Bùng nổ vấn đề dân tộc trong lịch sử thường kéo theo những làn sóng ý thức tộc người, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, do sự khác nhau về lối sống, tâm lý, tập quán, trình độ phát tri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thanh Khôi
Phản biện 1: PGS.TS Đỗ Thị Thạch
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu
Phản biện 3: TS Nguyễn Tiến Sỹ
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp ĐHQG, họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội vào hồi: 8 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Tộc người luôn là một nội dung chính trị nhạy cảm, phức tạp liên quan đến tất cả các quốc gia trên thế giới Các đảng, nhà nước muốn thực hiện tốt vai trò quản lý xã hội, thực hiện quyền lực chính trị của mình đòi hỏi phải nắm vững đặc điểm tộc người, giải quyết tốt quan hệ tộc người phù hợp với thực tiễn đất nước
Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động lớn Một trong những biến động đó là toàn cầu hóa cuốn hút tất cả các nước của khắp các châu lục Toàn cầu hóa, một mặt, đem lại cho các nước, nhất là những nước đang phát triển những cơ hội lớn; mặt khác, cũng đặt ra những thách thức không nhỏ Một trong những thách thức đó là sự bùng
nổ mâu thuẫn, xung đột tộc người
Bùng nổ vấn đề dân tộc trong lịch sử thường kéo theo những làn sóng ý thức tộc người, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, do sự khác nhau
về lối sống, tâm lý, tập quán, trình độ phát triển kinh tế - xã hội,… Nó đặt
ra cho bất cứ một đảng chính trị, một nhà nước nào trong quốc gia đa tộc người, nếu không xuất phát từ tình hình, đặc điểm tộc người thì cũng không có khả năng giải quyết được những vấn đề mới nảy sinh trong quan
hệ giữa các tộc người Do vậy, trong một quốc gia có nhiều thành phần tộc người, đặc điểm tộc người như là một thước đo làm căn cứ để xây dựng và thực hiện những chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,… của đất nước
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người cùng chung sống Tuy có tập quán, tâm lý, trình độ phát triển khác nhau, nhưng các tộc người đã đoàn kết gắn bó, hợp tác trong suốt quá trình dựng nước
và giữ nước, tạo nên một diện mạo chung của dân tộc Việt Nam - thống nhất trong đa dạng của các quan hệ tộc người
Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã và đang phát triển, giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng chiến lược phát triển đất nước luôn xuất phát từ tình hình thực tiễn, đặc điểm của các
Trang 4tộc người đề ra những chính sách phù hợp với bối cảnh của đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Hiểu
rõ nguồn gốc, hoàn cảnh lịch sử, đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội,… của các tộc người là cơ sở quan trọng đề ra chính sách giải quyết tốt những nhiệm vụ đặt ra của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Đó là lý do mà tác giả chọn vấn đề: “Đặc điểm các tộc người ở Việt
Nam trong công cuộc đổi mới đất nước” làm đề tài luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích làm rõ biểu hiện và
ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước, luận án đề xuất một số giải pháp điều tiết những ảnh hưởng
đó đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án hướng vào giải quyết những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
- Phân tích các công trình nghiên cứu cơ bản liên quan đến nội dung luận án và chỉ ra một số khái niệm như: tộc người, đặc điểm tộc người, đặc điểm các tộc người ở Việt Nam
- Phân tích một số yếu tố quy định sự hình thành đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong lịch sử và những vấn đề đặt ra từ sự tác động của công cuộc đổi mới đất nước
- Phân tích biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm điều tiết những ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu biểu hiện và ảnh
hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới
đất nước
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đặc điểm các tộc người ở
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trang 5Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, các chính sách của Nhà nước Việt Nam về vấn đề tộc người và liên quan Ngoài ra, luận
án còn kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu có quan hệ đến
đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh
và một số phương pháp nghiên cứu liên ngành khác, đặc biệt là triết học – dân tộc học, triết học – chính trị học,…
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
- Luận án đề xuất một số giải pháp điều tiết những ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án có thể góp phần làm luận cứ khoa học cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tác động đến vấn đề tộc người ở Việt Nam hiện nay
- Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy những môn học có liên quan đến vấn đề tộc người ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (11 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và một số phụ lục
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ MỘT SỐ
KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về khái niệm tộc người và đặc điểm tộc người
Khái niệm tộc người có từ rất sớm trong lịch sử Ở
ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện thuật ngữ "ethnos", bao hàm nhiều nghĩa khác nhau như "bầy", "đám đông",
"một nhóm người", "bộ lạc", "bộ lạc ngoại bang", "tộc người", Phân tích nghĩa gốc của từ này, người ta thấy, nó dùng để "chỉ một tổng thể người sống giống nhau, có những đặc điểm chung giống nhau như phong tục, tập quán, thói
quen hàng ngày, " [40, 10]
Trong thời kỳ trung cổ ở châu Âu, từ "ethnos" thường được sử dụng ở dạng số nhiều (chủ yếu trong Kinh thánh) để chỉ người Ngoài ra, do quá trình Latinh hóa mà từ "ethnos" đã ra đời và được sử dụng để chỉ những người đa thần giáo
Đến thời kỳ cận đại, từ "ethnos" được sử dụng trong nhiều ngành khoa học cùng với sự xuất hiện các thuật ngữ
Trang 7khác như "ethnography" (tộc người học miêu tả),
"ethnology" (tộc người học lý luận), Tuy nhiên, thuật ngữ
“ethnos” vẫn chưa được sử dụng rộng rãi Giai đoạn này, trong hoạt động thực tiễn, các nhà khoa học chủ yếu sử dụng các thuật ngữ "chủng tộc", "bộ lạc", "tộc người" Nửa sau thế kỷ XIX, thuật ngữ "ethnos" vẫn được dùng theo những nghĩa khác nhau, như để chỉ giai đoạn tiền sử trong lịch sử loài người, hoặc để gọi các vùng văn hóa hay các yếu tố văn hóa,
Chỉ từ những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trở đi, khái niệm "ethnos" với ý nghĩa là "tộc người" mới dần được xác lập trong khoa học Sau này, trong giới nghiên cứu, thuật ngữ “ethnie” được dùng phổ biến hơn để chỉ các tộc người Chẳng hạn, trong công trình "Chọn lọc xã hội" (1898), học giả Pháp Vacher de Lapouge đã đưa ra thuật ngữ
"ethnie" và được A.Fouillee tiếp tục sử dụng trong công trình
"Tâm lý tộc người học Pháp" (1914) Tuy nhiên, phải đến
năm 1920, trong "Bản tin và kỷ yếu của hội Nhân chủng học
Paris", học giả Pháp F.Regnault mới tiến thêm một bước
trong việc xác lập khái niệm "ethnie", khi đòi hỏi cần phải có
sự phân biệt tộc người ngôn ngữ với chủng tộc hình thể Theo R.Breton, thuật ngữ "ethnie" đơn giản hơn so với những cụm
Trang 8từ khác như "ethnos", "ethnicum", "ethnea"; và chỉ đến
G.Montadon với công trình "Tộc người Pháp” (1935) thì
thuật ngữ "ethnie" mới bắt đầu chiếm được một công chúng độc giả rộng lớn Theo đó, các nhà tộc người học và chính quyền thuộc địa Pháp ở hải ngoại thấy rằng, việc sử dụng thuật ngữ "ethnie" là tiện lợi hơn vì nó có ý nghĩa trung tính hơn so với các thuật ngữ "tribu" (bộ tộc) hay "peuple" (nhân dân), Tại nước Pháp, thuật ngữ "ethnie" tiếp tục trở nên có
uy tín và sức nặng khoa học trong công trình "Châu Âu của
các tộc người" (1963) của G.Heraud
Không chỉ được sử dụng rộng rãi trong giới học giả nghiên cứu có tính hàn lâm, từ những năm 1970 trở đi, thuật ngữ "ethnie" còn được các nhà chính trị sử dụng để chỉ những nhóm người lao động nhập cư
Ở Việt Nam, trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày, trên những phương tiện thông tin đại chúng, các tài liệu sách báo chính trị - xã hội và trong các tài liệu và công trình khoa học chuyên ngành, thuật ngữ "tộc người" không được sử dụng
phổ biến Thay vào đó, thuật ngữ "tộc người" vừa dùng để
chỉ các tộc người trong 54 tộc người ở Việt Nam (tộc người Kinh, tộc người Thái, tộc người Ba Na, tộc người Ê Đê, ),
Trang 9vừa được dùng để chỉ một quốc gia như: tộc người Việt Nam, tộc người Pháp, tộc người Mỹ,
Trong giới khoa học Việt Nam, có nhiều ý kiến tranh
cãi xung quanh vấn đề sử dụng thuật ngữ "dân tộc" và "tộc
người" Có quan điểm cho rằng, không thể để tình trạng sử
dụng thuật ngữ "dân tộc" mà vừa chỉ "dân tộc", vừa chỉ "tộc
người" như trên Tuy nhiên, đề nghị này không được đa số học
giả tán thành
Hai cuộc hội thảo về xác định thành phần dân tộc (tộc người) ở Việt Nam năm 1973 đã thống nhất lấy “dân tộc” (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong xác định các thành phần tộc người Sau đó, trong các công trình đăng
tải ở "Thông báo dân tộc học" (1973), "Tạp chí dân tộc
học" (1974), "Vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam" (1975), "Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc" (1978), cũng như Bảng danh mục 54 dân tộc ở Việt Nam do Ủy ban Khoa
học xã hội Việt Nam cùng Ủy ban Dân tộc trung ương trình lên Chính phủ và được công nhận chính thức từ cuộc Tổng điều tra dân số 1979 đến nay - trong tất cả các công
trình và tài liệu quan trọng này, thuật ngữ "dân tộc" được
Trang 10sử dụng một cách chính thức để chỉ 54 tộc người ở Việt Nam
Từ thập niên 1980 trở lại đây, nhiều công trình của các nhà nghiên cứu như Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Bế Viết Đẳng, Lê Sĩ Giáo, Khổng Diễn, khái niệm
"tộc người" đã được sử dụng và xác định khá rõ ràng,
thuyết phục Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu dù đã phân biệt sự khác nhau giữa hai thuật ngữ "dân tộc" và "tộc người", nhưng trong tình huống cụ thể, vẫn sử dụng thuật ngữ "dân tộc" để chỉ các tộc người
Trong công trình: "Cộng đồng Quốc gia dân tộc Việt
Nam" (2002), Đặng Nghiêm Vạn đã chỉ ra thế nào là một dân tộc và thế nào là một tộc người Trong công trình của
mình, tác giả đặt vấn đề cần nhìn nhận lại định nghĩa dân tộc của J.V.Xtalin, đồng thời chỉ ra bốn con đường hình
thành cộng đồng quốc gia dân tộc [xem 93, 28 - 32] Tác
giả khẳng định, không thể lẫn cộng đồng tộc người với cộng đồng dân tộc, bởi lẽ dân tộc “phải có hai yếu tố cơ bản: (1) dựa trên một lãnh thổ, có một biên giới được xác định, (2) phải thành lập một nhà nước được thế giới công
nhận” [93, 33] Còn tộc người, “ngược lại là một cộng đồng
mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên cùng
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc
và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu
nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội
3 Hoàng Chí Bảo (chủ biên), (2009), Bảo đảm bình đẳng
và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội
4 Bộ giáo dục và đào tạo (2012), Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội
5 Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc
Tây Bắc – Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Chính
trị quốc gia, Hà Nội
6 Trần Văn Bính (chủ biên) (2006), Đời sống văn hóa các
dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Lý luận chính trị
Trang 127 Trịnh Quang Cảnh (2013), Một số kiến thức cơ bản về
dân tộc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
8 Nguyễn Mạnh Cường (2008), Văn hóa tín ngưỡng của
một số dân tộc trên đất Việt Nam, NXB Văn hóa –
Thông tin
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội
11 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
NXB Sự thật, Hà Nội
12 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội
13 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 1314 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội
15 Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội
16 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội
17 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội
18 Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần
thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội
19 Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần
thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội
20 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương,
Ban chỉ đạo tổng kết (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn
đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016),
NXB Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội