức được rằng không phải lúc nào lợi nhuận tạo ra cũng đủ để trang trải các khoản chi phí lãi vay Tuy nhiên, họ tin rằng lợi nhuận sẽ tăng lên và như vậy, các khoản nợ vay sẽ dễ dàng được thanh toán đúng hạn mà không gặp khó khăn gì đáng kể Khi nhà đầu tư vay mượn nhiều sẽ làm cho mức đầu tư tăng lên trong nền kinh tế và dẫn đến nền kinh tế tăng trưởng Sau đó, những người cho vay cũng có niềm tin rằng họ có thể dễ dàng thu hồi các khoản nợ đã cho vay mà hầu như không gặp trở ngại nào đáng kể Do đó, các ngân hàng bắt đầu tăng cường cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp vay mà không có một sự đảm bảo nào cho sự thành công của các khoản vay Các ngân hàng cũng có thể biết rằng các nhà đầu tư, doanh nghiệp này sẽ gặp khó khăn trong quá trình trả nợ Tuy nhiên, ngân hàng lại tin rằng các nhà đầu tư, doanh nghiệp sẽ có thể trả nợ bằng cách tái tài trợ khi lợi nhuận kỳ vọng của chúng tăng lên Đây chính là hình thức tài chính Ponzi Ở hình thức tài chính này, nền kinh tế đã tích lũy rủi ro tín dụng ở mức rất cao Đến lúc chỉ còn vấn đề đáng quan tâm
Trang 25cảm nhận được những rủi ro tồn tại thực sự trong nền kinh tế và bắt đầu hạn chế hoặc ngừng cho vay với các điều khoản dễ dãi Tái tài trợ trở nên là điều không thể đối với nhiều doanh nghiệp
vỡ nợ Nếu không còn đủ tiền chảy vào nền kinh tế để làm cho quá trình tái tài trợ này tiếp ttcu5 diễn ra thì sẽ bắt đầu cho một cuộc khủng hoảng kinh tế Trong suốt thời kỳ khủng hoảng, các nhà đầu tư thận trọng hơn trong các hành động của mình và bắt đầu trở về phương án phòng vệ,
và chu kỳ kinh tế khép lại Như vậy, có thể tóm tắt quan điểm của Minsky về khủng hoảng tài chính qua 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn mà nền kinh tế phục hồi và phát triển ổn định theo sau một cú
sốc hay 1 đợt khủng hoảng tài chính trước đó Trong suốt giai đoạn này, các nhà đầu tư tỏ ra hào hứng và có đánh giá đầy lạc quan về nền kinh tế Tâm lý các nhà đầu tư khá ổn định, có xu hướng lựa chọn đầu tư vào các danh mục hay tài sản an toàn Từ nguồn vốn tự có hoặc đi vay ngân hàng, họ thu được lợi nhuận ổn định, an toàn nhưng không có đột biến và đủ khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng Từ những thành công ban đầu như vậy, họ bắt đầu quan tâm đầu tư vào các tài sản có thể mang lại lợi nhuận nhiều hơn
- Giai đoạn 2: Dựa trên những thành công từ đầu tư ở giai đoạn 1, các nhà đầu tư bắt đầu mở
rộng danh mục đầu tư của mình Một lĩnh vực kinh doanh có thể có nhiều nhà đầu tư cùng tham gia và một nhà đầu tư tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau Do nhu cầu đầu tư gia tăng nhanh chóng, các nhà đầu tư bắt đầu tăng cường vay nợ Các ngân hàng cho vay nhiều hơn dẫn đến tăng trưởng tín dụng cao, lợi nhuận nhiều hơn nhưng rủi ro cũng tăng lên tương ứng Nguồn vốn tín dụng đổ nhiều hơn vào các lĩnh vực khác nhau nên tạo ra bong bóng giá các tài sản Rủi ro tăng cao làm bào mòn lợi nhuận của các nhà đầu tư Từ đó họ chỉ có thể cầm cự trả lãi cho ngân hàng, còn nợ gốc trở nên khó khăn hơn và cần thêm thời gian để trả
- Giai đoạn 3: Bong bóng tài chính thực sự bùng nổ làm cho nền kinh tế rơi vào khủng hoảng
Các ngân hàng hạn chế cho vay, tăng cường các điều kiện cho vay hoặc ngừng cho vay do nhận thấy rủi ro cao Khi đó, hoạt động đầu cơ vào các tài sản, đặc biệt là các tài sản có tính rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản bị đóng băng Các nhà đầu tư không thể trả nợ cho ngân hàng, lâm vào tình trạng kiệt quệ về tài chính, phải bán tháo các tài sản của mình với các mức giá ngày càng thấp hơn để trả nợ cho ngân hàng và cố gắng rút khỏi các danh mục đầu tư Kết quả là họ có nguy cơ bị mất vốn và rơi vào tình trạng phá sản Bản thân các ngân hàng cũng lâm vào tình
Trang 26trạng mất thanh khoản, không thể đáp ứng nhu cầu vay tiền tăng cao đột biến của các nhà đầu tư cũng như người gửi tiền gia tăng việc rút tiền mặt khỏi ngân hàng
Sau đó, nền kinh tế bắt đầu 1 chu kỳ mới, quay lại trạng thái ổn định, ưu tiên an toàn của giai đoạn 1 Các nhà đầu tư hạn chế sử dụng nợ vay làm đòn bẩy tài chính, ưu tiên lựa chọn đầu
tư vào các lĩnh vực có mức độ an toàn cao, đồng thời tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng cũng giảm xuống tương ứng với nhu cầu vay vốn giảm xuống của các nhà đầu tư
Lý thuyết chu kỳ dài được xem là lý thuyết có khả năng dự báo cao nhưng ít được sử dụng phổ biến Chu kỳ dài là sự lặp lại những thời kỳ tăng trưởng (mở rộng) và suy thoái (thu hẹp) của quá trình tái sản xuất kinh tế thế giới kéo dài trung bình 50 năm và được chia thành 4 giai đoạn nhỏ Là quy luật đặc trưng của kinh tế thị trường từ sau giai đoạn công nghiệp hoá, chu kỳ dài ban đầu chỉ diễn ra trong thế giới tư bản phát triển nhưng ngày nay đang chiếm lĩnh nền kinh
tế toàn cầu Nguyên nhân hình thành chu kỳ dài chính là sự thay đổi hệ thống công nghệ lớn Các phát minh khoa học, công nghệ đột phá và việc ứng dụng thực tiễn chúng cho ra đời và phát triển những ngành công nghiệp mới ảnh hưởng lan tỏa tới năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế
Mặc dù, các trường phái khác nhau có các hướng tiếp cận khác nhau nhưng chúng không mâu thuẫn nhau và đóng vai trò là một nội dung trong hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về chu kỳ kinh tế Trong đó, trường phái Keynes và trường phái hậu Keynes (lý thuyết Minsky) đóng vai trò trọng tâm, nền tảng về lý thuyết trong nghiên cứu của luận án này Khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ, được xem xét như một giai đoạn của chu kỳ kinh tế, nó được gọi là khủng hoảng chu kỳ Còn khủng hoảng kinh tế xảy ra cục bộ ở một lĩnh vực nào là khủng hoảng đặc thù, như khủng hoảng tài chính, tín dụng, kinh doanh Cách tiếp cận khủng hoảng kinh tế như một giai đoạn cấu thành của chu kỳ kinh tế được đa số những nhà kinh tế tên tuổi ủng hộ Do đó, trong nội dung tiếp theo, luận án sẽ vận dụng kết hợp các lý thuyết này với các lý thuyết về KNSL nhằm phân tích mối quan hệ giữa khủng hoảng kinh tế và KNSL của ngân hàng thương mại Trong phạm vi của Luận án, tác giả giới hạn trong bối cảnh là khủng hoảng tài chính
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.2.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của ngân hàng thương
Trang 27mại
HQKD của NHTM có thể được đánh giá bằng nhiều phương pháp và KNSL của NHTM
là một trong số các phương pháp để đánh giá HQKD của NHTM (ECB, 2010; Yuanita, 2019) Khả năng tạo ra lợi nhuận được xem như là cách để đánh giá HQKD của NHTM (ECB, 2010)
Vì vậy, để nghiên cứu KNSL của NHTM, tác giả cần lược khảo cơ sở lý thuyết về HQKD của NHTM
Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng, tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo là mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp cũng hướng tối
đa hóa lợi nhuận bằng cách tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện thị trường độc quyền Do đó, lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp, là thước đo hiệu quả một doanh nghiệp Farrell (1957) lập luận rằng, hiệu quả nhằm đánh giá khả năng một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra với chi phí đầu vào cho trước Theo lý thuyết hệ thống, hiệu quả có thể được xem xét ở hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là khả năng có thể kiểm soát được khả năng sinh lời tạo ra hoặc giảm thiểu chi phí để có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, khía cạnh thứ hai là khả năng kết hợp một cách tối ưu các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra một đơn
vị đầu ra
KNSL là một trong các khía cạnh quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Có thể dựa vào hai chỉ tiêu đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối để đánh giá hiệu quả kinh doanh
- Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: được đo lường bằng cách lấy kết quả kinh doanh được tạo ra và trừ đi chi phí đã bỏ ra để thu được kết quả đó Cách tính này có thể phản ánh quy mô doanh nghiệp, khối lượng tạo ra, lợi nhuận đạt được trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Tuy nhiên, điều này chưa hẳn là đúng hoàn toàn vì trong một số trường hợp, cách tính này khó có thể
so sánh được với các doanh nghiệp có thể cùng quy mô doanh nghiệp nhưng lại có chiến lược kinh doanh hay chiến lược đầu tư theo hướng dài hạn, chưa thể hiện chính xác tuyệt đối kah3 năng sử dụng các nguồn lực khi so sánh hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức
- Hiệu quả kinh doanh tương đối: có thể được đánh giá bằng cách so sánh giữa tỷ lệ của kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào Có thể so sánh các yếu tố đầu vào và đầu ra đối với trường hợp doanh nghiệp, cách tính hiệu quả kinh doanh tương đối được xác định như sau: Hiệu quả = đầu ra/đầu
Trang 28vào hoặc Hiệu quả = đầu vào/đầu ra Cách đánh giá này là hợp lý khi so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau về quy mô, về không gian, cũng như qua những thời kỳ khác nhau
NHTM là một định chế tài chính trung gian có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là huyết mạch của nền kinh tế thị trường, kết nối các lĩnh vực kinh tế khác nhau, luân chuyển vốn từ nơi đang dư thừa sang nơi đang thiếu một cách hiệu quả (Rose & Hudgins, 2014), nhưng xét về bản chất là một doanh nghiệp, các NHTM cũng hoạt động kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị cho các cổ đông nhưng phả hoạt động trong mức độ rủi ro cho phép Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của NHTM cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết như đánh giá hiệu quả của một doanh nghiệp, đồng thời cần xem xét đến tính chất đặc thù của NHTM
là một doanh nghiệp đặc biệt, có mức độ ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung
Xét theo nghĩa hẹp, quan điểm về hiệu quả của NHTM chính là khả năng có thể tạo ra lợi nhuận nhưng đồng thời, khác với các doanh nghiệp bình thường, các ngân hàng vẫn phải đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng cũng như trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, với mức độ rủi ro hợp lý và được kiểm soát chặt chẽ
Xét theo nghĩa rộng, hiệu quả không chỉ quan tâm đến tối đa hóa lợi nhuận mà lợi nhuận đạt được với một cấu trúc vốn hợp lý, xu hướng tăng trưởng lợi nhuận ổn định, và rủi ro được kiểm soát tốt Chang và cộng sự (2010) khi nghiên cứu về KNSL của các NHTM Đài Loan cũng cho rằng, hiệu quả thể hiện năng lực kiểm soát chi phí và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để tạo ra đầu ra
Trong các nghiên cứu hiệu quả kinh doanh ngân hàng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo cách tiếp cận sản xuất với quan điểm ngân hàng như là đơn vị sản xuất có các tác giả Benston (1965), Zenios và cộng sự (1999) Theo cách tiếp cận trung gian trung gian tài chính có Sealey và Lindley (1977), Casu và Girardone (2003) Theo cách tiếp cận kết hợp của hai quan điểm trên cho rằng ngân hàng đóng cả hai vai trò vừa là đơn vị sản xuất vừa là trung gian tài chính có Denizer và cộng sự (2000), Athanassopoulos và Giokas (2000)
Quan điểm của Benston (1965) cho rằng các ngân hàng cũng được xem như là các nhà cung cấp các dịch vụ cho khách hàng Đầu vào bao gồm các yếu tố như lao động, vật liệu, không
Trang 29các dịch vụ tài chính mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng và được tính bằng số lượng giao dịch, loại giao dịch, số lượng văn bản có khả năng xử lý hoặc các dịch vụ mà ngân hàng có thể cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định Trong trường hợp không thể có số liệu chi tiết, chúng ta có thể thay thế các số liệu đó bằng các số liệu khác, chẳng hạn như số liệu về các tài khoản tiền gửi và cho vay như là một thay thế hợp lý cho các mức độ dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Hướng tiếp cận này đã chủ yếu được áp dụng khi nghiên cứu về hiệu quả của các ngân hàng cụ thể
Quan điểm của Sealey và Lindley (1977) cho rằng các lý thuyết kinh tế vĩ mô truyền thống nhận định các công ty và ngân hàng chỉ khác nhau về đặc điểm hoạt động Các NHTM được xem
là nơi chuyển giao vốn giữa người tiết kiệm và đầu tư nên NHTM sản xuất dịch vụ trung gian tài chính bằng cách huy động vốn từ nền kinh tế và đầu tư vào các tài sản có sinh lãi như các khoản tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản đầu tư khác Cách tiếp cận này, chi phí của ngân hàng bao gồm chi phí hoạt động và lãi suất huy động là yếu tố đầu vào, trong khi các khoản tín dụng và tài sản có sinh lãi khác được xem là kết quả đầu ra Tuy nhiên, khi tranh luận về phương pháp này trong việc xác định tiền gửi được coi là đầu vào hay đầu ra, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Mester (1987) cho rằng, thu nhập từ lãi vay là khoản mục đóng vai trò quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, tài sản là đầu ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong khi đó, đầu vào là các khoản tiền gửi, vốn, lao động Do đó, khả năng tăng trưởng tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng Nếu tín dụng của ngân hàng được xem như là một sản phẩm thì giá cả của sản phẩm chính là lãi suất cho vay Ngoài ra, nguồn vốn huy động của ngân hàng là các khoản tiền gửi của người gửi tiền Do đó, tiền gửi có thể được xem như là yếu tố đầu vào để tạo ra đầu ra là các khoản cho vay như một sản phẩm trong giai đoạn sản xuất
Quan điểm của Frexias (2009) có sự khác biệt so với hơn hai phương pháp trên khi kết hợp một số hoạt động cụ thể của ngân hàng vào các lý thuyết cổ điển Nghiên cứu về việc tìm hiểu các yếu tố đầu ra trong hoạt động của NHTM đã xây dựng nên một số phương pháp tiếp cận hiện đại như: hướng tiếp cận theo tài sản, hướng tiếp cận theo chi phí sử dụng, hướng tiếp cận theo giá trị gia tăng, hướng tiếp cận theo phương diện hoạt động
Quan điểm của Sealey và Lindley (1977) thể hiện sự chú trọng vào vai trò trung gian tài chính của NHTM, đó là vai trò cầu nối giữa người gửi tiền và người sử dụng tài sản cuối cùng
Trang 30của ngân hàng Tiền gửi và các khoản nợ khác, cùng với nguồn lực thực tế, như vốn và lao động, được xác định là yếu tố đầu vào, trong khi các yếu tố đầu ra là các tài sản của ngân hàng, cụ thể như các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp
Hancock (1985) cho rằng việc xác định sản phẩm tài chính là đầu vào hay đầu ra được dựa trên mức đóng góp vào thu nhập ròng của ngân hàng Nếu lợi nhuận tài chính trên một đồng tài sản lớn hơn chi phí cơ hội của một đồng vốn bỏ ra, hoặc nếu các chi phí tài chính của các khoản nợ phải trả ít hơn chi phí cơ hội thì được xem như là kết quả đầu ra; nếu ngược lại là yếu
tố đầu vào
Berger và cộng sự (1997) lập luận các số liệu trên bảng cân đối tài sản (tài sản hoặc nợ phải trả) như là yếu tố đầu ra, đóng góp vào giá trị gia tăng của ngân hàng Theo cách tiếp cận này, các khoản mục chính của các khoản tiền gửi (như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) và cấp tín dụng (như cho vay khách hàng, cho vay các TCTD khác, bảo lãnh, tiền gửi tại các TCTD khác) là kết quả của đầu ra vì chúng thể hiện giá trị gia tăng của ngân hàng
Leightner và Lovell (1998) thì cho rằng ngân hàng là đơn vị kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo lợi nhuận từ tổng chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh Vì vậy, định nghĩa yếu
tố đầu ra của ngân hàng là tổng doanh thu (từ tín dụng hoặc từ các hình thức cung cấp dịch vụ phi tín dụng khác) và các yếu tố đầu vào như tổng chi phí (chi phí lãi suất và chi phí hoạt động)
Dựa trên các quan điểm đó, có thể khái quát HQKD của NHTM là khả năng kết hợp tối
ưu để tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào như nguồn vốn, trang thiết bị, lao động… và các yếu tố thược về sản xuất kinh doanh của bản thân NHTM như huy động vốn, cấp tín dụng, đầu tư, cung cấp các dịch vụ khác nhằm đạt giá trị đầu ra tối đa HQKD của NHTM có thể được đo lường bằng cách so sánh với đường biên sản xuất của nó
Do đó, HQKD của NHTM khá đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mà HQKD có thể được xét theo những khía cạnh khác nhau Với mục đích nghiên cứu của Luận án này, hiệu quả kinh doanh sẽ được nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận hoạt động hay dựa trên khả năng sinh lời của các ngân hàng trong điều kiện các hoạt động của NHTM được duy trì ổn định và mức độ rủi ro được kiểm soát ở mức hợp lý
Trang 312.2.2 Các lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Khả năng sinh lời của ngân hàng là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Các nghiên cứu về khả năng sinh lời của ngân hàng hay hiệu quả kinh doanh của ngân hàng cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết quyền lực thị trường (MP – market power) và lý thuyết cấu trúc hiêụ quả (ES - efficient structure)
Lý thuyết quyền lực thị trường
Lý thuyết quyền lực thị trường (MP – market power) có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc-Hành vi-Hiệu quả (SCP, Structure-Conduct-Performance), do Chamberlin (1933) và Robinson (1933) đề xuất, và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative market power), do Smirlock (1985) đề xuất
Chamberlin (1933) và Robinson (1933) là những người đề xuất lý thuyết Cấu trúc-Hành vi-Hiệu quả (SCP, Structure -Conduct-Performance) và sau đó được phát triển bởi Bain (1951) Lý thuyết này cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của công ty và hành vi quyết định kết quả của thị trường, chẳng hạn như khả năng sinh lời, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng Đặc biệt, những ngành có sự tập trung cao có thể tạo ra những hành vi dẫn đến kết quả nền kinh
tế yếu kém, dẫn đến hành vi làm giảm sản lượng và hình thành nên giá cả độc quyền
Lập luận theo lý thuyết SCP, các ngân hàng càng có khả năng tập trung cao thì càng có khả năng thao túng thị trường bằng cách áp lãi suất cho vay cao và lãi suất huy động thấp vì mức
độ cạnh tranh thấp đi (VanHoose, 2010) Lloyd - William và cộng sự (1994) đã tìm được bằng chứng cho lý thuyết SCP trong trường hợp các ngân hàng tại Tây Ban Nha trong giai đoạn từ năm 1986 – 1988
Một trường hợp khác của lý thuyết quyền lực thị trường là lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP, Relative market power), được phát triển bởi Smirlock (1985) Smirlock cho rằng các ngân hàng có thị phần lớn, có sản phẩm, dịch vụ khác biệt sẽ có khả năng kiểm soát thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn Các ngân hàng lớn với thương hiệu và chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt có thể tăng giá trên mức bình thường và có KNSL tốt hơn (Berger, 1995) Chẳng hạn một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn do các ngân hàng khác không
Trang 32có sản phẩm hoặc dịch vụ để có thể cạnh tranh lại Lý thuyết này cho rằng, lĩnh vực nào càng có thị trường tập trung thì khả năng sinh lời đạt được càng cao do lợi ích từ sức mạnh thị trường mang lại Do đó, tồn tại mối quan hê ̣cùng chiều giữa lợi nhuận đạt được và quyền lực thi ̣trường (Maudos & de Guevara, 2007), giả thuyết hàm ý quyền lực thi ̣trường gia tăng thông qua quy
mô tăng làm tăng hiệu quả của các ngân hàng Hay nói cách khác, quy mô càng tăng càng làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng Nghiên cứu của Molyneux (1993) chỉ ra rằng có bằng chứng cho thấy lợi nhuận từ sự câu kết của các ngân hàng tại các nước Bỉ, Pháp, Italia, Hà Lan và Tây Ban Nha Tuy nhiên, không có bằng chứng tại các nước ngoài EU
Lý thuyết cấu trúc hiệu qủa
Demsetz (1973) là người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES - efficient structure) Lý thuyết này cho rằng các ngân hàng hiệu quả nhất giành được cả lợi nhuận và thi ̣phần cao hơn; các ngân hàng tăng KNSL là kết quả gián tiếp của việc cải thiện hiệu quả quản trị ngân hàng chứ không phải sức mạnh từ lợi ích thi ̣trường Anyanwaokoro (1996) đã khẳng định rằng lợi nhuận đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục người dân tin tưởng và gửi tiền tại ngân hàng Ngoài ra để giảm thiểu xác suất của khủng hoảng tài chính, Anyanwaokoro (1996) cho rằng con số lợi nhuận ấn tượng giúp trấn an các bên liên quan đến ngân hàng như các nhà đầu tư, khách hàng vay, quản lý, nhân viên, nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ bên ngoài
Do đó, quản lý rủi ro chi phí càng chặt chẽ, càng làm tăng lợi nhuận
Lý thuyết cấu trúc hiêụ quả (Efficient structure) cho rằng hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường Theo đó, các ngân hàng đạt được lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động có hiệu quả hơn (Olweny & Shipho , 2011) Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES - efficient structure) được đề xuất theo 2 hướng tiếp cận khác nhau là tiếp cận theo hiệu quả X và tiếp cận theo quy
mô, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét (Berger, 1995) Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X (X-Efficiency), thâu tóm và sáp nhập là kết quả của việc tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận Các ngân hàng hay công ty có khả năng giảm giá sản phẩm, dịch vụ có thể thu hút thêm nhiều khách hàng Từ đó, đạt thị phần lớn và lợi nhuận cao hơn, bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào (Muharrami & Matthews, 2009) Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa theo quy mô Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn
Trang 33là nhờ tính kinh tế theo quy mô (Olweny & Shipho, 2011) Jayaratne và Strahan (1998) tìm được bằng chứng cho thấy các ngân hàng giảm mạnh chi phí hoạt động và nợ xấu nhờ được phép mở rộng chi nhánh
Như vậy, có thể thấy lý thuyết quyền lực thị trường (MP – market power) cho rằng, khả năng sinh lời của ngân hàng được xác định theo yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES - efficient structure) cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các yếu
tố bên trong, tức là hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị
Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào các lý thuyết trên để đưa một số biến vào mô hình nhằm đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng và phần lớn đều cho rằng, KNSL của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny & Shipho, 2011)
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Hai tỷ số cơ bản thường được sử dụng để đánh giá KNSL của NHTM là ROA và ROE (Nguyễn Minh Kiều, 2009)
- Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA) ROA là chỉ tiêu đo lường khả năng
các NHTM quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận Trong đó, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, tổng tài sản hay vốn chủ sở hữu được lấy từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản thể hiện lợi nhuận được tạo ra trên mỗi đồng tài sản, phản ánh khả năng quản trị và sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) Tài sản của một ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng ROA càng cao cho thấy ban quản trị ngân hàng quản lý tốt tài sản và chuyển thành lợi nhuận ròng một cách hợp lý Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng
vì trong tình huống đó, ngân hàng đối mặt với nguy cơ rủi ro cao vì mối quan hệ thuận chiều giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Nhược điểm của ROA là không phản ánh các hoạt động ngoại bảng, đôi khi chiếm một tỷ trọng rất lớn trong hoạt động ngân hàng ROA được tính theo công thức:
Trang 34𝑅𝑂𝐴 = 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̉𝑛
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu
quả của vốn chủ sở hữu, nghĩa là thể hiện lợi nhuận ngân hàng thu được từ mỗi đồng vốn chủ sở hữu Do đó, ROE cho thấy khả năng quản trị và sử dụng vốn chủ sở hữu để tạo ra thu nhập cho các cổ đông ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông có được từ nguồn vốn đầu tư vào ngân hàng Do đó, ROE là chỉ tiêu quan tâm hàng đầu của các cổ đông khi mục tiêu của họ là lợi nhuận ROE có một nhược điểm lớn đó chính là chịu ảnh hưởng từ đòn bẩy tài chính và tác động của các quy định về đòn bẩy tài chính Điều này làm cho những ngân hàng nào có xu hướng vay nợ cao hơn thì thường có tỷ suất sinh lợi cao hơn các ngân hàng sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu ROE được tính theo công thức:
𝑅𝑂𝐸 = 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
𝑉ố𝑛 𝑐ℎ𝑢̉ 𝑠ở ℎữ𝑢
Bên cạnh đó, chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) có thể
được sử dụng để đánh giá KNSL của NHTM (Nguyễn Minh Kiểu, 2009) NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Tỷ lệ này càng cao thì càng tốt cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì lúc này ngân hàng thu lãi nhiều hơn chi trả lãi Nếu tỷ lệ này thấp chứng tỏ tài sản sinh lời của ngân hàng có mức sinh lời không cao hoặc ngân hàng đã huy động nguồn vốn với lãi suất cao nên mức chênh lệch ngày càng thấp Mức lãi ròng biên tốt là chỉ dẫn về: thu nhập từ khoản cho vay tốt, tỷ lệ chi phí thấp, hiệu quả
sử dụng tài sản và khả năng thu được lợi nhuận từ nguồn vốn NIM được tính theo công thức:
𝑁𝐼𝑀 = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ừ 𝑙𝑎̃𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎ𝑖́ 𝑡𝑟𝑎̉ 𝑙𝑎̃𝑖
𝑇ô ̉𝑛𝑔 𝑡𝑎̀𝑖 𝑠𝑎̉𝑛 𝑐𝑜́ sinh 𝑙𝑎̃𝑖Kết quả nghiên cứu của Tabari và cộng sự (2013) chỉ ra rằng KNSL của ngân hàng được
đo lường bởi chỉ tiêu: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Theo Sufian (2011), để đo lường KNSL của NHTM, có một số chỉ số thường được sử dụng như: ROA, ROE và NIM Theo Murthy và Sree (2003), ROE là chỉ số tài chính chỉ ra được
Trang 35là chỉ số then chốt để đánh giá KNSL của NHTM và được tính bằng thu nhập trên tổng tài sản (Molyneux & Thornton, 1992)
Trong phạm vi của Luận án, tác giả giới hạn sử dụng 2 chỉ tiêu là ROA và ROE để đánh giá KNSL của các NHTM Việt Nam vì ROA cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng như chủ sở hữu và nhà đầu tư, hoặc các cơ quan quản lý muốn xếp hạng, so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng với nhau Trong khi đó, ROE là tỷ số được các chủ sở hữu đặc biệt quan tâm
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.3.1 Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô
Theo Keynes (1936), khi nền kinh tế suy giảm, các doanh nghiệp thường tỏ ra bi quan
Từ đó họ sẽ hạn chế đầu tư, cắt giảm sản lượng Kết quả là toàn bộ nền kinh tế bị ảnh hưởng, tăng trưởng GDP sụt giảm, thậm chí tăng trưởng âm Trong khi đó, lạm phát tăng cao do hàng hóa khan hiếm, tỷ giá tăng cao do nhà đầu tư nước ngoài rút vốn Đối với hệ thống ngân hàng, khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, nợ xấu tăng cao làm cho lợi nhuận ngân hàng sụt giảm do phải tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Nợ xấu tăng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp, người dân không thể vay vốn ngân hàng nhằm đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng Khi nhu cầu tiêu dùng và hoạt động đầu tư giảm, tăng trưởng tín dụng, huy động vốn của ngân hàng bị suy giảm Đối với các NHTM Việt Nam, lợi nhuận phụ thuộc rất lớn vào tín dụng, nếu tín dụng không tăng trưởng hoặc tăng trưởng thấp, lợi nhuận sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí bị thua lỗ Không giống như một doanh nghiệp thông thường, NHTM có sự ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế cũng như ảnh hưởng lên toàn xã hội Khi một ngân hàng bị phá sản sẽ kéo theo các ngân hàng khác phá sản theo do mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau của các ngân hàng cũng như tâm lý người gửi tiền thường tỏ ra hoang mang, lo sợ khi có một ngân hàng bị phá sản Hậu quả đối với nền kinh tế - xã hội sẽ vô cùng lớn, không thể ước tính được
Bên cạnh đó, NHTM là trung gian tín dụng, huy động từ các nguồn tiền nhàn rỗi để cho vay và đầu tư Khi nguồn vốn huy động bị suy giảm do khủng hoảng kinh tế, hoạt động cho vay
và đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô: tăng trưởng GDP sụt giảm, lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc giải
Trang 36thể Do vậy, chính phủ các nước thường có các gói kích thích kinh tế để thức đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô Nhờ đó, nền kinh tế nói chung và hệ thống NHTM nói riêng sẽ được hưởng lợi từ biện pháp kích cầu của chính phủ Cụ thể, các ngân hàng có thể cho vay nhiều hơn, có thu nhập cao hơn từ việc cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu
mở rộng đầu tư của doanh nghiệp, nhu cầu tiêu dùng tăng cao của dân chúng
2.3.2 Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro tín dụng
Theo Keynes (1936), nền kinh tế có những giai đoạn tăng trưởng nhanh và suy thoái, sau đó là khủng hoảng Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động khó khăn hơn, phải cắt giảm đầu tư do tiêu dùng suy yếu của cá nhân và hộ gia đình Kết quả là các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình không thể trả nợ đúng hạn, gia tăng rủi ro tín dụng, từ đó làm cho nợ xấu của các ngân hàng và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh, đặc biệt các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tín dụng, không đa dạng hóa nguồn thu nhập Khi nợ xấu tăng lên, dự phòng rủi ro tín dụng cũng tăng, dẫn đến lợi nhuận của các ngân hàng giảm mạnh Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp có nợ xấu tại ngân hàng sẽ không thể vay để đầu tư vào các dự án cũng như bổ sung vốn lưu động, dẫn đến sự phá sản và tác động dây chuyền đến các doanh nghiệp khác Tác động cuối cùng là làm giảm mạnh lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí làm phá sản ngân hàng nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Quốc Anh (2016), Ayaydin (2014), Petria (2013) đều chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và KNSL của ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng càng cao càng làm giảm KNSL
và sự ổn định của NHTM Dưới tác động của biện pháp kích cầu có thể làm dư nợ cho vay tăng mạnh nhưng kèm theo đó là nợ xấu tăng nhanh nếu các ngân hàng không kiểm soát tốt chất lượng khoản vay
2.3.3 Khủng hoảng kinh tế làm tăng rủi ro thanh khoản
RRTK là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoăc ̣ nghiã vụ nợ với chi phí thấp nhất (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, 2003) Trong điều kiện có khủng hoảng hay điều kiện khắc nghiệt của nền kinh tế, các ngân hàng có xu hướng dự trữ thấp hơn mức dự trữ tối ưu, từ đó có thể làm gia tăng lợi nhuận của ngân hàng trong khi đối với điều kiện bình thường, các ngân hàng có mức dự trữ cao hơn để đáp ứng khả năng thanh khoản Điều đó
Trang 37rủi ro thanh khoản lên (Osborne & cộng sự, 2012) Lý thuyết đánh đổi rủi ro – lợi nhuận cho rằng rủi ro cao thì lợi nhuận cao và ngược lại Trong giai đoạn thị trường tài chính có những biến động bất thường như suy thoái hay khủng hoảng, rủi ro thanh khoản trong toàn hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng sẽ tăng cao do người gửi tiền có xu hướng rút tiền khỏi ngân hàng để đầu tư vào những tài sản an toàn hơn và có khả năng sinh lời cao hơn Khi ngân hàng không đủ thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền, các ngân hàng đó sẽ phải huy động vốn bằng nhiều cách thức khác nhau như huy động trên thị trường liên ngân hàng, bán các tài sản có trên thị trường tài chính, thực hiện các giao dịch phái sinh, và giải pháp cuối cùng là sử dụng nghiệp vụ tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn từ NHTW Trong trường hợp không nhận được sự hỗ trợ thanh khoản của NHTW, các NHTM sẽ bị phá sản Nếu các thị trường tài chính vẫn ổn định thì sự khó khăn thanh khoản tạm thời của một NHTM nào đó có thể nhận được giải quyết một cách đơn giản bằng cách vay từ các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng Tuy nhiên, nếu thị trường tài chính đang trong giai đoạn không ổn định, biến động với biên độ lớn, thì sự thiếu hụt về thanh khoản của một ngân hàng sẽ làm cho các ngân hàng khác gặp khó khăn theo do sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các ngân hàng trong hệ thống Điều này sẽ dẫn đến một khả năng đó là hàng loạt các ngân hàng tìm cách duy trì thanh khoản bằng cách bán tháo các tài sản của mình trên thị trường tài chính, dẫn nguy cơ rủi ro thanh khoản thị trường ngày càng lớn Sự bán tháo ồ ạt các tài sản trên thị trường càng làm cho lãi suất tăng lên, giá trị của tài sản thế chấp sụt giảm nhanh chóng Đối với những chủ thể đang thừa thanh khoản cũng lo ngại ảnh hưởng lan truyền cho chính bản thân nên tìm cách găm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, từ chối hoặc đưa ra các yêu cầu cao hơn khi cung cấp thanh khoản cho các chủ thể thiếu hụt dù lãi suất cao, làm cho thị trường tài sản bị đóng băng (Brunnermeier & Pedersen, 2009) Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa rủi
ro thanh khoản và KNSL của NHTM Các nghiên cứu của Fungáčová và Poghosyan (2011), Lee
và Hsieh (2013), Goddard và cộng sự (2004) chứng minh việc nắm giữ tài sản thanh khoản tác động tiêu cực đến KNSL Trong khi đó, các nghiên cứu của Kohlscheen và cộng sự (2018), Kosmidou và cộng sự (2005), Poposka và Trpkoski (2013), Trần Thị Thanh Nga (2018) cho thấy việc tăng cường nắm giữ tài sản thanh khoản tác động tích cực đến KNSL của NHTM
Trang 382.4 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu KNSL của NHTM trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, so sánh với thời kỳ hậu khủng hoảng, tác giả cần phải đánh giá được những yếu tố nào tác động đến KNSL
2.4.1 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Nghiên cứu của Petria và cộng sự (2013) tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các ngân hàng khối EU từ năm 2004 – 2011 Chỉ tiêu ROA và ROE được sử dụng để đánh giá KNSL
và mô hình tác động cố định (fixed effects) được lựa chọn Kết quả có các yếu tố là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, hiệu quả quản trị, mức độ đa dạng hóa kinh doanh, khả năng cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Iskandar và cộng sự (2019) về KNSL của 8 NHTM tại Malaysia từ năm
2011 đến năm 2017 Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý, rủi ro thanh
khoản là các yếu tố có tác động mạnh nhất đến KNSL của các NHTM tại Malaysia
Kohlscheen và cộng sự (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của 534 ngân hàng tại 19 thị trường mới nổi, bao gồm 7 nước châu Á, 5 nước Mỹ Latinh, 5 nước Trung và Đông Âu, Nam Phi và Israel Biến phụ thuộc bao gồm ROA, ROE, NIM Các yếu tố bao gồm bên trong và bên ngoài ngân hàng Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy yếu tố tăng trưởng tín dụng tác động mạnh tới KNSL hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP Điều đó có nghĩa là chu kỳ
tín dụng có nhiều tác động hơn so với chu kỳ kinh tế
Staikouras và Wood (2004) xem xét các yếu tố tác động đến KNSL của các ngân hàng châu Âu từ năm 1994 đến năm 1998 Kết quả nghiên cứu chỉ ra KNSL của NHTM bị tác động
bởi không chỉ các quyết định quản trị mà còn bởi những thay đổi sự thay đổi các yếu tố vĩ mô
Iacobelli (2016) nghiên cứu các yếu tố tác động đến KNSL của 26 ngân hàng toàn cầu từ năm 1980 đến năm 2015 Kết quả cho thấy vốn và năng suất làm tăng KNSL, rủi ro tín dụng và chi phí quản lý tác động ngược lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát tác động dương đến
KNSL
Trang 39Nghiên cứu của Yao và cộng sự (2018) về các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của 28 ngân hàng tại Pakistan từ nam 2007 đến năm 2016 Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, cấu trúc tài chính, chi phí hoạt động, khả năng thanh khoản, chi phí trả lãi, năng suất lao động, quyền lực thị
trường, tăng trưởng kinh tế Trong đó, chi phí trả lãi tác động ngược chiều đến KNSL của NHTM
Rahman và cộng sự (2015) tìm hiểu các yếu tố quyết định đến KNSL của các NHTM Bangladesh từ năm 2006 đến năm 2013 với các chỉ tiêu là ROA, ROE, NIM Kết quả cho thấy vốn ngân hàng (bao gồm vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản và hệ số an toàn vốn CAR) và mức độ cho vay (khả năng thanh khoản) tác động dương đến KNSL, chi phí và hoạt động ngoại bảng tác động ngược chiều đến KNSL, rủi ro tín dụng, thu nhập ngoài lãi, cấu trúc sở hữu, quy
mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát có sự tác động không đồng đều đến ROA, ROE, NIM Thu nhập ngoài lãi tác động dương đến ROA và ROE nhưng tác động âm đến NIM, rủi ro tín dụng chịu ảnh hưởng duy nhất đến NIM theo chiều dương Chỉ có quy mô ngân hàng tác động dương đến ROA, kết quả cũng cho thấy cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến ROE Trong khi các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP ảnh hưởng mạnh đến NIM và lạm
phát có ảnh hưởng đến ROA và ROE
Gaber (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM tại Palestine
từ năm 1995 đến năm 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, vốn ngân hàng,
dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, lạm phát, tăng trưởng kinh tế là các yếu tố ảnh hưởng đến ROA và ROE Trong đó, quy mô ngân hàng ảnh hưởng tích cực đến ROE, vốn ngân hàng ảnh hưởng tích cực đến ROA, dư nợ cho vay ảnh hưởng tích cực đến ROA và ROE, tiền gửi khách
hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến ROA và ROE
Nghiên cứu của Zhang và Dong (2011) tìm hiểu các yếu tố tác động đến KNSL của NHTM tại Mỹ từ năm 2000 đến năm 2008 Kết quả cho thấy các yếu tố bên trong ngân hàng là tỷ lệ vốn
tự có, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động trên tổng tài sản ảnh hưởng tích cực đến KNSL Yếu tố bên
ngoài là tốc độ tăng trưởng GDP làm tăng KNSL, trong khi lãi suất tác động tiêu cực đến KNSL
Nghiên cứu của Alexiou và Sofoklis (2009) về các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến KNSL của 6 NHTM chiếm 80% thị phần tại Hy Lạp từ năm 2000 đến năm 2007 Nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu ROA, ROE để đánh giá KNSL Kết quả nghiên cứu chỉ ra có các biến vi mô là quy mô ngân hàng, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng, năng suất lao động, hiệu suất thu nhập, tỷ lệ
Trang 40vốn tự có/tài sản; các biến vĩ mô là lạm phát, lãi suất, GDP, tiêu dùng nội địa và đầu tư Mô hình tác động cố định được sử dụng, ước lượng 3SLS xử lý vấn đề nội sinh trong mô hình, sử dụng biến giả cho từng ngân hàng
Ndoka và cộng sự (2016) nghiên cứu tác động của rủi ro thanh khoản đến KNSL cỉa các NHTM tại Albania trong giai đoạn 2005 – 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản có tác động đáng kể đến KNSL của NHTM
Nghiên cứu của Lee và Isa (2017) được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến biên lợi nhuận của các NHTM tại Malaysia từ năm 2008 đến năm 2014 Bằng phương pháp GMM và bộ số liệu của 20 ngân hàng thông thường và 16 ngân hàng Hồi giáo, kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng thông thường bị ảnh hưởng bởi chi phí hoạt động, hiệu quả, rủi ro tín dụng, mức độ ngại rủi ro, thị phần, quy mô hoạt động, các khoản thanh toán lãi ngầm và chi phí tài trợ Đối với các ngân hàng Hồi giáo, các yếu tố đó là chi phí hoạt động, hiệu quả, rủi ro tín dụng, thị phần và các khoản thanh toán lãi ngầm
Bassey và Moses (2015) kiểm tra sự đánh đổi thanh khoản-lợi nhuận của 15 NHTM tại Nigieria Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa thanh khoản của ngân hàng - hệ số thanh toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán, tỷ lệ tiền mặt, tỷ
lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ vốn vay trên tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Athanasoglou và cộng sự (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đặc điểm của từng ngân hàng, đặc điểm ngành kinh tế và các yếu tố vĩ mô đối với khả năng sinh lời của ngân hàng, sử dụng một khuôn khổ thực nghiệm kết hợp giả thuyết cấu trúc-hành vi-hiệu quả (SCP) Bằng phương pháp GMM cho dữ liệu bảng của các ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 1985–2001, kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các yếu tố thuộc về đặc điểm ngân hàng, ngoại trừ quy mô, đều có tác động đáng kể đến KNSL của NHTM
Kosmidou và cộng sự (2005) tìm hiểu tác động của các đặc điểm cụ thể của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô và cấu trúc thị trường tài chính đối với lợi nhuận của các NHTM tại Anh trong giai đoạn 1995-2002 Kết quả nghiên cứu cho thấy sức mạnh vốn của các ngân hàng có ảnh hưởng tích cực và chi phối đến lợi nhuận, các yếu tố quan trọng khác là hiệu quả quản lý chi phí và quy mô ngân hàng