Các ví dụ cụ thể về cách giới thiệu bài: 4.1 Phần Văn bản: VD 1: GTB “Tiếng nói văn nghệ” — Nguyễn Đình Thi — NV9 — Tập 2 dựa vào chú thích — những điều cần lưu ý: Nguyễn Đình Thi 1924 —[r]
Trang 1GÂY HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN
BẰNG CÁCH GIỚI THIỆU BÀI MỚI
I PHẦN LÝ LUẬN CHUNG
1 Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học cơ sở (THCS): góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội (CNXH), biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu
có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó là cũng là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tố quốc
Môn Ngữ văn là một trong hai môn học chính trong nhà trường, thế nhưng hiện nay học sinh có phần lơ là với việc học môn Văn Vậy làm thế nào giúp học sinh yêu thích môn học này thì người quyết định chính là giáo viên trực tiếp giảng dạy phải tìm phương pháp thích hợp, đổi mới phương pháp dạy học
Từ khi thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, dạy và học Ngữ văn
đã thực sự gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp Học sinh (HS) học tập tự giác, chủ động, tích cực và sáng tạo Đạt được kết quả này là do có sự đổi mới quan niệm dạy và học: đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học Trong số đó, đổi mới phương pháp dạy học theo qui trình hoá việc chuẩn
bị và tiến hành dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh có
ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi tránh tâm lí mệt mỏi, thụ động và gây những
ấn tượng mới hợp lí tạo nên sự hứng thú, ham học và huy động tính tích cực
tự học của học sinh ở mức tối đa, đạt hiệu quả cao nhất
Trang 2Việc đa dạng hoá hoạt động học tập môn Ngữ văn ở trường THCS khá phong phú, trong đó có việc đa dạng hoá giới thiệu bài (GTB)
GTB không phải là một vấn đề mới, song có một số giáo viên (GV) dường như còn xem nhẹ (có khi có — có khi không) chưa trở thành một hoạt động thường xuyên, hoặc quan niệm phần này chỉ dành cho phân môn Văn, còn tiếng Việt, Tập làm văn thường ít chú ý Quan niệm như thế là không đúng GTB có tác dụng và ý nghĩa khá lí thú GTB gây hứng thú cho học sinh, không chỉ yêu cầu đối với môn Ngữ văn mà còn là yêu cầu với tất cả các môn (KHTN và KHXH nhân văn ) GTB tốt sẽ là một thành công không nhỏ của đổi mới dạy học hiện nay: hướng học sinhvào học tập chủ động, tích cực, hứng thú ngay từ giây phút ban đầu của bài học Sau đây tôi xin kể một câu chuyện vui về GTB mới
SỢ KHÔNG
Thầy Peter luôn có những ví dụ sinh động trong môn Lịch sử Một lần, thầy vào lớp với vẻ mặt cực kì căng thẳng Các học trò còn đang ngơ ngác thì thầy đã rút một chiếc dép lê phi thẳng về góc lớp bên phải Cả lớp giật mình
im thin thít Thầy lại rút tiếp chiếu dép còn lại ném về góc trái
Đám “ nhất quỷ nhì ma” tái mét mặt vì sợ Lúc đó thầy Peter mới lên tiếng
- Có sợ không?
- Dạ, thưa thầy Sợ lắm ạ! Tất cả run cầm cập trả lời
- Rất tốt, tuy nhiên, chiến tranh thế giới thứ II còn đáng sợ hơn thế nhiều! Nào các em mở vở ta học về chiến tranh thế giới thứ II!
Câu chuyện vui trên giúp chúng ta phần nào thấy được tác dụng của việc GTB trong giảng dạy nói chung và trong giờ học Ngữ văn nói riêng Đó
cũng là lí do khiến tôi làm "Sáng kiến kính nghiệm” này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn ở trường THCS, đặc biệt là từ khi Bộ Giáo Dục (BGD) triển khai đổi mới Sách giáo khoa (SGK),
Trang 3đổi mới phương pháp dạy học, chúng tôi luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu làm cách nào đó giúp học sinh yêu thích môn Ngữ văn, có hứng thú học tập bộ môn này Việc đổi mới phương pháp dạy học là một nhu cầu bức thiết phục
vụ mục tiêu đào tạo con người mới, có những phẩm chất năng lực: nhanh, nhạy, xử lý thông minh trong mọi tình huống, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để giúp học sinh (HS) hứng thú, tích cực, chủ động trong việc học Ngữ văn có nhiều phương pháp Một trong những phương pháp gây hứng cho HS trong học tập là đổi mới cách GTB
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Là học sinh THCS, là thực tế học bộ môn Ngữ văn của học sinh, phương pháp giảng dạy của giáo viên trong nhà trường THCS, là chương trình Ngữ văn THCS để tìm ra phương pháp thích hợp, có tác dụng kích thích
sự hứng thú học tập bộ môn của học sinh, nhất là nghiên cứu về vấn đề GTB trong giờ dạy Ngữ văn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tâm lí lứa tuổi HS THCS, quan sát tự nhiên (dự giờ): trưng cầu ý kiến học sinh, phụ huynh; giáo viên tiến hành khảo sát trên lớp qua các giờ thao giảng, dạy mẫu; nghiên cứu qua báo đài, các tài liệu tham khảo từ đó giáo viên tìm ra phương pháp thích hợp để giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
II NỘI DUNG
1 Tác dụng của việc giới thiệu bài mới:
GTB sẽ tạo ra một “tâm thế” nhập cuộc cho học sinh đi vào tìm hiểu và chiếm lĩnh nội dung, kiến thức của bài học Khái niệm “tâm thế” trong giờ học Ngữ văn có thế hiểu như một khái niệm của khoa học tâm lí - đó là việc xác định những tình huống dạy học, sự tác động tâm lí tạo ra tiền đề nhận thức và có tính sư phạm để học sinh hướng chú ý tích cực vào mục đích học tập Có nhiều cách tạo ra tâm thế để góp phần nâng cao chất lượng giờ học Ngữ văn
Trang 4Với đặc trưng của bộ môn Ngữ văn vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, việc đa dạng hoá GTB rất có ý nghĩa
Lời giới thiệu bài càng hấp dẫn, mới mẻ, sáng tạo càng có khả năng nhanh chóng xác định tâm thế sư phạm cho học sinh tập trung chú ý và hứng thú cá nhân vào bài học Lời giới thiệu bài rời rạc hoặc hình thức, qua loa chiếu lệ dẫn đến tình trạng khi giờ học đã bắt đầu nhưng học sinh có thể vẫn thờ ơ, lãnh đạm hoàn toàn ở ngoài thế giới của tiết học
Về phía giáo viên, nếu không có lời giới thiệu bài hoặc lời giới thiệu bài đơn điệu thì khó mà có được cảm xúc, cảm hứng để đi vào bài dạy Lời giới thiệu bài tốt sẽ là khúc dạo đầu đầy phấn chấn Những giây phút không nhiều này sẽ bộc lộ sự sẵn sàng giúp đỡ và cảm tình giữa giáo viên và học sinh, tạo nên một không gian rộng mở, say sưa ru mình vào kho tàng kiến thức, vào bài học Ngữ văn GTB là yếu tố xúc tác, cầu nối tinh thần quan trọng giữa thầy và trò, giữa bài học và người học Có thể thấy sơ đồ tác động của GTB như sau:
HS
GV
2 Phương pháp giới thiệu bài:
2.1 GTB cần đặt trong các mối quan hệ tương tác lẫn nhau: quan hệ
thầy — trò; quan hệ trò — trò; quan hệ trò — thầy Sau mỗi tiết học, mỗi năm học, giáo viên tự đánh giá hiệu quả của GTB nhằm rút kinh nghiệm, điều chỉnh cách GTB GV không nên “quên” hoặc hình thức, hoặc lặp đi lặp lại một kiểu giới thiệu cứng nhắc, cần phải linh hoạt, đa dạng và sáng tạo
2.2 Yêu cầu của việc giới thiệu bài:
- Yêu cầu khái quát:
Trang 5+ GTB phải chú ý đến một số nhân tố ngữ cảnh liên quan tới nội dung bài học, hướng ngoạiệ
Đối tượng giao tiếp: HS THCS
Hoàn cảnh giao tiếp: nhà trường.
Đây là hai nhân tố ngữ cảnh giúp giáo viên định hướng nội dung và phương pháp dạy học để lựa chọn GTB sao cho phù hợp nhất
- Xác định nội dung bài học — hướng nội
Xác định đề tài của bài học: bài học viết về vấn đề gì? cơ sở để xác định đề tài của bài học? (dựa vào tên bài học)
Xác định chủ đề: xác định ý đồ của bài học hay định hướng tới của bài học
Giáo viên phải có sự hiểu biết sâu sắc và tổng thể vấn đề sắp được dạy
- Yêu cầu cụ thể:
+ Yêu cầu đặt ra với lời giới thiệu bài (còn gọi là lời vào bài) của giáo viên dựa trên căn cứ và kết qua nghiên cứu khoa học cơ bản kết hợp với kỳ năng sư phạm vững vàng
+ Sức hấp dẫn của lời vào bài đôi khi còn phụ thuộc những yếu tố chủ quan và khách quan nhất định
Yếu tố chủ quan là trình độ hiếu biết chuyên môn, chất giọng và khá năng diễn đạt kiến thức, kĩ năng sư phạm
Yếu tố khách quan đó là vấn đề lựa chọn dung lượng kiến thức
và phương pháp diễn đạt phù hợp
2.3 Nhiệm vụ của việc giới thiệu bài:
GTB có nhiệm vụ giới thiệu nội dung khái quát của bài học và định hướng giải quyết, phạm vi giải quyết bài học Do đó:
Về nội dung: lời giới thiệu bài cần ngắn gọn, súc tích nhưng cốt nêu được vấn đề tức định hướng, xác định được rõ ràng đối tượng cho bài học Lời giới thiệu bài quá dài dòng dễ gây phân tán sự chú ý hoặc học sinh khó xác định trọng tâm và phương hướng nhận thức
Trang 6Về hình thức: tùy từng đặc điểm bài học có thể linh hoạt, sáng tạo thực hiện các kiểu GTB.
Điều cần lưu ý là GTB diễn ra ở cả ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn GTB phải chú ý đến tính tích hợp và tích cực GTB có liên quan mật thiết tới mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
3 Các cách giới thiệu bài cụ thể:
GTB khá phong phú, có thế nói có bao nhiêu bài học là có bấy nhiêu cách dẫn vào bài:
Nhìn một cách đại thể, GTB có hai cách: Trực tiếp
Gián tiếp Nhìn một cách cụ thế, GTB có một số cách như sau:
(1) Nêu xuất xứ: giáo viên có thể dựa vào phần chú thích trong sách giáo khoa, bên cạnh nghiên cứu kĩ bài học, tài liệu tham khảo, giáo viên cần triệt để khai thác mục “những điều cần lưu ý” trong sách giáo viên
(2) GTB bằng lời kể sáng tạo
(3) GTB bắt đầu từ một vài nhận định tiêu biểu, các ý kiến tranh luận hoặc những cảm nhận chủ quan
(4) GTB bằng một vài so sánh tương đồng hay đối lập với nội dung bài học
(5) GTB bằng cách dùng thủ pháp đòn bẩy
(6) GTB bằng cách kể một câu chuyện có liên quan tới nội dung bài học
(7) GTB bằng cách nêu câu hỏi tình huống có vấn đề
(8) GTB bằng hình thức trắc nghiệm khách quan.
(9) Nghe, xem băng, đĩa, tranh ảnh, tư liệu (tích hợp với bộ môn khác nhất là môn khoa học xã hội nhân văn)
(10) GTB bằng cách trò chơi giải ô chữ
(11) GTB bằng sơ đồ, biểu mẫu
(12) GTB bằng cách kết hợp kiểm tra bài cũ
(13) GTB theo hướng tích hợp (ngang — dọc)
Trang 7(14) GTB nhiều lúc có thể để học sinh tự nói về những điều cảm nhận được sau khi đã học và chuẩn bị ở nhà
(15) GTB bằng cách có thể kết hợp nhiều cách khác nhau
(16)Trong mỗi cách GTB lại có nhiều hình thức giới thiệu khác nhau
4 Các ví dụ cụ thể về cách giới thiệu bài:
4.1 Phần Văn bản:
VD 1: GTB “Tiếng nói văn nghệ” — Nguyễn Đình Thi — NV9 —
Tập 2 dựa vào chú thích — những điều cần lưu ý:
Nguyễn Đình Thi (1924 — 2003) là một nghệ sĩ đa tài: văn, thơ, nhạc,
lí luận phê bình đồng thời là nhà quản lí lãnh đạo văn nghệ Việt Nam nhiều năm Bài “Tiếng nói văn nghệ” được viết trên chiến khu Việt Bắc trong thời
kỳ kháng chiến chống Pháp khi chúng ta đang xây dựng nền văn nghệ mới đậm đà tinh thần dân tộc, khoa học, đại chúng, gắn bó với những cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân Trong hoàn cảnh và trình độ Việt Nam khi ấy, ta càng thấy được sự sâu sắc các ý kiến của nhà văn trẻ — 28 tuổi — đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên
VD2: (Đặt câu hởi)
Văn nghệ (văn học và các ngành nghệ thuật khác như: âm nhạc, sân khấu, múa, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc ) có nhiều nội dung và sức mạnh riêng và độc đáo như thế nào? Nhà nghệ sĩ sáng tác tác phẩm với mục đích gì? Văn nghệ đến với người tiếp nhận, đến với quần chúng nhân dân bằng con đường nào? Nhà văn Nguyền Đình Thi đã góp phần trả lời những câu hỏi trên qua bài nghị luận giàu sức thuyết phục “Tiếng nói văn nghệ”
Mỗi khi Tết đến, Xuân về, người Việt Nam chúng ta lại nhớ tới câu đối quen thuộc và rất nổi tiếng:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Bánh chưng, bánh giầy là hai thứ bánh không những rất ngon, rất bổ, không thể thiếu được trong mâm cỗ ngày Tết của dân tộc Việt Nam mà còn mang bao ý nghĩa sâu xa, lí thú Các em có biết hai thứ bánh đó bắt nguồn từ
Trang 8truyền thuyết nào từ đời Vua Hùng? Bài học hôm nay sẽ giúp các em biết được điều đó
VD 4: Bài "Con Rồng cháu Tiên " — NV6 — Tập 1
GTB “ Con Rồng cháu Tiên" bằng cách đặt câu hỏi: Dân tộc Việt Nam
là con cháu ai? Nguồn gốc ấy có gì đẹp đẽ và thiêng liêng khiến cho mọi người dân ta đều vô cùng tự hào? Truyện "Con Rồng cháu Tiên sẽ giúp ta hiểu điều đó”
VD5: “Cây tre Việt Nam" - NV6 - Tập 2
Hình như, mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều chọn một loài hoa, loài cây riêng để làm biểu tượng Chẳng hạn như: Mía - Cuba, Bạch dương - Nga Bồ
đề - Ấn Độ, Liễu - Trung Hoa, Đại(Chămpa) - Lào, Thốt nốt - Campuchia, Dừa - Indonexia, Hoa Hồng - Bungari Hoa Anh Đào - Nhật Bản, Tulíp - Hà Lan…
Đất nước và dân tộc Việt Nam chúng ta, từ bao đời nay dã chọn cây tre, loài cây tượng trưng tiêu biểu cho tâm hồn, khí phách, tinh hoa của dân tộc
“Tre xanh, xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
(Nguyễn Duy)
Ca ngợi nhân dân Việt Nam anh hùng vừa kháng chiến chống Pháp thắng lợi: đạo diễn người Ba Lan R.Cacmen cùng các nhà làm phim Việt Nam đã dựa vào tuỳ bút “Cây tre bạn đường” của nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tuân đế xây dựng bộ phim tài liệu “Cây tre Việt Nam” (1956) Nhà báo lừng danh Thép Mới (Nguyễn Ánh Hồng) đã viết bài ký “ Cây tre Việt Nam” để thuyết minh cho bộ phim này
VD6: Bài “Vượt thác” - Võ Quảng - NV6 - Tập 2
GV cho HS xem bản đồ sông ngòi miền Trung VN, chỉ vị trí sông Thu Bồn, tranh cảnh dòng sông Thu Bồn, tập truyện "Quê nội” của Võ Quảng sau
đó dẫn vào bài
Trang 9VD 7: Văn bản “Chiếc lá cuối cùng" (NV8 - Tập 1) làm bài tập trắc
nghiệm
Trên đời này điều gì cao cả và đẹp nhất, sống lâu bền với thời gian, với con người?
A Địa vị B Tình người C Vật chất
Sau khi HS chọn đáp án B, GV nhấn mạnh:
“Có gì đẹp trên đời hơn thế, Người yêu người sống để yêu nhau ”
( Tố Hữu)
Sau đó dẫn vào bài: Tình cảm giữa con người với con người là tình cảm cao đẹp nhất Tình cảm ấy đã dược nhà văn Mĩ – Ohen ri thể hiện rất rõ qua truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” mà chúng ta học hôm nay
VD8: GTB “Mây và Sóng” - Tago - NV9 - Tập 2
Cho HS nghe một đoạn bài “ Mẹ yêu con” của Nguyễn Văn Tí Giáo viên giới thiệu bài bài hát “Mẹ yêu con” của Nguyễn Văn Tí là một giai điệu đẹp trong bản trường ca bất tận về tình mẹ con Trong chương trình NVTHCS, các em đã học những văn bản nào nói về tình mẹ con? Hãy kể tên các văn bản đó
HS kể: văn bản “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm), “Con cò” (Chế Lan Viên), “Trong lòng mẹ” (Nguyên Hồng),
“Mẹ tôi”E-A-mi-xi, “Cổng trường mở ra"- Lí Lan
GV chốt: Tình mẹ con là đề tài vĩnh cửu của văn học nghệ thuật Đại thi hào Tago (Ấn Độ) cũng có một bài thơ hay về đề tài này Đó là bài “Mây
và sóng”
VD9: “Tiếng gà trưa''' - Xuân Ọuỳnh - N V7 - Tập 1
Tình cảm nhớ quê hương, gia đình là một tình cảm thường trực trong lòng mỗi người Việt Nam khi xa quê Đối với Bằng Việt, tình cảm với quê hương, gia đình, bà cháu bắt đầu từ hình ảnh bếp lửa thân thương và qua âm thanh tiếng tu hú, thì với Xuân Quỳnh tình cảm nhớ quê hương, tình bà cháu
Trang 10của người chiến sĩ được gợi ra qua điều gì, chúng ta tìm hiểu qua bài thơ
“Tiếng gà trưa”
VD10: - Bếp lửa ” - Bằng Việt - NV9 - Tập 1
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương ”
Đó là tâm trạng của người xa quê Những cái bình thường quen thuộc hàng ngày tưởng chừng như chẳng có gì đáng nhớ nhưng đến khi xa rồi mới biết chẳng thể nào quên Nhưng nỗi nhớ quê ấy ở mỗi người lại nhớ khác nhau Kẻ nhớ “canh rau muống”, kẻ nhớ “cà dầm tương", có khi lại “nhớ cô tát nước”, có lúc lại “nhở mảnh trăng quê” Còn riêng Bằng Việt trong những tháng năm di du học ở Liên Xô, nhà thơ lại nhớ da diết cái bếp lửa của người bà Bài thơ "Bếp lửa” mà ta học hôm nay sẽ cho thấy tình cảm với người bà của tác giả
VD 11: “Sang thu” - Hữu Thỉnh - NV9 - Tập 2
Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay hoạ sĩ tài hoa thi mùa thu bước vào thi ca cũng tự nhiên gần gũi Trước dó, Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ: “ Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm" Sau này, Xuân Diệu
có bài “Đây mùa thu tới”, Lưu Trọng Lư với "Tiếng thu" Nhỏ nhẹ, khiêm nhường, Hữu Thỉnh cũng góp vào cho mùa thu đất nước, quê hương với bài
“Sang Thu”
VD 12: “Cảnh ngày xuân” - NV9 - Tập 1:
(Kết hợp kiểm tra bài cũ với giới thiệu bài mới)
Nêu giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”
HS trả lời:
GV giới thiệu:
Nếu như ở “Chị em Thuý Kiều” ta thấy được tài năng nghệ thuật miêu
tả người của Nguyễn Du: sử dụng bút pháp ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên
để gợi tả vẻ đẹp của con người, bài học hôm nay sẽ giúp ta thấy được nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du
VD13: “Thánh Gióng”- NV6 - Tập 1