1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện trong một số tác phẩm hiện thực phê phán của nguyễn công hoan và nam cao

193 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện trong một số tác phẩm Hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao” tôi đã nhận được sự giúp đỡ,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HOÀI AN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN

CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HOÀI AN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN

CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 62 22 01 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

GS.TS TRẦN TRÍ DÕI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGUYỄN HỮU ĐẠT

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, không sao chép từ các công trình nghiên cứu khác Nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu này là trung thực, đáng tin cậy Tôi là người trực tiếp thống kê và xây dựng các bảng số liệu Các ý kiến khoa học nêu trong luận án được tác giả kế thừa và trích nguồn theo đúng quy định

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hoài An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện

trong một số tác phẩm Hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo để hoàn

thành luận văn này Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, Khoa Ngôn ngữ – Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt– người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi hoàn thành

đề tài nghiên cứu khoa học này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc, Ban giám hiệu Trường THPT Bình Xuyên, các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên, cổ

vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song luận

án có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

CHÚ THÍCH VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa của luận án 7

6 Bố cục của luận án 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện nói chung 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 16

1.2 Cơ sở lý luận và một số khái niệm quan yếu 21

1.2.1 Điểm nhìn nghệ thuật 22

1.2.2 Ngôn ngữ kể chuyện 25

1.2.3 Tình thái trong ngôn ngữ kể chuyện 37

Tiểu kết chương I 45

CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO 46

2.1 Điểm nhìn của người kể chuyện 46

2.1.1 Kết quả thống kê 47

2.1.2 Phân tích kết quả 47

2.2 Ngôn ngữ kể 59

2.2.1 Kết quả thống kê, phân loại sự kiện 59

2.2.2 Phân tích kết quả 62

2.3 Ngôn ngữ miêu tả 74

2.3.1 Về phương pháp miêu tả 74

2.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ miêu tả 81

2.3.3 Giá trị phong cách của ngôn ngữ miêu tả 85

Trang 6

Tiểu kết chương 2 92

CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO (ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM) 94

3.1 Ngôn ngữ đối thoại 94

3.1.1 Kết quả thống kê 94

3.1.2 Phân tích, miêu tả 98

3.1.3 Vai trò của ngôn ngữ đối thoại 113

3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 121

3.2.1 Kết quả thống kê 121

3.2.2 Phân tích, miêu tả 127

3.2.3 Vai trò của độc thoại nội tâm 131

Tiểu kết chương 3 136

CHƯƠNG 4 CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ NGHĨA TÌNH THÁI TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO 138

4.1 Kết quả thống kê 138

4.2 Phân tích kết quả 141

4.2.1 Nghĩa tình thái 141

4.2.2 Mối quan hệ giữa điểm nhìn với nghĩa tình thái 145

4.3 Vai trò của các phương tiện tình thái 156

4.3.1 Tình thái thể hiện phong cách, chủ quan của nhà văn 156

4.3.2 Tình thái góp phần xây dựng tính cách nhân vật 160

4.3.3 Tình thái góp phần thể hiện các giá trị nghệ thuật 163

Tiểu kết chương 4 172

KẾT LUẬN 174

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 178

TÀI LIỆU THAM KHẢO 179

PHỤ LỤC 186

Trang 7

CHÚ THÍCH VIẾT TẮT

Độc thoại nội tâm : ĐTNT Hiện thực phê phán : HTPP Người kể chuyện : NKC Nhân vật : NV

Tỉ lệ : TL Tiểu từ tình thái : TTTT Tổng số : TS

Số lượng : SL

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các điểm nhìn của người kể chuyện 47

Bảng 2.2: Kể chuyện theo điểm nhìn bên trong 54

Bảng 2.3: Các loại sự kiện trong tác phẩm 60

Bảng 2.4: Diễn biến của sự kiện trong tác phẩm 62

Bảng 3.1: Cuộc thoại và lượt lời trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan 94

Bảng 3.2: Cuộc thoại và lượt lời trong tác phẩm của Nam Cao 96

Bảng 3.3: Phân loại cuộc thoại dựa trên số nhân vật tham gia 97

Bảng 3.4: Đối thoại liền mạch và ngắt quãng 98

Bảng 3.5: Tình huống cuộc thoại trong một số tác phẩm của Nguyễn Công Hoan 99 Bảng 3.6: Tình huống cuộc thoại trong một số tác phẩm của Nam Cao 101

Bảng 3.7: ĐTNT trong tác phẩm Nguyễn Công Hoan 121

Bảng 3.8: ĐTNT trong tác phẩm Nam Cao 122

Bảng 3.9: Lời ĐTNT trong một số tác phẩm của Nguyễn Công Hoan 123

Bảng 3.10: Lời ĐTNT trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao 125

Bảng 3.11: Ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm 129

Bảng 4.1: Tần suất sử dụng các phương tiện tình thái 138

Bảng 4.2: Phân loại phương tiện tình thái 138

Bảng 4.3: Phân bố các phương tiện tình thái trong ngôn ngữ kể chuyện 139

Bảng 4.4: Nghĩa tình thái trong ngôn ngữ kể chuyện 139

Bảng 4.5: Bảng thống kê nghĩa và các phương tiện tình thái 142

Bảng 4.6: Các phương tiện tình thái cảm thán trong truyện ngắn "Dì Hảo" 169

Bảng 4.7: Thán từ tình thái “Mẹ kiếp” trong truyện ngắn Nam Cao 170

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ kể chuyện là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm tự sự Nó trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như ngôn ngữ học, văn học, thi pháp học, lí luận văn học Tìm hiểu ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một hướng nghiên cứu hiện đại hiệnđang thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý từ những người nghiên cứu

1.2 Văn học Hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945 là dòng văn học có đóng góp lớn với tiến trình phát triển của tiếng Việt hiện đại Ra đời trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, các tác phẩm văn học HTPP đã nói lên tiếng nói phê phán mạnh mẽ với xã hội đương thời, nhằm vạch trần bản chất xấu xa của giai cấp bóc lột bằng một thủ pháp riêng Một trong những yếu tố làm nên “cái riêng” của văn học HTPP được thể hiện ở ngôn ngữ kể chuyện Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có mấy công trình đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này

1.3 Trong dòng văn học HTPP Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hai nhà văn xuất sắc nhất Mấy chục năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về họ tập trung chủ yếu trên các phương diện: văn học, thi pháp học, lí luận văn học Trên phương diện ngôn ngữ học, việc nghiên cứu cũng mới chỉ thực hiện ở “diện” mà chưa đi sâu vào “điểm” Cụ thể, nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao hiện là khu vực còn bỏ trống Trong khi đó, một số tác phẩm HTPP của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao lại được lựa chọn đưa vào sách giáo khoa và giảng dạy trong nhà trường

Bởi thế, việc lựa chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện trong một số

tác phẩm hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao” theo chúng

tôi là vô cùng cần thiết

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn HTPP của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao được nghiên cứu theo đặc thù và hệ lí thuyết của ngôn ngữ học

Trang 10

Phạm vi nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật, các phương tiện và nghĩa tình thái trong một số tác phẩm Hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao được lựa chọn và in trong tuyển tập:

Nguyễn Công Hoan tuyển tập và Nam Cao tuyển tập của NXB Văn học ấn hành

năm 2012 Sở dĩ chúng tôi chọn các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn vì cả hai nhà văn đều rất thành công ở thể loại này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ

kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật trong sử dụng ngôn ngữ của hai nhà văn

Từ đó, luận án đưa ra một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của văn học Hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945

3.2 Nhiệm vụ

Luận án có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng khung lí thuyết phục vụ cho nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện nói chung và ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nói riêng

- Miêu tả và phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan

và Nam Cao trong sự tương quan, so sánh về ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật và tình thái trong ngôn ngữ kể chuyện

- Đánh giá hiệu lực của ngôn ngữ kể chuyện trong việc xây dựng nhân vật điển hình cũng như phong cách nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Phương pháp phân tích

- Phân tích phong cách học: được sử dụng để phân tích cách lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ và hiệu quả của các phương tiện này trong phong cách kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

Trang 11

- Phân tích hội thoại: nhằm miêu tả các đặc điểm về sử dụng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong truyện ngắn Từ các phân tích này, luận án xây dựng luận cứ để chứng minh và giải thích các đặc điểm riêng về phong cách của ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

4.2 Phương pháp miêu tả

Luận án đi sâu vào miêu tả đặc điểm lời người kể chuyện và lời nhân vật, cách sử dụng các phương tiện và nghĩa tình thái trong các tác phẩm HTPP của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Các nhận định, đánh giá được luận án rút ra đều dựa trên sự miêu tả, phân tích số liệu cụ thể

- Thủ pháp so sánh: Thủ pháp so sánh góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm chung trong ngôn ngữ kể chuyện và những nét riêng trong cá tính sáng tạo và phong cách của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

- Thủ pháp cải biến: được chúng tôi sử dụng nhằm đánh giá hiệu lực của các biến thể ngôn ngữ trong quá trình cá tính hóa và điển hình hóa nhân vật

5 Ý nghĩa của luận án

- Ý nghĩa lí luận: Luận án góp phần bổ sung tư liệu phục vụ cho nghiên cứu

lý thuyết về ngôn ngữ truyện kể

- Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nói riêng và văn học HTPP nói chung trong nhà trường có thêm căn cứ và hiệu quả hơn

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia làm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết của luận án

Trang 12

Chương 2: Ngôn ngữ người kể chuyện trong một số tác phẩm hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

Chương 3: Ngôn ngữ nhân vật trong một số tác phẩm hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao (Đối thoại và độc thoại nội tâm)

Chương 4: Các phương tiện và nghĩa tình thái trong một số tác phẩm hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện nói chung

Giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn học được hình thành và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, trong đó việc sử dụng ngôn ngữ có thể được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất Do đó, từ những năm cuối của thế kỷ XX, ngôn ngữ kể chuyện

là một trong những vấn đề được đưa vào trọng tâm nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng thế giới Đầu tiên phải kể đến là học giả nổi tiếng người Nga IU M Lotman

Ông đã nghiên cứu một cách có hệ thống về ngôn ngữ kể chuyện trong công trình Cấu

trúc văn bản nghệ thuật Trong công trình này, ngôn ngữ nghệ thuật đã được tác giả

nghiên cứu trong mối quan hệ với điểm nhìn, nhân vật, kết cấu, không gian nghệ thuật… [50]

Sau công trình này, có một loạt các công trình của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau Để có thể hình dung một cách khái quát về tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện, sau đây chúng tôi tập trung vào phân tích một số hướng đi cơ bản trong nghiên cứu về lĩnh vực này

1.1.1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Todorov, nghiên cứu truyện kể cần kết hợp ba hướng: thi pháp học, cấu trúc học và tự sự học Dựa trên các công trình nghiên cứu hiện có và sự tổng hợp của Trần Đình Sử [100], chúng tôi có thể khái quát tình hình nghiên cứu về tự sự học và ngôn ngữ kể chuyện trên thế giới theo các giai đoạn và khuynh hướng như sau:

a) Chủ nghĩa cấu trúc kinh điển

Các tác giả nổi tiếng thuộc trường phái chủ nghĩa cấu trúc nghiên cứu tự sự

và ngôn ngữ kể chuyện tập trung vào 3 khuynh hướng:

- Khuynh hướng thứ nhất gồm các tác giả như Todorov (Bulgaria), Barthes

(Pháp) Các tác giả theo khuynh hướng này tuy lấy truyện kể làm đối tượng, nhưng chỉ tập trung chú ý vào hành động, sự kiện xảy ra trong tác phẩm Họ thiên về bàn luận thuật ngữ ngữ học và hy vọng tìm ra ngữ pháp phổ quát của truyện để phân tích truyện được nhanh chóng và dễ dàng Nhưng trên thực tế, ngữ pháp phổ quát

Trang 14

rất hạn chế về mặt giải thích nên Todorov, Barthes sau đó chuyển sang nghiên cứu

văn hoá và kí hiệu học [71, tr.10]

Theo khuynh hướng này, Todorov định nghĩa: “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu tự sự đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định

chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” (Ngữ pháp của truyện kể: Truyện

mười ngày) Nhà nghiên cứu này đã khẳng định đơn vị nhỏ nhất trong truyện kể là

mệnh đề và việc sắp xếp các mệnh đề đó thành các chuỗi và dãy theo nhiều cách thức khác nhau sẽ tạo nên truyện kể

Một trong những công trình tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc là Nhập môn

phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes Ông khẳng định nghiên cứu

văn bản tự sự phải là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ Ngôn bản và câu là đồng đẳng với nhau, trong đó ngôn bản được xây dựng theo mô hình câu

và câu là một ngôn bản nhỏ Cấu trúc truyện kể được xác lập bằng những quy tắc, ngữ pháp riêng và gồm ba cấp độ: chức năng, hành động và tường thuật, trong đó chức năng gắn với bình diện nội dung, hành động liên quan tới nhân vật

và tường thuật nằm trong hoạt động giao tiếp [99]

- Khuynh hướng thứ hai gồm các nhà theo chủ nghĩa cấu trúc kinh điển ở

giai đoạn sau như: tác giả Todorov (hậu kì), G Genette trong đó tiêu biểu nhất là Genette Các nhà nghiên cứu thuộc khuynh hướng thứ hai nghiên cứu truyện kể là một diễn ngôn tự sự trên các phương diện: điểm nhìn, lời kể, cách kể

Trong công trình Mikhail Bakhtin - Nguyên lí đối thoại T Todorov đã

đánh giá một cách khái quát nguyên lí đối thoại của Bakhtin, nêu ra những đóng góp quan trọng của Bakhtin trong công trình này là đã nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật trong mối quan hệ giữa các yếu tố điểm nhìn, lời văn và thể loại [79]

Công trình nghiên cứu Ngôn ngữ trần thuật - Ngôn ngữ trần thuật mới của

G Genette xoay quanh việc tìm hiểu về bộ tiểu thuyết nổi tiếng "Đi tìm thời gian đã

mất" của nhà văn Pháp Marcel Proust dưới ánh sáng của lí thuyết trần thuật học

Ông đã đưa ra và giải thích các khái niệm: truyện, tự sự, trần thuật Ông cho rằng tự

sự chỉ là hành động trần thuật; phải có hành động trần thuật mới có trần thuật và nội

Trang 15

dung trần thuật; phải có người trần thuật để thực hiện hành động trần thuật Theo ông tự sự có ba phạm trù: thời gian, ngữ thể và ngữ thức Trong đó, thời gian thể hiện mối quan hệ thời gian truyện kể và thời gian ngôn ngữ/lời nói; Ngữ thể là phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, gồm vấn đề điểm nhìn; Ngữ

thức là loại hình lời nói được người kể chuyện sử dụng [19, tr.23-24]

Ngoài ra, Genette còn phân biệt người tiêu điểm hóa với người trần thuật và cho rằng trong tác phẩm tự sự ngôi/nhân xưng là hình thức biểu hiện của người trần thuật Ông phân loại có hai kiểu người kể chuyện là người kể chuyện thuộc về câu chuyện và người kể chuyện không thuộc về câu chuyện Ông xác định có ba loại

điểm nhìn nghệ thuật: toàn tri (zero), trong và ngoài

- Khuynh hướng nghiên cứu thứ ba với tác giả tiêu biểu là Mieke Bal, S

Chatman Nếu các nhà nghiên cứu tự sự học cấu trúc nói chung chú trọng phân biệt câu chuyện và diễn ngôn thì các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này cho rằng cấu trúc diễn ngôn và cấu trúc câu chuyện đều quan trọng như nhau Vì vậy,

họ chủ trương nghiên cứu kết hợp cả cấu trúc và diễn ngôn Tác phẩm tiêu biểu của

khuynh hướng này là Trần thuật học: Dẫn luận lí luận tự sự của Mieke Bal "Nhà

nghiên cứu Hà Lan trong cuốn sách này đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc truyện với văn bản và định nghĩa về tự sự học khác với Todorov Bal viết: “Tự sự học (narratology) là lí luận về trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật,

sự kiện cùng sản phẩm văn hoá “kể chuyện” M Bal chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản trần thuật (narrative text), truyện kể (story), chất liệu (fabula) Mỗi tầng lại có các khái niệm hạt nhân Văn bản gồm người kể chuyện, trần thuật, bình luận phi trần thuật, miêu tả Truyện kể gồm: trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tần xuất, từ người hành vi đến nhân vật, không gian, tiêu điểm Chất liệu gồm: sự kiện, kẻ hành vi, thời gian, địa điểm Mỗi khái niệm hạt nhân lại gồm nhiều khái niệm bộ phận Các tầng bậc đan kết, xuyên thấm vào nhau trong chức năng và mục đích kể chuyện" [71, tr.12-13] Bal phân biệt người trần thuật/người kể chuyện với người tiêu điểm hóa Trong đó, người kể chuyện là người hành động đã diễn đạt ra kí hiệu ngôn ngữ cấu tạo nên văn bản dù có ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba vẫn chỉ là một người trần thuật - chủ thể trần thuật mà thôi

Trang 16

b) Hậu chủ nghĩa cấu trúc (hậu kinh điển)

Sau khi chủ nghĩa cấu trúc kinh điển rơi vào bế tắc, hậu chủ nghĩa cấu trúc ra đời ở Pháp vào những năm 1970 và sau đó phát triển mạnh ở Mĩ Chủ nghĩa hậu cấu trúc gắn với phạm trù hậu hiện đại, một mặt kế thừa thành tựu của chủ nghĩa cấu trúc kinh điển nhưng mặt khác phải chuyển hướng nghiên cứu để tìm ra hướng đi mới Nghiên cứu tự sự hậu chủ nghĩa cấu trúc đề cao văn bản, liên văn bản và vai trò của người đọc Tự sự học hậu chủ nghĩa cấu trúc có hai hướng nghiên cứu chính Đây cũng chính là hai hướng nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện rất hiện đại

- Hướng thứ nhất gồm các tác giả như D Herman, B Richardson, Mark

Currie Khuynh hướng này tập trung chú ý vào các đặc trưng chung của tất cả các thể loại tự sự như văn học và tự sự ngoài văn học như truyện tranh, điện ảnh, báo chí Họ chú ý đến sự kiến tạo câu chuyện của người đọc, xem xét mối quan hệ qua lại giữa cấu trúc văn bản và người đọc; phân loại các kiểu thời gian bị phá vỡ và gắn

tự sự học hậu kinh điển với văn học đương đại; mượn công cụ phân tích trí năng nhân tạo để miêu tả đặc trưng cấu trúc tác phẩm tự sự… Ngoài ra các nhà nghiên cứu theo hướng thứ nhất chuyển hướng nghiên cứu từ cấu trúc tự sự đồng đại sang nghiên cứu cấu trúc tự sự lịch đại Từ chỗ chỉ quan tâm hình thức họ chuyển sang phân tích mối quan hệ hình thức với hình thái ý thức xã hội Các tác phẩm tiêu biểu cho khuynh

hướng này là Logic của câu chuyện (2002) của D Herman, Thế giới khả nhiên, trí

năng nhân tạo và lí thuyết tự sự (1991) của M Ryan

- Hướng thứ hai bao gồm các tác giả có quan niệm ngược lại Họ chuyển hướng

nghiên cứu từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng sang phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể Có thể đánh giá đây là một hướng đi mới, rất thiết thực bởi việc nghiên cứu truyện kể cũng như ngôn ngữ kể chuyện không thể tách rời với các tác phẩm cụ thể

Một trong những công trình đáng chú ý trong nghiên cứu ngôn ngữ kể

chuyện theo tự sự học hậu chủ nghĩa cấu trúc là Lí luận tự sự hậu hiện đại của

Mark Currie Điểm dáng chú ý ở công trình này là tác giả đã dành nhiều sự quan tâm đến những thay đổi của tự sự hậu hiện đại Từ chỗ tìm hiểu về các yếu tố tự sự như "khách thể tự sự", "thời gian và không gian tự sự", "chủ thể tự sự" trong tự sự truyền thống, Mark đã xác định hai chủ đề quan trọng trong tự sự là quan hệ giữa tự

Trang 17

sự và thân phận, vai trò của thời gian trong việc trần thuật Nhìn chung, có thể đánh giá, Mark cũng giống như các nhà nghiên cứu hậu hiện đại rất chú trọng việc nghiên cứu vào các vấn đề tự sự, thân phận, thời gian và ý thức hệ [19, tr.26]

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện và các vấn đề liên quan ở Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nghiên cứu trên thế giới và bắt đầu được chú ý từ những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu

Một số khái niệm trong ngôn ngữ kể chuyện như người kể chuyện, điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ nhân vật với đối thoại, độc thoại nội tâm là đối tượng nghiên cứu liên ngành Bởi vậy, ngoài các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học chúng tôi có tham khảo các công trình nghiên cứu về thi pháp học, tự sự học và phong cách học:

a Về ngôn ngữ học

Trong quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp nói chung, một số tác giả

đã thể hiện sự quan tâm đến ngôn ngữ kể chuyện và điểm nhìn trong ngôn ngữ Cụ thể như:

- Trong Logic và Tiếng Việt (1996) Nguyễn Đức Dân đã xác định ngôn ngữ kể

chuyện và điểm nhìn được nghiên cứu như là những yếu tố giao tiếp trong nói năng

- Trong Đại cương ngôn ngữ học (2001), Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu ngôn

ngữ từ góc độ giao tiếp, ngữ dụng học và có đề cập đến điểm nhìn trong ngôn ngữ

Một số tác giả khác như Bùi Minh Toán, Hữu Đạt, Hoàng Trọng Phiến, Hoàng Kim Ngọc lại đi sâu nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Trong đó:

- Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán cho thấy ngôn ngữ là chất

liệu của nghệ thuật văn chương Xuất phát từ lí thuyết về hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, tác giả khẳng định bản chất giao tiếp của văn chương, bản chất của tín hiệu ngôn ngữ trong văn chương là tín hiệu thẩm mĩ Từ đó ông đưa ra những nguyên tắc

và thao tác trong việc phân tích nghệ thuật văn chương

- Giáo trình Các vấn đề của ngôn ngữ nghệ thuật của Hữu Đạt (2017) đã

nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật Cuốn giáo

Trang 18

trình đã tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trên các nội dung: Vai trò của ngôn ngữ trong

tư duy nghệ thuật; Cấu trúc văn bản nghệ thuật; Các hình thức biểu hiện ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật; Vai trò của ngôn ngữ trong việc biểu thị không gian, thời gian nghệ thuật; Phân tích tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ Trong luận án, chúng tôi

sử dụng một số quan niệm của tác giả về ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại để phân tích đặc điểm ngôn ngữ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

- Ngôn ngữ văn chương của Hoàng Kim Ngọc (chủ biên) và Hoàng Trọng

Phiến là giáo trình dành cho sinh viên Ngữ văn trong các trường Đại học Từ các khái niệm liên quan, các tác giả đã nêu ra và phân tích đặc điểm của ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật trên nhiều phương diện Trong chương 3 của cuốn

sách có tiêu đề Ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật tác giả đã nghiên cứu về ngôn ngữ

nghệ thuật từ quan niệm về văn xuôi, thể loại, điểm nhìn người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật truyện và cấu trúc Đáng chú ý là theo quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc, tác giả đã khái quát hóa cấu trúc của thể loại truyện ngắn gồm các phần: Đầu đề; Đoạn mở đầu; Đoạn triển khai nội dung; Đoạn kết và cố gắng tìm ra các phương thức và chức năng của từng phần

Những năm gần đây nhiều công trình đã nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật theo các thể loại như thơ, truyện Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã xây dựng hệ thống lý thuyết về ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm tự sự và sử dụng nó

để phân tích, lí giải ngôn ngữ kể chuyện của một số tác giả hoặc giai đoạn văn học Các công trình này nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện từ các phương diện: điểm nhìn, người kể chuyện, tính đối thoại, thời gian nghệ thuật Đó là một số luận án Tiến sĩ

về ngôn ngữ kể chuyện/ngôn ngữ trần thuật đã được in thành sách như:

- Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể của Nguyễn Thị Thu Thủy, NXB

Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2016 Trong cuốn sách này, tác giả đã thể hiện vốn kiến thức phong phú, sâu sắc về điểm nhìn nghệ thuật và ứng dụng nó vào việc nghiên cứu sự chi phối của điểm nhìn nghệ thuật tới lời kể của người kể chuyện, lời nhân vật trong các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975

- Sự vận động theo hướng Tiểu thuyết hóa trong ngôn ngữ truyện ngắn của

Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu của Đỗ Thị Hiên, NXB Khoa học Xã hội,

Trang 19

2017 Tác giả cuốn sách đã tiếp thu quan niệm của Nguyễn Thị Thu Thủy về điểm nhìn nghệ thuật và nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu từ góc độ nhãn quan và tính đối thoại

- Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện

ngắn của ba nhà văn nữ) của Hoàng Dĩ Đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

Điều đáng chú ý, Hoàng Dĩ Đình là người Trung Quốc và trong quá trình thực hiện luận án có áp dụng thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Đàm Quân Cường, Thân Đan vào việc tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 So với luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy và Đỗ Thị Hiên, tác giả Hoàng Dĩ Đình

đã không sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ kể chuyện mà sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ trần

thuật Chị không chỉ tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật ở điểm nhìn trần thuật, người trần

thuật mà còn mở rộng đến phương diện thời gian trần thuật

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu sâu về ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự bao gồm ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm; đi sâu nghiên cứu hành động ngôn ngữ, ngữ nghĩa cũng như vai trò của ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong tác phẩm văn học

b) Về thi pháp học

- Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử (1998): Trong cuốn giáo trình này

Trần Đình Sử đã xem thể loại, cảm hứng, thời gian, không gian, điểm nhìn nghệ thuật, cấu trúc của văn bản nghệ thuật, phong cách nhà văn như là những yếu tố quan yếu của thi pháp học Ông đã bàn về các yếu tố nghệ thuật này trong thi pháp truyện và tiểu thuyết

- Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hòa (2000) tìm hiểu

thi pháp thể loại truyện từ góc nhìn ngôn ngữ học Tác giả đã có sự phân biệt truyện với các loại văn bản khác Ông xác định những yếu tố quan trọng trong nghệ thuật truyện là lời kể, lời thoại, không gian, thời gian và giọng kể [37]

- Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu (2000) là cuốn sách lí luận và phê binh văn chương Trong đó tác giả đã khái quát một số vấn đề về thi pháp, thi pháp thể loại Đặc biệt trong phần thi pháp truyện ông có bàn về tính đa âm, tính đối thoại, thời gian và không gian trong truyện Ngoài ra, từ góc nhìn thi pháp học, cuốn sách

Trang 20

có nhiều bài nghiên cứu phê bình sâu sắc có ảnh hưởng đến các nhà văn và người tiếp nhận đương đại

c) Về phong cách học

- Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học của Hữu Đạt

(2002) đã khẳng định tác phẩm văn học là nghệ thuật ngôn từ và đã gắn việc tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật với phong cách tác giả Đây cũng là vấn đề được chúng tôi quan tâm khi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện [17]

d) Về tự sự học

- Tự sự học (T1,T2) do Trần Đình Sử chủ biên là tập sách tổng hợp các bài

viết có giá trị về tự sự học của các nhà nghiên cứu Việt Nam Ngôn ngữ kể chuyện được các tác giả đề cập đến trên các phương diện như lí thuyết tự sự, tìm hiểu các thuật ngữ trong kể chuyện, quan niệm về điểm nhìn, người kể chuyện, những đổi mới trong nghệ thuật tự sự [71]

- Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện

được tác giả Nguyễn Thái Hòa công bố Tại hội nghị "Tự sự học" tổ chức tại Hà Nội

tháng 11 năm 2003 Trong công trình này, tác giả đã phân biệt điểm nhìn trong lời

nói và điểm nhìn trong ngôn ngữ nghệ thuật Ông nhận thấy dù chúng có chung bản chất nhưng chức năng của chúng khác nhau rất rõ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan

và Nam Cao

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao từ lâu đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu có giá trị đều thuộc các lĩnh vực ngữ văn, phong cách học và thi pháp học Dựa vào nguồn tài liệu có được, chúng tôi xin điểm qua tình hình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan

và Nam Cao như sau:

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan

- Từ trước cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu đã sớm nhận ra tiếng cười trào phúng trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và đã có những

bài viết rất sâu sắc như: Trong Một ngòi bút mới: Ông Nguyễn Công Hoan (báo

Nam Phong, năm 1932) của Trúc Hà, người đầu tiên phê bình về Nguyễn Công Hoan đã nhận ra giọng văn mới mẻ pha hài hước và có ngụ ý sâu xa về sự đời [27]

Trang 21

Vũ Ngọc Phan trong công trình Nhà văn hiện đại không chỉ nhận ra sở

trường của Nguyễn Công Hoan ở thể loại truyện ngắn mà còn nhận xét Nguyễn Công Hoan "rặt tả về những cái chướng tai, gai mắt, cùng đồi phong bại tục, mà phần nhiều đều ngả về mặt hoạt kê" [64, tr.1078]

- Sau cách mạng tháng tám các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khẳng định một trong những đặc điểm nổi bật trong văn Nguyễn Công Hoan là chất hài hước, châm biếm

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn sách Con đường đi vào thế

giới nghệ thuật của nhà văn (1994) đã đánh giá thế mạnh của Nguyễn Công Hoan

là truyện ngắn trào phúng Ông khẳng định "Phong cách Nguyễn Công Hoan không thiên về lối thâm trầm kín đáo Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, vì thế, thường là những đòn đơn giản

mà ác liệt"

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra thủ pháp gây cười trong văn Nguyễn Công Hoan là: Nguyên tắc lột mặt nạ; nguyên tắc dùng "cái tục"; ngôn ngữ bình dân, suồng sã; Tỉnh lược chủ ngữ câu và phép lặp cú pháp; Tính chất mập mờ, nước đôi,

đa nghĩa; Nguyên tắc đối chọi, mâu thuẫn; Đồng nhất khái niệm; Thủ thuật đánh tráo [72]

- Các công trình nghiên cứu, bài viết về văn Nguyễn Công Hoan sau cách mạng Tháng Tám đã đánh giá về những đóng góp của ông trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý là những đánh giá về ngôn ngữ kể chuyện

+ Về phương thức kể chuyện: Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét “Phương thức

kể chuyện biến hoá, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kể tự nhiên, hoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo, cách chơi chữ táo bạo, dí dỏm ” [56]

Trong Ba phong cách truyện ngắn trong Văn học Việt Nam thời kì đầu

những năm 1930 đến 1945: Nguyễn Công Hoan - Thạch Lam - Nam Cao, tác giả

Nguyễn Ngọc Dung nêu rõ về nghệ thuật trần thuật Nguyễn Công Hoan "đã đánh dấu một bước cách tân quan trọng về nghệ thuật phức điệu hóa", "thường kể chuyện theo nhiều quan điểm và giọng điệu" [13, tr.28]

+ Về ngôn ngữ kể chuyện: Nguyễn Hoành Khung nhận định Nguyễn Công

Hoan “đã có một ngôn ngữ phong phú sống động rất gần với đời sống, khác hẳn với

Trang 22

thứ ngôn ngữ sạch sẽ, kiểu cách của Tự lực văn đoàn khi đó Văn Nguyễn Công Hoan là thứ văn rất tự nhiên, thoải mái, linh hoạt vô cùng Ông mạnh dạn đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng vào văn chương một cách rộng rãi, khiến văn chương mất hết vẻ đài các, văn chương trở thành ngôn ngữ của đời sống hàng ngày dân dã” [43]

Lê Thị Đức Hạnh, người nghiên cứu rất công phu về Nguyễn Công Hoan đã đánh giá "Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh, cụ thể hay ví von làm cho người đọc dễ có liên tưởng thú vị” hoặc “Nguyễn Công Hoan luôn giữ cho lời văn, ngôn ngữ trong truyện trong sáng, chính xác, mang bản sắc tiếng nói dân tộc” [30, tr.262]

Các nhà nghiên cứu cũng sớm nhận ra sở trường của Nguyễn Công Hoan trong việc miêu tả và xây dựng nhân vật phản diện "Ông sở trường về cách mô tả tư cách hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu mọt, bọn nha lại, bọn hãnh tiến giàu có sang trọng và khinh người" [85, tr.101]

+ Về ngôn ngữ nhân vật: Nhóm tác giả Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đánh

giá: “Đọc ông, độc giả phân biệt rõ đâu là ngôn ngữ của tác giả, đâu là ngôn ngữ của nhân vật, và mỗi nhân vật đều có những ngôn ngữ riêng của mình Với Nguyễn Công Hoan, có thể nói truyện ngắn hiện đại và ngôn ngữ hiện đại đã hình thành” [40, tr.159]

Nhóm tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú trong cuốn Thi pháp truyện

ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan một lần nữa khẳng định sự phong phú của

ngôn ngữ nhân vật "Lời văn Nguyễn Công Hoan được tổ chức theo hướng du nhập các tiếng nói xã hội khác nhau theo hình thức nhại Có đủ tiếng nói của mọi tầng lớp xã hội vang lên trong thế giới làm trò mà ông là người đạo diễn Vua phải có giọng của vua kẻ thứ dân phải có giọng thứ dân Thằng ăn cắp phải có giọng thằng

ăn cắp Gái điếm phải có giọng gái điếm " [72, tr.138]

Bên cạnh việc đánh giá Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực tiêu biểu nhiều bài viết đi vào nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Công Hoan từ góc độ nghệ thuật

kể chuyện như tìm hiểu chất hài, lời văn song điệu, kịch hóa trần thuật

Trang 23

Ngoài ra còn rất nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và sáng tác của ông ở các khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật, thi pháp và phong cách

1.1.2.2.Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao

Nam Cao là người đã đưa văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn

1930 -1945 lên đỉnh cao và cũng là là người đại diện cuối cùng của trào lưu văn học này Trước cách mạng tháng Tám Nam Cao chưa được giới nghiên cứu phê bình chú ý, tuy nhiên Lê Văn Trương đã nhận ra Nam Cao đem đến một lối văn mới, tạo

ra một hướng đi riêng “Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những truyện tình thơ mộng và hùa nhau phụng sự cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao

đã mạnh dạn đi theo một lối riêng Những cạnh tài của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn; thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình.” [61, tr.493]

Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao được đánh giá là một hiện tượng văn học, thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng và có một số lượng rất lớn công trình nghiên cứu về ông và các sáng tác của ông

Nếu như Nguyễn Công Hoan phản ánh hiện thực xã hội với sự châm biếm, hài hước thì Nam Cao lại phán ánh một hiện thực xã hội đầy bi thảm Vũ Tuấn Anh khẳng định "Thi pháp truyện ngắn Nam Cao xây dựng trên nỗi ám ảnh về cái tàn lụi, tan rã Không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình êm ả Tất cả đã đến và đang đến điểm tận cùng của cái chết về thể xác và tinh thần" [62, tr.194]

Các nhà nghiên cứu phê bình cũng có những nhận xét rất xác đáng về ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao như sau:

+ Về điểm nhìn trần thuật: Ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao có sự di

chuyển điểm nhìn, từ điểm nhìn tác giả sang điểm nhìn nhân vật và nhà văn thường

kể chuyện theo điểm nhìn của nhân vật Nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Hoành Khung nhận thấy kể chuyện từ điểm nhìn nhân vật làm cho truyện của Nam Cao trở nên tự nhiên, chân thực, mới mẻ: “Cách kể chuyện của Nam Cao rất sinh động, có

Trang 24

duyên, lời kể của tác giả thường xen lẫn độc thoại nội tâm của nhân vật, có chuyện

được kể theo quan điểm của nhân vật" [44, tr.81]

+ Về ngôn ngữ người kể chuyện: Trong cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của Nam

Cao đều gắn với sở trường phân tích tâm lí Ông viết “Chính vì rất thông thuộc tâm

lí con người nên Nam Cao có một lối kể chuyện biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dắt dẫn mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm” [57, tr.183] Về ngôn ngữ người kể chuyện của Nam Cao, Phan Diễm Phương nhận định "Cảm nhận bao trùm vẫn là văn ông đặc biệt giàu có về sắc thái bộc lộ và biểu cảm"[67, tr.255]

+ Về ngôn ngữ nhân vật: Phan Diễm Phương cũng phát hiện ra dạng thức

lời độc thoại nội tâm của nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao chính là hình thức của ngôn ngữ người kể chuyện chuyển hóa thành ngôn ngữ nhân vật “chuyển hoá từ ngôn ngữ người kể chuyện sang ngôn ngữ nhân vật, thực chất vẫn là ngôn ngữ người kể chuyện, nhưng hiện ra dưới dạng thức độc thoại nội tâm của nhân vật” [67, tr.256] Sự chuyển hóa trong ngôn ngữ kể chuyện như vậy đã tạo ra dạng thức

lời nửa trực tiếp

Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm của Nam Cao được nhận xét “Sự thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại mang đầy chất văn xuôi đời thường, ngoài việc thực hiện chức năng tự sự còn là để khắc họa tính cách, nội tâm nhân vật” [61, tr.33]

+ Về phong cách nghệ thuật: Nguyễn Đăng Mạnh nhận thấy một nét riêng

trong ngôn ngữ kể chuyện Nam Cao là "Đọc Nam Cao, thấy ông hay triết lí, thích

khái quát" [57, tr.182] Trong Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng,

Bùi Công Thuấn viết "Truyện ngắn trước cách mạng của Nam Cao là truyện tâm lý" [62, tr.203] Tác giả còn khẳng định: “Khuynh hướng triết lý là một trong những yếu tố làm nên phong cách Nam Cao” [62, tr.208]

Những năm gần đây có khá nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu

về Nam Cao từ nhiều góc độ, hàng loạt các cuộc hội thảo, kỉ niệm về Nam Cao

Trang 25

được tổ chức Điều đó cho thấy tài năng Nam Cao vượt qua thời gian ngày càng được khẳng định

1.2 Cơ sở lý luận và một số khái niệm quan yếu

Hiện nay, hai thuật ngữ trần thuật và kể chuyện được sử dụng khá rộng rãi

ở Việt Nam song cần khẳng định chúng đều chỉ hành động kể/thuật lại và sản phẩm của chúng là tác phẩm tự sự (truyện) Trong luận án, chúng tôi sử dụng

thuật ngữ kể chuyện

Theo Genette tất cả những hành động mang tính sáng chế, sản xuất ra ra những văn bản có nội dung truyện kể, kể cả cảnh thực hay hư ảo đều là trần thuật/kể chuyện [19, tr.31] Ông phân chia tự sự thành ba phạm trù: thời (thời gian), thể (cách cảm nhận của người kể chuyện bao gồm điểm nhìn) và thức (hình thức lời nói) Đây chính là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện

Từ đây, chúng tôi quan niệm ngôn ngữ kể chuyện là hình thức biểu hiện của hành động dùng ngôn từ để kể chuyện Ngôn ngữ kể chuyện bao gồm tất cả ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự nhằm tái hiện các sự kiện, sự tình và xâu chuỗi chúng theo một trình tự nhất định Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện cần xác định rõ: Ai là người kể chuyện? Người kể chuyện kể chuyện theo điểm nhìn của ai (tức là ai nhìn

và vị trí, chỗ đứng của người nhìn)? Kể chuyện như thế nào (kể chuyện bằng phương tiện ngôn ngữ và hình thức nào)?

Vì vậy, để làm sáng tỏ các vấn đề của ngôn ngữ kể chuyện chúng tôi đi sâu tìm hiểu về người kể chuyện, điểm nhìn nghệ thuật và các hình thức của ngôn ngữ kể chuyện Trong đó, từ góc độ người kể chuyện chúng tôi xác định hình tượng người kể chuyện trong truyện kể; từ góc độ điểm nhìn nghệ thuật chúng tôi xác định phương thức kể chuyện; từ góc độ hình thức của ngôn ngữ kể chuyện chúng tôi xác định ngôn ngữ kể chuyện có hai hình thức biểu hiện chính là ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ kể chuyện trước hết là ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật là lời của nhân vật được người kể chuyện đưa thêm vào để điển hình hóa và bộc lộ tính cách nhân vật Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu vai trò của các phương tiện và nghĩa tình thái trong việc thể hiện đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện

Trang 26

Diễn ngôn truyện kể bao gồm ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Ngoài ra, các phương tiện tình thái cũng có vai trò quan trọng để tạo nên sự hấp dẫn và hiệu lực của ngôn ngữ kể chuyện Để tìm hiểu ngôn ngữ kể chuyện trước hết cần hiểu rõ về điểm nhìn nghệ thuật

1.2.1 Điểm nhìn nghệ thuật

1.2.1.1 Khái niệm điểm nhìn

Trong tiếng Anh, thuật ngữ điểm nhìn được gọi tên bằng nhiều từ, cụm từ khác nhau như: centre of consciousness (trung tâm của nhận thức), post of observation (vị trí quan sát), vision (tầm nhìn), focus of narrative (tiêu điểm truyện kể), focalization (tiêu cự) Trong tiếng Việt, có nhiều cách gọi như nhãn quan, điểm quan sát, tiêu cự trần thuật Trong luận án, chúng tôi sử dụng cách định danh: point of view (điểm nhìn)

Có thể khẳng định bất cứ một hành động ngôn ngữ nào cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định bởi vì lời nói bao giờ cũng có người nói và tất nhiên người nói phải nói từ vị trí của mình Do đó, điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để nhìn nhận, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng Vị trí, chỗ đứng của người nói là vị trí trong không gian, thời gian, xã hội Điểm nhìn có tính chủ quan vì người nói còn phải dựa trên tầm nhìn và cách nhìn bị chi phối bởi cá tính, quan điểm, năng lực, thị hiếu và nguyện vọng của cá nhân

1.2.1.2 Điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm tự sự

Điểm nhìn là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu trong nghệ

thuật kể chuyện Trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) Henry James quan niệm điểm

nhìn chính là “mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là

sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn” [Dẫn theo 41] Quan điểm này đã đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện Từ đó đến nay, thuật ngữ điểm nhìn đã trở nên quen thuộc trong việc nghiên cứu rất nhiều môn như: ngôn ngữ học, văn học, dụng học, phong cách học, thi pháp học

Trang 27

Về điểm nhìn nghệ thuật, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tiếp thu lý thuyết của Genette Để xác định điểm nhìn nghệ thuật Genette đã sử dụng phương pháp tiêu điểm hóa Ông phân biệt người tiêu điểm hóa và người kể chuyện và cho rằng tiêu điểm hóa có thể thay đổi trong tác phẩm tự sự "Tiêu điểm thay đổi theo

sự biến hóa của người trần thuật, chuyển đổi tiêu điểm hóa chỉ là kết quả của việc chuyển đổi ngữ thái" Ngoài ra Genette cũng khẳng định mối quan hệ giữa người trần thuật với truyện dẫn đến sự chuyển đổi của nhân xưng theo các ngôi thứ nhất

và ngôi thứ ba [Dẫn theo 19, tr.59]

Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và và điểm

nhìn trong nghệ thuật trong truyện đã khẳng định điểm nhìn điểm bắt đầu và chi

phối sâu sắc đến tác phẩm Đồng thời ông cũng nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa điểm nhìn với người kể, tác phẩm và người đọc: “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế nữa là một cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và văn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người

đọc hàm ẩn" [38]

Nguyễn Thị Thu Thủy trong cuốn sách Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể

đã khẳng định điểm nhìn trong truyện kể chi phối tới quá trình quan sát và kể lại: "Điểm nhìn là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát và kể lại" [76, tr.38]

Như vậy điểm nhìn nghệ thuật trong tự sự là vị trí, chỗ đứng nhất định để nhìn nhận, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng và sau đó kể, miêu tả, thể hiện chúng bằng hình thức của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Từ điểm nhìn nghệ thuật người kể chuyện xác định thông tin trọng tâm (tiêu điểm) để kể, miêu tả Mối quan hệ giữa chủ thể của điểm nhìn với truyện và tiêu điểm sẽ quyết định ngôi kể trong truyện

1.2.1.3 Phân loại điểm nhìn

Dựa trên mối quan hệ giữa người kể chuyện và tiêu điểm hóa Genette phân loại tiêu điểm kể chuyện thành ba loại: Vô tiêu điểm hóa (người kể chuyện > nhân vật với một góc nhìn toàn năng, biết hết tất cả, tức người trần thuật biết nhiều hơn nhân vật và cũng nói nhiều hơn bất cứ nhân vật nào) Tiêu điểm hóa bên ngoài

Trang 28

(người trần thuật < nhân vật với một góc nhìn của người chứng kiến Người trần thuật biết và nói ít hơn nhân vật) Tiêu điểm hóa bên trong (người kể chuyện = nhân vật với một góc nhìn giới hạn trong truyện kể, người kể chuyện chỉ biết và chỉ nói

về tình hình của một nhân vật nào đó) [19, tr.59]

Dựa trên sự phân loại của Genette, điểm nhìn người kể chuyện được phân chia thành ba loại: điểm nhìn toàn tri (vô điểm nhìn), điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong

Dựa trên tầm nhìn, vai trò của người kể chuyện và mối quan hệ giữa điểm nhìn với tiêu điểm, ngôi nhân xưng, hình thức ngôn ngữ chúng tôi xác định các tiêu chí nhận diện điểm nhìn trong tự sự như sau:

a) Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn toàn tri

- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Người kể chuyện có khả năng

biết hết về câu chuyện, biết nhiều hơn nhân vật và là chủ thể của điểm nhìn Người

kể chuyện không chỉ có vai trò kể lại câu chuyện mà còn có thể bình luận, điều khiển nhân vật

- Về ngôi, nhân xưng:

+ Người kể chuyện có thể không xuất hiện (hàm ẩn) hoặc là người kể chuyện tường minh xưng "tôi"

+ Nhân vật thường ở ngôi thứ ba

- Về tiêu điểm kể chuyện: Người kể chuyện có cái nhìn biết hết nên nhân vật

có thể được kể từ bên ngoài (ngoại hình, lời nói, hành động) vào bên trong (nội tâm) một cách rõ nét

- Về ngôn ngữ kể chuyện: chủ yếu là lời người kể chuyện, là lời kể gián tiếp

b) Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn bên ngoài

- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Người kể chuyện mặc dù vẫn

là chủ thể của điểm nhìn nhưng biết ít hơn nhân vật, chỉ có khả năng nhìn nhận từ bên ngoài mà không biết gì về nội tâm bên trong của nhân vật Người kể chuyện ít

có khả năng đánh giá, phán đoán và không có khả năng điều khiển nhân vật

- Về ngôi, nhân xưng:

+ Người kể chuyện không xuất hiện trong tác phẩm, hoàn toàn giấu mình

Trang 29

+ Nhân vật thường ở ngôi thứ ba

- Về tiêu điểm kể chuyện: Nhân vật chỉ có thể được kể từ bên ngoài bằng

ngoại hình, lời nói, hành động

- Về ngôn ngữ kể chuyện: Ngôn ngữ gián tiếp, chủ yếu là ngôn ngữ người kể

chuyện Trong một số tác phẩm ngôn ngữ đối thoại của nhân vật được coi trọng và chiếm một tỉ lệ cao

c) Các tiêu chí nhận diện tác phẩm kể chuyện theo điểm nhìn bên trong

- Về tầm nhìn và vai trò của người kể chuyện: Chủ thể của điểm nhìn là nhân

vật Người kể chuyện có thể là nhân vật kể chuyện mình hoặc nhập thân vào nhân vật để kể chuyện nên chỉ có thể nhìn nhận, kể chuyện, bình luận, lí giải, phán đoán bằng tầm nhìn của một nhân vật

- Về ngôi, nhân xưng: Người kể chuyện đồng thời là nhân vật, có thể xuất

hiện trong tác phẩm ở ngôi thứ nhất (với trường hợp người kể chuyện là nhân vật kể chuyện mình) hoặc ngôi thứ ba (với trường hợp người kể chuyện nhập thân vào

nhân vật để kể chuyện)

- Về tiêu điểm kể chuyện: Tiêu điểm kể chuyện là nội tâm của nhân vật nên

truyện kể thường ít sự kiện, ít nhân vật, ít hành động, lời nói

- Về ngôn ngữ kể chuyện: Ngôn ngữ kể chuyện là lời kể trực tiếp với trường

hợp người kể chuyện là nhân vật kể chuyện mình hoặc nửa trực tiếp với trường hợp người kể chuyện nhập thân vào nhân vật để kể chuyện

1.2.2 Ngôn ngữ kể chuyện

Theo quan niệm của chúng tôi, ngôn ngữ kể chuyện tồn tại dưới hai hình thức là ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật

1.2.2.1 Ngôn ngữ người kể chuyện (narrator)

Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ mà người kể chuyện sử dụng để kể, miêu tả nhằm tái hiện bức tranh hiện thực đời sống và bày tỏ quan điểm, tư tưởng, tình cảm của nhà văn về cuộc đời Ngôn ngữ kể, miêu tả và cách xây dựng kết cấu tác phẩm là những yếu tố quan trọng bộc lộ phong cách nghệ thuật của nhà văn Để làm sáng rõ về ngôn ngữ người kể chuyện luận án đi sâu vào một số khái niệm sau đây:

Trang 30

Genette cho rằng văn bản tự sự phải có ba yếu tố người kể, hành động tự sự

và sự kiện được kể ra Ông phân biệt người kể chuyện với người tiêu điểm hóa và cho rằng người trần thuật là chủ thể trần thuật và cũng là sản phẩm của sự hư cấu

"bản thân người trần thuật là một vai hư cấu" [Dẫn theo19, tr.45]

Lê Bá Hán trong Từ điển thuật ngữ văn học đã ghi nhận vai trò của người kể

chuyện "Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh" [28, tr.154]

Có thể nói người kể chuyện là chủ thể của hành động kể chuyện, có vai trò như một người chứng kiến, trình bày và sáng tạo trong câu chuyện Người kể chuyện có thể là chính tác giả nhưng cũng có thể là một vai do tác giả hư cấu giúp tác giả kể lại câu chuyện của mình

b) Các hình thức biểu hiện của người kể chuyện

G.Genette đưa ra bốn kiểu kể chuyện tương ứng với bốn kiểu người kể chuyện Cụ thể là:

Dựa vào điểm nhìn nghệ thuật tác giả phân biệt thành hai loại người kể chuyện là người kể chuyện bên trong (intradiegetic narrator) và người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator) Theo ông, kiểu người kể chuyện bên trong tương đối rõ ràng Người kể chuyện đơn giản là những nhân vật trong truyện, có thể tham gia hoặc không tham gia vào hành động truyện Người kể chuyện bên ngoài lại khó xác định hơn rất nhiều, bởi khi đó người kể chuyện hàm ẩn, không xuất hiện trong truyện kể

Dựa trên mối quan hệ giữa người kể chuyện và câu chuyện, Genette phân biệt hai kiểu người kể chuyện là người kể chuyện đồng câu chuyện và người kể chuyện dị

Trang 31

câu chuyện Để hiểu rõ hai khái niệm này Genette gắn người kể chuyện với ngôi/nhân xưng trong kể chuyện Trong đó, người kể chuyện đồng câu chuyện là kiểu người kể chuyện là nhân vật xuất hiện trong tác phẩm nên kể chuyện ở ngôi thứ nhất Người kể chuyện dị câu chuyện là kiểu người kể chuyện ở ngoài câu chuyện, không phải là nhân vật trong truyện và thường kể chuyện ở ngôi thứ ba [19, tr.46]

Ngoài sự phân loại của Gennete, dựa trên mối quan hệ giữa người kể chuyện với diễn ngôn truyện kể thể hiện qua hình thức ngôn ngữ có thể phân loại thành hai kiểu người kể chuyện: Người kể chuyện tường minh và người kể chuyện hàm ẩn Trong đó, người kể chuyện tường minh còn gọi là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, xuất hiện trực tiếp bằng các hình thức của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: “tôi”,

“chúng tôi” Người kể chuyện thuộc vào thế giới của nhân vật được miêu tả cùng tham gia vào hoạt động trong câu chuyện Người kể chuyện có thể kể về mình hay người khác Người kể chuyện hàm ẩn không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, không thuộc về thế giới của truyện kể mà chỉ đứng ngoài quan sát và kể lại câu chuyện của các nhân vật Người kể chuyện hàm ẩn có ba kiểu Kiểu thứ nhất người

kể chuyện biết hết, đứng trên nhân vật để kể, bình luận, lí giải Kiểu thứ hai người

kể chuyện khách quan chỉ kể cái mà mình quan sát thấy, cảm nhận từ bên ngoài được mà không biết gì thế giới bên trong nhân vật Kiểu thứ ba người kể chuyện hóa thân thành nhân vật và kể chuyện từ điểm nhìn của nhân vật [76, tr.83]

Dựa trên mối quan hệ với độc giả Booth lại chia thành người kể chuyện tin cậy và người kể chuyện không đáng tin cậy Trong đó người kể chuyện đáng tin cậy khi anh ta nói và hành động phù hợp với chuẩn mực của tác phẩm Người kể chuyện không tin cậy không phải nói dối nhưng anh ta có khả năng đánh lừa, lời nói của anh ta bao giờ cũng hòa hợp với chuẩn mực của cuốn sách nhưng thực ra thì không phải thế [76, tr.84]

c) Chức năng của ngôn ngữ người kể chuyện

Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định "Tự sự là phương thức tái hiện đời

sống" mà trong đó "nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra" [28, tr.264] Như vậy dựa theo quan niệm này thì ngôn ngữ người kể chuyện có hai hình thức biểu hiện thể hiện chức năng của nó chính là ngôn ngữ kể và ngôn ngữ miêu tả

Trang 32

* Ngôn ngữ kể và chức năng của ngôn ngữ kể

- Ngôn ngữ kể: chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc truyện kể Nội hàm tự sự bao gồm tự (hành động kể) và sự (cái được kể) Nếu như hành động kể liên quan đến người kể chuyện thì cái được kể ở đây chính là sự kiện Sự kiện được Lupasco định nghĩa như sau: "Sự kiện trong kinh nghiệm thường ngày cũng như trong văn học là cái xảy ra trong thực tiễn của ngày tháng, trong sự đều đặn và trong xác suất của chuỗi các việc - cái mà xảy ra một cách bất thường, hiếm hoi, không lường trước được" [Dẫn theo76, tr.86]

IU.M Lotman cho rằng “Nền tảng làm nên khái niệm truyện kể là quan niệm

về sự kiện” [51, tr.411] Trong cuốn Cấu trúc văn bản nghệ thuật, ở chương Vấn đề

truyện kể, ông xác định sự kiện bằng hai cách, qua hai định nghĩa:

Định nghĩa thứ nhất:“Trong văn bản, sự kiện là sự di chuyển của nhân vật

qua ranh giới của một trường nghĩa”[50, tr.414] Ở định nghĩa này, sự kiện và tầm quan trọng của nó được xác định từ điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn của tác giả và

độc giả Từ điểm nhìn ấy, sự kiện thuộc về thực tại của sự kể chuyện

Định nghĩa thứ hai: “Sự kiện được xem là cái xẩy ra, mặc dù có thể không xẩy ra…, là sự vượt qua cái ranh giới bị cấm kị mà cấu trúc phi truyện kể đã xác

lập” [50, tr 417,420] Ở đây, sự kiện được xác định từ điểm nhìn bên trong tức là từ

điểm nhìn của nhân vật Từ điểm nhìn ấy, sự kiện không thuộc thực tại của sự kể

chuyện, mà thuộc thực tại của câu chuyện được kể

Như vậy, sự kiện là một sự việc nào đó đã xảy ra nhưng không phải mọi việc

xẩy ra đều trở thành sự kiện Sự kiện là cái xảy ra bất thường phá vỡ chuỗi các việc

đang diễn ra bình thường, đều đặn Sự kiện có thể là hành động, lời nói bên ngoài hay suy nghĩ, tình cảm từ bên trong của các nhân vật được tái hiện chủ yếu nhờ ngôn ngữ tự sự Ngôn ngữ giúp tái hiện sự kiện chính là ngôn ngữ kể

- Chức năng của ngôn ngữ kể:

+ Chức năng biểu đạt sự kiện: G Genette đã nêu khái niệm tự sự như sau:

“Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự” [21, tr.41] Như thế, Gennete đã thừa nhận sự kiện là nền tảng của tự sự, kể chuyện chính là sự trình bày sự kiện

Trang 33

Sự kiện luôn diễn ra trong một không gian, thời gian, hoàn cảnh và gắn với nhân vật cụ thể Bởi vậy thông qua lời kể bức tranh đời sống và con người hiện ra trước mắt người đọc, giúp nhà văn bày tỏ chủ quan về cuộc đời Ngôn ngữ kể vì thế có vai trò giúp người tiếp nhận nhận thức về hiện thực đời sống và con người một cách sâu sắc

+ Chức năng xây dựng cấu trúc truyện kể: Trong công trình Giao tiếp của diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Diệp Quang Ban đã nêu khái niệm về truyện kể

"truyện kể là chuỗi các sự kiện tiếp nối trong thời gian được tích hợp trong một hành động tổng thể gồm có bắt đầu, phần giữa và phần kết thúc, có đề tài, được diễn

đạt bằng các câu (các vị từ) chuyển đổi và qua đó mà rút ra nhận định về luân lí" [6,

tr.480] Với khái niệm này, Diệp Quang Ban đã khẳng định truyện kể không chỉ là chuỗi các sự kiện mà còn là quá trình sắp xếp, hợp nhất các sự kiện thành một chỉnh thể thống nhất

Trong truyện kể chuỗi các sự kiện có thể được sắp xếp, hợp nhất theo nhiều cách thức khác nhau Việc sắp xếp, hợp nhất chuỗi sự kiện chịu sự chi phối của hình tượng người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật Trong đó, sự gắn kết của các sự kiện trong truyện kể được hình thành từ ba con đường: quan hệ không gian, quan hệ thời gian, quan hệ logic Từ những con đường này mới hình thành các hình thức kết cấu tác phẩm như kết cấu thời gian, kết cấu tâm lý, kết cấu vòng tròn

* Ngôn ngữ miêu tả và chức năng của ngôn ngữ miêu tả

- Ngôn ngữ miêu tả: Ngôn ngữ kể chuyện bao gồm cả ngôn ngữ miêu tả vì miêu tả cũng là lời của người kể chuyện Nếu trung tâm của ngôn ngữ kể là sự kiện thì trung tâm của ngôn ngữ miêu tả là sự tình Theo Bùi Minh Toán thì "Thông tin miêu tả là nội dung về sự vật, sự việc, hiện tượng (gọi chung là sự tình) mà văn bản đề cập đến" [78, tr.67]

Diệp Quang Ban cho rằng miêu tả là một "kiểu trình bày những phương diện khác nhau mà nhờ chúng người ta có thể nhận ra một vật, và kiểu trình bày đó giúp hiểu được vật ít ra là một phần nào đó" [6, tr.484] Ông xác định bốn thao tác lớn trong miêu tả là trả lời cho các câu hỏi: Miêu tả cái gì? Miêu tả phương diện nào của sự vật? Miêu tả như thế nào cho thích hợp? Cần chi tiết hóa đến mức nào là đủ?

Trang 34

Miêu tả không chỉ có ý nghĩa tái hiện những gì quan sát được mà khi miêu tả các nhà văn còn có thể sáng tạo Nhà văn có thể hình dung, tưởng tượng để miêu tả cảnh vật hay con người khác đi so với hiện thực Nhà văn cũng có thể miêu tả trong trạng thái tĩnh lặng, bất biến hay miêu tả trong sự thay đổi; miêu tả từ nhiều vị trí, chỗ đứng khác nhau

để đối tượng được miêu tả từ nhiều góc nhìn, chiều kích khác nhau

- Chức năng của ngôn ngữ miêu tả:

+ Chức năng tái tạo hiện thực đời sống: Miêu tả rất phong phú về đối tượng và

cách thức Đối tượng của miêu tả là thế giới tự nhiên và đời sống con người với thời gian, không gian, sự vật, hiện tượng, con người Cách thức miêu tả thường gắn với đối tượng miêu tả Chẳng hạn, miêu tả thiên nhiên thì gắn với màu sắc, âm thanh, hình ảnh ; miêu tả con người thì tả ngoại hình, tính cách, hành động, tâm trạng Miêu tả phải làm cho đối tượng được miêu tả hiện lên trong tác phẩm như nó vốn có trong hiện thực đời sống, khiến nó hiện lên trước mắt người đọc một cách chân thực và sinh động nhất Với chức năng tái tạo hiện thực đời sống ngôn ngữ miêu tả đã khiến tự sự trở nên gần gũi hơn với các lĩnh vực nghệ thuật khác

Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả trong tự sự còn có thể khám phá nhân vật ở tầng sâu

về tư tưởng, tình cảm, nhận thức, triết lí, phản ánh những mâu thuẫn bên trong con người Điều đó khiến tự sự vượt xa so với các lĩnh vực nghệ thuật khác, giúp chúng ta lí giải một thực tế nhiều người cảm nhận được là vì sao đọc truyện thường thấy hay hơn xem phim, diễn kịch

Thông qua sự tái tạo hiện thực đời sống, ngôn ngữ miêu tả thường ngầm chứa trong nó những tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của nhà văn

+ Chức năng tham gia vào sự phát triển của mạch truyện: Ngôn ngữ miêu tả

là những phân đoạn xen vào ngôn ngữ kể Trong lúc kể sự kiện nhà văn dừng lại để miêu

tả không gian, thời gian, sự vật, hiện tượng, nhân vật đang hiện diện trong sự kiện Miêu tả xét cho cùng là sự chi tiết hóa, mở rộng cho lời kể làm lời kể trở nên phong phú, hấp dẫn Mặt khác, miêu tả luôn diễn ra trong không gian, thời gian và thường tuân theo trình tự của không gian, thời gian Vì vậy, miêu tả có vai trò trong việc tạo

ra mạch ngầm liên kết của tác phẩm

+ Chức năng thẩm mĩ: Những đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự luôn hướng

tới các giá trị thẩm mĩ Ngôn ngữ miêu tả tự nó sẽ bộc lộ ra quan niệm về cái đẹp, thậm

Trang 35

chí ngay cả khi miêu tả cái xấu Từ đó, nó góp phần tạo nên những rung động, hình thành quan niệm thẩm mĩ cho bạn đọc và trang trí cho tác phẩm khiến tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn hơn với người đọc

1.2.2.2 Ngôn ngữ nhân vật

Bên cạnh ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật cũng là một thành phần quan trọng trong tác phẩm tự sự Để phân tích đặc điểm ngôn ngữ nhân vật bao gồm ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm chúng tôi dựa vào lí thuyết hội thoại và các khái niệm liên quan

a) Nhân vật

Trong giao tiếp, nhân vật giao tiếp là người tham gia vào cuộc thoại, phát ngôn và tiếp nhận lời thoại dựa trên những đặc điểm xã hội riêng về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ, văn hóa, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc riêng

Trong tự sự, nhân vật là "con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học", "là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người thật trong cuộc sống", "là người dẫn dắt người đọc vào các thế giới khác nhau của đời sống" và góp phần thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người" [28, tr.162-163] Lại Nguyên Ân còn bổ sung "Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm như con người" [2, tr.249]

Nhân vật trong tác phẩm tự sự chính là con người được nhà văn kể và miêu

tả trong tác phẩm Qua nhân vật, nhà văn dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, chuyển tải đến người đọc những thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm, bộc lộ Nhân vật xuất hiện trong tác phẩm qua ngoại hình, hành động, lời nói,

ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc Dựa trên sự chú trọng của nhà văn trong việc kể và miêu tả các đặc điểm của nhân vật có thể phân loại nhân vật thành các kiểu nhân vật khác nhau như: nhân vật tính cách, nhân vật số phận, nhân vật tư tưởng

b) Ngôn ngữ nhân vật và chức năng của ngôn ngữ nhân vật

- Ngôn ngữ nhân vật: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ nhân vật là

"lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự và kịch" [28, tr.147]

Ngôn ngữ nhân vật là sự thể hiện của nhân vật từ góc độ lời nói Thông qua

sự lựa chọn của nhà văn, ngôn ngữ nhân vật thể hiện rõ đặc điểm của nhân vật đó

Trang 36

- Chức năng của ngôn ngữ nhân vật:

+ Chức năng thể hiện tính cách, cá tính nhân vật: T Todorov khẳng định

"Mọi truyện kể đều là sự miêu tả các tính cách" [80, tr.40] Nhân vật phải mang

những đặc điểm riêng để thể hiện quan điểm, tư tưởng của nhà văn Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm riêng ấy nhân vật phải thuộc về một dân tộc, một xã hội nhất định và dù không muốn vẫn phải mang những nét chung của cộng đồng, thời đại sản sinh ra mình Nhân vật điển hình trong tác phẩm văn học phải mang những nét chung, nét riêng cụ thể và bộc lộ chúng trong lời nói, hành động, tình cảm, suy nghĩ Trong đó, lời nói của nhân vật là một trong những yếu tố bộc lộ tính cách, cá tính rõ nét nhất

+ Chức năng tham gia vào bố cục và sự liên kết của tác phẩm: Trong tự sự,

nhất là tự sự hiện đại, ngôn ngữ nhân vật bao gồm lời đối thoại và độc thoại nội tâm xuất hiện khá phổ biến Ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ vốn không phải của người

kể chuyện nhưng được người kể chuyện dẫn thêm vào lời kể để thể hiện một cách chân thực các đặc điểm của nhân vật Những đặc điểm của nhân vật không chỉ được bộc lộ qua lời nói, mà còn thể hiện qua hành động, tình cảm, thái độ, suy nghĩ được thể hiện trong suốt tác phẩm Thậm chí, ngôn ngữ nhân vật có thể làm thay đổi hành động, ứng xử của các nhân vật cho nên nó còn có vai trò liên kết, góp phần làm cho truyện kể trở nên thống nhất, tham gia vào sự phát triển của mạch truyện một cách tự nhiên

+ Chức năng liên nhân: Lời thoại của nhân vật trước hết mang nội dung cụ

thể, thể hiện rõ mục đích giao tiếp của lời nói Tuy nhiên, ngoài nghĩa nội dung ngôn ngữ nhân vật còn mang nghĩa liên nhân, bộc lộ mối quan hệ giữa các nhân vật tham thoại Ngôn ngữ nhân vật một mặt thể hiện vị thế, quyền uy, thân hữu giữa các nhân vật nhưng mặt khác còn có ý nghĩa gắn kết các nhân vật với nhau trong cấu trúc tác phẩm

c) Các hình thức ngôn ngữ nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật tồn tại dưới hai hình thức là đối thoại và độc thoại nội tâm

* Ngôn ngữ đối thoại

Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên

đối thoại được quan niệm "Đối thoại là một trong những dạng thức của lời nói trong đó

Trang 37

có sự hiện diện của người nói và người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc hội thoại" "Đối thoại

có đặc điểm: các phát ngôn có tính riêng biệt, ngắn gọn, có các kết cấu cú pháp đơn

giản, sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ" [86]

Đối thoại được 150 thuật ngữ văn học giải thích như sau "Ngôn từ đối thoại

là sự giao tiếp qua lại (thường là giữa hai phía) trong đó sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía này sang phía kia (giữa những phía tham gia giao tiếp); mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và là sự phản

xạ lại những phát ngôn ấy" [2, tr.128,129]

Về đối thoại trong tác phẩm tự sự, Nguyễn Thái Hòa cho rằng "lời thoại là hình thức kể bằng lời nhân vật Nó còn được gọi là lời trực tiếp của nhân vật trong văn học là "hình thức kể chuyện cá thể hóa triệt để tính cách và tình huống đối thoại" [37]

Đối thoại trong tác phẩm tự sự là ngôn ngữ của nhân vật hướng đến người nghe là một hay nhiều nhân vật khác xoay quanh chủ đề nào đó Đặc trưng lời thoại

là những phát ngôn ngắn, luân phiên của các nhân vật trong tác phẩm Trong một cuộc thoại, phát ngôn trước là là tiền đề của phát ngôn sau và phát ngôn sau là phản

xạ, đáp trả lại phát ngôn trước Ngôn từ đối thoại là thường là kiểu ngôn ngữ tự nhiên, thoải mái, có nhiều khẩu ngữ Hình thức nhận biết ngôn ngữ đối thoại trong

tự sự thông thường là mỗi lời thoại sẽ được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng Lời đối thoại trong tác phẩm tự sự có thể có hoặc không có lời dẫn, có thể liền mạch hay đứt quãng, có thể dài hay ngắn Lời đối thoại được sử dụng nhiều hay ít là do nhà văn lựa chọn để thích hợp với việc thể hiện dụng ý nghệ thuật

Lời ăn tiếng nói của con người thường thể hiện trình độ, nhận thức, kinh nghiệm, văn hóa, tư tưởng nên ngôn ngữ đối thoại đặc biệt có ưu thế trong việc khắc họa những chân dung về nhân vật

* Độc thoại nội tâm

Độc thoại nội tâm là hình thức ngôn ngữ đặc thù trong tự sự hiện đại bởi trong các tác phẩm truyền thống lời độc thoại hầu như không được sử dụng Thuật

ngữ độc thoại có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp, mongologos có nghĩa là lời nói của

Trang 38

một người đơn độc E Benveniste (1974) cho rằng độc thoại là đối thoại được nội tại hóa, được hình thành từ lời nói bên trong giữa một cái tôi là người nói và một cái tôi là người nghe [Dẫn theo 6, tr 501]

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa "Độc thoại nội tâm là

một dạng lời thoại được người nói sử dụng để thực hiện sự giao tiếp với chính mình, không trực tiếp ảnh hưởng đến người nghe thứ hai phân biệt Nó thường diễn ra ngầm

ẩn trong nội tâm, phản ánh những suy nghĩ, cảm xúc, phản ứng của người nói trong một ngữ cảnh nhất định, với một cấu trúc ngữ pháp phù hợp [86, tr 91-92]

Lời độc thoại nội tâm trong tự sự là dạng lời thoại không cần sự hiện diện của người nghe hoặc người nghe cũng chính là người nói vì độc thoại nội tâm là phát ngôn của nhân vật tự nói với chính mình để tự ý thức, đánh giá, bộc lộ nội tâm thầm kín Trong thực tế, suy nghĩ bên trong của con người thường rời rạc và không

có cấu trúc ngữ pháp trọn vẹn Tuy nhiên để có thể chuyển tải được thông tin nên trong tác phẩm tự sự các nhà văn đã tái tạo những suy nghĩ tản mạn ấy thành cấu trúc ngữ pháp hoàn chỉnh Ngôn ngữ độc thoại nội tâm có thể chỉ có một câu nhưng thường được thể hiện trong những đoạn văn liền mạch, không bị ngắt quãng Lời độc thoại thường xuất hiện sau lời dẫn thoại của người kể chuyện để tạo liên kết, kết dính ngôn ngữ người kể chuyện với ngôn ngữ nhân vật

Độc thoại nội tâm giúp nhân vật hiện lên một cách chân thật nhất, dẫn dắt độc giả vào thế giới tâm hồn sâu kín của nhân vật, khám phá những cung bậc tình cảm phức tạp của nhân vật đó Độc thoại nội tâm có thể phát triển thành dòng ý thức

1.2.2.3 Một số khái niệm liên quan đến ngôn ngữ nhân vật

Đối thoại và độc thoại nội tâm trong tác phẩm tự sự vẫn bộc lộ những đặc điểm hành chức cơ bản của một hình thức trò chuyện, giao tiếp Bởi vậy để có thể thống kê, phân tích một cách sâu sắc ngôn ngữ nhân vật và vai trò của nó trong ngôn ngữ kể chuyện chúng tôi có tìm hiểu một số khái niệm có liên quan như sau:

(1) Cuộc thoại: Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm nhất và là khái niệm

quan trọng trong lý thuyết hội thoại Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định

nghĩa cuộc thoại như sau:

“Đơn vị hội thoại lớn nhất, bao trùm nhất được xác định theo các tiêu chí về:

Trang 39

- Nhân vật hội thoại

- Thời gian và địa điểm hội thoại

- Chủ đề hội thoại

- Các dấu hiệu định ranh giới như: mở đầu, kết thúc” [86, tr.64,65]

Nhìn chung có thể hiểu cuộc thoại là một lần đối đáp giữa các nhân vật tham gia giao tiếp.Việc xác định cuộc thoại cần dựa vào các tiêu chí: nhân vật, thời gian,

địa điểm và tính thống nhất về đề tài phát ngôn Thuật ngữ cuộc thoại có thể sử

dụng để chỉ cả đối thoại và độc thoại nội tâm

(2) Lượt lời: Một cuộc thoại có thể tồn tại là nhờ sự tồn tại của các lượt lời Lượt lời là “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời" [8, tr.205]

Trong đối thoại, lượt lời được xác định là một lần nói của một bên giao tiếp Các lượt lời trong một cuộc thoại cần tạo thành hệ thống và cùng hướng vào một đề tài Căn cứ vào số lượt lời và số nhân vật tham gia có thể phân chia cuộc thoại thành đơn thoại, song thoại, tam thoại và đa thoại

Độc thoại nội tâm thường chỉ có một lượt lời Chỉ có thể có nhiều lượt lời trong trường hợp nhân vật phân thân để đối đáp Các nhà nghiên cứu vẫn xem mỗi lượt lời độc thoại nội tâm như là một cấu trúc chặt chẽ

(3) Dẫn thoại và thoại dẫn: Gắn với ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm

là lời dẫn thoại Theo Hữu Đạt thì "Trong văn xuôi, do mục đích của nó là miêu tả nên đối thoại của nhân vật thường được phụ họa bằng những lời giải thích, bình phẩm, đánh giá của tác giả Những lời giải thích, bình phẩm, đánh giá này thường xuất hiện ngay trước lời thoại của nhân vật, gọi là lời dẫn" [18, tr.103] “Lời dẫn thoại là ngôn ngữ của người kể chuyện thường đi trước lời nói của nhân vật để giới thiệu, báo trước, giải thích giúp người đọc hiểu rõ hơn về lời nhân vật Lời dẫn thoại thường xuất phát từ điểm nhìn của người kể chuyện Lời dẫn thoại hiện diện trong tự sự nhằm tái hiện sự kiện, quan hệ, diễn biến cuộc đời nhân vật Tuỳ theo ý đồ nghệ thuật, cách thức tổ chức cốt truyện, phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn, dạng lời nói này có những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, lời dẫn thoại thường có cấu tạo

Trang 40

ngắn gọn, súc tích Nó thường tập trung ở các kiểu câu phổ biến là câu đơn, câu ghép

và các kiểu câu mở rộng Dựa vào việc có hay không sử dụng dẫn thoại mà người ta có thể phân loại đối thoại thành đối thoại ngắt quãng và đối thoại liền mạch”

Cần phân biệt dẫn thoại và thoại dẫn Nếu dẫn thoại (có thể nằm trước, giữa hay sau câu thoại) là lời người kể chuyện để dẫn dắt đến lời nhân vật thì thoại dẫn là trích dẫn lời nhân vật Dẫn thoại và thoại dẫn không chỉ để dẫn ngôn ngữ đối thoại

mà còn có khả năng dẫn ngôn ngữ độc thoại

Phân tích ngôn ngữ nhân vật cần đặc biệt chú ý đến thoại dẫn Ngôn ngữ học hiện nay phân biệt hai hình thức thoại dẫn cơ bản: trực tiếp và gián tiếp Dẫn trực tiếp là dẫn nguyên lời Dẫn gián tiếp là dẫn lại ý Hình thức thoại dẫn có tác dụng thể hiện rõ vai trò của người kể chuyện trong truyện kể

(4) Nghĩa: Ngữ nghĩa là phương diện quan trọng nhất của lời nói Bởi khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng muốn chuyển tải đến người nghe một điều gì đó

và người nghe luôn muốn nắm bắt chính xác điều mà người nói truyền đạt trong lời

Trong cuốn sách Ngữ nghĩa học - Một dẫn luận vào khoa học ý nghĩa, Stephen

Ullmann "Hai bộ môn chính của ngôn ngữ học đặc biệt có quan hệ với từ là: từ nguyên học nghiên cứu nguồn gốc của từ và ngữ nghĩa học nghiên cứu ý nghĩa của từ" [Dẫn theo 75, tr.6] Tuy nhiên, các đơn vị ngôn ngữ đều mang nghĩa nên nghiên cứu ngôn ngữ cuối cùng đều phải tìm hiểu nghĩa

Nghiên cứu về nghĩa học hiện nay là một hướng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà Việt ngữ học, tiêu biểu như Lê Quang Thiêm, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thiện Giáp, Đào Thanh Lan Trong đó tác giả Lê Quang Thiêm xác định nghĩa "là nội dung của tín hiệu, của biểu thức ngôn ngữ" [75, tr 8] Từ góc độ

nghĩa, trong Ngôn ngữ với văn chương Bùi Minh Toán đã tìm ra điểm khác biệt

giữa chất liệu ngôn ngữ của văn chương so với chất liệu của các môn nghệ thuật

khác là "ngôn ngữ là chất liệu mang nghĩa" và "nội dung của ngữ nghĩa đó có thể là

những điều rất khái quát, trừu tượng, cũng có thể rất chi tiết, cụ thể, mang những

sắc thái tinh vi, tế nhị" [78, tr 38,39]

Nghĩa là cái cuối cùng, là mục đích hướng đến của ngôn ngữ Chúng ta không thể nghiên cứu ngôn từ mà lại không tìm hiểu nghĩa Ngôn ngữ kể bao giờ cũng hướng

Ngày đăng: 12/03/2021, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w