Riêng đối với từ ngữ xưng hô, cách xưng hô của tiếng Hán và của tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học, các nhà văn hoá học đều có một nhận xét chung là : do đặc thù của hai nền ngôn ngữ - văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM NGỌC HÀM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS TS HOÀNG TRỌNG PHIẾN
HÀ NỘI - 2004
Comment [NL1]: Comment [NL2]:
Trang 2BẢNG BIỂU SỬ DỤNG VÀ MỘT SỐ QUY ƯỚC TRONG LUẬN ÁN
Bảng biểu
Hình 2.1 : Biểu đồ kết quả khảo sát các nhân tố chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô (Tr 53)
Bảng 2.1 : Bảng thống kê đại từ chỉ ngôi trong tiếng Hán (Tr 56)
Bảng 2.2 : Bảng thống kê các danh từ biểu thị quan hệ thân tộc trong tiếng Hán và tiếng Việt (Tr 79)
Bảng 2.3 : Bảng phân tích nghĩa tố của danh từ thân tộc tiếng Hán (Tr 90) Bảng 2.4 : Bảng thống kê các từ ghép chỉ quan hệ thân tộc theo phương thức ghép song song của tiếng Hán và tiếng Việt (Tr 91)
Bảng 2.5 : Bảng kê khả năng kết hợp của họ tên trong tổ hợp xưng hô tiếng Hán (Tr 104)
Bảng 2.6 : Bảng thống kê một số danh từ chức vụ, nghề nghiệp, học hàm, học
hô thông dụng trong tiếng Hán (Tr 157)
Bảng 3.4 : Bảng thống kê khả năng kết hợp của ―đại‖, ―lão‖, ―tiểu‖ với các từ xưng hô khác (Tr 161)
Bảng 4.1 : Bảng kê kết quả khảo sát bài tập 1 (xưng hô giữa trò với thầy) (Tr188)
Bảng 4.2 : Bảng kê kết quả khảo sát bài tập 1 (xưng hô giữa thầy với trò) (Tr183)
Hình 4.1 : Biểu đồ khảo sát sự hiểu biết của sinh viên trong cách lựa chọn từ ngữ xưng hô để chào hỏi (Tr 183)
Trang 3Bảng 4.3 : Bảng kê kết quả khảo sát khả năng đối dịch từ xưng hô (Tr184) Hình 4.2 : Biểu đồ khảo sát về tình hình đối dịch cách chào hỏi giữa thầy và trò, giữa trò và thầy (Tr184)
Bảng 4.4 : Bảng kê kết quả khảo sát tình hình nắm bắt từ chỉ quan hệ thân tộc (Tr187)
Hình 4.3 : Biểu đồ khảo sát sự hiểu biết của sinh viên về từ biểu thị quan hệ
- Luận án có so sánh với tiếng Việt, nhưng để cho tên các tiểu mục
trong từng chương gọn hơn, có so sánh với tiếng Việt xin được chỉ ghi trên
đâu
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XƯNG HÔ VÀ TỪ NGỮ XƯNG HÔ
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ
7
1.1.1 Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Hán 7 1.1.2 Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Việt 12 1.1.3 Nghiên cứu so sánh xưng hô Hán - Việt 14 1.2 Quan niệm về xưng hô và phương thức biểu hiện xưng hô 15 1.3 Sự xuất hiện tất yếu của từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ 22
CHƯƠNG 2: NHỮNG PHƯƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG HÁN
( CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT )
52
2.2 Những phương tiện dùng để xưng hô trong tiếng Hán 57
2.2.1.1 Khái niệm về đại từ nhân xưng 57 2.2.1.2 Đặc điểm của đại từ nhân xưng tiếng Hán 57 2.2.1.3 Khả năng kết hợp của đại từ nhân xưng tiếng 61
Trang 52.2.2.4 Xưng hô phỏng theo xưng hô thân tộc 93
2.2.3.1 Khái niệm về họ tên 98 2.2.3.2 Đặc điểm họ tên của người Hán 100 2.2.3.3 Khả năng kết hợp của họ tên trong tổ hợp xưng
CHƯƠNG 3 : HOẠT ĐỘNG CỦA TỪ NGỮ XƯNG HÔ TIẾNG HÁN ( CÓ SO
SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
12
1
3.1.1.1 Xưng hô giữa những cặp vợ chồng trẻ 121 3.1.1.2 Xưng hô giữa những cặp vợ chồng cao tuổi 128
Trang 63.1.2.1 Xưng hô giữa cha mẹ khi còn trẻ và con còn nhỏ 131 3.1.2.2 Xưng hô giữa cha mẹ và con cái đã trưởng thành 133
3.2.1 Xưng hô giữa nhân viên và thủ trưởng 142 3.2.2 Xưng hô giữa thủ trưởng và nhân viên 149 3.2.3 Xưng hô giữa đồng nghiệp với nhau 150
3.3.1 Một số khảo sát về phạm vi sử dụng của từ ngữ xưng hô
3.3.2 Các nhân tố tác động đến xưng hô
3.3.2.1 Nhân tố tuổi tác
153
158
158 3.3.2.2 Nhân tố vị thể của người tham gia giao tiếp 159 3.3.2.3 Động cơ giao tiếp với cách lựa chọn từ xưng hô 163
CHƯƠNG 4 : ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO VIỆC DẠY HỌC TIẾNG
HÁN CHO NGƯỜI VIỆT NAM
16
8 4.1 Sự giống và khác nhau giữa cách xưng hô trong tiếng Hán và cách xưng hô trong tiếng Việt
178
4.2.3 Một số kiến nghị về phương pháp khắc phục lỗi sử dụng
từ ngữ xưng hô trong công tác dạy học tiếng Hán cho người Việt Nam
188
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của luận án
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là thuộc tính bản chất của xã hội loài người, không thể có xã hội loài người nếu không có giao tiếp bằng ngôn ngữ Thông qua quá trình giao tiếp mang tính chất đặc thù này của xã hội loài người mà ngôn ngữ đồng thời được củng cố và không ngừng phát triển Trong quá trình
đó, xưng hô là bộ phận hợp thành quan trọng, có ý nghĩa xác định vai giao tiếp và quyết định hiệu quả giao tiếp Xưng hô thể hiện sinh động mối quan
hệ giữa người với người trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể Đó chính là lí
do mà việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô nói chung và quá trình hành chức của
nó luôn luôn là mối quan tâm, trước hết là của các nhà ngôn ngữ học, văn hoá học và các giáo viên dạy tiếng
Trong thời đại quốc tế hóa hiện nay, tiếng Hán - ngôn ngữ của một dân tộc chiếm một phần tư dân số thế giới lại có bề dày lịch sử hơn 5000 năm, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực giao lưu văn hóa trên trường quốc tế Theo Liên hợp quốc, tiếng Hán được coi là một trong 6 thứ tiếng dùng để giao tiếp quốc tế Cùng với xu thế tất yếu đó của thời đại, quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt - Trung cũng được củng cố
và phát triển thêm một bước trên mọi lĩnh vực Để góp phần thúc đẩy sự giao lưu giữa hai nước, việc nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hai dân tộc, đặc biệt là vấn đề văn hoá giao tiếp có một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nói đến văn hoá giao tiếp, không thể không nói đến vấn đề xưng hô Đối với đại
đa số quốc gia trên thế giới, xưng hô được coi là tiền đề của giao tiếp ngôn ngữ Đặc biệt là ―ở Trung Quốc, phương thức xưng hô muôn màu muôn vẻ, biến hoá khôn lường Cách xưng hô gần đây đã trở thành một môn khoa học,
một loại hình văn hoá, hết sức tinh tế… ‖ [84, 14]
Trang 9Về vấn đề từ xưng hô trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Hán, tiếng Việt nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu (xem mục tài liệu tham khảo) Song, trước nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về đặc điểm và cách sử dụng lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong mối tương quan với tiếng Việt một cách hệ thống, thấu đáo trong khuôn khổ một đề tài khoa học độc lập
1.1 Riêng đối với từ ngữ xưng hô, cách xưng hô của tiếng Hán và của tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học, các nhà văn hoá học đều có một nhận xét chung là : do đặc thù của hai nền ngôn ngữ - văn hoá dân tộc giữa Việt Nam
và Trung Hoa, cho nên trong tiếng Hán và tiếng Việt, lớp từ ngữ xưng hô đều rất phong phú , đa dạng, được coi như là một hệ thống mở Chính vì vậy, khảo sát lớp từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán, tìm ra mối tương quan của nó với tiếng Việt không chỉ là vấn đề thuần tuý ngôn ngữ mà có liên quan mật thiết với văn hoá, tập quán dân tộc, rất lí thú nhưng cũng vô cùng phức tạp
1 2 Vấn đề xưng hô liên quan mật thiết với đối tượng giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp Đặc trưng giao tiếp xã hội của dân tộc Trung Hoa và dân tộc Việt Nam là đều chịu sự chi phối sâu sắc của các quan niệm truyền thống về tôn ti, trật tự, lễ giáo phong kiến từ ngàn xưa Cho đến nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, những nét đặc sắc về văn hoá dân tộc thể hiện trong mỗi gia đình và xã hội đã có nhiều đổi thay, song quan hệ gia đình, xã hội với những chuẩn mực, nghi thức giao tiếp truyền thống của nó vẫn được gìn giữ Trong những biểu hiện cụ thể của vấn đề văn hoá đó, nổi trội lên là vấn đề cách xưng hô Vì thế, nghiên cứu tiếng Hán và tiếng Việt, không thể bỏ qua vấn đề xưng hô, bao gồm xưng hô gia đình và xưng hô xã hội, đồng thời phải đặt chúng trong bối cảnh giao tiếp ngôn ngữ - văn hoá của cả hai dân tộc mới thấy hết được sự tinh tế của nó
1.3 Khảo sát cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô phải gắn với hoạt động giao tiếp, chủ yếu là trong các cuộc thoại Sở dĩ nói như vậy là vì, trong
Trang 10diễn tiến của quá trình giao tiếp, cách xưng hô trở nên rất sinh động, phong phú, phụ thuộc vào thói quen văn hoá cộng đồng Sự hoạt động của các từ
ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại đã phức tạp, trong tiếng Việt lại càng
phức tạp hơn (như sẽ trình bày ở các chương sau) Thực tế giảng dạy tiếng Hán cho người Việt và tiếng Việt cho người Hán cho thấy, sự nhầm lẫn trong việc sử dụng từ ngữ xưng hô là khá phổ biến Để khắc phục những hạn chế
đó, đòi hỏi phải có một công trình khảo sát cấu trúc tĩnh cũng như quá trình hoạt động của từ ngữ xưng hô trong giao tiếp tiếng Hán và đặt nó trong tương quan với lớp từ ngữ xưng hô tiếng Việt, nhằm đáp ứng yêu cầu giao lưu ngôn ngữ nói chung, nhất là việc dạy và học tiếng Hán ở Việt Nam nói riêng
1.4 Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ ngữ văn, chúng tôi hy vọng tìm ra được những phương thức cấu tạo và quy luật sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô trong giao tiếp tiếng Hán, xét trong tương quan với xưng hô tiếng Việt, tìm ra những nét giống nhau và khác nhau về đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô dưới tác động của các nhân tố văn hoá trong hai ngôn ngữ này Với kết quả đạt được, mong rằng có thể giúp người Việt Nam thực hành tiếng Hán đạt hiệu quả hơn trong lĩnh vực giao tiếp, trong công tác giảng dạy, học tập cũng như biên dịch, phiên dịch Cụ thể là trên cơ sở nắm được đặc trưng văn hoá trong nghi thức giao tiếp ngôn từ của người Hán và người Việt, sử dụng đúng, chuyển dịch đúng từ xưng hô trong từng bối cảnh giao tiếp và phù hợp với từng đối tượng giao tiếp cụ thể
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, ý nghĩa đã nêu ở trên, luận án xác định đối tượng nghiên cứu là:
Hệ thống các từ ngữ làm chức năng xưng hô trong tiếng Hán, phương thức sử dụng những từ ngữ dùng để xưng hô trong giao tiếp gia đình và giao tiếp xã hội của tiếng Hán
Trang 11Tư liệu dùng để khảo sát là các câu, lời thoại trong các tác phẩm văn học đã được khẳng định, kịch bản phim, giáo trình thực hành tiếng Hán tiêu biểu hiện đang sử dụng do người bản ngữ viết
Như vậy, từ ngữ xưng hô ở đây được xét trên cả hai bình diện: bản thể
và sự hành chức trong giao tiếp, tức là xét cả mặt tĩnh và mặt động của chúng
3 Nhiệm vụ của luận án
Luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau :
3.1 Hệ thống hoá các vấn đề lí luận trực tiếp liên quan đến đề tài khảo sát như hành vi xưng hô và phương thức biểu hiện trong xưng hô; tính chất lịch
sự trong xưng hô ; các nhân tố văn hoá, xã hội tác động đến việc sử dụng từ ngữ xưng hô, nhất là mối liên hệ giữa xưng hô và vấn đề văn hoá truyền thống của dân tộc Đồng thời, làm nổi rõ đặc điểm của mối liên hệ văn hoá giao tiếp giữa tiếng Hán và tiếng Việt
3.2 Thống kê, miêu tả lớp từ ngữ xưng hô trong môi trường giao tiếp gia đình và xã hội của tiếng Hán, làm nổi rõ đặc điểm những phương tiện dùng để xưng hô của tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt
3.3 Khảo sát sự hoạt động của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán dưới ảnh hưởng của những đặc trưng văn hoá dân tộc, cụ thể là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ
đi sâu khảo sát cách xưng hô trong gia đình hạt nhân của người Hán, bao gồm: xưng hô giữa vợ và chồng, xưng hô giữa cha mẹ và con cái Về xưng hô
xã hội, chúng tôi tập trung khảo sát xưng hô nơi công sở, bao gồm: xưng hô giữa nhân viên và thủ trưởng, xưng hô giữa các đồng nghiệp với nhau Hy vọng sự khảo sát tập trung đó sẽ làm cho vấn đề không dàn trải mà vẫn đạt được độ thuyết phục cao
3.4 Đối chiếu, tìm ra sự giống và khác nhau về phương diện hệ thống cấu trúc cũng như cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán và tiếng Việt trong giao tiếp gia đình cũng như giao tiếp xã hội Trên cơ sở kết quả
Trang 12nghiên cứu, kết hợp với khảo sát lỗi khi sử dụng từ ngữ xưng hô, vận dụng trước hết vào quá trình dạy, học tiếng Hán cho người Việt, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu theo hướng :
Thông qua điều tra xã hội bằng phương thức phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra có định hướng (phụ lục 1,2,3 ) để có những cứ liệu thực tế,
đủ độ tin cậy về phạm vi sử dụng của các từ ngữ dùng để xưng hô và những nhân tố văn hoá, xã hội tác động đến việc lựa chọn từ ngữ xưng hô
Vận dụng phương pháp thống kê, miêu tả để tiến hành khảo sát hệ thống xưng hô tiếng Hán ; phương pháp phân tích thành tố nghĩa để thấy được cấu trúc ngữ nghĩa của từ; phân tích ngữ nghĩa giao tiếp qua những thí dụ điển hình để làm nổi bật vấn đề dụng học trong xưng hô ; phương pháp đối chiếu ngôn ngữ tìm ra điểm giống và khác nhau trong xưng hô tiếng Hán và tiếng Việt Sau đó, vận dụng phương pháp quy nạp để rút ra những nhận xét khái quát về đặc điểm cấu trúc và hoạt động của từ ngữ xưng hô tiếng Hán, có so sánh với tiếng Việt
Các ví dụ minh hoạ đều được trích từ những văn bản gốc do chính người bản ngữ thể hiện nhằm đảm bảo độ chính xác cao của tư liệu
Để xác định được bản chất sự hoạt động của lớp từ này, khi sử dụng phương pháp phân tích, chúng tôi đặc biệt chú ý phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng của lớp từ ngữ xưng hô cũng như những phương tiện dùng để xưng hô khác trong hai ngôn ngữ Hán, Việt, nhằm làm nổi bật giá trị của việc lựa chọn từ ngữ xưng hô trong việc thực hiện chiến lược giao tiếp
5 Cái mới của luận án
5.1 Về mặt lý luận :
Lần đầu tiên ở Việt Nam, luận án tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Hán cả về cấu
Trang 13trúc và hoạt động của lớp từ này dưới tác động của các yếu tố văn hoá, cấu trúc xã hội, đặc trưng tâm lý dân tộc Từ góc nhìn của một người nước ngoài- người Việt Nam, đưa ra những quy tắc sử dụng từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Hán Luận án góp phần vào lí luận giao tiếp xưng hô và khẳng định thêm sự tác động của văn hoá dân tộc trong việc sử dụng từ ngữ xưng hô
5.2 Về mặt thực tiễn:
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt, Trung ngày càng phát triển mạnh mẽ Nghiên cứu xưng hô tiếng Hán, đối chiếu với tiếng Việt góp phần vào việc nâng cao hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ Hán, Việt, làm cho hai dân tộc Hán và Việt hiểu biết và gần gũi nhau hơn
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được, vận dụng vào thực tiễn giảng dạy, trước hết là tiếng Hán cho người Việt Cụ thể là đưa ra các lỗi thường gặp khi sử dụng từ ngữ xưng hô và cách khắc phục lỗi, nhằm tạo điều kiện cho người tham gia giao tiếp lựa chọn cách ứng xử phù hợp với bối cảnh giao tiếp và đặc trưng văn hoá dân tộc, thực hiện chiến lược giao tiếp, tránh được những sự hiểu lầm không đáng có
6 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, gồm 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xưng hô và từ ngữ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ
Chương 2: Những phương tiện dùng để xưng hô trong tiếng Hán (có
so sánh với tiếng Việt)
Chương 3: Hoạt động của lớp từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Hán (có so sánh với tiếng Việt)
Trang 14Chương 4: Ứ ng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam
Chương 1 :
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XƯNG HÔ VÀ TỪ NGỮ XƯNG HÔ
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1.1.1 Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Hán
Xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ thuần tuý thuộc về vấn đề ngôn ngữ học, xưng hô còn có quan hệ mật thiết với văn hoá học, dân tộc học,
xã hội học… Từ lâu, nó đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu trên thế giới
và trở thành điểm nóng về vấn đề ngôn ngữ - văn hoá hết sức thú vị
Đối với nghiên cứu xưng hô trong tiếng Hán và đối chiếu giữa xưng hô trong tiếng Hán và các ngôn ngữ khác, trên đất nước Trung Hoa, ngay từ đầu đời Hán, đã xuất hiện cuốn ―Nhĩ nhã‖ là tác phẩm chuyên sâu giải thích ý nghĩa của từ sớm nhất trong lịch sử ngôn ngữ học Trung Hoa Trong đó, thiên
―Thích thân‖ đã giới thiệu một cách hệ thống nghĩa và cách sử dụng của lớp
từ xưng hô thân tộc ―Nhĩ nhã‖ đã được các học giả đời sau tiếp tục hoàn thiện, bổ sung Sau đó, tác giả Lương Chương Củ cho ra đời cuốn ―Xưng vị lục‖ được coi là tập đại thành về từ xưng hô tiếng Hán Tiếp nối cuốn ―Xưng
vị lục‖ là các tập ―Từ điển xưng hô tiếng Hán‖ của Vương Hoả, Vương Học Nguyên, ―Từ điển từ xưng hô cổ kim‖ của Trương Hiếu Trung, ―Từ điển
Trang 15xưng hô thân tộc‖ của Vương An Tiết, Bào Hải Đào… đã chứng tỏ bề dày lịch sử của nghiên cứu xưng hô trong tiếng Hán Ngoài từ điển ra, phải nói đến hàng loạt các công trình nghiên cứu lớn nhỏ về văn hoá xưng hô trong tiếng Hán, đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ học thế giới nói chung và ngôn ngữ học Trung Quốc nói riêng
Từ những năm 50 của thế kỉ trước, Triệu Nguyên Nhiệm đã có công trình nghiên cứu, miêu tả hệ thống xưng hô trong tiếng Hán hiện đại Sau đó, cuốn Ngôn ngữ học xã hội của Trần Nguyên ra đời, đề cập đến các hình thức xưng hô mới xuất hiện sau khi nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, đồng thời phân tích khá cụ thể về ý nghĩa của các hình thức xưng hô này
Từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, đất nước được mệnh danh là ―con rồng‖ châu Á này trở thành một trong những trung tâm giao lưu quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá Tiếng Hán đã trở thành ngôn ngữ quốc tế ngày càng được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng Trong bối cảnh
đó, vấn đề xưng hô trong tiếng Hán càng được quan tâm nghiên cứu, và được coi là chiến lược giao tiếp ngôn ngữ Những công trình nghiên cứu tiêu biểu có: Điền Huệ Cương với ―Hệ thống xưng hô tiếng Hán và các ngôn ngữ khác‖, Mã Hồng Cơ - Thường Khánh Phong với ―Xưng vị ngữ‖, Phó Thành Cật với ―Cách xưng hô của tiếng Hán và tiếng Việt với văn hoá truyền thống của hai nước Việt Trung ‖ Năm 1989, công trình nghiên cứu về tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ của tác giả Trần Tùng Sầm đã được nhà in Thương
vụ xuất bản lần đầu và tái bản năm 2001 Công trình dành 68/108 trang nói về xưng hô Điều đó chứng tỏ xưng hô góp một phần đáng kể vào việc thể hiện tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ Dựa vào tính chất khác nhau của các phương thức sử dụng từ xưng hô, tác giả đã chia từ xưng hô tiếng Hán thành 6 loại: xưng hô thân tộc, xưng hô nghề nghiệp, xưng hô chức vụ, xưng hô thông thường, miệt xưng và xưng hô bằng họ tên Riêng với đại từ nhân xưng, tác giả lại chia thành ba loại: xưng hô thông thường, tôn xưng và khiêm xưng
Trang 16Tiếp đó, tháng 1 năm 2001, nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc Kinh lần đầu tiên cho ra mắt bạn đọc cuốn ―Kính khiêm từ trong tiếng Hán hiện đại‖ của tác giả Lưu Hồng Lệ cũng đề cập nhiều đến vấn đề xưng hô, coi như một phương tiện quan trọng để biểu thị tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ Tác giả đã đưa ra 5 nguyên tắc sử dụng kính khiêm từ Đó là nguyên tắc lịch sự, nguyên tắc tình cảm, nguyên tắc cự ly, nguyên tắc thăng cấp và nguyên tắc độ thích nghi Đồng thời, tác giả còn đề cập đến tính đa chức năng của của việc biểu đạt kính khiêm từ, như : tính khách khí, tính châm biếm, tính trịnh trọng… Các vấn đề đặc điểm, nguyên tắc sử dụng cũng như chức năng của kính khiêm từ mà Lưu Hồng Lệ đưa ra đều có liên hệ mật thiết đến
từ ngữ xưng hô
Trong các công trình nghiên cứu xưng hô của các học giả Trung Quốc
kể trên, nổi bật nhất là ―Hệ thống xưng hô tiếng Hán và các ngôn ngữ khác”
của Điền Huệ Cương- công trình nghiên cứu về xưng hô tiếng Hán đầu tiên ở Trung Quốc mang tính hệ thống, phạm vi nghiên cứu rộng, chú ý đúng mức đến đối chiếu tiếng Hán với các ngôn ngữ phương Tây, độ dày 522 trang Điền Huệ Cương nghiên cứu sâu cả hai lĩnh vực ngôn ngữ và văn học, điều đó rất thuận lợi cho việc tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá trong xưng hô tiếng Hán Trong xưng hô, Điền Huệ Cương đặc biệt quan tâm đến xưng hô thân tộc Với vấn đề này, ông đã lấy cơ chế gia đình và quan hệ thân tộc làm xuất phát điểm và đi sâu nghiên cứu các thời kỳ lịch sử phát triển với những biến động sâu sắc trong xưng hô tiếng Hán, kịp thời phản ánh những đổi thay
về cơ cấu, quan hệ gia đình và xã hội qua từng giai đoạn lịch sử Điền Huệ Cương đã tiến hành khảo sát các tác phẩm kinh điển như ―Kinh thi‖, ―Sở từ‖, các tác phẩm tản văn chư tử và tản văn lịch sử, đồng thời căn cứ vào chú giải của ―Nhĩ nhã‖, ―Thuyết văn giải tự‖ để tạo dựng được bức tranh chung về quá trình phát triển của xưng hô tiếng Hán Điền Huệ Cương nhấn mạnh mối quan
hệ giữa thể chế gia đình và xưng hô thân tộc, cũng như quan hệ giữa thể chế
Trang 17xã hội và xưng hô xã hội Phương pháp đối sánh là phương pháp nghiên cứu xuyên suốt công trình để tiến hành so sánh tiếng Hán với một số ngôn ngữ phương Tây tiêu biểu Đặc biệt là ngay chính nội dung thuần tuý bàn về xưng
hô tiếng Hán cũng đã lồng vào đó những khía cạnh so sánh nhất định để làm nổi bật vấn đề
Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước có quan hệ giao lưu văn hoá lâu đời Tuy Nhật là một nước phương Đông nhưng sau phong trào Duy Tân, văn hoá Nhật Bản, trong đó có vấn đề xưng hô chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá phương Tây, tạo nên nét đặc thù của văn hoá Nhật Bản Do đó, Điền Huệ Cương rất chú trọng đến đối chiếu xưng hô Trung- Nhật và đã đặt sự đối chiếu đó vào bối cảnh chung của việc đối sánh ngôn ngữ- văn hoá Trung Quốc với ngôn ngữ- văn hoá phương Tây
Điền Huệ Cương đã lập được 6 bảng đối chiếu quan hệ thân tộc, bao gồm: đối chiếu Hán - Anh, Hán - Pháp, Hán - Đức, Hán - Nga, Hán - Tây Ban Nha và Hán - Nhật Nhưng vì ngoài xưng hô thân tộc ra, các góc độ khác như xưng hô xã hội, xưng hô bằng họ tên, tính chất lịch sự trong xưng hô… cũng được đề cập trên diện rộng, do dó không khỏi có những vấn đề còn chưa sâu sắc Mặt khác, các ví dụ nêu ra chưa được phân tích thấu đáo để làm nổi bật ý nghĩa ngữ dụng của xưng hô trong chiến lược giao tiếp
Sau Điền Huệ Cương phải nói đến công trình đồng tác giả Mã Hồng
Cơ - Thường Khánh Phong với tiêu đề ― Xưng vị ngữ‖, cũng là một công trình thú vị Với công trình này, các tác giả đã cố gắng đặt tiêu đề cho từng đặc trưng của xưng hô tiếng Hán bằng các thành ngữ Ví dụ, ―Tứ hải chi nội
giai huynh đệ‖ [89,.45] để nói về phương thức mô phỏng xưng hô thân tộc vào xưng hô xã hội, ―Nhân quá lưu danh, nhạn quá lưu thanh‖ [ 89, 54] để nói
về xưng hô bằng họ tên, ―Huyết nồng ư thuỷ‖ [89, 77] để nhấn mạnh quan hệ
huyết thống…
Tháng 3 năm 2001, tác giả Hoàng Đào cho ra đời công trình nghiên cứu
Trang 18về ―Ngôn ngữ - tập tục với văn hoá Trung Quốc‖ dài 318 trang, trong đó nghiên cứu văn hoá xưng hô chiếm 169 trang Đặc điểm của công trình chủ yếu là nghiên cứu về các yếu tố văn hoá dân tộc như dặc điểm cư dân, địa lí,
tư tưởng truyền thống ảnh hưởng đến vấn đề giao tiếp xưng hô như thế nào Tác giả lấy văn hoá dân tộc làm xuất phát điểm, đồng thời cũng là nội dung trọng tâm của công trình nghiên cứu, tất cả đều xoay quanh vấn đề tập tục dân tộc Tác giả đã thống kê khá tỉ mỉ về hệ thống xưng hô thân tộc gồm 98 từ Trong đó, với TÔI làm trung tâm, có 45 từ thuộc nhóm xưng hô dòng tộc 13 thế hệ, bao gồm 4 thế hệ trên TÔI và 8 thế hệ dưới TÔI
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Hoàng Đào không đi sâu nghiên cứu hệ thống cấu trúc, cách sử dụng của lớp từ xưng hô dưới góc
độ ngôn ngữ học, mà chỉ chú ý đến góc độ văn hóa dân tộc ảnh hưởng qua xưng hô Các nội dung điều tra xã hội học cũng chủ yếu tập trung vào vấn đề quan hệ kinh tế giữa các thế hệ, các thành viên trong gia đình và vấn đề dân
số, độ lệch pha giữa nam và nữ trong xã hội ngày nay, coi đó là cơ sở để giải thích sự biến động trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái Tác giả đã chỉ ra sự thay đối của cơ sở vật chất xã hội dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, gia đình, được xem như quy luật vật chất quyết định ý thức Ngày nay, người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vào nam giới nữa Từ sự chênh lệch về tỉ lệ sinh giữa nam và nữ, mà số lượng lại thiên về nam giới- hậu quả của tư tưởng trọng nam khinh nữ một thời, thêm vào đó là khả năng kinh tế của một số nam giới đến tuổi trưởng thành chưa đủ để tạo dựng cơ sở vật chất cho hôn nhân, dẫn đến có những nam giới đến tuổi trưởng thành gặp trở ngại trong vấn đề xây dựng gia đình Ưu thế trong hôn nhân đã dần dần thuộc về phụ nữ Trong quan hệ gia đình ba thế hệ, nhìn chung ở nông thôn, với những trường hợp bố mẹ chồng cao tuổi, sức lao động đã giảm sút, dẫn tới mất dần vai trò trụ cột về kinh tế, vị thế trong gia đình đã nhường cho các cặp vợ chồng trẻ
Trang 19Chính vì vậy, quan hệ cha con, vợ chồng trong gia đình cũng có nhiều biến động Nàng dâu và mẹ chồng ít tiếp xúc với nhau hơn Khi tiếp xúc thì không mặn mà đằm thắm như quan hệ gia đình truyền thống Mức độ quan hệ đó thể hiện qua sự khuyết vắng của từ xưng hô trong giao tiếp giữa bố mẹ chồng và nàng dâu Khả năng kinh tế đã là yếu tố cơ bản quyết định vị thế của các thành viên trong gia đình Hơn nữa, vị thế xã hội của người phụ nữ đã được nâng lên đáng kể Vì vậy, người phụ nữ không còn lệ thuộc đến mức ngặt nghèo vào chồng và các quan hệ gia đình khác nữa
Ngoài các công trình nghiên cứu lớn kể trên còn có hàng loạt các bài viết về từng khía cạnh của xưng hô như : Hạ Doãn Di với ―Nói về danh, tự,
hiệu ‖, Trần Quần với ―chức năng biểu đạt của ẻề w - tôiÊă Äó n - anh/
ậỷ t - anh ấyÊâ+ họ, tên ‖, Doãn Di - Vi Nhân với ―Xưng hô- sự mở đầu
của cuộc thoại‖, Tưởng Minh với ―Xưng hô và vấn đề lịch sự‖, Lý Giám Định với ―Phép tỉnh lược của đại từ xưng hô‖, Chu Minh với ―Đặc trưng ngữ dụng của ngữ xưng hô tiếng Hán và việc chuyển dịch ý nghĩa ngữ dụng của nó ‖, Lưu Á Linh với ―Những biến đổi của văn hoá xã hội và vấn đề xưng hô Anh
- Hán‖, Lưu Chiêu Ban với ―Bàn về tính chất mở của xưng hô thân tộc tiếng Hán‖…
Từ kết quả mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đạt được trên góc độ xưng hô tiếng Hán, có thể thấy được các công trình đã chú ý đến hai phương diện: ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề Về mặt lí luận, các học giả đã tập trung phân tích, chứng minh cho lớp từ xưng hô tiếng Hán là một hệ thống hoàn chỉnh Không ít ý kiến đã chứng tỏ tính chất mở của nó có tác dụng tạo nên sự đa dạng, phong phú và không kém phần phức tạp của lớp từ này trong giao tiếp ngôn ngữ Đồng thời khẳng định đặc trưng văn hoá Trung Hoa phản ánh qua việc lựa chọn từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Hán
Về mặt sử dụng, lớp từ xưng hô tiếng Hán chịu ảnh hưởng sâu sắc của các yếu tố văn hoá, tập quán dân tộc và các nhân tố khác, như ngữ cảnh giao
Trang 20tiếp, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học thuật, trạng thái tâm lí… Một
số công trình đã tiến hành nghiên cứu dưới góc độ so sánh ngôn ngữ học Nhiều nhất là so sánh Hán - Anh, Hán - Nga, Hán - Nhật, Hán - Pháp… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa đi sâu phân tích, làm nổi bật ý nghĩa ngữ dụng của từ ngữ xưng hô trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ, nhất là chưa chú ý đúng mức đến việc phân tích sắc thái biểu cảm của từ ngữ xưng hô qua từng ví dụ cụ thể để có thể làm sáng tỏ vai trò của xưng hô trong việc thực hiện chiến lược giao tiếp
1.1.2 Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Việt
Kể từ những bài viết của Alexandre de Rhodes, lịch sử nghiên cứu từ ngữ xưng hô tiếng Việt đã trải qua hơn 350 năm Lịch sử nghiên cứu tiếng Việt nói chung cũng như nghiên cứu xưng hô trong tiếng Việt nói riêng không phải có bề dày thực sự tương xứng với tầm vóc của nó
Năm 1651, Alexandre de Rhodes đã bước đầu quan tâm đến việc miêu
tả các từ xưng hô tiếng Việt nhưng sự miêu tả đó mới dừng ở mức sơ lược qua cuốn ―Từ điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh‖ Đặc biệt là M.B.Emeneau năm 1951 khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt ―đã dành 30 trang viết về đại từ, đặc biệt là tập trung bàn về đại từ xưng hô và chú ý nhiều
đến nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ‖ [7, 8] Năm 1965,
L.Thompson trong cuốn Vietnamese grammar cũng có bài nghiên cứu về từ
ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Từ những năm 70 thế kỉ hai mươi trở lại đây, nhất là từ sau khi đất nước thống nhất, nghiên cứu xưng hô tiếng Việt trên cả hai bình diện cấu trúc
và hoạt động ngày càng được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm và đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu tầm cỡ lần lượt ra đời
- Đỗ Hữu Châu trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học đã đề
cập đến những vấn đề như chiếu vật và chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ, lí thuyết
Trang 21lập luận, lí thuyết hội thoại v.v…, đã khẳng định yếu tố lời nói, hành động,
nhân tố giao tiếp… đều có liên quan tới xưng hô
- Các công trình chuyên nghiên cứu về xưng hô của Nguyễn Văn Chiến cũng rất dày công Tác giả đã khảo cứu một cách có hệ thống, hoàn chỉnh cả
về cấu trúc tĩnh và sự hoạt động của từ xưng hô tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ Từ đó nêu bật mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và đặc trưng văn hoá xã hội ―Cấu trúc xã hội phân hoá bộc lộ rõ trong cấu trúc ngôn ngữ,
thông qua những cách nói năng xưng hô nhất định…‖ [ 6, 130]
Ngoài ra, phải kể đến hàng loạt công trình nghiên cứu xưng hô tiếng Việt khác như: Hoàng Thị Châu với ―Vài đề nghị về chuẩn hoá cách xưng hô trong xã giao‖, Trương Thị Diễm với ―Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖, Nguyền Thị Ly Kha với ―Nét nghĩa chỉ quan
hệ của danh từ thân tộc trong tiếng Việt‖, Nguyễn Văn Khang với ―Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản‖, Nguyền Minh Thuyết với ―Vài nhận xét
về đại từ và đại từ xưng hô‖, Hoàng Anh Thi với ―So sánh nghi thức giao tiếp tiếng Nhật và tiếng Việt qua từ ngữ xưng hô‖, Bùi Minh Yến với ―Xưng
hô trong gia đình người Việt‖ Trương Thị Diễm với ―Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖, Phạm Ngọc Thưởng với
―Xưng hô trong tiếng Nùng‖, Dương Thị Nụ với ―Ngữ nghĩa nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt‖ …
Các công trình nghiên cứu xưng hô tiếng Việt đã chú ý vận dụng lí thuyết ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp Cụ thể là các vấn đề ngữ dụng như sắc thái biểu cảm, vai giao tiếp, cấu trúc xưng hô đã được làm sáng tỏ, vấn đề xưng hô được coi như một chiến lược trong giao tiếp ngôn ngữ Trong các Luận án tiến sĩ mà đề tài liên quan đến xưng hô mới được bảo vệ thành công gần đây, nổi bật nhất là nghiên cứu ―Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖ của Trương Thị Diễm Tác giả đã khảo sát
và làm sáng tỏ vấn đề trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Đặc
Trang 22biệt là tác giả đã dành 48 trang viết về cơ sở của việc chuyển hoá danh từ thân tộc thành từ xưng hô, bao gồm cơ sở ngôn ngữ học và cơ sở văn hoá xã hội,
để chứng tỏ xưng hô là vấn đề ngôn ngữ có nội hàm văn hoá sâu sắc Những thành tựu nghiên cứu đó là cứ liệu đáng tin cậy để chúng tôi tiến hành so sánh giữa từ ngữ xưng hô tiếng Hán với từ ngữ xưng hô tiếng Việt, rút ra những điểm giống và khác nhau giữa chúng mà không cần phải khảo sát lớp từ ngữ xưng hô tiếng Việt
1.1.3 Nghiên cứu so sánh xưng hô Hán - Việt
Về nghiên cứu xưng hô Hán - Việt, gần đây chỉ có công trình của Phó Thành Cật được coi là sâu sắc hơn cả Phó Thành Cật đã điểm qua vài nét về cách xưng hô tiếng Hán và tiếng Việt Từ đó rút ra được 11 điểm tương đồng
và khác biệt giữa xưng hô của tiếng Hán và tiếng Việt Đặc biệt là trong công trình nghiên cứu của mình, Phó Thành Cật đã gắn liền việc nghiên cứu ngôn ngữ với đặc trưng văn hoá dân tộc để làm nổi bật mối liên hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ với văn hoá trong việc lựa chọn từ ngữ xưng hô làm phương tiện giao tiếp
Tuy vậy, việc khảo sát nhìn chung mới dừng lại ở cấu trúc tĩnh, chưa đi sâu phân tích để làm nổi bật ý nghĩa ngữ dụng của từ ngữ xưng hô trong giao tiếp Xưng hô gia đình và xưng hô xã hội là hai mặt có liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau và mang đậm nét đặc thù của mỗi dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất
là xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hán, nhưng điểm này chưa được tác giả quan tâm đúng mức Do đó, có thể nói, vấn đề nghiên cứu so sánh xưng hô Hán - Việt đến nay vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ cần được nhiều người quan tâm hơn nữa
Trước khi thực hiện luận án, chúng tôi đã sơ bộ tìm hiểu về lớp từ xưng
hô trong gia đình của tiếng Hán, trên cơ sở đó so sánh với tiếng Việt trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành lí luận ngôn ngữ, Hà Nội 2000 Đó
là những nét chấm phá về vấn đề xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ Hán Dù
Trang 23chỉ là những nghiên cứu bước đầu nhưng đó chính là nền tảng cho chúng tôi trong công trình Luận án tiến sĩ này tiếp tục phát triển vấn đề ở mức toàn diện hơn, sâu sắc hơn, làm sáng tỏ tính hệ thống cũng như quy tắc sử dụng của lớp
từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán Đồng thời, trên nền thành quả nghiên cứu xưng hô tiếng Việt của các học giả đi trước, tiến hành so sánh làm nổi rõ điểm giống và khác nhau của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán và tiếng Việt
1.2 QUAN NIỆM VỀ XƯNG HÔ VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN XƯNG HÔ :
Trong cuốn ― Mác-Ănghen -Lênin bàn về ngôn ngữ‖, Mác nói: ―Sự
sản sinh ra tư tưởng, biểu tượng và ý thức trước hết là gắn liền một cách trực tiếp và mật thiết với hoạt động vật chất và giao dịch của con người… Ngôn ngữ cũng tồn tại cho những người khác … Như vậy cũng là tồn tại đầu tiên cho bản thân tôi nữa… Ngôn ngữ chỉ sản sinh ra do nhu cầu cần thiết phải giao dịch với người khác.‖ Do đó, ngôn ngữ là sản phẩm tất yếu của quá trình giao tiếp giữa người với người nhằm thoả mãn một trong những nhu cầu thiết yếu bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Ngoài những đặc điểm chung của cả nhân loại, mỗi dân tộc đều có những tập quán và thói quen mang đậm nét đặc thù của riêng mình Với tư cách là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong đời sống xã hội của mình, văn hoá trước hết là một kiểu lựa chọn của một tộc người hoặc của cá nhân, xuất phát từ cái bất biến để đi đến cái vạn biến Trong các yếu tố văn hoá, cách ứng xử khi giao tiếp xã hội mà nổi bật là vấn đề lựa chọn phương thức xưng hô thế nào để tạo ra quan hệ giao tiếp là vấn đề có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nó giúp cho con người biết vận dụng tri thức văn hoá vào trong giao tiếp
mà mở đầu là xưng hô với nhau như thế nào để tạo ra được một môi trường giao tiếp như ý muốn (hoặc trang trọng, hoặc thoải mái, thân mật…) Từ ngàn xưa, nét đẹp văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt Nam đã được khẳng định như một nghệ thuật ứng xử:
Trang 24Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.‖ (Việt Nam Tự điển- Hội khai trí Tiến Đức khởi thảo 1954)
Tuy vậy, ―liệu‖ như thế nào là cả một quá trình trau dồi, lựa chọn tinh hoa ngôn ngữ - văn hoá trên lĩnh vực giao tiếp, giúp con người đạt đến đỉnh
cao của nghệ thuật ứng xử
1.2.1 Nếu khái niệm gia đình được hiểu theo nghĩa rộng của nó thì con
người sinh ra và tham gia vào hoạt động giao tiếp ngôn ngữ đầu tiên là môi trường giao tiếp gia đình Với tư cách là tế bào cuả xã hội, gia đình có vai trò
to lớn đối với giao tiếp ngôn ngữ của con người Song, nói như vậy không có nghĩa là coi nhẹ vai trò giao tiếp ngoài xã hội
Giao tiếp ngôn ngữ được cấu thành bởi hàng loạt các hành vi ngôn ngữ Trong một cuộc thoại, người ta đã thực hiện đồng thời ba loại hành vi: hành vi mặt lời, hành vi tại lời, hành vi sau lời
Trong ba loại hành vi nói trên, hành vi tại lời là vấn đề được giới nghiên cứu ngôn ngữ đặc biệt quan tâm Nó chính là yếu tố quan trọng giúp người ta thực hiện chiến lược giao tiếp Hành vi tại lời cũng thể hiện rõ nét nhất mức độ trau dồi ngôn ngữ, khả năng vận dụng ngôn ngữ của từng thành viên tham gia giao tiếp, đạt đến tính chất tế nhị trong việc sử dụng ngôn ngữ Với cách nhìn từ ngữ xưng hô không phải là sản phẩm của cách tiếp cận cấu trúc ngôn ngữ đơn thuần, cách xưng hô và từ ngữ dùng để xưng hô có thể thay đổi linh hoạt theo diễn tiến của cả cuộc thoại Có thể thấy, từ ngữ xưng hô là những từ thuộc nhiều lớp từ loại của hệ thống ngôn ngữ được đem
ra sử dụng để xưng hô trong giao tiếp Các thuộc tính về ―loại ‖ của lớp từ này cơ bản được xác định trong cơ chế giao tiếp ngôn ngữ Vì thế, nghiên cứu các lớp từ ngữ xưng hô không thể tách rời quan điểm về ngữ dụng học và đặc trưng văn hoá dân tộc
Vậy xưng hô là gì ?
(1) Xưng hô là tên gọi biểu thị quan hệ qua lại dùng để xưng gọi trực diện
Trang 25Xưng gọi là những từ xưng hô mà con người dùng nó để biểu thị một mối quan hệ tương hỗ nào đó họăc biểu thị sự khác biệt về thân thế, địa vị, nghề
nghiệp… như cha mẹ, chồng, sư phụ, xã trưởng, đồng chí [ 135, 127]
(2) Xưng gọi có nghĩa rộng và hẹp, nghĩa rộng bao gồm các tên gọi của người và sự vật, nghĩa hẹp chuyên dùng để chỉ người, tức là chỉ các từ xưng
hô dùng trong giao tiếp xã hội của con người [101, 1]
(3) Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gồm những phương tiện chiếu vật, nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng)
và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn [5, 73]
Theo nội dung của các định nghĩa trên, một số quan điểm của các học giả Trung Quốc đã tách xưng hô và xưng gọi thành hai khái niệm khác nhau Xưng hô chỉ mối quan hệ tương hỗ giữa người nói và người nghe trong giao tiếp trực diện, nghĩa là chỉ bao gồm tự xưng và đối xưng Xưng gọi còn bao gồm cả đối tượng thứ ba (tha xưng) Trên thực tế, ngôi thứ ba chỉ đề cập tới như một khách thể cần nói tới và được đánh giá khách quan dưới sự kiểm soát của người nói và người nghe Trong luận án này, vấn đề xưng hô được nghiên cứu với tư cách là những phương tiện dùng để xưng hô trong giao tiếp trực diện, không bao gồm tha xưng
Xưng hô là hai mặt tồn tại đồng thời trong một cuộc thoại, xưng hô (hay xưng gọi) bao gồm ―xưng‖ (tự gọi tên mình) và ―hô‖(gọi tên người khác) Có thể nói ―xưng‖ và ―hô‖ xuất hiện ở hầu hết các cuộc thoại bao gồm xưng gọi ít nhất hai đối tượng trực tiếp tham gia cuộc thoại và các đối tượng tham gia gián tiếp (không hiện diện hay đối tượng thứ ba) ―Ngay cả trong trường hợp vắng mặt từ xưng hô, cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện
hữu và vẫn chuyển tải một ý nghĩa nhất định.‖ [14, 16] Ngôn ngữ bao giờ
cũng gắn với tư duy (thực hiện một trong những chức năng cơ bản của nó là nhận thức) Người ta tư duy bằng ngôn ngữ, do vậy, không có ngôn ngữ thì không có tư duy Ngôn ngữ của mỗi dân tộc phản ánh một cách rõ nét nhất
Trang 26những đặc điểm của tư duy, đặc trưng của văn hoá, truyền thống cốt cách của từng dân tộc Do đó, số lượng, đặc tính và quá trình hành chức của lớp từ xưng hô của mỗi dân tộc có khác nhau Ngay trong một dân tộc, ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể và trong một điều kiện địa lí cụ thể khác nhau cũng có cách biểu đạt xưng hô khác nhau Như vậy xưng hô bao hàm cả tính lịch đại
và đồng đại Nó như là một sự liên tục, nối kết quá khứ với hiện tại và tương lai Đồng thời trong diễn tiến của quá trình giao tiếp lại có những biến động nhất định Xưng hô chịu tác động của nhiều yếu tố như : vị thế, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, hôn nhân cũng như vai giao tiếp của từng đối tượng tham gia giao tiếp v.v Cách xưng hô cũng như việc lựa chọn từ xưng hô được quy định bởi đối tượng cũng như quan hệ giữa các đối tượng tham gia giao tiếp với nhau Nó chi phối cả quá trình giao tiếp và có thể thay đổi theo diễn tiến phức tạp của cuộc thoại
―Từ xưng hô như vậy không chỉ là công cụ để người nói thực hiện cái việc không thể không làm là đưa mình và người đối thoại với mình vào cuộc thoại, mà còn là công cụ để người nói tự mình câu thúc mình và câu thúc người khác trong khuôn khổ một kiểu quan hệ liên cá nhân nhất định Muốn chuyển sang kiểu quan hệ liên cá nhân khác, người giao tiếp trước hết phải
dùng từ xưng hô để thương lượng ‖ [5, 75] Như vậy, vấn đề xưng hô thuộc
bình diện lời nói, được coi như là một hành vi ngôn ngữ Các phương tiện dùng để xưng hô được lựa chọn vào diễn ngôn mang chức năng quy chiếu và
có thể sử dụng luân phiên giữa người nói và người nghe cho phù hợp tính chất của cuộc thoại
Xưng hô có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Với nghĩa rộng, xưng hô chỉ cả người và vật Với nghĩa hẹp, xưng hô chuyên dùng cho người, nó chỉ các hình thức xưng hô sử dụng trong giao tiếp gia đình và xã hội của con người Như vậy, xưng hô chịu sự tác động rất lớn của các vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá,
xã hội Vai giao tiếp đã được xác định qua việc lựa chọn từ xưng hô Nói cách
Trang 27khác, qua việc sử dụng từ xưng hô, người tham gia giao tiếp đã xác định được
vị thế của mình và của người nghe Xưng hô với tư cách vừa là một hành vi khi nó quy chiếu các nhân vật giao tiếp, đồng thời là một phương thức khi nó thể hiện tính lịch sự bằng cách xác định ngôi vị của họ Từ xưng hô chính là tín hiệu xác định vai giao tiếp, quan hệ giao tiếp giữa người với người Nó vừa là phương tiện vừa là chất liệu của quá trình giao tiếp Nghiên cứu về xưng hô, người ta có thể xem xét ở rất nhiều khía cạnh Chẳng hạn: phạm vi xưng hô, khuôn mẫu xưng hô, kiểu xưng hô Phạm vi của xưng hô bao gồm xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội Khuôn mẫu xưng hô gồm xưng hô lịch sự và không lịch sự Kiểu xưng hô gồm xưng hô tương ứng chính xác và xưng hô tương ứng không chính xác
1.2.2 Ngữ cảnh đóng vai trò quyết định đến việc lựa chọn từ ngữ xưng
hô và được coi là bộ phận hợp thành quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ
Ngữ cảnh được định nghĩa một cách ngắn gọn nhất là ―hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ Nó bao gồm tất cả các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng
tới việc sử dụng ngôn ngữ.” [ 91, 2] Nhìn nhận từ góc độ ngữ dụng học,
ngữ cảnh là phần văn bản trên dưới hoặc nhân tố chủ quan và khách quan được biểu thị bằng lời mà người ta dựa vào đó để lí giải hoặc sử dụng ngôn ngữ vào trong quá trình giao tiếp để đạt được sự hợp lí và làm cho cuộc thoại diễn ra một cách thuận lợi Những nhân tố chủ quan và khách quan này được coi là ngữ cảnh phi ngôn ngữ, bao gồm thời gian, địa điểm diễn ra cuộc thoại, chủ đề cuộc thoại, vị thế của người tham gia giao tiếp, nội dung, mục đích, cách thức giao tiếp, bối cảnh văn hoá … Nhà ngôn ngữ học người Anh J Iyons đã quy các yếu tố cấu thành ngữ cảnh trên 6 phương diện sau:
Mỗi người tham gia giao tiếp đều phải nhận thức được: (1) Vai trò và địa vị của mình trong cả quá trình hoạt động ngôn ngữ (2) Thời gian và không gian xảy ra hoạt động ngôn ngữ (3) Mức độ chính thức của hoàn cảnh hoạt động ngôn ngữ (4) Đối với hoàn cảnh giao tiếp này thì cái gì sẽ là trung
Trang 28gian thích hợp của cuộc thoại (5) Làm thế nào để lời nói của mình phù hợp với chủ đề của cuộc thoại và tầm quan trọng của chủ đề đối với việc lựa chọn một loại phương ngôn (với môi trường đa ngữ) hay lựa chọn một ngôn ngữ nào đó để giao tiếp (6) Làm thế nào để lời nói của mình phù hợp với ngữ vực của môi trường giao tiếp
Từ ngữ xưng hô được lí giải tuỳ thuộc vào mỗi góc nhìn khác nhau, nhưng bao giờ, cốt lõi của việc xưng hô cũng là quan hệ vai giao tiếp Như vậy, nó vẫn chịu tác động của quan điểm tâm lí xã hội Xưng hô là sự biểu đạt bằng ngôn ngữ trong quan hệ qua lại giữa người với người Nó phản ánh quan hệ liên nhân bao gồm hai phương diện: tính chất vị thế và tính chất thân hữu Mặt thứ nhất thể hiện quan hệ vai giao tiếp và quyền lực giao tiếp giữa người với người Mặt thứ hai thể hiện quan hệ thân sơ, xa gần giữa người với người Cùng với sự thay đổi của thời gian và không gian, quan hệ này có thể thay đổi Ví dụ, một người khi ở nhà sẽ là chồng (trong quan hệ với vợ), là cha (trong quan hệ với con cái) Song với cha mẹ mình thì lại là con, với ông
bà nội ngoại lại là cháu, với bố mẹ vợ là con rể Trên đường phố với những
người không quen biết người đó lại có thể được gọi là ông, anh, đồng chí, chú, bác, v.v Khi làm việc tại cơ quan, người ấy sẽ là đồng nghiệp của
những người cùng công tác Song đối với lãnh đạo cơ quan của mình mà nói, người ấy lại là nhân viên Nếu đảm nhận một chức vụ lãnh đạo nhất định người ấy lại là thủ trưởng đối với những nhân viên của mình Một thầy giáo
sẽ là thầy trước học sinh của mình nhưng lại là trò của những thầy đã từng dạy mình Những quan hệ chằng chịt, đan chéo như vậy cho thấy, là một thực thể đa chức năng, con người trong xã hội luôn có những vị thế xã hội khác nhau, sẽ có thể đóng những vai giao tiếp khác nhau và luôn thay đổi vai trò của mình cùng với sự thay đổi của đối tượng giao tiếp Trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ, người ta có thể căn cứ vào sự thay đổi của các nhân tố này một cách tự giác hoặc không tự giác để lựa chọn hoặc thay đổi cách xưng hô cho
Trang 29thích hợp Theo quan điểm ngữ dụng, sự khác nhau về cách xưng hô được thể hiện ở mục đích giao tiếp khác nhau, với những trọng tâm khác nhau trong thoại đề và hàm ý của cuộc thoại
Nói cách khác, việc lựa chọn từ ngữ xưng hô trong giao tiếp không phải
là sự ngẫu nhiên, mà lệ thuộc vào tính cá thể hoá của các đối tượng tham gia giao tiếp, cũng tức là tuỳ thuộc chiến lược giao tiếp của mỗi cá nhân Ngoài
ra, về mặt khách quan việc lựa chọn cách xưng hô còn phụ thuộc từng trường hợp giao tiếp cụ thể như đối tượng nói, hoàn cảnh xã hội và có sự xuất hiện của người thứ ba hay không trong khi cuộc thoại diễn ra Chính ngữ cảnh đã tạo ra tiền đề của lời nói Chẳng hạn, việc lựa chọn, thay đổi từ xưng hô tuỳ thuộc vào các bên tham gia giao tiếp trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Vai giao tiếp, mức độ tình cảm giữa người nói và người nghe cũng như môi trường diễn ra cuộc thoại có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến việc lựa chọn hay thay đổi cách xưng hô Thông qua cách xưng hô, người nghe có thể xác định được thái độ của người nói, tính chất của cuộc thoại cũng như mức độ tình cảm mà người nói dành cho người nghe Trong một ngữ cảnh nhất định, kết hợp với yếu tố ngữ điệu, người ta có thể xác định được ngữ nghĩa của từ xưng hô Xưng hô có thể truyền tới người nghe cảm giác về sự uy hiếp hay an
ủi, khôi hài hay châm biếm, kì vọng hay nuối tiếc, chúc mừng hay đố kị, thỉnh cầu hay ra lệnh, vui hay buồn, tự nguyện hay miễn cưỡng… Đối với những dân tộc coi trọng trật tự tôn ti xã hội, đời sống tình cảm dồi dào tinh tế như dân tộc Hán và dân tộc Việt Nam, người tham gia giao tiếp đứng trước một mạng quan hệ xã hội vô cùng phức tạp, vẫn có thể dễ dàng lựa chọn hoặc thay đổi cách xưng hô cho phù hợp với ngữ cảnh, để thực hiện hành vi ngôn ngữ một cách thuận lợi, nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp, điều đó là do lớp
từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán và tiếng Việt vô cùng phong phú, đa dạng, có sức biểu cảm lớn
1.3 SỰ XUẤT HIỆN TẤT YẾU CỦA TỪ XƯNG HÔ TRONG HỆ THỐNG
Trang 30Cũng như bất kì lớp từ nào trong chỉnh thể hệ thống từ vựng của ngôn ngữ, từ xưng hô phản ánh hiện thực khách quan Trong rất nhiều trường hợp, xưng hô là tin tức đầu tiên được truyền tới đối phương Nó nói lên vị thế, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác của đối phương cũng như mức độ quan hệ, trạng thái tâm lí của người nói và người nghe cũng như môi trường giao tiếp
cụ thể Lựa chọn từ ngữ xưng hô khác nhau một mặt phản ánh sự khác nhau
về vai giao tiếp, vị thế và mức độ thân sơ của hai bên tham gia giao tiếp, mặt khác, cách xưng hô cũng thể hiện sinh động tình cảm của người nói với người nghe Ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của giao tiếp ngôn ngữ thường không phải lúc nào cũng cần căn cứ vào toàn câu để xác định, mà thông qua cách xưng hô
để xác định Xưng hô thoả đáng là điều kiện quan trọng để cuộc thoại đạt hiệu quả tốt Ngược lại, nếu xưng hô không thoả đáng sẽ làm cho cuộc thoại gặp trở ngại, gây không khí bất hoà hoặc để lại một ấn tượng nào đó không bình thường và thậm chí có ảnh hưởng xấu đến những cuộc thoại sau đó
Giao tiếp ngôn ngữ thể hiện sinh động mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Quan hệ đó được củng cố và phát triển nhờ quá trình giao tiếp Ngôn ngữ do có sức chuyển tải ý nghĩa đặc biệt nên việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là sử dụng từ ngữ xưng hô luôn luôn được coi như một chiến lược có thể mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình giao tiếp Do đó, cùng với sự xuất hiện của hệ thống từ vựng nói chung, lớp từ ngữ xưng hô cũng xuất hiện như một tất yếu lịch sử để thoả mãn nhu cầu giao tiếp xã hội Mặt khác, cùng với sự phát triển của xã hội, những nét biểu hiện cụ thể của phong tục tập quán, tư tưởng của con người cũng có phần đổi thay cho phù hợp trào lưu xã hội Chẳng hạn, thời Phong kiến, người phụ nữ luôn luôn bị coi rẻ, kéo theo hàng loạt từ chỉ phụ nữ, bao gồm từ xưng hô đều mang nét nghĩa khinh
miệt, như: tiện thiếp, tiện nội, tì thiếp, nô gia Khi xã hội Phong kiến với
những hủ tục của nó bị xoá bỏ, người phụ nữ dần dần vươn lên thực hiện nam
nữ bình đẳng, những từ chỉ phụ nữ với thân phận hèn kém xưa được thay thế
Trang 31bằng những từ biểu thị ý nghĩa dân chủ, bình đẳng, lịch sự
Cuốn ―Ngôn ngữ học xã hội‖ của Trần Nguyên bàn về một số cách xưng hô mới xuất hiện sau năm 1949 ở Trung Quốc lục địa và ý nghĩa mới
phát sinh của nó, như từ °đ ẩậ (ái nhân- người yêu) là một ví dụ tiêu biểu
°đ ẩậ vốn chỉ những người đang trong giai đoạn yêu nhau mà chưa đi đến hôn nhân, nay lại chỉ chung các cặp vợ chồng và không phân biệt tuổi tác Tác giả cũng đã chỉ ra cách dùng mới của từ Åú ểẹ(bằng hữu- bạn) với nghĩa mới là chỉ ―người yêu‖, sắc thái còn trang nhã hơn so với từ ảễ ẽú (đối tượng) Như vậy, trong giao tiếp, xưng hô đã thể hiện chức năng của nó trên hai phương diện: một mặt là chức năng hô gọi, hướng sự chú ý của người nghe vào cuộc thoại Kể cả khi cần phải thay đổi thoại đề, người ta cũng thường phải chú ý sử dụng xưng hô Mặt khác, xưng hô có chức năng biểu đạt tình cảm Sắc thái tình cảm trong cuộc thoại thường là đa dạng, có khi thay đổi trong quá trình diễn tiến của cuộc thoại Sắc thái tình cảm đó thể hiện rõ nét thái độ của người nói với người nghe và ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất cuộc thoại Từ ngữ xưng hô là sản phẩm của quá trình giao tiếp ngôn ngữ, cũng là động lực thúc đẩy quá trình giao tiếp đạt hiệu quả Nó phản ánh dấu ấn thời đại, đồng thời cũng luôn luôn thay đổi theo sự thay đổi của ý thức xã hội Từ ngữ xưng hô xuất hiện là một tất yếu khách quan, nhằm thoả mãn nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ của xã hội loài người
1.4 XƯNG HÔ VỚI ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ DÂN TỘC :
1.4.1 ―Văn hoá (culture) chỉ thể tổng hợp các di tích, di vật trong cùng một thời kì lịch sử về mặt khảo cổ học Những công cụ, dụng cụ, kỹ thuật chế
tạo giống nhau là đặc trưng của cùng một loại hình văn hoá Văn hoá cũng là tổng hoà của cải do loài người sáng tạo ra, đặc chỉ của cải tinh thần như văn
học, nghệ thuật, giáo dục, khoa học ― [ 134, 1714] Văn hoá học là một môn
Trang 32Anh gọi là ―The Science of Culture‖ (Khoa học văn hoá) Nó nghiên cứu chủ yếu các vấn đề như : nguồn gốc, diễn biến, sự truyền bá, bản chất, kết cấu, chức năng, tính cộng đồng và cá biệt của văn hoá cũng như những quy luật đặc thù, quy luật chung của văn hoá Xã hội loài người bao gồm các quan hệ qua lại và các phương thức hành vi tương ứng giữa người với người Văn hoá học đặc biệt quan tâm đến vấn đề hạt nhân trong hệ thống xưng hô - vấn đề quan hệ thân tộc, đồng thời quan tâm nghiên cứu về các thuộc tính bản chất của nó
Các quan niệm về văn hoá đều cho rằng, loài người phôi thai và sinh ra trên cơ thể mẹ, cho nên giữa mẹ và con tất yếu tồn tại quan hệ sở thuộc về mặt huyết thống và quan hệ về mặt văn hoá Mặt khác, văn hoá còn khu biệt
cá thể nam nữ, nhằm thể chế hoá quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ Như vậy
đã hình thành nên hai mối quan hệ thân tộc : quan hệ mẹ con và quan hệ hôn nhân nam nữ Hai quan hệ này lại sản sinh ra hàng loạt các quan hệ thân tộc tương ứng như : cha, anh, chị, em, bố mẹ vợ, chú, bác, anh em họ v.v Quan niệm của người Việt Nam và người Hán về gia đình truyền thống là tứ ngũ đại đồng đường cho ―một cây cù mộc, quế hoè đầy sân ‖ tuy đến xã hội hiện đại không còn giữ nguyên ý nghĩa, nhưng nó chứng tỏ quan hệ thân tộc trong giao tiếp xã hội của người Hán và người Việt xưa nay luôn là vấn đề then chốt Văn hoá học thường coi thuật ngữ biểu thị hệ thống thân tộc của ngôn
ngữ cộng đồng là ―xưng hô thân tộc‖ Các từ éệ àĩ ẵó ÃÃ huynh, đệ, thư, muội trong tiếng Hán và anh, chị, em trong tiếng Việt đều được phân biệt
trên tiêu chí giới tính và tuổi tác Nhưng các ngôn ngữ phương Tây như : tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp v.v thì chỉ dựa trên tiêu chí giới tính
Từ góc độ tâm lí học, người ta đã lí giải văn hoá chính là một hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực được dùng để giải thích cho hành vi, trong đó có hành vi xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ
Trang 331.4.2 Mỗi người đều có họ tên Họ tên là kí hiệu để khu biệt một con người nhất định với tất cả những thành viên khác trong xã hội chứ không bao hàm ý nghiã địa vị xã hội Giả sử, một người con trai sinh ra đặt tên là Nguyễn Hùng Cường thì cho dù anh ta đã là con trai của cha mẹ mình, song
ba chữ Nguyễn Hùng Cường không thể biểu thị góc độ địa vị làm con trong gia đình của anh ta, mà chỉ có từ ―con trai‖ mới là góc độ địa vị hiện thực đó Sau khi anh ta lớn lên lại có thể trở thành một người chồng, người cha, người chú, người cán bộ lãnh đạo v.v thì mọi người vẫn gọi anh là Nguyễn Hùng Cường Góc độ địa vị, thân phận có thể thay đổi, song họ tên nói chung vẫn giữ nguyên với sở chỉ nào đó Cho nên, xét ở một góc độ nhất định, họ tên có khác với xưng gọi Trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau với những cách kết hợp khác nhau, họ tên được coi như một trong những phương thức thể hiện xưng hô và khi đó, nó mang chức năng xưng hô Trong tiếng Hán và tiếng Việt, sử dụng tên gọi như thế nào để xưng hô cũng là một phương thức biểu thị sắc thái tình cảm của người nói và tính chất cuộc thoại rõ nét, phản ánh những nét văn hoá đặc trưng riêng của mỗi dân tộc
1.4.3 Một cộng đồng xã hội nhất định là hình thái tổ chức của một giai đoạn phát triển văn hoá nhân loại nhất định Trong đó, xưng hô luôn là sản phẩm của nền văn hoá đó và là kí hiệu văn hoá của quan hệ giao tiếp giữa người với người trong cộng đồng Xã hội loài người không ngừng phát triển theo dòng chảy bất tận của thời gian Trong tiến trình lịch sử đó, ―cấu trúc xã hội phân hoá bộc lộ rõ trong cấu trúc ngôn ngữ, thông qua những cách nói năng, xưng hô nhất định Hơn nữa, nó đòi hỏi chính ngôn ngữ những phương tiện hiện thực: người nói trong các tình huống giao tiếp phải tiến hành lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ nhằm thể hiện thái độ của mình đối với người đối thoại Thái độ nào là tuỳ thuộc vào khoảng cách xã hội giữa họ: tuổi tác, giới
tính, địa vị xã hội, nghề nghiệp, mức độ quen biết, tình cảm… ‖ [6, 130]
Hệ thống xưng hô trong tiếng Hán được sản sinh trong bối cảnh văn
Trang 34hoá xã hội của dân tộc Hán Từ thời Bàn Cổ khai thiên lập địa, trong ý thức của dân tộc Hán đã xác định rõ về thứ bậc cao thấp khác nhau của vũ trụ và nhân sinh Ngay trong truyền thuyết về sự hình thành vũ trụ, người Hán từ xa xưa đã hình dung trái đất như là một quả trứng khổng lồ: khi vỡ ra, phần tinh tuý và nhẹ đã bay lên biến thành trời, phần không tinh tuý và nặng thì lắng xuống biến thành đất và quan niệm đó càng được khắc sâu, phổ biến qua hơn
2300 năm xã hội phong kiến hình thành và phát triển Vì thế, người Hán rất coi trọng trật tự quan hệ ―thân sơ trưởng ấu‖ ( quan hệ thân sơ, già trẻ) Quan niệm này khác với quan niệm văn hoá phương Tây Cách xưng gọi quan hệ thân tộc trong các ngôn ngữ phương Tây là trung hoà, cá thể hoá nên kéo theo
số lượng từ xưng hô ở các ngôn ngữ phương Tây hạn chế trong các từ nhân xưng hơn so với tiếng Hán và tiếng Việt Chính vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, trong các ngôn ngữ Ấ n Âu không thể xác định được nét khu biệt tinh tế trong quan hệ xưng hô của mỗi thành viên sản sinh qua quá trình giao tiếp Chẳng
hạn, trong tiếng Anh hiện đại, từ Uncle dùng để chỉ chung cho bác, chú, cậu , Brother chỉ anh và em trai, Sister chỉ chị em gái, You chỉ chung ngôi thứ hai, ngôi 3 thì có phức tạp hơn, (gồm He, She, They ) nhưng chúng chỉ
dừng lại ở phạm trù ngữ pháp (số và giống) mà không thể có cả một nhóm từ dùng để diễn tả ngôi với những sắc thái ý nghĩa biểu cảm khác nhau như trong tiếng Hán và tiếng Việt
Từ quan niệm lễ giáo phong kiến về vũ trụ: thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ (trời cao, đất thấp, đạo trời đất đã định sẵn rồi) – (Chu dịch - Soán
truyện- ―Chu dịch‖, Nxb Tổng hợp Đài Nam, 1982), đã kéo theo quan niệm
nhân sinh: nam tôn nữ ti Trong quan niệm về quan hệ gia đình, xã hội đều
phản ánh sâu sắc vấn đề tôn ti trật tự Ví dụ, phụ nữ bao giờ cũng hạ thấp mình xuống một bậc khi tự xưng Với truyền thống trọng tình cảm, trọng danh dự, dân tộc Hán đã coi cộng đồng của mình là một đại gia đình Do đó, vấn đề xưng hô trong gia đình và ngoài xã hội đã đan xen với nhau Chính vì
Trang 35vậy, từ ngữ xưng hô trong quan hệ giao tiếp xã hội ở tiếng Hán đã phân thành xưng hô theo nghề nghiệp, chức vụ, xưng hô phỏng theo xưng hô thân tộc và
các cách xưng hô khác
1.4.4 Trong quá trình giao tiếp, mối quan hệ giữa ―xưng‖ và ―hô‖ gồm quan hệ tương hỗ và phi tương hỗ Trong tiếng Việt, khi A và B tiến hành giao tiếp với nhau, cặp xưng hô giữa A và B có thể hoán vị cho nhau thì gọi
là quan hệ tương hỗ Ví dụ, A và B là quan hệ thầy trò (A là trò và B là thầy),
A gọi B là thầy và tự xưng là em Đồng thời, B gọi A là em và tự xưng là thầy Ngược lại, khi cặp xưng hô giữa A và B chỉ được phát ngôn từ một phía
mà không lặp lại ở cách xưng hô của đối phương, đó là quan hệ phi tương hỗ
Ví dụ, Chị Dậu tự xưng là ―bà‖ và gọi lính lệ là ―mày‖ ―Mày đánh chồng bà
đi, bà cho mày xem‖ (Tắt đèn- Ngô Tất Tố) Cặp xưng hô phi tương hỗ một
khi được lựa chọn trong cuộc thoại thường mang ý nghĩa ngữ dụng và giá trị biểu cảm đặc biệt, có tác dụng rất tích cực để đạt được hiệu quả giao tiếp Chị Dậu trong lúc khốn cùng, trong lòng chất chứa biết bao nỗi căm phẫn đối với bọn quan lại thống trị tàn ác cũng như lũ tay sai của chúng, nhưng vì thương chồng, mong cho chồng được bình yên, chị đã cắn răng nén nỗi uất hận mà cầu khẩn, mà năn nỉ:
―Cánh tay nhà em bị trói chặt quá, không thể cầm bút ký được Ông làm phúc cởi trói ra cho nhà em thì em ơn ông vạn bội.‖(Tắt đèn, Ngô Tất Tố)
Phải chăng, lời khẩn cầu của người đàn bà tội nghiệp ấy đạt hiệu quả là
do chính cặp xưng hô phi tương hỗ đã xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ
Cũng có khi cùng với quá trình diễn biến tâm lí phức tạp và sự xáo trộn trong tư tưởng, tình cảm, thái độ của chủ thể giao tiếp đối với khách thể giao tiếp cũng biến đổi ngay trong cùng một đoạn đối thoại thể hiện qua việc thay đổi cách xưng hô, chuyển hoá từ xưng hô Thông qua việc tiếp nhận thông tin
từ cách xưng hô của đối phương, đối tượng tham gia giao tiếp có thể cảm nhận được một cách khá chính xác tình cảm mà đối phương dành cho mình,
Trang 36trên cơ sở đó mà lựa chọn cách ứng xử cho phù hợp Ví dụ, nhân vật Hộ trong
―Đời thừa‖ của Nam Cao, khi bối rối, khó xử và không thể giải thích được lí
do của sự cùng quẫn về kinh tế trong gia đình, anh ta đã sinh ra oán trách vô lí người vợ đáng thương và những đứa con tội nghiệp của chính mình Rồi Hộ như một thằng khùng không hơn không kém, đã xỉ vả, đe doạ vợ con cho đã nỗi bực dọc chất chứa bấy lâu trong lòng :
―Ngày mai mình có biết không? Chỉ ngày mai thôi Là tôi đuổi tất
cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này Tôi đuổi tất, không chừa một đứa nào, kể cả con bé Thảo là ngoan nhất Mấy đứa kia đều đáng vật một nhát cho chết cả Chúng nó chỉ biết ăn với hét Cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy Chúng đáng vật một nhát cho chết cả Chúng nó chỉ biết ăn rồi ngồi ôm con
như nhện ôm khư khư bọc trứng, không chịu làm việc gì cho có tiền Chỉ khổ
thằng này thôi ‖ (Đời thừa - Nam Cao)
Cùng một lúc, Hộ đã gọi vợ mình bằng mình, đứa nào, con mẹ, chúng
nó, gọi con bằng đứa nào, mấy đứa kia, chúng nó, chúng, và tự xưng mình là tôi, thằng này Từ cách sử dụng từ ngữ xưng hô trong đoạn đối thoại với vợ
của nhân vật Hộ, có thể dễ dàng thấy được tình cảm của Hộ với vợ con đã thay đổi, Hộ không bằng lòng với chính mình nữa Vốn từ một người nhất mực thương yêu vợ con, hiền lành và biết nhường nhịn, Hộ bây giờ sinh ra cáu kỉnh, cục súc và thô bạo Chính những cặp xưng hô không tương ứng và thay đổi liên tục ngay trong một cuộc thoại đó đã thể hiện rõ nét diễn biến tâm
lí phức tạp, đầy mâu thuẫn của nhân vật
Ngoài quan hệ không tương ứng ra, còn phải nói đến quan hệ liên cá nhân, quan hệ liên cá nhân là một trong những nét nổi bật của quan hệ giao tiếp Quan hệ liên cá nhân được xác định qua ngữ cảnh cụ thể, mà ngữ cảnh bao gồm ngữ vực và chịu sự chi phối của phép lịch sự Như vậy, xưng hô còn thể hiện sinh động vị thế xã hội của người tham gia giao tiếp, đồng thời cũng thể hiện mức độ thân sơ khác nhau giữa người nói và người nghe Việc lựa
Trang 37chọn phương tiện xưng hô nhất thiết phải phù hợp với ngữ vực của cuộc thoại mới có thể thực hiện được chiến lược giao tiếp Trong các ngôn ngữ trên thế giới, ý nghĩa liên cá nhân và sắc thái biểu cảm thể hiện rõ nét nhất là trong xưng hô tiếng Việt và tiếng Hán Điều đó là do hai dân tộc Hán và Việt cùng nằm trên một không gian văn hoá, chịu sự tác động của những điều kiện lịch
sử, xã hội đặc biệt
Có một số lượng nhất định các từ ngữ xưng hô được sử dụng trong giao tiếp là những từ ngữ cơ bản biểu thị mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp Những từ ngữ này tự thân có thể biểu thị được mối quan hệ bản chất giữa người với người trong một góc độ xã hội nào đó Trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ không nhất thiết tất cả mọi từ đó đều được sử dụng để xưng
hô Ví dụ, những từ ―cấp trên‖, ―nhân viên‖ thì lại không phải là từ xưng
hô, từ ―vợ chồng‖ dùng trong việc biểu thị quan hệ hôn nhân giữa hai người
mà không thường dùng để xưng hô với nhau trực diện Đối với người Hán, hai từ ãũ, ặị (phu, thê) cũng không thường xuyên dùng để nhắc đến vợ hoặc chồng của mình trước mặt người khác Khi cần thiết phải biểu thị quan hệ đó, người ta lại tránh hai từ này và cố gắng dùng từ khác để thay thế Hình thức lựa chọn những từ ngữ khác để thay thế này thường thay đổi theo những nhân
tố như hoàn cảnh xã hội, tầng văn hoá, trường hợp giao tiếp và trạng thái tâm
lí khi trò chuyện Những kiểu xưng hô có tính chất thay thế này đã hình thành trong bối cảnh văn hoá nhất định, giữa những cặp vợ chồng trẻ thì thường trực tiếp gọi tên, thể hiện quan hệ nam nữ bình đẳng trong xã hội hiện đại Nhưng trong xã hội Phong kiến, điều đó không cho phép vì sự ràng buộc của chế độ xã hội nam tôn nữ ti Ở những vùng nông thôn heo hút còn lạc hậu hiện nay, giữa một số cặp vợ chồng trình độ văn hoá thấp thì việc trực tiếp gọi tên nhau trong giao tiếp vẫn là điều ít thấy Khi đã có con thì họ thường xưng
hô với nhau bằng những từ: ºÂ ìể ậỷ Âố (mẹ nó)Êơ ºÂ ìể ậỷ °ệ (bố nó)Êơ éĂ
Àẳ ậý Âố (mẹ con Lan)Êơ éĂ áò ậỷ °ệ (bố thằng Cao) tương đương với ―bu
Trang 38nó ‖ ―thầy nó‖ ―bu con Lan‖ ―thầy thằng Cao‖ (về hình thức giống như tiếng Việt) Khi cần thiết nhắc đến vợ hoặc chồng mình trước mặt người khác thì thường dùng những từ như:
Vợ gọi chồng là ẻề Ãầ ẳề (ngã môn gia)ÊơÄầ¿Úìể (na khẩu tử)Êơchồng gọi vợ là ẻề ếặ ạủ àÄ (ngã chưởng quỹ đích)Êơ ẻề ẻí Àù àÄ (ngã
ốc lí đích) , tương đương với ― nhà tôi‖, ―ông ấy nhà tôi‖, ―bà ấy nhà tôi‖ trong tiếng Việt Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nghĩa của tổ hợp từ xưng gọi này, (ngã trưởng quỹ đích- người tay hòm chìa khoá), (ngã ốc lí đích- người trong nhà), có thể dễ dàng nhận thấy rằng, cách xưng gọi của người chồng dành cho
vợ đó không phải không có lí do, cách xưng gọi đó đã thể hiện rõ nét vị thế của người vợ trong gia đình
1.4.5 Xưng hô thân tộc trong tiếng Hán cũng có khi được sử dụng khá rộng rãi trong giao tiếp xã hội Ví dụ, trong quan hệ đồng nghiệp, bạn học, thậm chí giữa những người lạ mặt, người Hán khi thể hiện sự thân mật, thường dùng những từ xưng hô thân tộc để xưng gọi nhau, tạo ra một mối
quan hệ thân thiết như trong gia đình vậy Ví dụ các từ : ấồ ấồ (thúc thúc- chú)Êơ ề¯ ề¯ (da da)Êơ Äè Äè (nãi nãi)Êơ ´ú ẫụ (đại thẩm)Êơ ´ú áỗ (đại ca),
ảỵ áỗ (nhị ca)Êơ éĂ àĩ (tiểu đệ ) , tương đương với chú, ông, bà, thím, anh
cả, anh hai, cậu út trong tiếng Việt
Nêu ra một vài dẫn chứng trên để chứng tỏ rằng, người Hán coi trọng quan niệm truyền thống về quan hệ thân tộc, huyết thống Tuy nhiên, xưng hô
xã hội cũng có thể được áp dụng vào trong xưng hô gia đình Ví dụ, trong cung đình thời Phong kiến, cha là Hoàng đế, giữa cha và con nhất thiết phải xưng hô như quan hệ vua tôi
Xã hội Trung Quốc cuối những năm 60 — 70 của thế kỷ XX, từ xưng
hô xã hội ―đồng chí‖ đã được mở rộng cách dùng vào xưng hô trong gia đình như xưng hô giữa vợ và chồng, giữa cha và con hoặc các quan hệ thân tộc
Trang 39khác Ở Việt Nam, những năm tháng chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, cả nước hướng ra tiền tuyến, đấu cật chung lưng, từ ―đồng chí‖ cũng đã được sử
dụng rộng rãi trong xã hội, thậm chí trong gia đình Việt nam, “lớp cha trước, lớp con sau, đã thành đồng chí chung câu quân hành‖ đã chứng tỏ quan hệ xã
hội có một nét đồng nhất trong lí tưởng cách mạng đó Ở Hồng kông, Đài loan và các thành phố phía nam Trung Quốc lục địa, từ ―tiên sinh‖ có thể dùng để hô gọi chồng
Có thể nói, quan hệ xã hội giữa con người với con người là vô cùng phức tạp, và thể hiện trong những trường hợp giao tiếp nhất định với những vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, tâm lí giao tiếp cụ thể v.v Đây chính là lí
do làm cho những từ xưng hô trở nên đa dạng, sắc thái biểu cảm muôn màu muôn vẻ và được vận dụng linh hoạt trong suốt quá trình giao tiếp
Nghiên cứu nội dung ngữ nghĩa phong phú trong những từ xưng hô đó,
có thể thấy được chế độ xã hội, diện mạo văn hoá, tâm lí dân tộc của một xã hội nhất định, đồng thời có thể khảo sát cấu trúc của từ ngữ xưng hô với tư cách là những kí hiệu không thuần tuý ngôn ngữ mà mang đậm hàm ý văn hoá truyền thống
1.4.6 Một trong những đặc trưng của văn hoá truyền thống Trung Hoa
là chịu ảnh hưởng sâu sắc quan niệm luân lí Nho giáo Quan niệm luân lí là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá dân tộc Hán Đất nước Trung Hoa trải qua hơn 2300 năm xã hội Phong kiến, tư tưởng Nho gia thống soái, ngự trị trong suốt hệ tư tưởng của cả một dân tộc ―Văn hoá Nho gia là chủ thể của văn hoá dân tộc Hán Đặc điểm của văn hoá Nho gia là coi trọng tôn ty trật tự xã hội‖, và ―cả xã hội sẽ trở thành một tổ chức có tôn ti trật tự ‖
[89, 47] Quan niệm truyền thống đó đã hình thành nên ý thức coi luân lí
cương thường là thiêng liêng, sự khác biệt về đẳng cấp trong xã hội là vĩnh hằng, bất biến Mọi người trong xã hội đều phải khống chế hành vi, ngôn ngữ của mình theo chuẩn mực xã hội đó để giữ cho xã hội an lạc thái hoà Nhằm
Trang 40đáp ứng yêu cầu đó, trong hệ thống từ vựng tiếng Hán đã xuất hiện một lớp từ ngữ khá lớn có khả năng khu biệt được ý nghĩa tôn ti trật tự giữa các thành
viên tham gia giao tiếp Trong tiếng Việt cũng có tình hình tương tự
Về mặt tôn ti trật tự, từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán và tiếng Việt bao gồm hai lớp ―tôn hô‖ và ―khiêm xưng‖ Tôn hô tức là hô gọi người nghe với thái độ tôn trọng và khiêm xưng tức là tự xưng mình với thái độ nhún nhường Lễ nghi tập tục từ ngàn xưa đã ảnh hưởng sâu sắc và chi phối đến giao tiếp, thể hiện một cách rõ nét qua cách xưng hô trong gia đình và ngoài
xã hội Ngoài xã hội thể hiện phép xã giao lịch thiệp, trong gia đình thể hiện
lề thói gia phong, nếp sống văn hoá , tôn ti trật tự giữa các thế hệ và các thành viên Chẳng hạn, thời nhà Chu, Trung Quốc cổ đại đã thực hiện ―lễ chế‖ mục đích là để duy trì chế độ đẳng cấp ―tôn ti hữu biệt, quý tiện hữu sai, trưởng ấu hữu tự‖ (trật tự cao thấp, sang hèn, già trẻ đều được quy định rõ ràng) Từ sau phong trào Ngũ tứ, tuy chế độ lễ nghi đó không còn nữa, song ảnh hưởng của nó rất sâu sắc Một trong những biểu hiện đó là việc chú ý đến nghi lễ trong giao tiếp xã hội và giao tiếp gia đình, dần dần hình thành nên tập tục và kéo theo sự xuất hiện một loạt phương thức tự xưng mình và hô gọi đối phương Các cách xưng hô này tuân theo nguyên tắc là cần khiêm nhường khi
tự xưng và kính trọng khi hô gọi đối phương
Như vậy, văn hoá truyền thống đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình giao tiếp ngôn ngữ, thể hiện quan hệ vai giao tiếp giữa người với người trong xã hội nói chung và quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nói riêng Đồng thời, thông qua giao tiếp ngôn ngữ, các mối quan hệ xã hội đó không ngừng được củng cố và phát triển Có thể nói, trong giao tiếp ngôn ngữ, từ ngữ xưng
hô bao giờ cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng quyết định hiệu quả giao tiếp Qua cách xưng hô, có thể xác định vai giao tiếp mà người nói có thể đã lâm thời xác định ra, nhằm thực hiện một mục đích giao tiếp nào đó Từ ngữ